Đêm nặng nề trôi qua, mặt trời chói lọi, bầu trời không một gợn mây, không khí nóng bức, Amber nhìn ra ngoài, hi vọng có một chút sương mù mà không được. Thứ ánh sáng vui vẻ kia là sự chế giễu tàn nhẫn đối với những bệnh nhân và hàng ngàn người chết đang nằm ngổn ngang trong thành phố.
Lúc gần sáng, mặt Bruce mất hẳn nét đau đớn lo âu. Amber đã không rời anh từ buổi đầu gặp lại, cô âu sầu rầu rĩ. Chàng có vẻ như không biết gì đến sự việc xung quanh. Khi Amber đưa một cốc nước lại gần môi, chàng nuốt không chủ tâm, mắt vẫn không còn thần khí! Tuy nhiên sự bình thản đó làm cô an tâm hơn và cô tự nhủ là chàng đã đỡ hơn.
Amber mặc quần áo, sắp xếp lại đồ đạc lộn xộn tự lúc ban đêm. Cử chỉ chậm chạp vì cô cảm thấy chân tay nặng nề và đau đớn, mắt nhức nhối.
Đến sáu giờ cô vào đánh thức Spong, lay vai mụ rất mạnh. Mụ cắn môi và mở một mắt ra:
- Gì thế bà?
- Đến giờ rồi, dậy đi! Hoặc bà sẽ giúp tôi, hoặc tôi cất thức ăn đi để bà nhịn đói.
Spong nhìn cô trách móc, như bị xúc phạm:
- Trời ơi, thưa bà! Tôi không thể ngờ được là trời đã sáng!
Mụ tung chăn, bước xuống giường, quần áo vẫn mặc nguyên trừ có đôi giày; mụ kéo và chỉnh đốn lại cái áo, đội đại khái bộ tóc giả. Mụ vươn vai và ngáp ầm ĩ, xoa cái bụng đồ sộ và đút một ngón tay vào miệng móc ra vài sợi thịt, chùi tay vào vạt áo bẩn thỉu đằng trước.
Lúc mụ đi qua phòng ngủ để vào nhà bếp, Amber gọi:
- Bà lại đây mà xem! Có thấy ngài khá hơn không?
Spong quay lại quan sát người bệnh rồi lắc đầu nói:
- Thưa bà xấu đi nhiều lắm! Tôi đã trông thấy những người như thế này, chỉ nửa giờ sau là chết.
- Ôi! Quỷ nó bắt mụ đi! Bà muốn cho mọi người phải chết hết. Không đúng thế! Mụ nghe thấy chưa? Thôi cút ra khỏi đây!
Spong tuân theo:
- Trời ơi, thưa bà! Bà hỏi thì tôi phải nói chứ!
Một giờ sau, lúc Amber vừa lau xong cái buồng và làm cho Bruce nuốt ực chỗ cháo còn lại, cô bảo mụ Spong là cô cần đi mua một miếng thịt và sẽ vắng mặt trong khoảng hai mươi phút.
- Người lính gác không cho phép bà đi đâu.
- Tôi nghĩ là có. Được, mặc tôi, chỉ yêu cầu bà nghe tôi dặn đây: phải chú ý đến ngài. Trông nom thật cẩn thận vào; vì nếu lúc về tôi mà thấy có sơ suất gì, dù là chỉ để tung chăn ra ngoài, bà sẽ phải hối hận đấy!
Cặp mắt nâu của cô ánh lên tia nguy hiểm, cặp đồng tử nở ra một cách kỳ lạ, cô nói hai hàm răng nghiến chặt. Spong khẽ kêu lên, sợ hãi như một con thỏ:
- Trời, thưa bà! Xin bà hãy tin tưởng! Tôi sẽ không rời đức ngài nửa bước!
Đi qua bếp, Amber bước xuống cầu thang phụ và đi ra ngoài bằng ngõ sau. Nhưng cô chưa đi quá được hai mươi mét, đã nghe thấy tiếng hô và quay đầu lại; người lính gác đang đuổi theo cô:
- Này, trốn đi phải không? - Hắn có vẻ hân hoan, nói tiếp - hoặc có thể là chưa biết ngôi nhà này bị bao vây à?
- Tôi biết, và tôi không chạy trốn. Tôi cần phải đi kiếm thức ăn. Một đồng silinh đây, tôi đi được chứ?
- Một đồng! Tôi không phải để bán (rồi hạ thấp giọng) phải ba mới được việc.
Amber móc túi lấy tiền rồi quẳng cho hắn, vì hắn không dám lại gần và phì phèo ống thuốc to tướng để phòng bệnh. Amber đi nhanh qua ngõ và tiến vào phố lớn. Bên ngoài vắng người hơn hôm qua, những người đi không la cà, không dừng lại nói chuyện. Trái lại họ đi rất vội vàng, khăn bịt dưới mũi. Một xe hòm kín kéo theo một dãy xe bò đầy ắp, đi ngang qua, nhiều cái đầu quay lộn thò ra. Chỉ những người giàu mới có thể chạy trốn được, còn những người khác buộc phải dừng lại và cầu may ở những cái bùa và các thứ cỏ. Trên dọc đường có rất nhiều nhà đóng cửa.
Tới hàng bán thịt, Amber mua một miếng thịt bò to mà người bán đưa bằng một cái xiên, còn cô để tiền vào một cái vại đựng dấm. Để vào giỏ miếng thịt gói kín trong khăn mặt, trên đường về cô còn dừng lại để mua hai bao nến, ba chai rượu và một ít cà phê. Cà phê là một món hàng đắt tiền không bán trong phố, Amber ít khi uống nhưng hi vọng nó sẽ làm cho mình lại sức.
Bruce vẫn như lúc cô ra đi, mặc dù Spong khẳng định là không rời bệnh nhân, nhưng Amber rất nghi là mụ đã lục lọi khắp nơi, nhất là trong phòng ngủ, với hi vọng tìm thấy tiền bạc và đồ nữ trang. Nhưng những thứ đó đã được khóa kỹ để nơi kín đáo mà Spong hoặc không một ai tìm được dễ dàng.
Spong rất muốn theo cô vào trong bếp xem cô đã mua những gì về, nhưng Amber đuổi mụ trở lại. Trước khi cất rượu vào tủ, cô uống một ngụm. Sau đó cuốn tóc và xắn tay áo, cô bắt tay vào việc. Thái thịt thành từng miếng, bỏ cả vào trong nồi nước sôi to với một phần mỡ mà cô đã mua từ hôm qua. Rồi cô chặt xương bằng một cái rìu và cũng bỏ vào nồi với tủy của chúng. Rồi đến rau đủ loại: một bắp cải bổ làm tư, hạt tiêu, cà rốt, đậu và một nắm cỏ khô. Món canh đó phải được ninh nhiều giờ. Trong khi chờ đợi, cô chuẩn bị thức uống gồm rượu, trộn với mứt, đường và lòng đỏ trứng. Cô cẩn thận đập nát những vỏ ra vì nhớ đến câu chuyện mê tín ở nông thôn: một mụ phù thủy có thể lợi dụng viết tên chàng lên đó.
Trong lúc cho chàng uống, cô thấy cặn trắng bám trên lưỡi đã bắt đầu biến đi, để lại những mảng sưng đỏ. Mạch chàng đã nhanh hơn, hơi thở cũng vậy và thỉnh thoảng ho. Chàng đang trong cơn hôn mê, không phải ngủ, mà hoàn toàn vô ý thức. Chàng không động đậy lúc người ta mó vào cái hạch, nó đã trở thành một khối lớn. Trông chàng chỉ là một bệnh nhân không còn chịu đựng được bao lâu nữa.
Nhưng Amber không muốn nghĩ đến điều ấy, vả lại cô đã quá mệt mỏi rồi.
Cô vào bếp thu dọn nốt; rồi quét các phòng khác, phủi bụi đồ đạc, bỏ quần áo giặt vào nước xà phòng, đi xách nước, cuối cùng cảm thấy hoàn toàn kiệt sức, cô quay lại phòng chuẩn bị giường ngủ.
Mãi đến gần trưa cô mới nằm nghỉ, mặc dù các rèm cửa đã kéo xuống, ánh nắng vẫn lọt vào phòng. Vài giờ sau tỉnh dậy, người rũ rượi, đầu nhức nhối, cô cảm giác như toàn bộ căn nhà lung lay, lúc đó Spong lay vai cô.
- Mời bà dậy, có ông bác sĩ gọi cửa dưới nhà.
- Trời ơi! - Amber lẩm bẩm, bà không tự động làm được việc gì sao? - Xuống mời ông lên.
Spong làm ra vẻ bị xúc phạm:
- Bà đã dặn tôi không được rời bệnh nhân với bất cứ lý do nào.
Amber khó nhọc đứng lên, như bị uống thuốc quá liều, miệng đắng ngắt, cô có cảm giác từ lúc nằm xuống tới lúc tỉnh dậy thời gian dài vô tận. Tuy vậy mới chỉ bốn giờ chiều. Kéo rèm cửa cô cúi xuống Bruce, chàng vẫn không thay đổi, không khá lên mà cũng chẳng xấu đi.
Bác sĩ Barton bước vào, vẻ mệt mỏi và ốm yếu. Như lần đầu tiên, ông đứng cách xa Bruce. Amber thất vọng hiểu rằng ông ta đã chứng kiến nhiều người chết hoặc đang hấp hối nên không còn phân biệt được kẻ này người kia nữa. Cô hỏi:
- Ông thấy bệnh nhân thế nào? Liệu có sống được không?
- Có thể, tuy nhiên thực tình mà nói, tôi cũng nghi lắm. Cái hạch đã vỡ chưa?
- Chưa! Nó chỉ mềm hơn trên bề mặt, nhưng bên trong thì thấy rắn. Khi tôi sờ vào nó hình như anh ấy cũng không biết. Phải làm thế nào bây giờ? Có biện pháp nào để cứu anh ấy không, thưa bác sĩ?
- Hãy tin ở Chúa, thưa bà. Chúng ta không thể làm gì hơn. Nếu cái hạch vỡ ra, phải chăm sóc nó, nhưng phải rất cẩn thận đừng để máu và mủ dây vào tay bà. Ngày mai tôi sẽ trở lại, nếu nó chưa vỡ chúng ta sẽ trích. Đó là tất cả những gì tôi có thể nói với bà. Xin chào bà.
Bác sĩ sẽ nghiêng đầu đi ra. Amber tiễn ông:
- Tôi có thể xin được một hộ lý khác không? Bà già này chẳng làm được việc gì cả, bà ta chỉ biết ăn uống của tôi thôi. Để mình tôi cũng có thể giải quyết được.
- Thưa bà, tôi rất lấy làm tiếc, vì người ta không thể nào xét được tất cả các trường hợp cá nhân. Tất cả các nữ hộ lý đều bất lực và thường là già; nếu họ kiếm được một nghề sinh sống, họ sẽ không làm nghề này. Giáo khu gửi họ đến các nhà để khỏi phải nuôi họ. Và thưa bà, bà cũng nên nghĩ đến lúc bà cũng có thể mắc bệnh được, vậy chỉ có một mình là không nên.
Ông đi ra, Amber nhún vai, quyết định, nếu không rũ bỏ được Spong, sẽ sử dụng mụ bằng cách này hay cách kia. Cô vào bếp. Món xúp đã xong, một món ăn bổ và béo, cô húp một bát và cảm thấy dễ chịu ngay. Đầu hết nhức và tính lạc quan lại trở lại. Cô cảm thấy tin tưởng có thể giữ được chàng sống, chỉ bằng sức lực và lòng quyết tâm của mình. Cô tự nhủ:
“Ta yêu chàng. Chàng không thể chết được! Chúa không cho phép thế”. Lúc chuẩn bị xong để đi ngủ, cô thử dỗ dành Spong:
- Nếu bà chịu thức đến ba giờ sáng và sau đó gọi tôi, tôi sẽ thưởng cho bà một chai rượu.
Nếu mụ già nhận lời thức để cho cô có thể ngủ, Amber vui lòng chấp nhận cho Spong say sưa suốt cả ngày.
Spong có vẻ thỏa mạn và thề rằng mụ sẽ không nhắm đến nửa con mắt.
Đến nửa đêm, Amber chợt tỉnh dậy, ngồi lên nghiêm khắc nhìn mụ. Trong phòng sáng vì lửa cháy suốt đêm. Nhưng mụ hộ lý ngồi rất thẳng bên cạnh bệnh nhân, hai tay khoanh vào bụng nhìn cô nở một nụ cười toe toét:
- Thế nào, thưa bà! Bị mất trộm phải không?
Amber lại rơi mình xuống giường và ngủ ngay. Một tiếng kêu khàn rồ làm cho cô phải chồm dậy, tim đập mạnh. Bruce quỳ ở đầu giường đang nắm lấy cổ họng Spong, mụ đang giãy giụa một cách bất lực như con cá ra ngoài nước. Chàng so vai, méo mặt nhe hai hàm răng, tập trung mọi sức lực vào các ngón tay và đe dọa bóp chết mụ già. Lao qua giường phía sau lưng, cô nắm lấy cánh tay chàng lôi giật trở lại. Chàng chửi rủa, bỏ Spong và quay lại Amber, nắm lấy cổ cô bóp mạnh đến nỗi máu cô dồn lên đầu, hai thái dương đập mạnh, mắt mờ đi. Hai tai cô đã bắt đầu ù. Với nghị lực của kẻ thất vọng, cô giơ hai tay ra và sờ thấy mắt chàng, cô bấu chặt các ngón tay vào đấy. Bruce từ từ nới dần và đột nhiên lăn xuống giường không biết gì nữa.
Amber trườn xuống đất, người hoàn toàn tê dại. Phải mất đến mấy giây cô mới hiểu được câu nói của Spong:
- Vỡ rồi, thưa bà vỡ rồi, chính vì thế mà làm cho bệnh nhân phát điên.
Cô đứng lên một cách khó nhọc, trông thấy cái hạch to tướng đã vỡ ra, thành một cái miệng lỗ to bằng ngón tay từ đó thoát ra một suối máu đen đặc làm hoen bẩn các tấm chăn. Chẳng bao lâu một thứ mủ vàng từ dưới đấy chảy ra.
Amber sai Spong vào bếp lấy nước nóng và bắt đầu thấm máu, nó chảy ra đến đâu thấm đến đấy. Những cái khăn thấm máu chẳng bao lâu đã chất thành đống, phải xé những áo sơ mi ra để làm băng. Nhưng buộc một cái băng vào, chỉ một phút sau đã bị chọc thủng. Chưa bao giờ Amber thấy một người mất đến nhiều máu như vậy, cô hoảng sợ.
Vừa vứt một cái giẻ khác vào trong xô, cô thất vọng nói:
- Anh ấy sẽ hết máu mất!
- Thưa bà, ông nhà khỏe lắm, mất thế cũng chẳng sao. Bà nên cám ơn Chúa đã làm cho cái hạch phải vỡ. Có cơ khỏi đấy!
Mặt Bruce đã trở nên tái ngắt dưới bộ râu lởm chởm, người chàng lạnh, ẩm ướt.
Sau cùng máu ngừng chảy nhưng vẫn rỉ ra… Amber băng vết thương lại và rửa tay trong chậu nước sạch. Spong lại gần cô với nụ cười mặn mà:
- Đã ba giờ rưỡi rồi, thưa bà. Tôi đi ngủ có được không?
- Được, đi đi, và cám ơn nhé!
- Trời đã gần sáng rồi, thưa bà. Tôi đã có thể có được chai rượu chưa?
Amber đi vào trong bếp lấy cho mụ. Cô còn nghe tiếng mụ hát nhí nhố một lúc lâu sau cánh cửa đóng kín, rồi im lặng, chỉ thỉnh thoảng có tiếng ngáy.
Amber có nhiều việc phải làm: thay băng và rót đầy vào những ấm nước nóng. Đến sáng, cô hết sức vui mừng thấy má Bruce đã bắt đầu có sắc thái, hơi thở đều đặn hơn và da dẻ khô hơn.
Đến ngày thứ tám, cô biết được là chàng sẽ sống và mụ Spong cũng đồng ý như thế tuy mụ có thú thực đã tưởng ngược lại. Nhưng thông thường thì những người bị bệnh chết sớm hơn. Những người sống được qua ngày thứ ba là có thể có hi vọng qua được, còn qua được một tuần thì chắc chắn sẽ khỏi. Nhưng thời kỳ dưỡng bệnh phải dài và khó nhọc, suy sụp về thể chất và tinh thần, mệt lả, trong thời kỳ này nếu bị lao khổ hoặc chấn động nhỏ cũng có thể gây ra những hậu quả tai hại.
Từ đêm hôm cái hạch vỡ, Bruce nằm li bì, không cử động. Không còn mê sảng, giãy giụa, chàng bị kiệt sức đến mức không cử động được. Chàng ngoan ngoãn nuốt tất cả những gì người ta cho vào mồm, và chỉ sự cố gắng đó cũng đủ làm cho chàng mệt lử. Chàng ngủ li bì, mắt luôn luôn nhắm tịt và khó mà biết được chàng tỉnh hay mê.
Amber làm việc không ngừng, nhưng từ khi cái hạch bị vỡ, cô ngủ được tương đối.
Cô không nhận được tin tức gì của Nan, dù lo lắng về con, cô vẫn tự an ủi là mọi việc đều tốt lành. Vả lại cô biết là ở thôn quê không có bệnh dịch. Rất có thể là bức thư cô viết chưa đến nơi. Cô hiểu Nan, tin tưởng ở sự trung thành và nhanh ý của chị.
Cô vẫn khỏe như thường, đó là nhờ tác dụng của cái sừng kỳ lân và đồng tiền vàng mà cô ngậm trong miệng, chưa nói đến thói quen hàng ngày là uống một cốc lạnh trong đó bỏ một ít sợi tóc cắt rất nhỏ theo lời khuyên của Spong, mụ đã thoát khỏi được tám nhà có người bị bệnh. Cô luôn cầu kinh để không bỏ sót điều gì.
Bác sĩ Barton không trở lại, Amber và Spong đều cho là hoặc ông đã chết hoặc về nông thôn; trong tình hình bệnh dịch phát triển, thiếu gì bác sĩ chuồn. Thấy Bruce mỗi ngày một khá hơn, cô không cần tìm thêm một thầy thuốc khác.
Sáng nào cũng vậy, sau khi cho Bruce ăn điểm tâm, cháo, cô thay băng, rửa mặt, rửa tay, đánh răng, cô còn ngồi chải tóc cho chàng nữa. Đó là giờ phút đẹp đẽ nhất trong ngày, vì cô bận nhiều việc quá, không có thì giờ ngồi cạnh chàng. Đôi khi nhìn cô, cặp mắt chàng như không có hồn; cô không hiểu chàng có biết ai ở bên cạnh chàng không. Nhưng mỗi khi chàng nhìn cô, cô lại mỉm cười chờ đợi một câu hỏi.
Rồi một hôm cô được đền đáp.
Chàng bị bệnh đã mười ngày rồi. Amber ngồi trên giường ngay trước mặt chàng; cô cẩn thận chải tóc cho chàng, tóc vẫn bóng và xoăn như xưa, cô nhẹ nhàng vuốt những làn tóc xoăn và mỉm cười, cô thực sự cảm thấy sung sướng. Bỗng nhiên cô có cảm giác là chàng nhìn cô, biết cô là ai và đang làm gì. Một cái rùng mình vui sướng chạy khắp người cô, như thấy chàng cười yếu ớt, cô khẽ sờ ngón tay vào má chàng.
- Em yêu, Trời phù hộ em!
Giọng chàng rất nhỏ và khàn, như một tiếng thì thầm, chàng cúi đầu để hôn lên ngón tay cô.
- Ôi, anh Bruce!
Đó là tất cả những gì có thể thốt ra được vì cổ họng cô như bị tắc lại, một giọt nước mắt lăn trên má. Và cô vừa kịp lau giọt thứ hai không để cho nó lăn xuống. Anh nhắm mắt lại, nặng nề quay đi và khẽ thở dài.
Những ngày sau đó, cô luôn biết được lúc nào chàng tỉnh, dần dần chàng bắt đầu nói, trong mấy ngày chỉ được vài câu. Cô cũng không ép chàng phải nói nhiều vì biết làm như vậy chàng rất mệt. Nhiều khi, lúc cô ở trong buồng, mắt chàng dõi theo cô đầy vẻ ân tình, cô thấy nao nao trong lòng. Cô muốn nói với chàng là việc cô làm không đáng kể, là cô yêu chàng, là chưa bao giờ cô thấy sung sướng hơn trong suốt những ngày đã mang hết trí tuệ, sức lực ra hiến dâng cho chàng. Mặc cho quá khứ, mặc cho tương lai đang chờ đợi họ ra sao, cô đã có được mấy tuần lễ chàng hoàn toàn thuộc về cô.
Ngày tiếp ngày, Luân Đôn biến đổi.
Dần dần những người bán hàng cùng với tiếng rao đã vang lên từ bao thế kỷ biến mất trong thành phố. Phần lớn các cửa hàng đã đóng cửa, các nhân viên không còn đứng trước quầy hàng của họ chào mời ầm ĩ những người qua lại. Những người buôn bán sợ các khách hàng, và khách hàng sợ nhà buôn. Bạn bè ngoảnh mặt đi hoặc đi vội qua đường khi họ gặp nhau để tránh tiếp xúc với nhau. Nhiều người không mua thực phẩm, sợ bị nhiễm trùng, thà phải chết đói còn hơn.
Nhiều nhà hát đã đóng cửa trong tháng Năm, và rất nhiều quán ăn, khách sạn cũng vậy. Những tiệm nào còn mở thì có lệnh phải đóng cửa vào chín giờ tối, đuổi tất cả những kẻ đi lang thang. Không còn chọi gà, nhào lộn hoặc múa rối; ngay cả những vụ hành hình cũng phải hoãn lại, vì tập trung đông người. Việc chôn cất mai táng bị cấm đoán; tuy vậy, những đám ma dài vẫn xuất hiện trong khắp các phố vào bất cứ giờ nào ngày và đêm.
Bất chấp bệnh dịch, nhà thờ nào cũng đầy người. Nhiều vị bộ trưởng chính giáo bỏ trốn, nhưng những người không chính giáo ở lại và cổ vũ quần chúng, lên án bọn họ. Chưa bao giờ bọn gái điếm lại có nhiều khách hàng như lúc này. Có lời đồn rằng không có liều thuốc chống dịch hạch nào tốt bằng mắc bệnh hoa liễu, cho nên các nhà chứa đều mở cửa suốt đêm ngày. Gái điếm và khách làng chơi nhiều khi chết cùng với nhau và xác của họ được chuyển ra bằng cửa sau. Một thứ thuyết định mệnh nói với họ là cứ chơi cho quên sự đời trước khi đến số phận mình. Nhiều kẻ chạy đến các thầy tướng số, bói toán…
Những người “lùng tìm xác chết” đi khắp các phố. Nhiệm vụ của họ là khám và báo cáo nguyên nhân về tòa thị chính. Họ là những bà già không biết chữ và cũng bất lương như các nữ hộ lý; trong thời kỳ có bệnh dịch, họ sống ngoài lề xã hội, bao giờ cũng cầm một chiếc gậy trắng trong tay để mọi người nhận ra họ và im tiếng khi họ đi qua.
Thành phố vắng ngắt. Đường vận chuyển trên sông Thames ngừng trệ, không còn bóng dáng một con tàu. Bốn mươi ngàn con chó và hai trăm ngàn mèo đã bị diệt, người ta cho là chúng mang mầm bệnh. Ngay giữa trung tâm thành phố, có thể nghe tiếng ì ầm của nước va vào các chân cột cầu Luân Đôn mà thông thường thì không nhận thấy. Chỉ có tiếng chuông là tiếp tục vang lên… vang lên… cầu hồn cho những người quá cố.
Chẳng bao lâu xác chết đầy rẫy không thể chôn riêng xác từng người. Người ta đào những cái hố lớn, bốn mươi piê dài, hai mươi rộng ở đầu thành phố, nơi đây mùi hôi thối xông lên không sao chịu nổi.
Amber tự bảo vệ chống lại bệnh dịch bằng cách không nghĩ đến nó. Vả lại đó cũng là nguồn an ủi duy nhất cho những ai không thể rời bỏ thành phố.
Thường cô vẫn phải đi mua sắm tất cả, những người bán hàng rong biến hết, những tiếng kêu khủng khiếp phát ra từ những nhà bịt kín. Những bộ mặt thảm hại xuất hiện ở các cửa sổ và những bàn tay chơi vơi giơ ra cầu khẩn.
- Xin cầu nguyện cho chúng tôi!
Người chết và người hấp hối mỗi ngày một thường xuyên hơn, bệnh dịch giáng xuống đầu họ như những tiếng sét.
Một đêm, vào cuối tháng Bảy, Amber nghe thấy tiếng kêu khác thật khủng khiếp. Trước đó là tiếng bánh xe lăn trên vỉa hè và tiếng leng keng của một cái chuông nhỏ. Một người đàn ông, giọng oang oang, kêu lên:
- Đem hết những xác chết ra! Đem hết những xác chết ra!
Cô liếc Spong, lúc đó Bruce ngủ, rồi lao ra cửa sổ. Ngoài đường phố, một chiếc xe bò đang lừ lừ tiến lên, một người ngồi trên xe và một người khác đi bên cạnh tay lắc cái chuông. Dưới ánh đuốc do người thứ ba cầm, một đống xác chết chồng chất lên nhau do bị quẳng lên xe. Những cánh tay, cẳng chân chĩa ra, những mớ tóc dài quét xuống đất.
- Lạy đức Mẹ Đồng trinh!
Amber lắp bắp rùng mình lùi lại. Cô cảm thấy ớn lạnh, khiếp đảm. Hai hàm răng mụ Spong run lập cập:
- Ôi, Chúa Jesus! Xác người chồng chất lung tung lên như vậy bởi bàn tay của bất cứ tên kẻ cắp nào! Trời! Quá sức chịu đựng của con người!
- Có im đi không! - Amber sốt ruột nói. - Việc gì đến bà!
- Ôi, thưa bà! Hôm nay chưa việc gì đến chúng ta. Nhưng biết đâu ngày mai…
- Thôi! - Amber quát lên làm mụ giật nảy mình, cô hơi hổ thẹn thấy mình quá nóng, liền nói đùa. - Trông bà ủ rũ hơn cả một cây liễu, tại sao bà không vào bếp mà tu một hơi?
Spong liền đi ngay, lòng đầy biết ơn, nhưng Amber không sao đuổi được ra khỏi trí óc mình, hình ảnh chiếc xe bò chất đầy xác chết. Những bệnh nhân, những xác chết nằm dọc trên phố phường, tiếng chuông cầu hồn vang lên không dứt, nỗi im lặng bất thường của thành phố, mùi xác chết, tin do người lính gác cung cấp có hai ngàn người chết bệnh tuần qua, tất cả những cái đó đập vào trí óc cô. Cô đã thắng được nỗi lo sự mê tín dần dần ám ảnh.
“Tại sao trong khi những người khác chết ta vẫn còn sống và khỏe mạnh? Ta đã làm gì để xứng đáng được sống trong khi họ chết cả?” Và cô hiểu rằng mình không xứng đáng được sống hơn những người khác!
Mối lo sợ cũng lây như bệnh dịch và lan tràn khắp nơi.
Đến giữa tháng Tám, một buổi sáng, Bruce “tuyên bố” với Amber là trong vòng nửa tháng nữa chàng có thể từ giã Luân Đôn, đang sửa soạn giường, cô trả lời chàng cũng bình tĩnh như cô không hề xao xuyến về vấn đề đó từ ít lâu nay!
- Bây giờ không ai có thể rời bỏ thành phố, dù có giấy chứng nhận sức khỏe hay không.
- Điều đó không sao cả. Anh nghĩ và tin rằng anh đã có cách để chúng ta ra khỏi nơi đây.
- Không có gì làm em sung sướng hơn. Cái thành phố này. Trời ơi! Một cơn ác mộng. - Lập tức cô thay đổi đề tài và mỉm cười nói tiếp với chàng - Anh có thích được cạo râu không? Em cạo cừ lắm!
Đi vào bếp lấy ra một chậu nước nóng, cô thấy Spong đang ngồi ngất ngưởng với một bát xúp gần đầy để trên đầu gối. Cô vui vẻ nói:
- Thế nào, bà không thèm nói với tôi một câu là bà đã no rồi à?
- Lạy Chúa, thưa bà! Hôm nay tôi thấy trong người nó lao đao làm sao ấy!
Amber đứng thẳng người chăm chú nhìn mụ: “Nếu con mụ gớm ghiếc này mà mắc bệnh thật, ta sẽ tống mụ ra không sao cả. Tòa thị chính muốn nói gì thì nói.”
Nhưng cô vội quay vào phòng ngủ với Bruce, đặt dụng cụ lên bàn, buộc một cái khăn mặt trắng lên cổ chàng và ngồi xuống bên cạnh. Cả hai đều hân hoan và vui đùa nhiều. Amber cảm thấy một niềm hạnh phúc mênh mông, lúc ngồi sát vào chàng, cô đều thấy cặp mắt chàng nhìn vào ngực mình. Tim cô đập mạnh, một luồng nhiệt huyết bừng bừng trong cổ. Cô dịu dàng nói:
- Chắc là anh đã cảm thấy dễ chịu lắm rồi!
- Khá lắm, nếu không muốn nói là tốt.
Khi mặt chàng đã cạo xong, trừ bộ ria mép, cô thấy là chàng vẫn còn ốm. Nước da chàng thường là màu nâu, nay tái như sáp, cặp má chàng hõm xuống, những nếp nhăn nhỏ trước đây không có, đã điểm ở hai bên mép và đuôi mắt. Chàng gầy đi nhiều. Nhưng đối với Amber, chàng vẫn rất đẹp.
Lúc này chàng đang ngủ, vì chàng còn quá yếu nên mỗi một hoạt động nhỏ đều có thể làm chàng kiệt sức. Amber lấy cái mũ và đóng khóa cửa lại để cho Spong không thể vào được lúc cô đi vắng, rồi cô sang bếp. Mụ già đi đi lại lại không mục đích với dáng điệu ngây ngô. Thấy mụ, Amber nghĩ ngay đến những con chuột chù có cái mõm dài thường chui ra khỏi lỗ và chạy trốn khi thấy cô cầm chổi đuổi. Amber hỏi, vừa đội mũ và nhìn mụ qua gương:
- Bà thấy yếu hơn à?
- Cũng không hẳn, thưa bà. Nhưng trong này lạnh lắm phải không?
- Không đâu. Trời rất nóng. Nhưng bà đến mà ngồi gần lửa.
Amber cảm thấy rất bực mình tự nhủ rằng nếu mụ ta mà ốm thì phải vứt hết thức ăn để trong chạn và tẩy trùng trong phòng. Và, không như với Bruce, cô sợ bệnh mụ lây sang mình. Nếu lúc về ta thấy mụ yếu hơn, ta phải bảo mụ đi ra.
Khi trở về, cô thấy Spong đang đợi mình ở cửa. Mụ vày vò cái áo với vẻ lo âu và tình cảm gần như hài hước:
- Lạy Chúa, bà ơi… - mụ thút thít khóc và nói, - tôi thấy không được khỏe chút nào.
Amber nheo mắt nhìn mụ, cặp mắt rất đỏ tóe máu. Khi mụ nói, cô trông thấy lưỡi mụ đã bị phủ cặn trắng, đầu và thành lưỡi đỏ hỏn. “Đúng bị bệnh dịch rồi!” Amber tự nhủ và quay đi để tránh hơi thở của mụ vào giữa mặt.
Đặt cái giỏ lên bàn, cô vội sắp xếp ngay các thực phẩm để Spong khỏi mó vào.
- Nếu bà muốn ra đi, - Amber cố gắng nói cho tự nhiên, - tôi sẽ biếu bà năm livrơ.
- Ra đi à, thưa bà? Nhưng tôi đi đâu? Tôi không có chỗ nào khác. Và tại sao tôi ra đi, tôi là người hộ lý! - Mụ tỳ vào tường nói tiếp. - Trời ơi! chưa bao giờ tôi thấy như thế này!
Amber vội vàng quay lại nói:
- Tất nhiên rồi, bà biết tại sao. Bà bị bệnh dịch rồi. Thôi đừng có chối nữa vô ích! Nó không làm cho bà khỏi bệnh được đâu. Này bà Spong, nếu bà chịu khó đến nhà thương, tôi sẽ tặng bà mười livrơ. Ở đấy bà sẽ được chăm sóc. Nhưng tôi cũng xin báo để bà biết trước là tôi không hơi đâu mà giúp đỡ bà. Đợi tôi một tí để tôi đi lấy tiền đã.
Cô làm vẻ đi ra, nhưng mụ ngăn cô lại:
- Vô ích, thưa bà. Tôi không muốn đi đến nhà thương dịch hạch. Tôi không có ý định chết nếu tôi có thể làm khác được. Nên đi ngay đến nghĩa địa còn hơn đến nhà thương. Bà không phải là người phụ nữ có tâm hồn, nỡ lòng vứt ra ngoài đường một mụ già khốn khổ đã giúp bà cứu được đức ngài. Bà không phải là một giáo dân, bà…
Mụ lắc đầu một cách nặng nhọc.
Amber lườm mụ đầy căm ghét và ghê tởm. Cô định bụng đến đêm sẽ tống mụ ra, dù là bằng mũi dao nhọn. Bây giờ mới là hai giờ, cần phải chuẩn bị bữa ăn phụ cho Bruce. Spong quay ra phòng khách và lần đầu tiên mụ bỏ ăn. Amber bắt tay vào làm món ăn.
Lúc cô bưng khay vào buồng ngủ, qua phòng khách thấy Spong nằm trên một cái ghế dài trước cửa sổ, vừa run rẩy vừa lẩm bẩm qua kẽ răng. Mụ giơ tay về phía Amber:
- Thưa bà, tôi ốm rồi…
Amber đi qua không thèm nhìn, răng nghiến chặt rút trong túi ra chiếc chìa khóa buồng. Mụ già hoảng sợ vội đứng lên đi theo. Amber vội vàng mở cửa, lao vào bên trong đóng ngay cánh lại và khóa chặt. Cô nghe thấy Spong rên rỉ và rơi phịch xuống chiếc ghế dài.
Amber thở dài nhẹ nhõm, cô ghê sợ, vì đã nghe nói có một số bệnh nhân đã lao vào những người qua đường để hôn họ. Cô quay lại nhìn Bruce, chàng đang tỳ lên khuỷu tay lo lắng và kinh ngạc nhìn cô:
- Gì thế?
- Có gì đâu!
Cô mỉm cười, bưng nhanh chiếc khay lại. Nói với chàng về Spong bị mắc bệnh là vô ích, chỉ làm cho chàng thêm lo lắng, và chàng chưa đủ sức để chịu đựng được xúc động, cô tiếp:
- Spong còn đang say, em không muốn để mụ vào làm phiền anh.
Vừa nói cô vừa bày các đĩa rồi nói tiếp với nụ cười đôi chút kích động:
- Anh hãy nghe mà xem, mụ hoàn toàn hỏng rồi!
Chàng không trả lời, Amber có cảm giác là chàng đã đoán ra là mụ bị bệnh dịch chứ không phải say rượu. Cô cùng ăn với chàng nhưng không ai nói nhiều và ít vui, Amber an tâm thấy chàng lại nằm ngủ. Cô không dám ra mà ở lại cạnh chàng, luôn lắng nghe từng tiếng động trong phòng khách. Thỉnh thoảng cô lại rón rén đi trên đầu ngón chân ra tận cửa để nghe ngóng. Mụ già cựa quậy không ngừng, rên rỉ và gọi cô. Cuối cùng đến quá trưa cô nghe thấy một tiếng bịch, cô hiểu rằng mụ ngã xuống sàn. Cứ nghe mụ chửi rủa, cũng đoán được là mụ đang tìm cách đứng lên nhưng không được. Amber cảm thấy lo sợ, không dám rời khỏi Bruce, chàng đang ngủ say sưa. Cô nghĩ bụng:
“Làm thế nào mà rũ bỏ được nó? Ôi! Quỷ nó tha mụ đi, mụ già bẩn thỉu ấy!”
Ra trước cửa sổ, nhìn cảnh mặt trời lặn chiếu sáng những vệt đỏ, vàng trên các ngọn cây, phản chiếu vào trong tấm kính, thì bỗng nhiên cô thấy hình như có một tiếng động mới, kỳ lạ: cô ngạc nhiên lắng nghe một lúc và tự hỏi tiếng động do đâu và từ đâu đến. Rồi cô hiểu là từ phòng bên, một thứ tiếng òng ọc ngừng lại một lúc rồi lại tiếp tục, tưởng mình bị lầm do tưởng tượng. Cô hoảng hồn vì đó là một thứ âm thanh sầu thảm, rồi như bị thúc đẩy bởi một ý thức mạnh hơn, cô đi qua phòng nhẹ nhàng xoay chìa khóa mở cửa.
Mụ Spong nằm thẳng cẳng trên sàn, dang rộng chân tay. Mồm mụ há hốc và từ đó thoát ra một thứ nước nhờn đặc sệt, có lẫn máu, cứ mỗi một lần thở lại chảy cả đằng mũi. Amber kinh hoàng đứng ngây ra nhìn. Cô đóng cửa lại, hơi đột ngột, đứng tựa lưng vào đó, toàn thân run rẩy. Chắc chắn tiếng động cửa đã làm Spong chú ý, vì Amber thấy có tiếng òng ọc to hơn, như mụ tìm cách gọi cô. Cô kêu lên hãi hùng, bịt tay lên tai rồi chạy trốn vào phòng trẻ.
Phải mất đến vài phút cô mới lại hồn và quyết định trở lại phòng ngủ. Cô thấy Bruce đã thức dậy.
- Anh đang tự hỏi không biết em đi đâu. Spong đâu? Mụ yếu lắm hả?
Trong phòng đã tối, cô chưa thắp đèn, nên chàng không thể nhìn thấy mặt cô. Chờ một lúc, khi không nghe thấy gì nữa, cô cho là mụ đã chết. Cô cố gắng làm cho câu trả lời được tự nhiên:
- Mụ ta đi rồi! Em cho mụ về và mụ đến nhà thương dịch. Em đi châm đèn ở trong bếp.
Trong bóng tối mờ ở phòng khách, một khối lù lù bất động, nhưng cô đi qua không dừng lại, vào bếp thắp đèn rồi trở lại. Spong đã chết.
Cô xốc váy lên kinh tởm vào phòng. Mặt tái nhợt, vô cùng buồn nôn, nhưng cô cũng làm xong được nhiệm vụ hàng ngày, quyết không để cho Bruce biết. Cảm thấy chàng quan sát mình cô không dám nhìn lại, vì nếu chàng nói lên, cô biết là mình không giữ được nữa. Đứng bên bờ một cuộc khủng hoảng tâm thần phải cố hết sức để giữ thản nhiên, đợi đến lúc có xe chở xác đi qua cô sẽ đẩy xác mụ xuống.
Khi những tia sáng nhợt nhạt mịn màng còn vạch trên bầu trời, Amber đã nghe thấy tiếng gọi từ xa: “Hãy cho những xác chết ra ngoài”.
Amber giật mình, người cứng đơ như kẻ trộm bị chủ nhà phát hiện, cô vơ vội lấy cây đèn và nói với chàng:
- Em vào bếp chuẩn bị bữa ăn tối.
Chàng chưa kịp lên tiếng, cô đã vội đi ra.
Không nhìn Spong, cô đặt đèn lên bàn mở cửa thông ra phòng ngoài. Tiếng gọi đến gần, Amber đứng im một lúc rồi đột ngột xắn váy và cởi váy trong ra, quấn nó vào hai tay, nắm lấy hai cổ chân to xù của mụ, từ từ kéo ra cửa. Bộ tóc giả của Spong rơi và trán mụ quét lê trên sàn.
Mới ra đến đầu cầu thang, Amber đã cảm thấy đuối sức, người đẫm mồ hôi, hai tai ù. Cô đi giật lùi, đặt bàn chân xuống bậc thứ nhất, tìm thấy nó, bước xuống một bậc nữa. Cầu thang tối om, cô nghe rõ tiếng xương của xác chết va vào mỗi bậc thang có trải thảm. Cuối cùng cô xuống đến dưới, đập cửa. Người lính gác mở, Amber khẽ nói:
- Người hộ lý chết rồi.
Mặt cô xanh mét và cái váy trong tuột khỏi một bàn tay. Chiếc xe bò đã lại gần cùng với tiếng kêu mới:
- Bó củi đây! Sáu xu một!
Thật lạ lùng, người ta bán củi vào giờ này và mùa này. Nhưng lúc đó chiếc xe bò đã đến trước cửa nhà. Đi đầu là một người đàn ông cầm một bó đuốc khói um theo sau là chiếc xe bò, bên cạnh xe một người đàn ông khác vừa đi vừa rung chuông vừa như tụng kinh:
- Đem người chết ra ngoài!
Trên ghế xe còn một người thứ ba nữa, Amber trông thấy người đó ôm một cái thân thể trần truồng của một đứa trẻ chừng ba tuổi, miệng kêu lên:
- Củi đây! Củi đây! Sáu xu một bó!
Amber kinh hãi ngơ ngác nhìn người đó, hắn ném cái xác đứa bé vào trong xe và đi xuống. Có người lắc chuông giúp hắn tiến lên để kéo Spong lên xe. Hắn cằn nhằn:
- Thế nào, gì đây?
Hai người đàn ông cúi xuống nắm lấy xác Spong. Một người giựt tung áo của mụ, để lộ cái thân thể béo phì và mềm nhũn. Từ đầu đến chân mụ đầy những nốt tím bầm nhỏ, những dấu vết của bệnh dịch hạch. Hắn huýt lên một tiếng sáo khinh bỉ, tập trung nước bọt và nhổ lên xác chết, nói:
- Cái đống thịt này thối tha quá!
Bạn đồng nghiệp của hắn không tỏ vẻ ngạc nhiên, rõ ràng là họ đã quá quen với những hành động đó rồi. Họ ném Spong vào trong xe, người cầm đuốc lại bước đi, người rung chuông lại cầm cái chuông, và người đánh xe lại trèo lên xe. Hắn còn quay lại ném vào Amber một câu:
- Tối mai chúng tôi quay lại đây nhặt cô! Xác cô sẽ đẹp đẽ hơn nhiều so với cái mụ già rác rưởi này!
Amber đóng cửa lại, nặng nề lên lầu, mệt mỏi và chán nản, bám chặt vào lan can.
Lên đến bếp, cô làm thức ăn tối cho Bruce, nghĩ ngay đến việc sau đó phải lấy nước nóng và bàn chải để cọ sàn phòng khách. Lần đầu tiên cô cảm thấy bực mình trước một khối công việc đang chờ. Cô không mong ước gì hơn được nằm, được ngủ và tỉnh dậy ở một nơi xa hẳn nơi đây. Gánh nặng vượt quá sức chịu đựng của cô.
“Trời ơi!” Cô kinh hãi nói một mình “đầu ta sao thế này? Chỉ một ngày như thế này nữa là ta chỉ còn việc vào nhà thương điên!”
Cô chuẩn bị món ăn, động tác chậm chạp và vụng về. Cô đánh rơi một quả trứng, cúi xuống lau, cảm thấy đầu đau nhức từng chập, choáng váng. Cô từ từ đứng thẳng dậy, người lảo đảo kinh ngạc, nếu không vịn vào bàn cô đã ngã.
Đứng lặng một lúc, mắt trừng trừng nhìn xuống bàn rồi quay lại đi ra phòng khách, cô nhủ thầm cố đẩy ý nghĩ đó ra:
“Không, không phải thế. Tất nhiên là không đúng rồi!” Cô cầm lấy cây đèn nến đặt nó lên cái bàn nhỏ. Tỳ lên hai cánh tay, cô cúi xuống để nhìn mình cho rõ trong cái gương tròn nhỏ treo trên tường. Ánh đèn nến làm cho mặt Amber có nhiều nốt bóng. Cô buộc tội những vòng thâm quầng quanh mắt, nhấn mạnh vào bóng của những cặp mi. Cuối cùng cô thè lưỡi ra, nó đã phủ đầy một chất cặn màu vàng, trừ ở đầu lưỡi và hai bên thành, chúng rõ nét và bóng nhẵn, đỏ hỏn. Amber nhắm nghiền mắt lại, toàn bộ căn phòng nhảy nhót trước mắt cô.
“Lạy Chúa! Tối mai sẽ đến lượt con!”