Ambre (Kiếp Hồng Nhan)

Lượt đọc: 8290 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN MỘT - I -
1660

Làng Marygreen không hề thay đổi trong mười sáu năm nay.

Ban ngày yên tĩnh và nóng, trời xanh biếc, loáng thoáng những vệt mây trắng dài như có một cái chổi lông quét lên tấm tranh vẽ màu còn tươi. Không khí ẩm ướt của tiết xuân toát lên một mùi dễ chịu quen thuộc. Mặt đường cái lố nhố những bầy gà, ngỗng và chim sẻ. Một em gái nhỏ đứng trước hàng rào, hai tay ôm một con thỏ đã thuần tính.

Trời đã quá trưa, người lớn đều bận công việc nên những kẻ lang thang trong lúc này là những con chó, mấy con mèo đang nô giỡn và một vài đứa trẻ còn nhỏ quá chưa giúp ích được việc gì. Một người đàn bà tay xách giỏ đi trên đường, dừng lại nói chuyện với một người đàn bà khác đang nâng cái khung cửa sổ lên và cúi xuống giữa những cây hồng leo. Túm tụm xung quanh một cây thánh giá của làng, do phép thần kỳ đã thoát khỏi tay bọn lính của Cromwell, là tám cô thiếu nữ của các ấp trại vùng xung quanh, được các bậc cha mẹ giao cho việc trông coi đàn súc vật đang ăn trên cánh đồng cỏ công cộng, không được để một con dê, một con bò hoặc một con cừu nào lạc đàn hay bị bắt trộm.

Mấy cô trẻ nhất đang tập đồng ca bài “Từ đây đến Babylon còn bao xa?”, nhưng có ba cô lớn tuổi hơn đang chuyện trò một cách sôi nổi, hầu như giận dữ nữa. Hai nắm tay để lên đùi, họ nhìn về phía thửa ruộng bên kia có hai anh thanh niên cử chỉ ngượng ngùng, hai tay đút túi, lắc lư chân bên này sang chân bên nọ, đang nói chuyện say sưa với một thiếu nữ có lẽ đấy là nguyên nhân gây ra sự lúng túng cho hai cậu, nhưng bóng hai người lại che khuất mặt cô gái đối thoại.

- Cái con ranh con Amber St. Clare ấy! - Cô lớn nhất nói - khi có bóng một đứa con trai nào ở đâu là y như có mặt nó ở đó! Có lẽ nó đã đánh hơi thấy trai từ xa!

- Lẽ ra nó phải được lấy chồng và đẻ con từ một năm nay rồi kia đấy, mẹ tớ bảo thế!

Cô gái thứ ba mỉm cười vẻ tinh quái và bô bô như là điều dĩ nhiên:

- Ồ! Có thể là nó chưa lấy chồng, nhưng nó đã bị…

- Suỵt! - Cô gái thứ nhất vội ngăn bạn và dùng đầu chỉ những đứa gái nhỏ.

- Việc quái gì! - Cô kia phản đối nhưng cũng hạ thấp giọng và sau cùng chỉ còn là những tiếng thì thầm: - Anh tớ nói rằng Bob Starling đã kể là nó đã hiến thân cho anh ấy hôm chủ nhật vừa rồi đấy!

Nhưng Lisbeth, cô gái đã mở đầu câu chuyện, búng các ngón tay một cách khinh bỉ:

- Chuyện bịa, Gartrude! Jack Clarke cũng kể như thế cách đây đã sáu tháng mà hôm nay con ranh con ấy chẳng thấy phềnh ra hơn lúc đó chút nào. Gartrude như đã sẵn có câu trả lời:

- Thế cậu có muốn biết tại sao không, Lisbeth? Bởi vì có thể nó đã nhổ nước bọt ba lần vào miệng một con ếch… thế đấy! Maggie đã trông thấy nó làm thế mà!

- Thôi đi! Mẹ tớ nói rằng chẳng ai có thể nhổ được nước bọt ba lần vào miệng một con ếch!

Nhưng cuộc tranh luận đột nhiên bị ngừng lại. Vì có tiếng vó ngựa vừa vang lên trong cảnh tĩnh mịch của cái thung lũng nhỏ bé này, và một đoàn người cưỡi ngựa xuất hiện ở ngã ba đường, đang phóng dọc theo con phố hẹp. Một em bé gái sáu tuổi thét lên vì khiếp sợ chạy vội đến nép mình vào người Lisbeth.

- Lão Noll đấy! Lão từ địa ngục trở về để mang chúng ta đi.

Mặc dù đã chết, Oliver Cromwell vẫn còn gây được những tác động tinh thần có hiệu lực đối với bọn trẻ không muốn vâng lời bố mẹ.

Đoàn kỵ sĩ ghì cương làm cho những con ngựa của họ đứng sững lại cách nhóm các cô gái chừng mười bước. Các cô lúc đầu còn lo sợ, sau chuyển sang thái độ thành thật thán phục. Có tất cả mười bốn người, nhưng già nửa là đầy tớ hoặc người đưa đường, vì họ mặc quần áo dân thường và kín đáo đứng xa những người kia một khoảng. Những người này, khoảng sáu người, rõ ràng là thuộc giới thượng lưu.

Tóc họ cắt đến ngang vai theo kiểu kỵ sĩ, quần áo rất hào nhoáng, bằng nhung đen hoặc đồ sẫm, hoặc bằng sa tanh xanh với những cổ áo lớn màu trắng, những chiếc sơ mi bằng lanh rất đẹp. Họ đội mũ vành rộng, trang điểm thêm chiếc lông cong vút, các tấm áo choàng kỵ sĩ thì khoác ở vai. Những đôi ủng cao của họ bằng da có gắn những đinh thúc ngựa bằng bạc, mỗi người đều kè kè một thanh gươm bên sườn. Rõ ràng là họ vừa mới rong ruổi cật lực qua một chặng đường dài, - vì quần áo của họ đầy bụi bặm và trên mặt họ lấm tấm những vết bẩn cùng mồ hôi. Nhưng với cặp mắt các cô gái, họ có một vẻ gì lớn lao, đáng sợ.

Một người trong bọn họ ngả mũ ra nói với Lisbeth có thể là vì cô xinh nhất, với một vẻ từ tốn, nhã nhặn cả trong cặp mắt cũng như trong giọng nói; anh ta ngắm nghía cô gái từ đầu đến chân làm cho Lisbeth vô cùng lúng túng.

- Thưa cô, chúng tôi muốn tìm một nơi để ăn trưa. Gần đây có quán nào tốt không?

Lisbeth trợn tròn mắt nhìn ông khách, miệng há hốc không nói được lời nào, nhưng anh ta vẫn mỉm cười với cô, bàn tay bình tĩnh để trên đốc yên. Quần áo anh ta bằng nhung đen, với một cái áo chẽn ngắn. Tóc đen, cặp mắt xanh xám, ria mép đen nhỏ viền vành môi trên. Rõ ràng anh ta có dáng người to lớn, nhưng cái nổi bật ở anh chính là nét mặt rắn rỏi, từng trải chứng tỏ anh đúng là một nhà quý tộc, nhưng là một kẻ giang hồ, một tay ăn chơi lang bạt khét tiếng.

Lisbeth nuốt nước bọt, khẽ nghiêng mình chào rồi trả lời:

- Thưa ngài, có lẽ quán Three Cups ở Heathstone thích hợp với các ngài hơn.

Cô không dám giới thiệu cái làng nghèo nàn của mình với các vị khách quyền quý này.

- Đây đến Heathstone còn xa không?

- Để cái Heathstone ấy cho quỷ sứ! - Một người cùng đi lên tiếng - Ở đây tồi tàn lắm sao? Không được ăn gì mà phải đi thêm một dặm đường nữa thì tôi chỉ có mà lăn xuống chân con ngựa này mất thôi!

Đó là một chàng trai tóc hung, hai má đỏ, mặc dù vẻ không bằng lòng, cũng rất tươi tắn và hồn nhiên. Các bạn anh đều phá lên cười. Một người trong bọn họ đấm vào vai anh ta và nói:

- Trời ơi! Sao mà chúng ta khốn khổ đến thế này! Almsbury chưa được một miếng nào vào dạ dày kể từ sáng nay khi anh ta chỉ mới nuốt hết nhẵn một cái đùi cừu để lót dạ.

Họ lại cười rộ lên. Tính háu đói của Almsbury đã là một trò đùa cho các bạn anh. Các cô gái đều phụ họa theo. Bây giờ các cô đã thấy thoải mái, và em bé sáu tuổi, đã tưởng những tín đồ Thanh giáo ấy là những con ma, lúc này đã rời khỏi Lisbeth và tiến lại gần vài bước.

Một sự kiện lại bất ngờ xảy ra làm thay đổi đột ngột tình hình đang diễn ra giữa những kỵ sĩ và các cô gái.

- Thưa các ngài! Quán của chúng tôi ở đây không chê vào đâu được!

Giọng nói lanh lảnh của một thiếu nữ vang lên: cô gái lúc nãy nói chuyện với hai thanh niên nông thôn, đã băng qua cánh đồng chạy đến.

Các cô gái kia sững sờ, tỏ ra thủ thế, còn các kỵ sĩ thì lại nhìn cô thiếu nữ mới đến với vẻ ngạc nhiên thích thú. Cô nói tiếp:

- Bà chủ quán ở đây chế rượu bia ngon nhất vùng này đấy ạ!

Cô khẽ nghiêng mình chào Almsbury, rồi đôi mắt cô bắt gặp đôi mắt người kỵ sĩ, anh chàng này cũng ngắm nhìn cô với vẻ chiêm ngưỡng và thán phục. Trong một lúc, thời gian như ngừng trôi.

Cô Amber St. Clare giơ cánh tay chỉ về phía cuối phố, một cái biển lớn cũ kỹ, trong đó hình con sư tử còn sáng chói dưới ánh mặt trời.

- Thưa ngài, ở ngay bên cạnh cái lò rèn đấy ạ!

Tóc cô màu mật rơi lòa xòa xuống hai vai, khi cô ngẩng mặt lên nhìn anh, đôi mắt trong sáng màu hổ phách của cô như hơi cụp xuống ở hai bên khóe. Lông mày đen, rõ nét, cặp mi cong và dày. Người cô toát lên một vẻ tươi thắm, ấm áp, hấp dẫn hầu như đối với bất cứ người đàn ông nào. Có lẽ cô cũng nhận ra điều ấy. Chính cái thứ đó đã làm cho các cô gái khác thèm muốn hơn là sắc đẹp của cô.

Ăn mặc cũng như các cô gái kia: một cái váy bằng len thô, một cái khăn trùm trắng, và một cái áo nịt đen bó sát ngực. Chân cô không đi bít tất và mang một đôi giày đen xinh xinh. Tuy nhiên, cô cũng không thể lẫn với các cô gái khác. Rõ ràng là một loài hoa lạ giữa đồng nội, một con công non lạc vào đàn gà.

Almsbury cúi mình về đằng trước, hai cánh tay khoanh trên đốc yên, chậm rãi nói:

- Nhân danh Chúa Jesus! Cô làm gì ở đây, một nơi khỉ ho cò gáy này?

Cô gái rời mắt khỏi người kỵ sĩ kia, nhìn anh mỉm cười, để lộ hàm răng trắng tuyệt đẹp.

- Thưa ngài, nhà tôi ở đây ạ.

- Trời ơi, tôi biết là thế rồi! Nhưng làm sao mà cô lại đến đây? Cô là ai? Con hoang của một tay quý tộc nào đó gửi nuôi ở nông thôn rồi bị lãng quên từ 15 năm nay, có phải không?

Chuyện đó hầu như ai cũng biết, nhưng cô gái vẫn tỏ vẻ tức giận, nhíu cặp lông mày lại, đáp:

- Thưa ông, tôi không phải là đứa con hoang. Tôi là con của bố tôi, cũng như ông, hoặc còn hơn thế nữa!

Tất cả đoàn kỵ sĩ, kể cả Almsbury, cười thoải mái về câu đối đáp đó, anh nói:

- Không có gì là xúc phạm đâu, cô bé thân mến ạ! Tôi chỉ muốn nói là cô chẳng có vẻ gì giống một thôn nữ mà thôi!

Cô mỉm cười với anh như để xin lỗi về lời nói kém nhã nhặn vừa rồi, nhưng rồi cặp mắt của cô đã vội quay sang phía người kỵ sĩ kia. Anh ta vẫn chăm chú nhìn cô làm cô ấm lòng và hãnh diện.

Các kỵ sĩ cho ngựa quay nửa vòng và khi anh ta đi qua trước mặt cô, anh gật đầu tỏ dấu thân mật. Almsbury ngả mũ chào cám ơn và đoàn người ngựa đi về phía quán ăn.

Các cô gái đứng yên lặng một lúc nhìn họ xuống ngựa đi vào quán trong khi các cậu con trai nhỏ của chủ quán chạy ra dắt ngựa.

Khi họ đã đi khuất, Lisbeth liền thè lưỡi ra với Amber và nguýt cô một cái rồi nói, giọng đắc thắng:

- Này! Hay hớm nhỉ, đồ gái lắm mồm!

Amber cũng lườm lại làm Lisbeth cụt hứng và kêu lên:

- Ai khiến nhúng mõm vào?

Cặp mắt hai cô gái nhìn nhau chòng chọc, rồi Lisbeth quay đi chạy qua cánh đồng đến chỗ các cô tập trung đồ nghề. Các cô gái kia đang nô đùa bỗng dừng lại và tất cả vội vã trở về nhà cho bữa cơm chiều. Mặt trời đã lặn, phía chân trời đỏ rực, còn bầu trời trên cao thì nhuốm màu xanh thẳm. Đó đây một vài ngôi sao xuất hiện; không gian đầy vẻ huyền diệu của buổi hoàng hôn. Tim còn hồi hộp, Amber quay về nơi để giỏ đồ trong đám cỏ. Hai anh thanh niên nông thôn đã đi rồi. Nhặt giỏ lên, Amber lững thững đi về phía quán trọ. Trong đời mình cô chưa bao giờ gặp một người nào giống như người đó. Quần áo chàng, giọng nói chàng, ánh mắt chàng, tất cả đều toát lên một vẻ như muốn thoát sang một thế giới khác, và cô thấy khao khát được gặp lại chàng, dù chỉ trong khoảnh khắc. Tất cả còn lại, nơi cô trú ngụ, cái ấp trại của bác Matt, những thanh niên mà cô quen biết, tất cả lúc này đối với cô đều rất tẻ nhạt và đáng ghét nữa.

Sau khi nói chuyện với người thợ giày trong làng, cô được biết họ đều là những người thuộc giới thượng lưu. Nhưng họ đến đây làm gì, ở cái làng Marygreen này? Cô không sao tưởng tượng nổi. Bởi vì trong những năm gần đây, các kỵ sĩ đều phải hết sức náu mình, hoặc đã phải đi theo con vua, là Charles II, lúc này đang bị đày ra nước ngoài.

Người thợ giày đã từng chiến đấu trong cuộc nội chiến, kể cho cô về những điều ông đã nghe và trông thấy. Ông nói là ông đã gặp vua Charles I ở Oxford, đã gần người như có thể sờ được vào người. Ông nói về vẻ đẹp của nhà vua, về sự vui vẻ của các bà cung phi; về lòng dũng cảm của những người đàn ông. Đó là một cuộc sống đầy màu sắc, thân tình và lãng mạn. Nhưng cô không được trông thấy gì vì tất cả đều kết thúc từ hồi cô còn bé con, ngày mà hoàng thượng bị chặt đầu ngay trong sân hoàng cung. Đó là một cái gì thuộc về môi trường mà người lạ mặt có mái tóc đen vừa rồi đã mang theo, không phải là những người kia, vì cô có để ý đến họ đâu, hơn thế nữa, một cái gì hoàn toàn có tính chất cá nhân. Cô bỗng có cảm giác như mình được sống đầy đủ và thoải mái.

Tới quán, cô không vào bằng cửa trước, mà đi vòng ra phía sau, nơi có một em bé đang ngồi trên bậu cửa chơi với một con chó con có đôi tai cáo. Cô bước vào xoa đầu em. Trong bếp, bà Poterell đang bận rộn tíu tít. Trên thớt là một khoanh thịt bò sống, cô gái con bà chủ đang nhồi vào đấy bột mì trộn với hành tỏi. Một cô gái khác đang vội vã kéo nước nơi cái giếng trong góc bếp.

Amber thu xếp để Poterell chú ý đến mình, bà đang tất tả đi từ đầu phòng đến cuối phòng, cái tạp dề của bà bọc đầy trứng.

- Thưa bà Poterell, đây là chiếc bánh ngọt Hòa Lan mà bác Sarah của cháu gửi đến cho bà.

Sự thật không phải thế, bác Sarah đã gửi chiếc bánh đó cho vợ người lò rèn, nhưng Amber đã tự nhủ là nên đưa đến đây thì tốt hơn.

- Ôi! Cám ơn em vô cùng, em thân mến ạ! Bác chưa bao giờ gặp tình trạng như thế này. Sáu ông khách quý tộc cùng một lúc đến nhà bác. Trời ơi! Tôi biết làm thế nào bây giờ?

Vừa nói bà vừa đập những quả trứng vào trong một cái bát lớn. Meg, một cô gái 15 tuổi, lúc đó vừa chui từ dưới hầm lên, người đầy bụi, hai tay nắm chặt những cái chai xanh. Amber chạy đến nói:

- Meg đây rồi, để tôi giúp cho!

Cô cầm lấy năm cái chai đi vào phòng bên, dùng đầu gối đẩy nhẹ cánh cửa, cặp mắt cúi xuống làm ra vẻ chú ý vào các cái chai. Các chàng kỵ sĩ đang đứng trong phòng. Họ đã bỏ áo khoác ra nhưng vẫn còn đội mũ.

Almsbury trông thấy khi cô vừa xuất hiện, anh tươi cười chạy lại:

- Thế nào, em thân mến… để tôi đỡ cho đã. Vậy là ở đây người ta cũng chơi cái trò cổ lỗ sĩ ấy à?

- Thưa ngài, trò nào ạ?

Anh cầm lấy ba chai, và Amber để hai chai kia xuống bàn, rồi cô ngẩng mặt lên mỉm cười với anh. Nhưng lập tức cô lại đưa mắt tìm người kia đang đứng cạnh cửa sổ với hai người bạn và ném những con xúc xắc xuống góc bàn. Anh chàng ấy không quay mặt lại nhìn cô, anh ném một đồng tiền xuống trong khi hai người bạn búng ngón tay vì vừa thắng ván bạc. Ngạc nhiên và phật ý - vì cô muốn chàng trông thấy mình ngay, hoặc là còn trông mình nữa, - cô lại quay về phía Almsbury. Anh nói:

- Phải! Đó là một trò chơi cũ rích nhất thế giới. Có một cô hầu bàn xinh đẹp để chài các khách hàng cho đến khi họ cháy túi. Tôi đánh cuộc là cô đã lôi kéo và làm phá sản ít ra một thằng con trai chủ ấp!

Anh mỉm cười và cầm lấy một chai, mở nút đưa lên môi. Amber mỉm cười đáp lại một cách láu lỉnh và nhõng nhẽo với hi vọng là anh chàng kia sẽ quay lại thấy mình:

- Ôi! Thưa ông, tôi không phải là hầu bàn ở đây. Tôi chỉ đến đây để mang cho bà Poterell một chiếc bánh ngọt và giúp Meg mang rượu lên cho các ông.

Almsbury chỉ tu vài ngụm đã gần hết chai; anh reo lên giọng tán thưởng:

- Thế à! Vậy cô là ai? Tên cô là gì?

- Amber St. Clare, thưa ông.

- Amber nghĩa là hổ phách! Không bao giờ một người nông dân lại nghĩ đến một cái tên như vậy!

Cô cười và lén nhìn sang bên kia, nhưng anh chàng vẫn còn mải mê với món xúc xắc.

- Bác Matt tôi cũng nói như thế, bác bảo tên tôi cần phải là Mary, Anne; hoặc Elizabeth.

Almsbury lại tu vài ngụm nữa và chùi mép bằng mu bàn tay.

- Bác cô không phải là người giàu trí tưởng tượng! - Thấy cô lại nhìn về phía những người đang đánh bạc, anh hất đầu về phía sau và cười, nói tiếp - Vậy là cô muốn phía ấy phải không? Nào, lại đây!

Anh cầm lấy cổ tay cô gái, kéo đi ngang qua phòng. Khi tới gần nhóm chơi bạc, anh nói:

- Carlton này, đây là một cô gái đang muốn ngủ với cậu! Carlton quay lại, nhìn Almsbury với vẻ đồng lõa và mỉm cười với Amber.

Amber không nghe thấy câu nói và nhìn chàng với cặp mắt to sáng ngời. Cô cao không quá năm feet ba foot, một tầm vóc cũng đã khá cao, thế mà chàng còn vượt hơn cô ít nhất một feet. Cô chỉ nghe thấy quãng mở đầu của Almsbury…

- Một người mà tôi rất quý trọng mặc dù hắn đã cướp của tôi mất hết cả những cô gái đẹp mà tôi để ý tới… đây là Bruce Carlton.

Amber nghiêng mình chào, chàng cúi đầu ngả mũ một cách kính cẩn như đối với một quận chúa.

- Tất cả chúng tôi đều trở về với đức Vua, - chàng nói.

- Với đức Vua? Hoàng thượng đã trở về chưa?

- Người trở về… cũng sắp sửa, - Bruce Carlton nói.

Với tin đặc biệt ấy, Amber hết cả bối rối, bởi vì nếu như trước kia người ta có cảm tình với phái Nghị viện, họ cũng đã dần dần, như tất cả mọi người khác, bắt đầu luyến tiếc chính thể quân chủ và những lối sống cũ. Từ khi ám hại nhà vua, các bầy tôi lại đâm ra yêu mến vua hơn bao giờ hết, và họ mang tình yêu ấy đặt vào người kế vị vua.

- Trời! - Amber thở dài - sự kiện vĩ đại làm sao để mà thực hiện ngay lập tức, nhất là trong những trường hợp như thế này!

Carlton cầm lấy một chai rượu mà Meg vừa để lên bàn, dùng lòng bàn tay chùi bụi trên miệng chai, mở nút và bắt đầu tu. Amber tiếp tục nhìn chàng trừng trừng, vừa kính cẩn sợ hãi, vừa thán phục. Chàng nói với cô:

- Chúng tôi đi tới Luân Đôn, nhưng một con ngựa cần phải đóng móng lại. Cái quán này thế nào? Có thể trọ đêm ở đây được không? Liệu chủ quán có định ăn trộm của chúng tôi không? Có rận rệp gì không?

Vừa nói chàng vừa nhìn cô, và vì một lý do mà cô không thể hiểu tại sao trong cặp mắt chàng sáng lên một ánh tinh nghịch. Cô bực tức kêu lên:

- Ăn trộm của các ông à? Bà Poterell không bao giờ ăn trộm của ai cả! Đây là một quán trọ tuyệt vời. Cái ở Heathstone không thấm với đây!

Hai người quý tộc cười, Almsbury nói:

- Thôi! Dù chủ quán có xoáy trộm của chúng tôi những đôi giày, dù có nhiều rận rệp như cỏ ngoài đồng, thì nó vẫn là một quán trọ bên nước Anh và mẹ kiếp! Một cái quán tốt!

Anh nghiêng mình chào rồi bỏ hai người, để đi kiếm một chai rượu khác. Amber có cảm giác như toàn thân mình tan ra. Cô lặng người ngắm chàng, bực mình vì sự sững sờ đã làm lưỡi cô cứng lại không nói được. Tại sao cô là người lúc nào cũng sẵn sàng một câu đối đáp với mọi người mặc dù ở tuổi nào hay địa vị nào, thế mà lúc này cô không tìm được một câu nào để nói cả? Cô đang tuyệt vọng tìm một câu làm cho chàng phải để ý, phải chia sẻ sự khích động và sự ngưỡng mộ mà cô cảm thấy. Thất vọng, cô nói luôn ngay một câu mà cô chợt nghĩ:

- Ngày mai ở Heathstone tổ chức hội chợ tháng Năm.

- Thật à?

Cặp mắt chàng cúi xuống nhìn vào bộ ngực đầy đặn và tròn trĩnh của cô. Đó là một cô gái đã sớm tới tuổi trưởng thành, mọi dấu vết niên thiếu không còn nữa.

Amber cảm thấy máu trào lên cổ và lên mặt, cô vội nói thêm:

- Đó là một hội chợ đẹp nhất vùng này. Các nông dân từ hai mươi dặm đường xa cũng tới.

Cặp mắt của hai người lại gặp nhau, chàng mỉm cười dướn cặp lông mày lên như rất thú vị về cuộc đi chơi địa phương ấy, rồi tu nốt chai rượu. Cô ngửi thấy trong hơi thở của chàng có mùi rượu, mùi đàn ông nặng nề trong bộ quần áo, lẫn với mùi da của đôi ủng. Thứ mùi hỗn hợp ấy gây cho cô cảm giác choáng váng, gần như bị ngộ độc, và một sự thèm muốn xác thịt nổi lên trong lòng. Câu nói của Almsbury lúc nãy không có gì là quá đáng.

Lúc này chàng nhìn qua cửa sổ:

- Đêm đã bắt đầu xuống rồi, cô nên về đi.

Nói xong chàng đi ra, mở cửa trước mặt cô. Trời tối rất nhanh, nhiều ngôi sao đã xuất hiện. Mặt trăng lưỡi liềm cao tít, mảnh mai và trong suốt. Một ngọn gió mát mẻ nổi lên. Chỉ có hai người ở bên ngoài, xung quanh là những tiếng cười nói từ trong quán lọt ra. Nông thôn yên tĩnh vang lên những tiếng dế, tiếng ếch nhái xa xa, tiếng vo ve của những con muỗi. Cô ngước mắt lên nhìn chàng, mặt cô trắng bệch như sáp.

- Mai ông đến hội chợ chứ?

Cô chỉ sợ không được gặp lại chàng.

- Có thể, nếu tôi có thì giờ.

- Ôi! Em van ông! Nó ở ngay trên đường cái mà các ông sẽ đi qua. Ông sẽ dừng lại nhé?

Giọng nói và cặp mắt van nài hộ cô. Chàng dịu dàng nói, và lần đầu tiên giọng nói của chàng đượm vẻ trang nghiêm:

- Sao mà em đẹp thế!

Hai người nhìn thẳng vào mặt nhau một lúc rồi vô tình Amber cúi xuống chàng, hai mắt nhắm lại. Chàng vòng tay ôm lấy người cô và kéo cô lại, cô cảm thấy những bắp thịt rắn chắc của chân chàng. Đầu cô ngửa ra phía sau, miệng hé ra để chờ đón một cái hôn. Mãi một lúc lâu sau chàng mới buông cô ra, cô còn cho là sớm quá và cảm thấy thất vọng. Mở mắt ra cô thấy chàng đang nhìn cô hơi ngạc nhiên. Nguyên nhân là ở cô hay ở chàng? Cô cũng không biết nữa. Không gian đối với cô như vừa mới bùng nổ. Cô cảm thấy choáng váng như vừa bị một đòn mãnh liệt, và tất cả sức lực của cô như đã biến mất. Cuối cùng chàng nói:

- Em thân mến, em phải về đi thôi. Gia đình em chắc lo lắng lắm khi thấy em ra ngoài quá khuya.

Cô định nói với chàng: “Em chẳng cần về nhà. Em chỉ nghĩ đến anh. Ôi! Xin anh cho em ở lại đây và ra đi với anh, ngày mai…”

Nhưng có cái gì ngăn lại không cho cô nói thế. Có thể là hình ảnh cô Sarah, thường ở trong trí cô, cô Sarah chau mày, băn khoăn bối rối. Nét mặt nghiêm nghị, phúc hậu và trách mắng của bác Matt. Tốt hơn là không nên tỏ ra quá liều lĩnh như vậy, vì sau đó chàng có thể sẽ khinh cô. Cô Sarah vẫn thường bảo là bọn đàn ông không thích những phụ nữ không biết bẽn lẽn.

- Nhà em ở cách đây không xa mấy, qua vài cánh đồng là đến.

Cô hi vọng chàng sẽ tiễn cô về, nhưng không thấy chàng làm gì cả; sau vài giây chờ đợi, cuối cùng cô đành nghiêng mình chào:

- Ngày mai em sẽ đợi ông!

- Có thể ngày mai tôi sẽ đến. Chúc em ngủ ngon.

Chàng gật đầu chào với một nụ cười kèm theo là một cái nhìn xoáy vào cô từ đầu đến chân, rồi chàng đi vào trong quán. Amber còn đợi một lát nữa, như đứa trẻ bị lạc. Cô chạy đi, còn ngoái đầu lại một lần nữa, nhưng chàng đã biến mất. Cô đi dọc con phố hẹp, qua trước cửa nhà thờ, cô rảo bước đi dọc theo nghĩa địa nơi an táng mẹ, cô rẽ sang phải, đi tắt qua một cánh đồng dẫn đến trại Goodegroome. Bình thường đi đêm ngoài đường cô rất sợ, nhưng lúc này cô chẳng thấy sợ ma hay phù thủy. Tâm trí cô còn chất đầy những vấn đề khác.

Chưa bao giờ cô trông thấy một người giống như chàng, và cũng không nghĩ là có một người như vậy. Chàng là tượng trưng cho tất cả những người quý tộc đẹp đẽ, dũng cảm mà ông thợ giày đã tả và còn được tô điểm thêm trong những giấc mộng của cô. Bob Starling, Jack Clarke chỉ là hai kẻ thô lỗ!

Cô tự hỏi không biết lúc này chàng có nghĩ tới mình không. Cô tin là có. Không một người đàn ông nào đã hôn một người đàn bà một cách như thế, lại có thể quên ngay được. Cô tự nhủ, cái hôn đó, thay vì vấn đề khác, sẽ dẫn chàng đến hội chợ ngày mai, sẽ lôi kéo chàng đến mặc dù chàng không muốn. Cô tự khen mình đã hiểu thấu đàn ông và bản chất của họ đến như thế. Luồng gió ban đêm mát rượi như vừa thổi qua băng tuyết, cánh đồng rải rác những cây ba lá đỏ tía. Amber tiến lại gần phía sau trại, vượt qua một con suối trên một chiếc cầu làm bằng hai mảnh ván ghép lại, đi qua vườn trồng bắp cải, và qua nhiều gian nhà phụ, kho, chuồng ngựa, chuồng bò, tất cả đều quét vôi trắng, mái phủ đầy rêu. Rồi đi theo cái ao nuôi vịt, cô vào trong sân.

Ngôi nhà ở được xây dựng hai tầng gác, sườn nhà làm bằng gỗ sến trạm trổ, các bức tường xây bằng gạch đỏ phủ đầy những giàn nho. Các lò sưởi được bao quanh bằng những cây trường xuân và một tấm phên mắt cáo đóng khung cánh cửa bếp trên có đóng một cái móng ngựa để chống bọn phù thủy. Trong sân lát gạch, những cây hoa của cô Sarah mọc dọc theo các bức tường, những hoa viôlet trắng và đỏ tía mọc thành những khóm thấp, những cây hoa hồng, cúc mọc cao đến tận mái nhà. Nhiều cây ăn quả đang ra hoa làm không khí thơm lừng. Trên một cái ghế dài bằng gỗ nhỏ có để hai cái tổ ong phủ rơm…

Ngôi nhà ấy có vẻ đẹp của nó: toát lên vẻ thanh bình và gợi cho ta hình ảnh một cuộc sống tích cực và có ích. Nó đã trải qua một thế kỷ và năm đời đã sống ở đó, tuy không giàu có nhưng ấm cúng. Đó là một ngôi nhà của tình yêu.

Trước khi bước vào, Amber dừng lại, ôm lấy một con mèo con và vuốt ve bộ lông dày của nó. Bữa ăn tối đã xong và chỉ có mình cô Sarah ở lại trong bếp với con gái, Agnes 15 tuổi.

Agnes nói, giọng sôi nổi và đầy uất hận:

- Người ta nói đủ chuyện về nó, chẳng có gì là lạ cả. Mẹ ạ, con thề với mẹ là con rất xấu hổ có một đứa em họ như nó.

Amber nghe thấy, nhưng cứ thản nhiên như không. Agnes đã nói vậy nhiều lần rồi. Cô bước vào trong buồng với một tiếng reo vui vẻ và chạy đến bá lấy cổ cô Sarah.

- Cô Sarah!

Cô Sarah quay đầu lại mỉm cười với cháu gái, nhưng cặp mắt cô đầy lo lắng. Amber nói tiếp:

- Trong quán đầy những nhà quý tộc. Đức Vua sắp trở về.

Vẻ lo lắng của cô Sarah biến mất:

- Có thật không cháu?

- Thật ạ! - Amber nói với niềm kiêu hãnh. - Các ông ấy đã bảo với cháu thế mà!

Amber đầy vẻ trịnh trọng về cái tin cô mới mang về và về những cuộc phiêu lưu mà cô vừa trải qua. Cô tưởng tượng rằng chỉ nhìn thấy cô, ai nấy đều nhận thấy cô đã thay đổi như thế nào so với cách đây hai giờ từ nhà ra đi.

Agnes có vẻ thực sự nghi ngờ, và cả khinh miệt nữa, nhưng Sarah chạy ra ngoài đến một cái kho, ở đây có nhiều người đàn ông đang làm nốt công việc buổi tối. Bọn đàn ông liền chạy sang các kho khác và các chuồng ngựa, còn bọn đàn bà lao ra khỏi nhà, vì trong trại có nhiều ngôi nhà nhỏ, những con chó cũng lao theo, sủa lên những tiếng vui vẻ, như chúng cũng muốn tham gia vào cái vui chung của mọi người.

Hoàng thượng Charles II muôn năm!

Tuần lễ trước ở ngoài chợ người ta đã nghe thấy những tiếng đồn về một cuộc Phục hưng. Tin đồn đó đã lan ra khắp trong nước từ hồi đầu tháng Ba, do những hành khách mang đến, do những người bán rong, do tất cả những ai được tiếp xúc với đại thế giới phương Nam. Tumbledown Dick con trai ông bảo vệ bị đuổi khỏi nơi làm. Tướng Monk đã từ Scotland sang chiếm thủ đô Luân Đôn và triệu tập một nghị viện tự do. Cuộc nội chiến có vẻ như lại sắp bùng nổ giữa các dân chúng và những đạo quân lớn.

Tất cả những sự kiện đó đã để lại những lo âu và hi vọng - lo âu và chán nản do những cuộc hỗn loạn liên miên trong suốt hai mươi năm qua, hi vọng về một chính thể quân chủ sẽ mang lại hòa bình và an ninh. Người ta khao khát sự trở lại của những tập quán cũ. Và các kỵ sĩ trở về, như thế có nghĩa là vua Charles cũng trở về, một thời kỳ hoàng kim thịnh vượng, hạnh phúc và hòa bình sắp mở ra.

Cuối cùng sau khi sự khích động đã bắt đầu giảm xuống, mọi người ai về công việc nấy, Amber trở về nhà. Ngày mai cần phải dậy sớm để đi hội chợ, cô dự định đi ngủ sớm để lấy sức. Lúc đi qua phòng sữa trước khi vào bếp, cô nghe thấy có tiếng gọi tên mình nhẹ nhàng và khẩn khoản, cô dừng lại. Tom Andrews đứng trong bóng tối giơ tay ra nắm lấy cổ tay cô. Tom là một thanh niên hai mươi hai tuổi làm việc với bác cô, rất mê cô và cô cũng rất thích anh mặc dù cô biết anh không phải là người mà cô mơ tưởng. Mẹ cô đã để lại cho cô của hồi môn, nó cho phép cô có thể lấy được một nông dân giàu có trong vùng, nhưng cô thấy thích Tom và đã khuyến khích anh.

Sau khi liếc nhìn không thấy có ai theo dõi, cô bước vào. Cái buồng nhỏ, mát mẻ và dễ chịu, hoàn toàn không có ánh lửa. Tom nắm lấy cô một cách dữ tợn, đưa một cánh tay ôm chặt ngang lưng cô, vừa luồn một bàn tay vào trong coócxê vừa tìm cặp môi cô. Điều này không phải là mới lạ đối với hai người. Amber để cho mình được hôn và được vuốt ve một lúc rồi mới đẩy mạnh anh chàng ra và nói:

- Tom, ai cho phép anh quá suồng sã vậy?

Cô tự nhủ thầm, cái hôn của một con người tầm thường khác hẳn với của một quý tộc, nhưng Tom tự ái và bực mình tìm cách lại nắm lấy cô:

- Sao thế Amber? Anh đã làm gì em? Em làm sao thế?

Cáu kỉnh, cô vùng ra và chạy đi. Vì bây giờ cô cảm thấy mình trên hẳn những trò bỡn cợt ấy với những người tầm cỡ như Tom, và chỉ có một ước muốn là về buồng mình, lên giường nằm để tha hồ mà nghĩ đến ngài Carlton và mơ mộng đến ngày mai. Không còn ai ở trong bếp, trừ cô Sarah đang quét thềm lần cuối cùng trước khi đi ngủ. Ba bốn ngọn đèn nến còn sáng, một đám mây muỗi nhỏ đang nhảy nhót xung quanh mỗi ngọn đèn, chỉ có tiếng dế kêu như những tiếng chuông con, là còn khuấy động sự yên tĩnh ban đêm. Bác Matt bước vào, đôi lông mày nhíu lại chẳng nói chẳng rằng, bác bước thẳng đến chum nước, lấy gáo múc và uống thẳng một hơi. Trông ông nghiêm nghị, người tầm thước, làm việc rất hăng, kiếm ăn tốt và yêu mến gia đình. Ông là người có lương tâm và kính Chúa; ông có những ý nghĩ dứt khoát về cái đúng và cái sai, về điều thiện điều ác. Cô Sarah nhìn ông rồi hỏi:

- Có gì thế mình? Con ngựa con không sống được chăng?

- Không, nó sẽ sống. Đứa con gái ấy!

Nét mặt cau có, ông tiến lại cái lò sưởi cao xung quanh để đầy những nồi niêu xoong chảo, cái đen sì, cái bằng đồng bóng loáng, cái bằng thiếc đánh bóng rất kỹ trông cứ như bằng bạc. Những miếng mỡ, giăm bông treo trên xà, trong những túi lưới lớn, cùng với những đôi ủng bằng cỏ to tướng.

- Đứa nào? - Cô Sarah hỏi. - Amber ấy à?

- Còn đứa nào nữa? Mới cách đây một giờ tôi thấy nó trong phòng sữa bước ra và, một phút sau thằng Tom theo sau nó như con chó cụp đuôi. Nó đã khiến cho thằng ấy gần như điên dại chẳng còn làm ăn gì được nữa. Và tôi xin hỏi mình, nó làm gì ở trong cái quán trọ với bọn đàn ông quý phái ấy!…

Giọng ông to, mỗi lúc một bực tức thêm. Cô Sarah xếp cái chổi vào sau cánh cửa, đóng và gài then lại.

- Suỵt, Matt! Vẫn còn có người ở ngoài buồng. Tôi không tin là nó đã làm điều gì bậy bạ. Nó đi qua đấy, trông thấy họ, nó dừng lại, có gì là lạ!

- Và nó đi đêm về một mình? Có cần phải một giờ nó mới nghe được là đức Vua đã trở về? Tôi nói với mình nhất thiết là phải gả chồng cho nó. Tôi không muốn nó làm nhục gia đình ta. Mình có nghe thấy không?

- Có, tôi có nghe thấy.

Cô Sarah lại gần chiếc nôi vì đứa bé dậy, khóc. Cô cho bé bú và đến ngồi trên một cái ghế dài có lưng tựa cao, buông một tiếng thở dài mệt nhọc:

- Nhưng nó còn chưa muốn lấy chồng!

- Ồ! - Bác Matt nói giọng chua chát - Nó chưa muốn lấy chồng thật sao? Tôi nghĩ là thằng Jack Clarke, hoặc thằng Bob Starling không xứng với nó sao, hai thằng đẹp trai nhất vùng!

Cô Sarah mỉm cười yếu ớt:

- Dù sao thì nó cũng là quý phái.

- Quý phái! Một con đĩ thì đúng hơn! Suốt bốn năm nay nó đã làm tôi khổ nhiều rồi; xin thề có Chúa! Mẹ nó có thể là một bà quý phái, còn nó chỉ là con…

- Matt! Đừng nói về đứa con của Judith như thế. Ôi! Tôi biết! Tôi cũng lo lắm. Tôi đã tìm cách khuyên can nó, chẳng hiểu nó có chịu nghe không. Chiều nay Agnes có bảo tôi: “Con không tin như vậy thành vấn đề lớn lao! Amber xinh đẹp, bọn con gái khác ghen tỵ và chúng bịa ra đủ chuyện.”

- Tôi không cho là thế. Mình thì lúc nào cũng muốn tin con người tốt hơn thực tế, và họ chẳng bao giờ xứng đáng. Sáng nay Bob Starling lại một lần nữa hỏi tôi về nó, tôi xin nói với mình là nếu nó không sớm lấy chồng thì rồi đến thằng Tom Andrews cũng chẳng thèm nó nữa!

- Nhưng mình hãy thử nghĩ là nếu cha nó trở về thấy chồng nó là một người nông dân? Ôi, Matt! Tôi vẫn thường tự nhủ thầm chúng ta đã mắc sai lầm không nói cho nó biết nó là ai…

- Còn làm thế nào hơn được nữa hả Sarah? Mẹ nó chết rồi. Bố nó cũng vậy, nếu không chúng ta đã nhận được tin tức, và cũng chẳng bao giờ chúng ta thấy được vết tích của một người có họ là St. Clare nào khác. Sarah, tôi đảm bảo với mình tốt hơn cả nên lấy cho nó một người chồng nông dân. Còn việc muốn biết lý lịch của nó là…

Ông giơ bàn tay phác một cử chỉ mơ hồ, rồi nói tiếp:

- … Tôi thương hại cho thằng con trai nào sẽ lấy nó. Tại sao lại còn làm cho tình hình của nó khó khăn hơn? Không, xin mình đừng chống lại tôi. Sẽ là Jack Clarke, hoặc Bob Starling, một trong hai đứa ấy, càng sớm càng tốt!

« Lùi
Tiến »