Những cỗ xe sơn xanh, đỏ, đi bộ hoặc cưỡi ngựa, tất cả những tá điền và những người nông dân từ hai mươi dặm quanh vùng đều đổ về Heathstone. Họ đem theo vợ con, lúa mì, phó mát, ngũ cốc mà họ có để bán, vải và len sợi mà những người phụ nữ đã se trong những đêm đông dài. Nhưng họ cũng đến đấy để mua: những đôi giày, những đĩa thiếc, những dụng cụ cho ấp trại, cũng như hàng nghìn thứ mà họ không cần đến nhưng lại thích có: đồ chơi trẻ con, ruybăng buộc tóc cho con gái, tranh ảnh treo trong nhà…
Đứng giữa Bob Starling và Jack Clarke, Amber chau mày dậm chân sốt ruột nhìn khắp trong đám đông.
Chàng ở đâu?
Cô đã có mặt ở đây từ bảy giờ sáng, lúc này đã quá chín giờ rồi mà vẫn chưa thấy bóng dáng Carlton cùng các bạn chàng đâu. Tim cô đập một cách nóng nảy và cổ họng khô lại. Ôi! Nếu chàng muốn đến thì chàng đã có ở đây rồi… Không, chàng đã đi rồi! Chàng đã hoàn toàn quên mình nên chàng đã bỏ đi…
Jack Clarke, một thanh niên thô thiển, dùng khuỷu tay huých vào người cô:
- Này Amber, cô có thích cái này không?
- Cái nào? Ồ! Có. Đẹp lắm.
Cô quay đầu lại trông thấy một nhóm người đang gào thét xung quanh một anh hề đứng trên một cái bục, từ đầu đến chân phủ đầy những kem, mọi người ném vào chậu mấy đồng xu.
“Ôi! Tại sao chàng không đến?”
- Amber, cô có thích cái ruybăng này không?
Cô thưởng cho mỗi cậu một nụ cười và cố gắng không nghĩ đến ngài Carlton nữa, nhưng không thể được. Tâm hồn cô đầy hình ảnh chàng, nếu như ngày hôm nay không gặp được chàng, cô tự nhủ thầm, cô sẽ không thể nào sống được qua cơn tuyệt vọng này. Cô chưa bao giờ trải qua một cơn khủng hoảng như thế, tuy nhiên cô lại biết nhiều, cô nghĩ vậy.
Cô mặc bộ quần áo đặc biệt chải chuốt và tự biết là mình chưa bao giờ xinh đẹp hơn.
- Có lẽ là tôi thích cái…
Cô nói bằng một giọng lơ đễnh, ngón tay chỉ vào một dải ruybăng bằng sa tanh đỏ ở giữa một đống những cuộn khác. Đột nhiên cô chau mày quay lại nhận ra chàng:
- Ồ!
Đứng lặng một lúc rồi bỗng nhiên, hai tay cô xốc váy chạy đi, để lại hai cậu si tình ngơ ngác và cáu kỉnh. Carlton cùng với Almsbury và một người trẻ tuổi nữa vừa mới đi vào trong hội chợ, theo một phong tục cổ, một bà già quỳ xuống lau giày cho họ. Amber tiến lại gần, thở hổn hển nhưng tươi cười và nghiêng mình chào, họ cũng ngả mũ đáp lại một cách trịnh trọng. Almsbury nhiệt tình kêu lên:
- Ôi! Cô nàng xinh đẹp của tôi! Cô đúng là một trinh nữ đẹp nhất mà địa ngục không thể giữ được!
- Thưa ngài, cảm ơn rất nhiều! - Cô nói nhưng cặp mắt đã vội quay sang Carlton lúc này đang nhìn làm cô lạnh xương sống. - Em sợ, em e rằng các ông đã đi mất rồi!
- Người thợ đóng móng ở trong hội chợ này - Carlton nói - và chúng tôi đã phải đến đây. - Chàng đưa mắt nhìn quanh rồi nói tiếp - Chúng ta bắt đầu ra sao đây?
Một thứ bỡn cợt hờ hững hiện trong cặp mắt và vẽ thành một nếp nhăn trên góc mép chàng. Amber bối rối và cảm thấy bất lực, vụng về, không nói nên lời, hơi tự bực mình. Làm sao có thể gây cho chàng cảm xúc được nếu cô chẳng tìm thấy gì để nói và cứ đực ra trước mắt chàng, mặt tái mét rồi ửng đỏ, để mà ngắm nghía chàng như một con ngỗng cái đần độn?
Bà già đã đánh xong giày, bọn người quý phái, mỗi người đều cho bà một đồng tiền gọi là “tiền vào cửa”. Bà ta đi nhưng còn ngoái cổ lại nhìn Amber, cô đã bắt đầu cảm thấy mình là mục tiêu cho mọi người, vì tất cả mọi người đều nhìn các chàng kỵ sĩ và chắc chắn là đều tự hỏi không biết cô gái nông thôn kia có vấn đề gì với họ. Cô hân hoan vì tình thế đã thuận lợi, nhưng lại sợ người nhà trông thấy, cô biết như thế sẽ ra sao. Tốt hơn cả là nên tìm một nơi yên tĩnh và kín đáo hơn.
Almsbury nói:
- Này Bruce, tôi muốn đến xem cái tiệm bán rượu Tây Ban Nha ở đằng kia. Chúng ta sẽ gặp lại nhau ở ngã tư cuối phố, khi mặt trời đã tới kia…
Anh chỉ một điểm phía chân trời rồi nghiêng đầu chào và cùng với người kia bỏ đi. Amber lưỡng lự một lát đợi xem ý chàng ra sao, nhưng chàng vẫn im lặng, cô quay đi về phía những cột gỗ của cái lều vải trong đó đang có diễn kịch. Người còn đông, nhưng nơi đó khá xa trung tâm hội chợ. Chàng đi bên cạnh cô trong vài phút, hai người chẳng ai nói câu nào. Amber sung sướng vì sự ồn ào làm cho họ không thể nói được một câu mà không gào lên, chàng tưởng là vì thế mà cô không nói.
Cô có cảm giác nặng nề về sự kém cỏi, e rằng mọi lời nói và hành động của mình sẽ làm chàng chê cười. Đêm hôm trước, nằm trong giường, tưởng tượng việc nói chuyện với chàng rất vui vẻ thoải mái, như cô đã từng nói với Tom Andrews, Bob Starling hoặc với nhiều người khác nữa. Nhưng lúc này cô lại cảm thấy một khoảng cách rất lớn ngăn cách hai người không thể nào vượt qua được. Cảm giác và xúc động đã đạt tới cường độ gần như làm cho cô đau đớn, tất cả những gì cô trông thấy đều có một sắc thái xa lạ.
Để che giấu tình trạng bối rối và lúng túng của mình, cô chú ý quan sát tất cả những lều trại mà hai người đi qua. Sau cùng, lúc họ đi qua một quán hàng trong đó một thiếu phụ bán những đồ trang sức lóng lánh, Carlton cúi nhìn cô và hỏi:
- Cô có thích đồ nữ trang này không?
Một ánh hân hoan bất ngờ thoáng trong cặp mắt Amber. Tất cả những đồ nữ trang ấy đối với cô thật là tuyệt diệu, nhưng tất nhiên là giá đắt lắm. Chưa bao giờ cô được mang những thứ như vậy, mặc dù tai cô đã được đục lỗ vì, như cô Sarah đã nói, khi nào lấy chồng cô sẽ có một đôi hoa tai do mẹ cô để lại. Tất nhiên là khi trở về nhà, bác Matt sẽ nổi giận và cô Sarah sẽ lại tiếp tục nói đến đám cưới cô, nhưng sức hấp dẫn của những đồ trang sức ấy và viễn ảnh về một món quà của ngài quý phái, không sao cưỡng được! Không do dự, cô trả lời:
- Thưa ngài, em rất thích một đôi hoa tai!
Thấy hai người dừng lại, và nghe Amber nói đến hoa tai, người thiếu phụ bán hàng vội vàng đưa ra một đôi treo lủng lẳng những hạt thủy tinh gọt đẽo thô sơ, trong suốt và có màu sắc:
- Thưa cô, hãy ngắm đôi này mà xem! Chúng xứng đáng để được trang điểm cho tai của bà quận chúa đấy, xin cô tin tôi! Nào, xin mời cô cúi xuống, tôi sẽ đeo thử cho cô. Thế đó! Thưa chúa công, ngài nghĩ thế nào ạ? Theo tôi, chúng làm cho cô thay đổi hẳn, nom lịch sự quá! Đây, xin cô thử nhìn vào trong gương mà xem. Ôi! Chưa bao giờ tôi thấy đồ trang sức làm thay đổi con người ta đến độ như vậy, tôi xin thề, thưa cô…
Thiếu phụ nói thao thao bất tuyệt, tay cầm một cái gương để Amber có thể tự mình thấy sự thay đổi đáng kinh ngạc ấy. Amber cúi xuống, hai tay vén tóc để lộ đôi tai ra, cặp mắt sáng ngời vui thích. Đôi hoa tai ấy làm cho cô nom già đi và như hơi có vẻ tà tâm. Cô nhếch mép mỉm cười về phía Carlton, tìm hiểu xem chàng nghĩ thế nào, tuy rất muốn có chúng, nhưng lại sợ mình quá ham thích làm chàng hiểu lầm. Chàng mỉm cười với Amber và quay lại người bán hàng hỏi:
- Bao nhiêu?
- Thưa ngài, hai mươi silinh ạ!
Chàng rút trong túi ra hai đồng tiền vàng và ném lên bàn:
- Cũng đáng thôi!
Hai người đi ra, Amber hân hoan, cô tin là chúng làm bằng vàng thật, bằng kim cương và bằng ngọc bích.
- Thưa chúa công, em sẽ giữ nó mãi mãi, em xin thề sẽ không bao giờ đeo thứ gì khác!
- Tôi rất sung sướng thấy cô thích nó. Chúng ta làm gì bây giờ? Cô có thích xem kịch không?
Chàng hất đầu về phía cái lều mà họ đang đi tới. Amber lúc nào cũng muốn được xem một vở kịch, vì đó là một thứ cấm đối với cô, cô đưa cặp mắt thèm thuồng nhìn nhà hát. Tuy vậy cô cũng lưỡng lự, vì sợ ở đấy gặp một người quen, hơn thế nữa cô rất muốn được một mình với chàng, xa tất cả mọi người.
- Ồ! Nghĩa là… xin thú thật với ông, bác Matt không muốn em vào đấy…
Lúc đứng cạnh chàng, đợi quyết định của chàng, cô bỗng trông thấy, cách đấy mười mét Agnes, Lisbeth, và Gartrude, cả ba đang há miệng kinh ngạc bực tức và ghen tị nhìn cô. Cặp mắt Amber gặp cặp mắt người chị họ, cô kêu lên một tiếng sợ hãi, rồi vội nhìn đi nơi khác, làm ra vẻ không nhìn thấy họ, các ngón tay cô sẽ đập đập vào dải mũ. Cô khích động khẽ nói:
- Nguy rồi! Người chị họ em đấy! Chắc chắn là chị ấy sẽ về kể hết cho cô em nghe. Chúng ta chạy đi đằng này…
Cô không nhìn thấy nụ cười của ngài Carlton vì cô đã chuồn rồi, lách qua đám đông… Không nhìn ba cô gái, Carlton đi theo cô. Amber quay đầu lại để xem Agnes có đi theo mình không và mỉm cười với chàng, nụ cười tươi tắn, nhưng vẫn còn lo ngại. Chắc chắn là Agnes sẽ chạy đi báo với cô Sarah hoặc với bác Matt, và một người trong nhà sẽ được cử đi kéo cô về. Cần phải nhanh chóng chuồn xa nơi đây, cô đã quyết định ở lại một vài giờ với Carlton, sau này muốn ra sao thì ra.
- Đây là nghĩa địa, - cô vội vàng nói, - chúng ta vào đây làm với nhau một lời nguyền.
Carlton ngừng lại. Amber cũng làm theo, ngơ ngác nhìn chàng. Chàng nói:
- Cô em ạ, tôi e rằng cô sẽ gặp phải nhiều điều phiền toái đấy. Chắc chắn bác cô là một người rất nghiêm khắc, ông sẽ chẳng vui lòng thấy cô cháu gái đi với một kỵ sĩ. Có lẽ cô còn quá trẻ để mà hiểu được điều đó, nhưng những người tín đồ Thanh giáo và những kỵ sĩ không tin tưởng ở nhau, nhất là trong quan hệ với phụ nữ.
Trong tiếng nói của chàng vẫn có cái giọng uể oải và trên nét mặt chàng vẫn cái vẻ hơi bỡn cợt đã làm cô xúc cảm một cách kỳ lạ buổi tối qua. Vì cô cảm thấy cái vẻ uể oải thờ ơ ấy che giấu một bản chất cuồng nhiệt, không gì lay chuyển và cũng có thể là hơi tàn bạo nữa. Không ý thức được rõ những ham muốn của chính mình, cô mơ hồ thấy mình muốn xé toang cái màn lịch sự ấy để tự mình thấy được cái sức mãnh liệt ấy đang bên cô, nó không bị ru ngủ mà bị kìm hãm.
Bắt đầu cảm thấy tự tin, cô đành liều trả lời:
- Bác em thì cần gì! Cô em vẫn tin tưởng ở em. Ông cứ mặc em. Em đề nghị ông đấy, em rất muốn được thực hiện một câu nguyền.
Chàng nhún vai đi theo cô. Cả hai người vượt qua đường cái, qua hàng rào phủ đầy cây trường xuân, rồi tiến về phía hai cái máy nước nhỏ ở cách nhau vài chục phân. Amber quỳ xuống vục hai bàn tay vào hai cái máng nước cho đến tận cổ tay. Hai mắt nhắm lại thầm lặng làm một lời nguyền:
“Hãy làm cho chàng yêu em!”
Yên lặng một phút không cử động trong trầm tư rồi nâng hai bàn tay lên thành hình cái bát, cô uống nước. Chàng giơ tay ra và kéo cô dậy:
- Tôi chắc cô đã làm một lời nguyền chinh phục thế giới. Cô cần phải bao nhiêu thời gian?
- Một năm, nếu em có lòng tin, hoặc không bao giờ cả.
- Thế cô có tin không?
- Tất cả những câu nguyền khác của em đều đã được chấp thuận. Ông cũng nên làm một câu nguyền đi chứ?
- Một năm không đủ cho phần lớn những tham vọng của tôi.
- Không thật sao? Em nghĩ là một năm đủ cho tất cả!
- Phải, ở thời mười bảy tuổi!
Amber đưa mắt nhìn xung quanh, một phần vì cô không chịu nổi cái nhìn xoáy vào của cặp mắt xanh, và cũng để tìm một chỗ nào kín đáo hơn. Nghĩa địa là một nơi công cộng, tất cả mọi người đều có thể đến được, và dù là già trẻ gái trai hay trẻ con đều có thể đe dọa đến hạnh phúc của cô. Cô có cảm giác là họ đều liên kết với nhau để chia rẽ chàng với cô và lôi cô về cái mảnh đất khô cằn của bác Matt và cô Sarah.
Bên cạnh nghĩa địa có một cái vườn, phía bên kia là cánh đồng ngăn cách Heathstone với khu rừng Bluebell. Tất nhiên là nên tới đó! Trong rừng mát mẻ và tối, có những góc chẳng bao giờ có ai đi tới, cô biết nhiều chỗ như thế, hồi tưởng lại những cuộc hội chợ trong bốn năm vừa qua. Cô uể oải đi tới đó, hi vọng chàng sẽ tưởng: tới đó do tình cờ.
Đi qua vườn, họ leo qua một hàng rào đến giữa một cánh đồng.
Trên mặt cỏ rải rác những bông hoa dại đủ các màu. Cứ mỗi bước, họ lại đi trên đất xốp hơn. Xa hơn nữa, gần bờ sông có một điểm vàng chỉ rõ nơi đó mọc những cây tầm xuân, tới gần họ có thể thấy những cây lau sậy mọc từ dưới nước lên. Hai bên bờ toàn những cây liễu lùn, phía bên kia dòng nước ở ven rừng, một bụi cây lá lóng lánh dưới ánh mặt trời, Bruce Carlton nói:
- Tôi hầu như quên mất là nước Anh vào mùa xuân đẹp biết bao!
- Ông đã xa nước Anh bao lâu rồi?
- Khoảng mười sáu năm. Sau khi cha tôi bị giết chết tại Marston Moor, mẹ tôi và tôi đi ra nước ngoài.
- Mười sáu năm ở ngoại quốc! Chà! Ông đã làm thế nào?
Chàng cúi xuống nhìn cô với một nụ cười yêu thương:
- Chúng tôi không muốn thế, nhưng làm sao có thể lựa chọn được. Còn về phần tôi, tôi không có gì để phàn nàn cả.
- Nhưng ở đó ông có được vui không? - Cô hỏi và hơi khó chịu vì câu nói báng bổ ấy.
Lúc này họ đã đi qua con sông có dòng nước trôi nhanh, trên một cái cầu hẹp và lung lay, làm bằng những thân cây. Bên dưới, những chú cá phóng như những mũi tên, những con chuồn chuồn bay lượn trên nhiều bụi huệ mọc trong một cái ao nhỏ. Sang phía bờ bên kia, họ đi vào khu rừng, trên con đường giữa các hàng cây và những bụi cây hoang dại. Trời mát mẻ và yên tĩnh, mùi thơm của hoa lẫn với mùi lá khô.
- Có thể là một sự phản bội nhỏ đối với tổ quốc của một người Anh thích ở ngoại quốc hơn. Tuy nhiên tôi cũng thích nhiều nước: Pháp, Ý, Tây Ban Nha. Nhưng nhất là nước Mỹ.
- Nước Mỹ! Sao kia! Ở phía bên kia đại dương ấy à?
Đó là tất cả những gì Amber biết về nước Mỹ.
- Rất xa, ở phía bên kia.
- Ở đấy có vua không?
- Không! Tôi đã đến đó một lần trên một con tàu buồm, một phái đoàn riêng cùng với người anh em họ của vua, hoàng thân Rupert. Và một lần khác trên một con tàu buôn.
Amber bồn chồn, chàng đã đến những nước xa xôi như vậy, vượt qua đại dương! Không thể tưởng được, như câu chuyện thần tiên. Cô chưa bao giờ đi xa hơn Heathstone, và mỗi năm chỉ có hai lần vào dịp hội chợ mùa xuân và thu. Người độc nhất mà cô biết đã đi tới Luân Đôn, là ông thợ giày.
- Đi ra thế giới bao la như vậy đẹp đẽ biết chừng nào. - Cô thở dài, nói tiếp: - Ông đã đến Luân Đôn chưa?
- Mới có hai lần thôi, nếu tôi nhớ không lầm. Cách đây mười năm tôi đã đến và đã trở lại đó mấy tháng sau khi Cromwell chết, nhưng không bao giờ ở đấy lâu cả.
Hai người đứng lại, chàng đưa mắt nhìn trời qua các hàng cây, như để biết thời gian còn lại cho mình. Thấy vậy, Amber bỗng hoảng hốt. Chàng sắp ra đi rồi, về cái thế giới bao la ấy với tất cả sự ồn ào náo động, còn cô phải ở lại đây. Một cảm giác cô đơn hoàn toàn mới lạ và khiếp đảm, như bị đày vào một góc cô tịch nào đó trong một phiên hội mà ở đó chỉ mình cô là xa lạ. Tất cả những xứ sở mà chàng đã thấy, còn cô thì không bao giờ cả; những vui thích mà chàng đã hưởng, còn cô thì không. Nhưng điều tồi tệ hơn cả là không bao giờ cô thấy chàng nữa.
- Chưa đến giờ phải đi chứ, thưa ông?
- Chưa đâu, còn một lúc nữa.
Amber quỳ xuống trên cỏ, bĩu môi, vẻ phản ứng trong cặp mắt, chàng cũng ngồi xuống trước mặt cô. Cô vẫn giữ vẻ hờn dỗi, nghĩ đến tương lai buồn thảm của mình, rồi ngước mắt nhìn chàng. Chàng chăm chú quan sát cô, cô hồi hộp nhìn lại chàng. Cảm giác bạc nhược dịu dàng dày vò làm cô kiệt sức đến độ phải nhắm mắt lại. Toàn thân rạo rực vì ham muốn, tuy nhiên cô vẫn giữ thái độ hững hờ, dè dặt, một cảm giác sợ hãi mạnh mẽ hơn là ham muốn.
Chàng ôm lấy thân hình cô và từ từ kéo cô lại. Amber sẽ nghiêng đầu đón cặp môi và quàng hai cánh tay vào cổ chàng.
Thế là thái độ dè dặt mà chàng đã thể hiện cho đến lúc này bỗng nhiên tan biến để nhường chỗ cho một sự ham mê man rợ, mãnh liệt, và ích kỷ một cách tàn nhẫn. Amber chưa có kinh nghiệm chứ không phải ngây thơ, đáp lại chàng những cái hôn mãnh liệt. Được những cái vuốt ve kích thích, lòng ham muốn của cô cũng dâng lên, dù từ trong thâm tâm lúc đầu cô có nghe những lời khuyên nhủ của cô Sarah, hình ảnh đó cứ mờ dần rồi biến mất hoàn toàn.
Nhưng khi Bruce lật ngửa cô nằm trên bãi cỏ, cô phản ứng ngắn ngủi và khẽ kêu lên một tiếng, chỉ có thế thôi! Kiến thức của cô không đi xa được hơn thế. Điều bí hiểm ghê gớm có lẽ đang chờ cô. Hai bàn tay cô đẩy người đàn ông ra, một tiếng nấc sợ hãi khẽ thốt lên, cô quay đầu đi. Nỗi sợ hãi tràn ngập vô lý, dữ dội, gần như nóng nảy, cô kêu lên:
- Không! Buông tôi ra!
Nhìn khuôn mặt chàng ngay trên mặt mình, cặp mắt chàng xanh biếc. Và đột nhiên Amber nức nở, gần như điên lên vì say mê và sợ hãi, cô đã hoàn toàn hiến dâng thân mình.
Trong tình trạng ghê tởm mơ hồ, cô dần dần tỉnh lại với thế giới thực tại, hai người đã rời nhau. Hai mắt vẫn còn nhắm chặt, cô thốt lên một tiếng thở dài sâu xa và khoái lạc. Cô có cảm giác như không thể cử động được nữa, ngay cả với ngón tay út.
Một lúc lâu sau chàng mới tách ra xa và ngồi lên, hai khuỷu tay để trên đầu gối, hai hàm răng ngậm một nhánh cỏ, cặp mắt nhìn trừng trừng ra phía trước. Bộ mặt sạm nắng của chàng ướt đẫm mồ hôi và chùi nó bằng cánh tay áo nhung đen của chàng. Amber vẫn nằm duỗi thẳng bên cạnh, hoàn toàn im lặng, hai mắt nhắm, cánh tay vắt trên trán. Cô nóng nực buồn ngủ và cảm thấy sung sướng tuyệt vời trong tất cả các thớ thịt vì việc đó đã xảy ra rồi!
Cho đến lúc đó, cô thấy như mình mới sống có một nửa đời người.
Cảm thấy cặp mắt chàng nhìn mình, cô nhẹ nhàng quay đầu lại và mỉm cười với chàng. Cô muốn nói cô yêu chàng, nhưng không dám; cô khao khát được chàng tỏ tình, nhưng chàng chỉ cúi xuống và hôn cô rất nhẹ nhàng. Chàng khẽ nói:
- Tôi lấy làm ân hận thấy cô vẫn còn trinh tiết. Thật quả tôi không ngờ!
- Em lấy thế làm sung sướng lắm!
Chàng chỉ nói có thế thôi ư? Cô nhìn chàng và chờ đợi. Cô bắt đầu cảm thấy có một vấn đề gì bấp bênh và đáng sợ. Chàng lại giống như lúc cô mới gặp lần đầu, thái độ và dáng điệu của chàng không có gì tỏ ra là hai người đã gần nhau tới mức ấy. Ngạc nhiên và bị thương tổn, vì cái điều vừa xảy ra phải làm cho chàng thay đổi cũng như cho bản thân cô. Không gì có thể như trước đây đối với bất cứ người nào trong hai người.
Sau cùng chàng đứng lên đưa mắt nhìn mặt trời rồi nói:
- Chắc là họ đang đợi tôi. Chúng tôi muốn tới Luân Đôn trước khi trời tối.
Chàng giơ tay ra để giúp cô đứng lên. Cô nhảy lên hai chân, vuốt lại tóc, kéo lại cái khăn trùm, sờ đôi hoa tai để được chắc chắn là chúng không bị mất.
- Trời ơi! - Bruce lại kêu lên, - chúng tôi không thể chậm trễ được đâu.
Vừa phủi bụi ở mũ, chàng đưa mắt ngạc nhiên nhìn cô, rồi đội mũ vào. Chàng chau mày lại như thể chàng vừa được hưởng điều quá mong muốn.
Trước cái nhìn đó, nụ cười và sự kích thích của Amber biến ngay mất.
- Ông không muốn đem em đi theo với à? - Cô nói như khóc.
- Em yêu ạ, ông bác và bà cô của em không tán thành vậy đâu!
- Không cần! Em muốn đi với ông! Em căm ghét mảnh đất này! Không bao giờ em còn muốn trở lại đây nữa. Ôi! Em van ông, thưa chúa công của em! Cho phép em đi theo với!
Mảnh đất Marygreen và cuộc sống của cô ở đây bỗng trở nên không thể chịu nổi nữa. Nó đã kết tinh hóa tất cả tình yêu quê hương ngại ngùng của cô, lòng khao khát và ước muốn mãnh liệt của cô về một đời sống rộng rãi hơn, vui vẻ hơn, tất cả những gì đã lên men trong cô, kể từ lần đầu tiên cô nói chuyện với ông thợ giày, cách đây đã mấy năm.
Bruce Carlton với một giọng chắc chắn, rõ ràng, có nghĩa là bản thân Amber cũng nhận thấy, chàng không muốn bị phiền hà vì cô:
- Luân Đôn không phải là nơi cư trú cho một cô thiếu nữ chưa chồng, không tiền tài và không thân thích.
Rồi, như có lẽ hối hận vì đã làm cô thương tổn, chàng nói tiếp:
- Tôi sẽ không ở lại đấy lâu. Và cô sẽ làm gì trong khi tôi ra đi? Lúc đó trở về đây không phải là điều dễ dàng, tôi không biết rất rõ một làng nước Anh nghĩ thế nào về một vụ bỏ trốn đi như thế này. Vả lại ở Luân Đôn làm gì có nhiều cách kiếm sống cho một phụ nữ! Không, em thân yêu ạ! Anh thấy là em nên ở lại đây thì hơn.
Carlton kinh ngạc thấy cô khóc nức lên:
- Em không muốn ở lại đây! Em không muốn! Bây giờ em không thể sống ở đây được nữa rồi! Em làm sao mà có thể giải thích cho bác Matt là chúng ta đã làm gì ở đây trong hai giờ, vì có hàng trăm người quen biết đã trông thấy chúng ta rời bỏ chợ phiên để băng đồng vào đây!
Vẻ bất bình hiện lên trên nét mặt chàng, nhưng cô không nhận thấy:
- Anh đã nói với em rất rõ ràng rồi! Ngay cả nếu bác em có nổi giận, em trở về đấy vẫn là hơn, và…
- Không! - Cô ngắt lời, - em sẽ không trở về nhà đâu! Em không còn muốn sống ở đây nữa, ông nghe thấy chưa? Và nếu ông không muốn đưa em đi thì em sẽ đi một mình!
Cô đột nhiên dừng lại, nhìn chàng vừa với vẻ tức giận, khiêu khích, vừa như van nài rồi cô tiếp:
- Ôi! Thưa chúa công của em! Em van ông, đem em đi với!
Họ nhìn nhau một lúc, lông mày chàng giãn ra, mỉm cười nói:
- Thôi được, cô bé lắm điều ạ! Tôi sẽ mang cô đi. Nhưng khi chúng ta tới đấy, tôi sẽ không lấy cô đâu, xin cô nhớ rõ cho là tôi đã báo trước cho cô như vậy.
Amber chỉ nghe thấy phần đầu câu nói của chàng, phần còn lại như không quan trọng. Cô reo lên:
- Ôi! Thưa chúa công, em có thể đi thật à? Em sẽ không làm phiền chúa công đâu, em xin thề như vậy!
- Tôi chẳng biết gì cả! - Chàng chậm rãi đáp. - Tôi nghi lắm!
Họ đi ngựa tới Luân Đôn vào lúc quá trưa, sau khi đã qua nhiều làng nhỏ ở ngoại ô thành phố, nhưng quang cảnh bên ngoài không khác mấy ở Heathstone và Marygreen.
Đàn bò cái gặm cỏ trên cánh đồng, những chị nông dân trải quần áo đã giặt giũ lên trên bụi cây. Khi họ đi qua, mọi người nhận ra họ là những người phò vua trở về và được hoan hô nhiệt liệt. Những em trai nhỏ chạy đến cạnh, tìm cách sờ vào những đôi ủng của họ; những chị phụ nữ ló đầu ra ngoài cửa sổ, những người đàn ông dừng lại, bỏ mũ ra và hô vang:
- Xin chào các ngài!
- Đức vua muôn năm!
- Cầu chúa phù hộ cho đức vua!
Trung tâm thành phố là một thứ hũ hôi thối của các thế kỷ: cổ lỗ, xấu xí, hôi hám, nhưng đầy màu sắc, tráng lệ, như một sắc đẹp đã bị hủy hoại. Nó được bao quanh bởi những mảnh đất chất đầy những đống rác xông lên một mùi lợm giọng. Các đường phố chật chội, vài phố được lát bằng đá cuội, còn phần lớn thì không, giữa đường hoặc hai bên những dòng nước bẩn. Những cái cọc đặt cách nhau, phân biệt lối đi của xe cộ, khách bộ hành. Các phố đều có nhà xây hai bên, cứ mỗi tầng gác lại làm chồi ra ngoài so với cái bên dưới, do đó chúng hoàn toàn bịt mất ánh sáng mặt trời và không khí ngay cả ở những nơi rộng nhất.
Những nhà thờ như các mũi tên chế ngự đường chân trời, trung tâm thành phố có đến hàng trăm, tiếng chuông ngân vang không ngớt, tạo thành một thứ âm thanh say sưa, đẹp đẽ nhất cho thủ đô Luân Đôn. Những cái biển đung đưa kẽo kẹt trên đầu người đi đường, với những con cừu vàng, những con lợn lòi xanh, những con sư tử đỏ và còn có khá nhiều những cái mới tinh mang dấu ấn của họ Stuart hoặc nét nhìn nghiêng của một người đàn ông có bộ tóc đen, nước da bánh mật, với một vành hoa trên đầu. Ở nông thôn thì đầy ánh nắng còn trong thành phố thì sương mù nặng nề và dày đặc khói các nhà máy xà phòng và các lò vôi, cái lạnh thấu xương.
Phố xá đầy người; những người bán rong rao hàng bằng những tiếng hát cổ, các bà nội trợ chỉ cần bước ra đến cửa là đã có đủ các thứ cần dùng. Phu khuân vác, trên lưng những kiện hàng rung rinh và quát mắng những ai làm nghẽn đường. Những người phụ việc đứng trước các tiệm, lớn tiếng rao hàng và cũng không ngần ngại kéo cánh tay áo các khách hàng để mời họ vào tiệm.
Người hát rong các phố, kẻ ăn mày, kẻ cụt cả chân tay, những tiểu chủ mặc quần áo bằng sa tanh, các bà quý phái mặt che một cái mặt nạ bằng nhung đen, những nhà buôn chững chạc, kẻ lang thang quần áo rách rưới, đôi khi còn có những người hầu cận mở đường cho cái kiệu của một bà bá tước hoặc quận chúa nào đó. Dân chúng phần lớn đi bộ, một số người ngồi trên xe hàng, trên kiệu hoặc cưỡi ngựa, nhưng khi gặp cản trở, thường xảy ra luôn, họ buộc phải dừng lại vài phút.
Thoạt nhìn người ta cũng dễ dàng nhận thấy sự khác nhau giữa người dân Luân Đôn và người nông dân. Ý thức về quyền thế của mình làm cho họ tự hào, vì họ là đại diện cho vương quốc và họ biết như vậy. Họ ồn ào hay gây sự, sẵn sàng lao vào một cuộc tử chiến với kẻ nào không chịu nhường cho họ phía bên tường. Sau khi đã chịu đựng chế độ Nghị viện mười tám năm, họ vui vẻ chuẩn bị một cuộc đón tiếp sự trở về của Chúa Thượng hợp pháp của mình; họ uống rượu chúc sức khỏe của người trên các đường phố và thề thốt họ chỉ tôn thờ dòng họ Stuart. Họ căm ghét người Pháp về cách ăn nói, về cử chỉ, quần áo và về tôn giáo và sẵn sàng tung ra hàng tràng nguyền rủa. Họ cũng căm ghét người Đức không kém tất cả những người ngoại bang khác, vì đối với họ, Luân Đôn là tất cả, một người không ở đấy, chẳng có giá trị gì hết.
Luân Đôn hôi hám, bẩn thỉu, ồn ào, hiếu chiến, màu mè, còn là trái tim của nước Anh và công dân của nó cai trị toàn quốc.
Amber có cảm tưởng như về nhà mình, mới thoạt nhìn, cô say mê ngay Luân Đôn cũng như cô đã say mê Bruce Carlton. Cuộc sống ở đó dữ dội, mãnh liệt, cương nghị, đáp ứng được những khát vọng sâu xa, linh hoạt nhất của cô. Thành phố đó là một thách đố, một sự khiêu khích. Nó dám làm tất và còn hứa hẹn nhiều hơn nữa. Một cách tự nhiên, như mỗi một công dân Luân Đôn, cô có cảm giác là mình đã nhìn thấy tất cả. Không một thành phố nào trên thế giới này có thể so sánh được với Luân Đôn.
Nhóm kỵ sĩ từ biệt nhau ở cửa ô Bishop, ai về phía nấy; Bruce và Amber cùng đi với nhau, hai người đầy tớ đi theo. Họ xuống ngựa ở phố Gracious, dừng lại trước tấm biển “Hoàng Mạch” (Lúa mạch hoàng gia), rồi đi qua cổng bước vào sân khách sạn. Ngôi nhà bao quanh sân và những hàng hiên chạy dọc khắp bốn tầng lầu. Bruce giúp cô xuống ngựa và cùng đi vào trong nhà. Chủ khách sạn ở nơi khác và một lúc sau Bruce bảo cô gái đứng đợi để chàng đi tìm.
Amber nhìn theo, cặp mắt sáng ngời kiêu hãnh và thán phục; sự khích động đã làm cô như nghẹt thở. “Ta đã ở Luân Đôn? Không thể thế được, nhưng là thực tế! Ta đã ở Luân Đôn rồi!” Cô thấy hình như cuộc sống của cô không thể nào thay đổi một cách nhanh chóng như thế được và không thể vãn hồi, trong chưa đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ! Vì cô đã quyết định, mặc dù thế nào, sẽ không bao giờ trở lại Marygreen nữa, trong suốt cả đời cô!
Vẫn mặc chiếc áo khoác của Bruce, Amber lại gần ngọn lửa, giơ tay ra hơ, lúc đó cô mới nhận thấy có ba bốn người đàn ông ngồi ở gần cửa sổ, vừa uống rượu vừa quan sát cô. Tính kiêu hãnh của cô được mơn trớn một cách thú vị, vì những người đó là dân Luân Đôn; cô khẽ quay đầu đi để phô trương với họ nét nhìn nghiêng của cô, cái mũi xinh xinh hơi hếch một chút, cặp môi đầy đặn và cái cằm tròn nhỏ của cô.
Vừa lúc ấy Bruce trở lại đang tươi cười nói chuyện với một người thấp bé đi bên cạnh, chỉ đứng đến vai chàng. Có lẽ đó là ông chủ khách sạn, ông ta tỏ ra vẻ rất khích động, ông kêu lên:
- Trời ơi! Thưa chúa công! Tôi tưởng ngài không còn nữa, thật vậy! Sau khi ngài đi được nửa giờ, bọn chó đẻ Đầu Tròn kéo đến và lục tung nhà tôi lên để tìm ngài. Thấy chẳng ăn thua gì, chúng phát điên lên và kéo tôi qua sân ném vào đống than! (Ông nhổ nước bọt xuống đất) Quỷ tha ma bắt chúng đi! Tôi ao ước được trông thấy chúng bị treo cổ trên đồi Tyburn như những miếng giăm bông.
Bruce bật cười:
- Ước nguyện của ông sẽ thành sự thực, tôi tin là như thế.
Vừa nói chuyện, hai người đã đi đến chỗ Amber, ông chủ khách sạn giật mình vì ông không nhận thấy sự có mặt của cô, ông sẽ nghiêng mình.
- Đây là bà St. Clare - Bruce nói, - xin phép bà cho tôi giới thiệu ông chủ quán của chúng ta, ông Gumble.
Amber sung sướng thấy chàng gọi mình là “bà” vì chỉ những em gái nhỏ hoặc bọn đĩ điếm người ta mới gọi là “cô”.
Cô nghiêng mình mỉm cười, cảm thấy địa vị xã hội của mình không cho phép cúi chào một người chủ khách sạn. Nhưng có lúc cô lo ngại tự hỏi cái liếc nhìn của ông ta vừa rồi tỏ một sự phản đối nào đó thấy một ngài chúa công đi với một người phụ nữ không phải là vợ ngài. Tuy nhiên Bruce xử sự rất thoải mái như với cô em gái và ông Gumble lại tiếp tục câu chuyện đang bỏ dở.
- Thật là may mắn làm sao, ngài lại không đến chậm một ngày, thưa chúa công. Tôi xin thề là chưa bao giờ trong cửa hàng tôi lại đông khách đến thế này. Cả nước Anh đã đến Luân Đôn để chúc mừng hoàng thượng! Đến cuối tuần sẽ không còn một phòng nào trống nữa cho mà xem!
- Tại sao ông lại không đặt một vành hoa lên cái đầu người trên tấm biển của khách sạn để người ta tưởng là đầu Vua? Hầu hết những biển mà tôi trông thấy đều có một cái đầu vua.
- Hô hô! Đúng là như thế! Ngài có nghe thấy người ta nói gì không? Nếu đầu vua rỗng thì vũ khí của Người không thế?
Nói xong ông ta phá lên cười và bước đi. Bruce mỉm cười, những người đàn ông ở đầu phòng bên kia cũng cười rộ lên. Amber chưa đủ hiểu về danh tiếng của vua để mà hiểu được câu nói đùa ấy.
Người nhỏ bé rút khăn mùi xoa ra lau trán, nói:
- A! Chúng ta sẽ sung sướng tuyệt vời thấy Người trở về, xin bảo đảm với ngài như thế! Ngài không thể tưởng tượng được chúng tôi đã sống ở đây như thế nào! Không bài lá, không xúc xắc, không cờ bạc, không rượu chè, khiêu vũ! Trời ơi! Họ lại còn tìm cách đưa tội thông dâm lên hàng bị xử tử!
Bruce cười nói:
- May sao hồi ấy tôi lại ở ngoại quốc!
Chỗ này Amber lại cũng không hiểu câu nói đùa. Cô không hiểu ý nghĩa của câu “thông dâm”. Nhưng không vì thế mà cô cười kém thoải mái, làm như cô hoàn toàn nắm được ý nghĩa của câu nói.
- Thôi, nói thế đủ rồi! Chắc là ngài đói bụng và mệt. Tôi còn cái “Hoa huệ” trống đây…
- Tuyệt lắm! Đó là cái phòng đem lại may mắn cho tôi lần vừa rồi. Có thể là lần này cũng sẽ như thế…
Hai người lên cầu thang, họ vẫn còn nghe thấy những người đàn ông dưới nhà bắt đầu hát, nói đúng hơn, gào lên những tiếng lạc điệu:
Các bạn ơi! Nhà vua thích một chai rượu ngon,
Nhà vua thích một cốc rượu đầy tràn.
Người sẽ rót một lượng nước tràn đầy
Cho tất cả các cô gái đẹp!
Và Người sẽ cho tất cả chúng ta mọc sừng, các bạn ơi!
Và cho tất cả chúng ta mọc sừng!
Lên đến trên cầu thang, ông Gumble mở cửa đứng né ra để hai người bước vào. Căn phòng có kích thước đẹp. Amber cảm thấy tuyệt diệu, chưa bao giờ cô được nhìn thấy một căn phòng như vậy.
Tường được ghép bằng những tấm ván sang trọng. Lò sưởi cũng bằng gỗ chạm trổ những hình hoa quả. Sàn để trần, và tất cả đồ đạc đều theo kiểu nặng nề rườm rà của đầu thế kỷ, mặc dù các ghế bành đều được phủ những tấm nhung dày màu đỏ.
Trong phòng ngủ có một cái giường lớn có cột và các tầm rèm che bằng nhung đỏ, có thể kéo ra để bưng kín những người nằm trên giường đến độ có thể làm cho họ chết ngạt. Hai cái tủ quần áo đặt áp vào tường, vài cái ghế tựa, hai ghế bành, một cái bàn nhỏ trên có tấm gương soi và một cái bàn giấy kết thúc toàn bộ đồ đạc. Toàn bộ phía kia của căn phòng dành riêng cho những cái cửa sổ và cửa ra vào mở ra ban công, ở đó có một cầu thang dẫn xuống sân.
Amber nhìn xung quanh trong khi Bruce nói:
- Thật ấm cúng. Chúng ta sẽ ăn ở đây. Ông cho đem lên đây những món gì ngon nhất nhé.
Sau nhiều lần làm cho hai vị khách phải tin tưởng là họ sẽ có tất cả những gì họ muốn, ông Gumble đi ra. Amber bỏ áo khoác ra chạy lại bên cửa sổ nhìn ra phố từ trên cao hai tầng gác. Một nhóm trai trẻ quanh ngọn lửa vừa nướng những miếng thịt vừa nhạo báng Nghị viện. Tiếng hát của những người đàn ông dưới nhà vẫn còn vọng lên.
Amber kêu lên giọng say sưa:
- Ơi Luân Đôn! Luân Đôn, ta yêu người biết bao!
Bruce bỏ mũ ra, mỉm cười đến ôm lấy ngang lưng Amber:
- Sao em yêu dễ dàng thế!
Cô quay phắt lại, chàng liền nói tiếp:
- Em biết không, Luân Đôn sẽ ăn sống nuốt tươi các cô gái đấy!
- Không phải em! - Cô khẳng định một cách đắc thắng. - Em đâu có sợ!