Mặt đất phủ đầy những cọng rơm mục bốc mùi ngai ngái, những con chuột với cặp mắt giống như những hạt ngọc đen nhỏ và sáng, táo bạo tiến ra tìm kiếm vài mẩu thức ăn. Những bức tường ẩm ướt và bị phủ lên nột thứ bùn màu xanh, có những vòng sắt to gắn vào đấy và đeo những cái xích nặng. Dọc theo bức tường là những tấm ván dùng để làm giường nằm như trong một trại lính. Mặc dù sáng đã từ lâu, trong buồng vẫn còn mờ tối do có một ngọn nến bằng mỡ bò cháy, không khí như bị nghẹt bởi mùi hôi hám. Đó là cái “Lỗ phạm nhân” ở Newgate, trong đó các tù nhân cứ phải ở mãi chừng nào mà họ còn chưa có thể xoay cho mình một nơi khá hơn.
Trong xà lim có bốn người đàn bà, tất cả đều ngồi, họ mang nặng những xích sắt ở cổ tay và cổ chân, họ đều lặng im.
Một người là tín đồ trẻ của giáo phái “Quaker”, mặc cái áo dài đen khắc nghiệt, cổ cứng và một cái khăn trùm trắng trên đầu. Chị ta im lặng, nhìn trừng trừng vào đôi mũi giày. Trước mặt chị là một người đàn bà đã đứng tuổi, giống như tất cả những người đàn bà mà hàng ngày người ta gặp trên đường phố, tay xách giỏ đi chợ. Cạnh là một người nhớp nhúa đáng ghê tởm, nằm thẳng cẳng dưới đất, đang nhìn các bạn với vẻ thù địch, một nụ cười xấu xí ở góc môi. Những cái nhọt vỡ toác phủ đầy mặt và cổ, đôi khi lại ho lên như xé ngực. Người đàn bà thứ tư trong bọn họ là Amber, ngồi phủ kín trong cái áo choàng, để trên đầu gối, một bàn tay nắm chặt lấy cái lồng vẹt, bàn tay kia giữ cái bao tay.
Cô nổi bật một cách kỳ lạ trong cái hang chuột hôi hám ấy, quần áo của cô mặc dù đã bị một trận mưa rào cách đó mười lăm ngày, nó vẫn đẹp. Cái áo dài do bà Darnier may, bằng nhung đen, vén lên trên cái váy trong bằng sa tanh dày sọc trắng và đỏ.
Cô bị bắt trước đây khoảng một giờ, thời gian đối với cô dài một cách tệ hại, không một câu nào được trao đổi! Cặp mắt lơ láo nhìn ra khắp nơi, như muốn xuyên thủng đêm tối. Cô bắt đầu cựa quậy một cách cáu kỉnh. Từ khắp nơi, phía bên trên, bên dưới, xung quanh ồn ào hỗn hợp của những tiếng kêu nghẹn, tiếng than vãn, tiếng chửi rủa và tiếng cười.
Cô nhìn người đàn bà bình dân, người giáo dân “Quaker” và cuối cùng là đến mụ hung dữ và ghê tởm đang quan sát cô vẻ xấc láo tức cười.
- Đây có phải là nhà tù không?
Sau cùng, Amber tự hỏi như vậy vì thấy những người kia có vẻ như không nhận biết được tình hình xung quanh.
Mụ ăn mày tiếp tục lé mắt nhìn về phía cô, không nói, rồi mụ cười và lại một cơn ho kéo đến đột ngột. Bị nghẹt thở mụ đưa hai bàn tay lên cổ họng và cuối cùng khạc ra một cục máu to. Sau đó mụ nhại lại Amber:
- Đây có phải là nhà tù không? Này người đẹp của tôi ơi! Thế mày tưởng là ở đâu hả? Đây không phải là Whitehall đâu!
Giọng mụ gay gắt, khàn đặc như tiếng một bà già.
- Tôi muốn nói: đây có phải là tất cả nhà tù không?
- Trời! Không phải đâu! Bên trên, bên dưới, khắp nơi - rồi đột nhiên mụ hỏi - Thế tại sao mày lại ở đây? Chúng tao không quen với bọn các bà lớn!
Mụ có vẻ mỉa mai, nhưng như kiệt lực, không nguy hiểm nữa, Amber đáp:
- Vì nợ.
Sau hôm bộ ba Luke chuồn đi, Amber tỉnh dậy bị cảm lạnh, cổ họng đau rát, không thể nào nói được. Cô sung sướng nếu được ốm, vì ít ra cô cũng chẳng thể làm được gì trước khi bình phục và cũng không biết thực tế rồi mình sẽ ra sao. Cô không còn gì nữa trừ cái áo đang mặc, không một xu dính túi. Chỉ trông cậy vào được cái nhẫn cưới, cái vòng ngọc đeo ở cổ, đôi hoa tai bằng ngọc và đôi Bruce đã mua tặng cô ở hội chợ Heathstone. Luke đã ăn cắp đi tất cả những vật có giá trị, kể cả cái vòng hắn tặng làm lành và cái bàn chải răng cán bạc mà Bruce đã cho cô.
Nằm trong giường, ho, nhổ, hỉ mũi, đầu rỗng tuếch, chân tay bải hoải, cô lo lắng. Vì bây giờ cô đã hiểu được cái dại dột của mình. Bọn chúng đã chơi cho cô một vố. Với cái ngây thơ của một cô gái nông thôn, cô đã sa vào bẫy dại dột như con dẽ gà. Niềm an ủi duy nhất của cô lúc này là đã làm cho Luke tưởng rằng hắn đã lấy được một cô gái thực sự được thừa hưởng gia tài; và gã đã bỏ cô vì thấy đã bị lầm.
Sang ngày thứ ba, phòng ngoài của cô đầy những chủ nợ đến đòi. Khi thấy Amber cuộn tròn trong cái chăn ra trả lời là chồng cô đã cuỗm hết cả tiền chuồn đi rồi, họ dọa sẽ thưa kiện. Cuối cùng cô không thèm trả lời và đuổi họ ra ngoài. Ngay buổi sáng hôm nay một nhân viên cảnh sát tới nhà cô, bảo cô mặc quần áo vào và đi theo ông ta đến Newgate. Ông ta bảo cô sẽ không bị đưa ra tòa vào phiên tới nếu cô nhận lỗi và trả hết nợ, nếu không sẽ ngồi tù cho đến khi nào trả hết nợ.
Người đàn bà bình dân kêu lên:
- Vì nợ à! Tôi cũng thế. Chồng tôi chết để lại cho tôi một món nợ là một livrơ sáu silinh.
- Một livrơ sáu! - Amber kêu lên. - Tôi nợ ba trăm chín mươi bảy!
Cô cảm thấy như là một thắng lợi lớn vì đã bị giam do một số tiền lớn như vậy. Nhưng cô lại xỉu đi ngay:
- Vậy thì, - mụ ăn mày nói, - mày chỉ có thể ra khỏi đây với hai bàn chân ra trước thôi!
- Chị nói gì? Vì tôi có số tiền đó, tôi còn có nhiều hơn thế nhiều, chỉ có cái là chồng tôi đã ăn cắp trốn đi mất rồi. Khi người ta tóm được hắn, hắn sẽ phải trả lại tôi.
Amber tỏ vẻ tin tưởng lắm, nhưng câu nói của người đàn bà này đã làm cô sợ hãi, vì đây không phải là lần đầu tiên cô nghe thấy nói thể thức đặc biệt mà tòa án đã cho thi hành ở Luân Đôn.
Phác một nụ cười méo mó, mụ ăn mày đứng dậy, bước lại gần, toát ra một thứ mùi làm cho đối tượng phải lợm giọng. Mụ dừng lại trước Amber, quan sát cô với vẻ lẫn lộn cả lòng ghen tị vì sự trẻ trung và sắc đẹp của cô, với lòng khinh bỉ vì sự khờ dại đến mù quáng của cô. Rồi mụ ngồi xuống bên cạnh cô:
- Tên tao là Moll Turner. Thế còn mày từ đâu đến? Chưa ở Luân Đôn hả?
- Tôi ở được bảy tháng rưỡi rồi. - Amber trả lời vẻ khiêu khích vì cô vẫn cảm thấy bị xúc phạm khi người ta cho mình là người tỉnh thành, cô nói thêm giọng nhẹ nhàng hơn - Tôi từ Essex đến.
- Này! Với tao chớ có tự cao tự đại. Ý kiến của tao là gặp một trường hợp như thế này, một lời khuyên của bạn không có thừa đâu. Và chẳng bao lâu nữa mày sẽ phải cần đến không phải là một đâu.
- Tôi lấy làm tiếc. Nhưng thành thật mà nói, bà Turner này, tôi đang ở trong một cái ngõ cụt đến phát điên lên được. Tôi phải làm gì nào? Nhất thiết phải ra khỏi đây. Tôi sắp đẻ rồi.
- Có thật vậy không?
Mụ ăn mày không tỏ vẻ gì cảm thông xúc động, mụ tiếp:
- Vậy thì không phải đây là lần đầu tiên ở Newgate này có một đứa trẻ được ra đời, mày cứ tin ở tao. Nghe tao nói đây, người đẹp ạ, rất có thể là sẽ chẳng bao giờ mày có thể ra khỏi đây. Vậy hãy cố mà lắng nghe tao nói, sẽ bớt khổ cho mày.
- Không bao giờ à? - Amber thất vọng kêu lên. - Ôi! Nhưng tôi không thể nào ở lại đây! Họ không thể nào giữ tôi ở lại đây được!
Mụ Turner không thèm để ý đến những lời phản kháng của Amber, bình tĩnh tiếp tục:
- Phải đóng tiền trọ cho vợ thằng gác ngục để mà được ở tốt hơn, mang xích nhẹ hơn, tha hồ mà nôn mửa. Và mày có thể bắt đầu ngay được bằng cách đưa cho tao đôi hoa tai này…
Amber kinh hãi kêu lên và lùi lại:
- Tôi không bằng lòng đâu. Đó là của tôi! Tại sao tôi lại phải đưa cho bà nào?
- Em xinh đẹp của tôi ơi! Bởi vì không phải tao mà con vợ thằng gác ngục nó sẽ lấy. Ồ! Tao cũng không phải chút nào! Thôi đưa tao cái lủng lẳng vậy, nó chỉ đáng giá hơn một đồng livrơ mà thôi - mụ lại gần ngắm kỹ hơn và nói thêm - Rồi tao sẽ nói cho mày biết cách thu xếp ở đây thế nào. Tao đã ở đây rồi, mày có thể tin được. Nhanh lên, trong khi chúng ta còn được yên tĩnh…
Amber nhìn mụ rất lâu, ghê tởm thực sự; cuối cùng cô quyết định cần phải có một đồng minh ở cái nơi xa lạ gớm ghiếc này, dù có bằng trị giá một đôi hoa tai. Thế là cô tháo hai viên ngọc ra, để vào lòng bàn tay của mụ Turner, mụ liền giấu biến vào lần áo trong, rồi quay lại hỏi Amber:
- Thế còn tiền mặt mày có bao nhiêu?
- Không một đồng xu.
- Không một đồng xu? Trời ơi! Thế làm sao mà mày sống được? Newgate này có phải là một nơi từ thiện đâu. Ở đây mày phải trả tiền, và còn trả đắt nữa!
- Nếu thế tôi không thể làm được. Tôi không có tiền.
Giọng nói rõ ràng của Amber đem lại cho mụ Turner một cơn ho mới mãnh liệt hơn. Cuối cùng mụ đứng lên, lấy mu bàn tay chùi mép:
- Mày còn trẻ quá chưa ra khỏi ổ được đâu. Gia đình mày ở đâu? Vùng Essex. Này, nên viết thư về thì hơn…
Amber cứng đơ người và đôi lông mi dài cụp xuống:
- Tôi… không thể được… tôi không bằng lòng! Mọi người không muốn tôi lấy chồng… và tôi…
- Không phải thắc mắc. Tao biết rõ như tao ở trong đó. Mày có chửa rồi mày chuồn. Thằng bạn mày đã bỏ rơi mày! Ở cái đất Luân Đôn này chẳng ai thèm để ý cả… chúng ta đã có quá nhiều điều rắc rối rồi còn để ý đến hàng xóm làm chi…
- Nhưng tôi đã thực sự cưới xin rồi! - Amber cương quyết phản kháng, vì muốn mọi người phải trọng nể một phụ nữ đúng mực. Tôi là bà Channell. Chồng tôi là Luke Channell. Đây, nhẫn cưới của tôi đây, đủ rồi chứ!
Cô tháo găng tay ra rồi dí bàn tay trái vào mũi mụ Turner.
- Phải, phải. Trời đất ơi! Mày đã cưới chưa tao không cần biết, hoặc mày đã ngủ với ba chục bốn chục thằng đàn ông cũng kệ thây mày. Trước đây, trong thời kỳ huy hoàng của tao, tao cũng là một con điếm hạng sang đấy chứ! Bây giờ tao đã rữa nát như thế này thì các tiền một thằng đàn ông nó cũng chả thèm!
Bỗng nhiên mụ quay lại và nhìn chòng chọc vào mặt Amber lúc này đang nhìn mụ với cặp mắt mở to hãi hùng, cô không thể tin được nhân vật ghê tởm, bệnh hoạn, gầy guộc kia lại có thể đã có thời kỳ trẻ đẹp, yêu một chàng trai cũng như mình…
- Mày cho là tao bao nhiêu tuổi nào? Năm mươi nhé? Không. Ba mươi hai thôi. Đúng ba mươi hai! Thôi được, tao đã có thời kỳ hoàng kim của tao, phải công nhận như thế. Và tao không đổi nó cho bất kỳ thứ gì khác.
Amber như muốn khụy xuống; cô nhìn thấy mình trong mấy năm nữa sẽ biến thành mụ Turner thứ hai.
“Lạy Chúa tôi!” Cô hãi hùng nghĩ thầm. “Đúng như cô Sarah đã bảo: những con đàn bà xấu xa là như thế đấy!”.
Bỗng nhiên tiếng chìa khóa rít trong khung cửa làm cho mọi người giật mình, cánh cửa bằng sắt nặng nề từ từ mở ra. Mụ Turner để tay lên mồm nói thì thầm:
- Bán cho nó cái nhẫn cưới của mày để đổi lấy thứ nó muốn cho mày.
Một người đàn bà trạc năm mươi tuổi bước vào xà lim. Bộ tóc của mụ đã bạc trắng gần hết, khô khan và cằn cỗi như rơm, quấn lên thành một cái búi tó trên đỉnh đầu. Mụ mặc một cái áo bờ-lu bẩn thỉu, cái váy bằng len xanh thẫm, và một cái tạp dề to tướng màu đỏ thắt xung quanh người. Xung quanh háng của mụ quấn một cái dây da treo lủng lẳng vài cái chìa khóa to tướng, một cái kéo, một cái túi và một cái gân bò dùng làm roi để giữ trật tự. Mụ cầm một ngọn nến cắm vào trong một cái chai, mụ để xuống sân trước khi quay lại nhìn các tù nhân.
Một con mèo mướp to theo sau, cọ xát vào chân mụ và rên hừ hừ vẻ thỏa mãn. Trông thấy cái lồng vẹt, nó lao ngay đến. Nhưng Amber khẽ kêu lên, đứng phắt dậy nhấc cái lồng cao lên ngang tầm vai và thuận chân đá cho con mèo một cái nên thân, con vẹt thì nhảy tứ tung trong lồng.
Mụ đàn bà đưa mắt lần lượt nhìn từng người một với cặp mắt ti hí, xảo quyệt và tàn nhẫn, mụ dừng lại ở Amber lâu nhất, rồi mụ cất tiếng:
- Xin chào các bà! Tôi là bà Cleggat, chồng tôi là cai ngục. Tôi biết các bà đều là những bà tử tế và đều không muốn sống trong cái hầm chỉ đáng cho bọn kẻ cắp, bọn giết cha, bọn giết người. Tôi rất lấy làm vui mừng báo cho các bà biết, các bà có thể được dẫn lên một cái phòng cũng thú vị như một cái phòng trong bất cứ một ngôi nhà riêng biệt nào. Ở đó các bà sẽ gặp nhiều người, những trò giải trí, chỉ với một điều kiện…
- Thấy chưa… - Mụ ăn mày nói thầm.
- Bao nhiêu? - Amber hỏi và chăm chú đề phòng con mèo đang trợn mắt vẫy đuôi đứng dưới chân cô.
Nếu cô bán cái nhẫn, chắc chắn cô sẽ có đủ tiền để thuê một cái buồng dễ chịu hơn, và cô vẫn tin tưởng là chỉ trong vài ngày nữa là cô lại được tự do.
- Hai silinh sáu để ra khỏi cái hầm này; sáu silinh để giảm bớt xích. Hai silinh sáu mỗi tuần để có một cái giường, hai silinh mỗi tuần để trả tiền chăn nệm. Sáu silinh cho ông cai ngục; mười silinh sáu cho người bán căng tin để mua than và nến. Lúc này mới chỉ có thế. Tổng cộng lại là một livrơ mười cho mỗi người các bà.
Không thấy ai động đậy, nói năng gì, mụ lên tiếng giục:
- … Các bà quyết định đi nào! Chính tôi là người giải quyết mọi công việc ở đây, không còn ai khác.
Mụ Turner vén váy lên, lục tìm cái váy trong và đưa ra món tiền cần thiết:
- Mẹ kiếp! Với cái giá cố định ấy tớ đã vừa ăn cắp được vừa đủ số tiền để trả nhà giam.
Amber liếc mắt nhìn ra xung quanh, chờ người khác lên tiếng. Thấy không ai động tĩnh, cô rút cái nhẫn ra và đưa cho mụ Cleggat:
- Tôi không có tiền mặt. Bà đánh giá cái này bao nhiêu?
Mụ vồ lấy cái nhẫn, đưa nó lại gần ngọn nến rồi tuyên bố:
- Ba livrơ.
- Ba livrơ thôi à? Tôi đã phải mua nó mười hai đấy!
- Giá cả ở đây khác.
Nói xong mụ mở cái túi ra lấy vài silinh đếm đưa cho Amber rồi nhét cái nhẫn vào trong túi da và hỏi thêm:
- Chỉ có thế thôi à?
- Phải! - Amber đáp.
Cô không muốn rời cái chuỗi ngọc mà Bruce đã tặng trước lúc ra đi. Mụ Cleggat nhìn cô soi mói:
- Biết điều thì bỏ hết ra ngay bây giờ, nếu không trong hai giờ nữa chị sẽ bị ăn cắp hết.
Amber lưỡng lự một lát, thở dài, cô đành tháo nốt chuỗi ngọc đưa cho mụ Cleggat. Mụ trả cho cô sáu livrơ. Sau đó mụ quay sang phía hai người đàn bà kia. Người giáo dân Quaker đứng lên, nhìn thẳng vào mặt mụ Cleggat và ôn tồn nhẹ nhàng nói:
- Tôi không có tiền đâu! Bà muốn làm gì tôi thì làm!
- Bà nên cho người đi kiếm thì tốt hơn. Nếu không bà sẽ phải vào phòng công cộng mà, tôi có thể nói nó không đáng để cho con khỉ nữa!
- Không sao cả, rồi tôi sẽ quen.
Mụ Cleggat nhún vai, bĩu môi, giọng thản nhiên:
- Ôi! Cái bọn cuồng tín[6] này! Thôi được, trong điều kiện đó, bà đưa đây cho tôi cái áo khoác của bà, để trả tiền phí tổn vào đây, và đôi giày để trả tiền thuê buồng.
Bên ngoài trời đã lạnh tuy mùa đông đã rất dịu, nhưng ở đây cái lạnh và ẩm thấp làm buốt da thịt. Không phản kháng, người giáo dân Quaker cởi áo khoác ra. Amber nhìn cảnh đó, lòng tức giận, cô đột nhiên quyết định:
- Này! Chị nên giữ lại. Tôi sẽ thanh toán cho chị. Không có áo mặc chị sẽ ốm mất.
Turner nhìn cô vẻ châm biếm:
- Này, đừng có ngốc như thế! Mày sẽ không thừa tiền đâu.
Nhưng người giáo dân Quaker đã mỉm cười thân ái nói với cô:
- Xin cám ơn, chị tốt lắm, nhưng tôi không cần gì cả. Tôi sẽ ốm nếu đó là ý Chúa.
Amber chần chừ nhìn chị rồi cứ đưa tiền cho mụ Cleggat:
- Bà cứ cầm lấy cho chị ấy.
- Người con gái này sẽ chỉ làm phiền cho tôi mà thôi nên chóng được ra. Vậy bà cứ giữ lấy số tiền của bà.
Nói xong mụ quay sang người đàn bà bình dân, bà ta cũng thú thật là chẳng có một đồng xu nhỏ. Amber nhìn Turner để xem mụ có giúp đỡ gì không, nhưng mụ chỉ huýt sáo qua kẽ răng tỏ vẻ chẳng chú ý gì đến sự việc xảy ra xung quanh.
- Nếu vậy, - Amber nói, - tôi sẽ trả cho bà này!
Lần này được nhận ngay, người đàn bà cám ơn cô hết lời, hứa sẽ hoàn lại cô ngay khi có điều kiện; điều đó có nghĩa là không bao giờ vì bà ta phải ở tù cho đến khi nào trả hết nợ.
Sau đó, một người đàn ông bước vào đem đổi cho họ những cái xiềng nhẹ hơn. Mặc dù vướng víu nhưng cũng còn đỡ khổ hơn. Khi người đàn ông thay xong, mụ Cleggat ra lệnh:
- Anh mang ngay con mẹ cuồng tín này vào phòng công cộng. Còn các bà, xin mời các bà đi theo tôi.
Họ đi theo mụ. Turner đi đầu, rồi đến Amber, và sau cùng là người đàn bà bình dân.
Leo qua một cái cầu thang tối và chật, họ tới một cái phòng lớn cửa mở toang, có một cái đầu lâu đóng bên trên. Mụ Cleggat tay cầm nến bước vào trước tiên, và mấy người đi theo mụ có thể nhìn thấy hai cái giường lớn bẹt, với những cái nệm bằng bông gòn[7] và vài cái chăn màu xám đã rách tã, một cái bàn, mấy cái ghế què, một cái bếp lò không có lửa, xung quanh và bên trên có treo lủng lẳng những cái xoong, chảo đen sì, cùng với vài cái xô và đĩa bằng thiếc. Rõ ràng là trong cái phòng trần trụi và bẩn thỉu này chẳng có gì nói lên căn 0070hòng sang trọng mà mụ Cleggat đã tả. Mụ nói:
- Đây là khu của các bà bị bắt vì nợ.
Amber nhìn mụ ngạc nhiên và tức bực, trong khi đó thì mụ Turner chỉ mỉm cười. Cô nói, tay vung lên quên cả đang bị xích:
- Đây ấy à? Nhưng bà nói là…
- Chớ có quan tâm đến câu tôi đã nói. Nếu chị không ưa chị chỉ có việc đi đến phòng công cộng mà thôi.
Amber bực mình quay đi, nghĩ thầm: “Ôi! Cái nơi gớm ghiếc này! Ta chẳng thể nào ở được một ngày!” Thấy mụ Cleggat chuẩn bị ra đi, cô quay phắt lại nói:
- Tôi muốn gửi một bức thư.
- Được thôi, ba silinh.
Amber đưa tiền.
- Chỉ có mình chúng ta là nữ tù nhân thôi sao?
Cô vẫn cứ nghe thấy tiếng người nói, tiếng ồn ào không ngớt từ trong chui ra, nhưng chẳng trông thấy ai cả.
Phần đông những người khác đều ở bên dưới, ở tiệm rượu. Đêm nay là đêm Nôen!
Bức thư cô viết là để gửi cho Almsbury; cô tin là chỉ trong hai mươi bốn giờ nữa, anh ta sẽ đến giải thoát cho cô. Không nhận được trả lời ngay, cô cho là anh đã vắng trong dịp lễ Nôen. Anh sẽ đến vào một lúc nào đó. Nhưng bao ngày trôi qua, dần dà cô buộc phải thú nhận, hoặc anh không nhận được thư, hoặc anh không quan tâm đến cô nữa.
“Khu các bà bị bắt vì nợ” là nơi ít chật chội nhất của nhà tù Newgate, chỉ có chừng hơn một tá nữ tù nhân. Ở nơi khác, cũng một diện tích như thế phải chứa chừng ba bốn chục. Phải có đến ba trăm người mà nhà giam đó dự kiến chỉ một nửa số người đó. Mọi người không thể ngủ cùng một lúc, họ phải lần lượt thay nhau dùng bát đĩa nhà bếp, thường chúng bị hư hỏng trong các bữa ăn và bẩn thỉu hôi hám vì nước giá rất đắt. Điều đó khuyến khích người ta uống rượu thay vì nước.
Trong nhà giam luôn tối om, các cửa sổ hẹp và sâu chỉ mở trông ra những hành lang tối tăm. Các tù nhân mua những bó đuốc hoặc những cây nến làm bằng mỡ bò, họ đốt lên suốt ngày. Những con mèo to trông gớm ghiếc và những con chó ghẻ lang thang gần như khắp nơi, tranh nhau rác rưởi với những con chuột. Amber bắt buộc phải chăm nom đến con vẹt. Không khí nặng những mùi, đặc sệt gần như sờ được, do những chất mục nát từ nhiều năm chồng chất lại; đôi khi còn toát lên một thứ mùi kỳ lạ, buồn nôn, theo người ta nói, nó xuất phát từ những cái đầu mà người đao phủ nấu trong bếp, ngay dưới khu họ ở.
Amber ở đó chưa được một giờ, đã thấy ngứa ngáy ghê gớm, cô gãi sột soạt. Vớ được một con rệp to tướng, cô giết nó giữa hai móng tay, như một hạt đậu luộc.
Lao động dọn nhà cửa là một đặc ân cho những người mới tới. Buổi sáng hôm thứ nhất, Amber và bà bình dân khiêng những xô nước đổ vào hố tiêu bên dưới. Mùi nồng nặc xông lên làm cô suýt ngất. Sau đó cô đã phải trả hai xu mỗi tuần cho một người đàn bà làm thay cô.
Nhà giam được coi như một nơi để giam giữ chứ không phải nơi để trừng trị. Từ tám giờ sáng đến chín giờ tối, tất cả các cửa đều mở rộng ở bên trong để mỗi người tùy ý muốn đến đâu thì đến.
Những người bị bắt, do lòng tín ngưỡng của họ, được phép thờ cúng, kết nạp tín đồ, truyền giáo. Những ai có tiền tha hồ tiêu xài, thông thường là ở tiệm rượu, rượu chè và cờ bạc. Những tù nhân khá giả nhiều khi lại còn mở những cuộc tiếp khách, vì một số phạm nhân là những người có danh tiếng. Các khách đến thăm được phép vào trong phòng lớn tập trung thành những đám đông. Một tù nhân đàn ông có thể đem theo vợ con đến ở cùng, có khi hàng năm trời, hoặc là, nếu người đó muốn, có thể chọn trong số gái điếm ở ngoài vào hàng ngày.
Trộm cắp thường xuyên và những vụ đánh nhau luôn xảy ra, vì bản thân những tù nhân phải giữ gìn trật tự. Một số trở nên điên rồ phải xiềng xích nặng nề chứ không bị cách ly. Đôi khi những đứa trẻ được sinh ra trong tù, thường chết yểu.
Amber cố gắng sinh hoạt cách biệt với xã hội trong tù; đó là nơi độc nhất mà cô không thích quan hệ. Cô không xuống tiệm rượu và tất nhiên là không tiếp khách. Ngày chủ nhật là ngày độc nhất cô rời khu của mình để đi lễ nhà thờ ở gác ba, như mọi người.
Phần lớn những người đàn bà trong khu các bà đều là nạn nhân của những điều không may nên nghĩ là sẽ chóng được thả ra. Hàng giờ liền họ nói chuyện với nhau, về ngày mà món nợ của họ được thanh toán, do một người cha, người anh hay bạn bè. Amber nghe họ nói, nghĩ ngợi, vì không có ai có khả năng thanh toán cho cô, và không có lý do gì để hi vọng được giải thoát, mặc dù cô vẫn cứ bám chặt lấy ý nghĩ thoát ngục.
Với lòng nhớ quê hương, những ý nghĩ của cô trở về trại Goodegroome. Cô khoan khoái nghĩ đến những chi tiết mà không bao giờ nhớ đến như vậy. Những khung cửa sổ của buồng cô có những cây hồng leo viền xung quanh, cứ đến mùa hè là tỏa hương thơm ngào ngạt; những con chim nhỏ làm tổ trong các cành nhiều đến nỗi tiếng hót của chúng buổi sáng làm cô tỉnh dậy. Cô nghĩ đến cô Sarah, đến cái bếp đầy thức ăn, đến đường viền rất rõ của cái phòng lớn và đến dãy bát đĩa bằng thiếc bóng loáng để trên các ngăn. Cô mong muốn trông thấy một góc trời, thở hít một bầu không khí trong lành đượm mùi thơm của hoa, của cỏ rơm, được nghe thấy một tiếng chim hót.
Những ngày lễ là những ngày buồn thảm nhất. Nhớ tới ngày Nôen năm ngoái, khi giúp cô Sarah làm mấy thứ bánh và pa-tê, cô và các anh chị em họ cải trang và tất cả những người trong trại đều uống những quả ngâm trong rượu tần, theo một phong tục rất cổ.
Ngày mồng một đầu năm cô hi sinh vài silinh trong số tiền để dành, nó tan ra rất nhanh, để mua một ít rượu. Mọi người trong buồng đều nâng cốc chúc mừng năm mới. Đúng vào nửa đêm tất cả các chuông nhà thờ ở Luân Đôn đều vang lên. Amber nước mắt lã chã, sợ hãi vì không dám chắc có còn sống để được nghe những âm thanh ấy năm sau.
Tuần lễ tiếp theo, toàn thể nhà tù Newgate nhốn nháo. Một cuộc bạo động đã xảy ra trong thành phố, do một nhóm công giáo cuồng tín cầm đầu. Ba ngày đêm liền, trong các phố đánh nhau dữ dội. Họ gào thét tên Jesus, hạ sát những ai chống lại. Từ trong nhà tù, người ta nghe thấy những tiếng chuông nhà thờ, tiếng kêu, tiếng đập hỗn loạn, không một ai vượt ngục. Tập hợp thành từng nhóm, các tù nhân lo lắng nói đến những cuộc thảm sát và đến lửa cháy, tranh luận về những biện pháp vượt ngục. Bọn đàn bà lên cơn thần kinh, gào thét và đòi tự do.
Nhưng phái “Quân chủ thứ năm”[8] (Fifth Monarchists) bị đánh đuổi, bị giết hoặc bị bắt, hai chục trong số đó bị treo cổ, bị phanh thây, bị chặt ra thành từng miếng. Thi hài của họ bị đem vào trại giam Newgate để trong sân; trong khi người đao phủ đang ở trong bếp, ướp các đầu lâu trong muối.
Rồi cuộc sống trong nhà tù trở lại bình thường, lại rượu chè cờ bạc, lại đấm đá, trộm cắp, dâm ô.
Kỳ phiên tòa mới, Amber bị đưa ra trước vành móng ngựa, cả bà bình dân, Turner cùng nhiều bị cáo khác. Cũng như phần lớn trong bọn họ, cô bị kết án phải ở lại trong tù cho đến khi trả hết nợ. Hi vọng được thả ra, nên tin đó làm cô tuyệt vọng. Nhưng rồi dần dà cô xác định lại vị trí của mình không đến nỗi tuyệt vọng như cô tưởng. Có thể là một ngày nào đó Almsbury sẽ đến giải phóng cho cô. Cô tự nhủ thầm thời cơ may mắn thường đến vào lúc người ta không chờ đợi nhất, cô cố gắng để khỏi nghĩ đến Almsbury.
Mụ Turner thường đến thăm cô, giục cô nên đi ra ngoài hòa mình với những người khác:
- Người đẹp của tôi ạ! Thì cô mất gì nào? Cô định chết mục xác trong cái hang này sao?
- Tất nhiên là không rồi! - Amber đáp giọng hờn dỗi. - Tôi chỉ mong sao ra thoát được cái nơi đáng nguyền rủa này!
Mụ Turner cười và cúi xuống ngọn lửa để châm điếu thuốc; phần lớn những tù nhân, cả nữ lẫn nam, đều không ngừng hút thuốc vì thuốc lá được coi như là môn thuốc phòng dịch. Sau đó mụ ngồi xuống trước mặt Amber, tay gõ nhịp xuống mặt bàn:
- Mày trông thấy cái này chưa? Đó là của một bà khách vào đây bị người ta chen lấn, khi bà gượng lại được đã bị tao cuỗm mất cái “tròn” này (Turner thường dùng câu nói lóng trong tù. “Tròn” là cái nhẫn, Amber cũng đã bắt đầu hiểu được ít câu). Ôi! Tao nói thật để mày biết, cái phòng lớn là nơi rất dễ lợi dụng! Với cái đà này, chỉ trong vòng một tháng nữa tao sẽ có đủ tiền để bay khỏi nơi đây. Còn mày muốn ở lại thì cứ việc…
Amber cũng hơi tin vào những câu chuyện trộm cắp dễ dàng ấy, đã có lần cô đánh liều vào trong phòng lớn, nhưng bị chen lấn thô bạo đến nỗi phải vơ vội lấy váy để chuồn thẳng về với cảnh lẻ loi trong “khu các bà”. Mụ Turner chế giễu rằng cô là đồ ngốc không biết lợi dụng những ưu điểm về thể xác của mình.
- Trong số bọn khách đàn ông vào đây, có vô khối đứa giàu sụ. Tao tin chắc là chẳng bao lâu nữa mày cũng sẽ kiếm được cách chuồn. Chắc chắn đấy - Mụ mỉm cười một cách xiên xỏ. - Bốn trăm livrơ không từ trên trời rơi xuống, nhất là ở đây không thiếu gì gái kiếm được mỗi đêm nửa đồng curon.
Nhiều lần mụ mách cho Amber những mối cụ thể, nhưng chưa đủ quan trọng để Amber liều mình. Tình trạng của Turner đủ là một lời cảnh cáo, cô hoảng sợ nếu mình bị bệnh. Tuy nhiên cô cũng sẵn sàng làm tất cả để ra khỏi Newgate, sẵn sàng vồ lấy bất cứ trường hợp may mắn nào để không phải đẻ trong nhà tù.
Vào cuối tháng, món tiền để dành của cô còn chưa được hai livrơ vì tất cả đều phải mua và giá cả lại đắt. Cô phải trả tiền để được đưa thức ăn lên, nếu không cô sẽ bị buộc phải dùng loại tồi, bánh mì mốc, nước và thứ thịt thừa mỗi tuần một lần, cô cũng còn trả cả tiền bữa ăn cho bà bình dân, nếu không người đàn bà tội nghiệp ấy sẽ phải nhịn đói. Và khi một người nữ hộ sinh, cũng bị giam cầm, bảo cho cô biết một người có mang như cô là gầy quá vì đứa bé tận dụng hết những thứ cô ăn. Cô bèn quyết định bán đôi hoa tai mua ở hội chợ tháng Năm.
Mụ Cleggat ném cho cô một cái nhìn khinh bỉ:
- Cái món này à? Bằng đồng và bằng thủy tinh. Nó không đáng giá một trinh. Cô mua nó ở đâu đấy? St. Martin phải không? (Phần lớn những đồ nữ trang giả là từ tiệm St. Martin làm).
Bực mình Amber không trả lời. Nhưng rồi cô cũng nhận thấy lớp vàng bên ngoài có chỗ đã bong và để lộ một thứ kim loại màu xám. Cô gần như hài lòng vì nó tầm thường quá không bán được.
Vào cuối tuần lễ thứ năm, Amber ngồi trong phòng giam ngắm nghía những móng tay đen sì của mình và lo lắng tự hỏi làm sao mà mình lại có thể nói với bà bình dân là mình không thể cưu mang bà được nữa. Nhưng cô không có đủ can đảm vì hàng ngày con gái của bà mang vào cho bà đứa con nhỏ nhất để trông nom. Vẫn như mọi lần, Amber không nghe thấy một lời trách móc nào.
Mụ Turner huých cho cô một cú bất thình lình nói thì thầm:
- Jack Đen đấy. Mày đã đập được vào mắt nó.
Amber ngẩng đầu lên, vẻ hờn dỗi, cô thấy một người khổng lồ, tóc đen nhánh, đang nhìn mình chằm chằm với nụ cười trên môi. Bực mình vì bị ngắt quãng trong suy tư chán nản, cô chau mày lại và quay mặt đi. Turner cáu tiết huých liên hồi khuỷu tay vào mạng sườn cô, nhưng không kết quả. Mụ lầu bầu, khi người đàn ông đã đi khỏi:
- Sao mà thái độ mày trông trơ tráo thế! Mày mong gì gặp được ở đây nào? Hoàng thượng chắc?
- Tôi thấy hắn chẳng có vẻ gì đáng chú ý cả. - Amber thấy người đó xấu và đen quá.
- Vậy thì thưa cô… cô còn muốn gì hơn nữa. Jack Đen là có tiếng lắm đấy. Một gã tuyệt vời, mày cứ tin tao!
- Một kẻ cướp đường chắc?
Cô đã phát hiện ra rằng, những kẻ cướp đường là ngôi sao của thế giới tội phạm, đó là người đầu tiên cô thấy. Cô chợt nhớ tới một thành viên của cái “đoàn thể” đó bị treo cổ đang ở trạng thái một bộ xương đã rữa hết thịt, trên một ngã tư đường trước khi tới Marygreen. Và trước cơn gió, các xương va vào nhau kêu lóc cóc, đến nỗi những người dân trong làng phải đi nằm lúc trời còn chưa tối, vì lo âu và ghê sợ.
- Một kẻ cướp đường, đúng. Và là một trong những kẻ xuất sắc nhất. Đã ba lần hắn trốn thoát khỏi nơi đây.
Amber trợn tròn đôi mắt:
- Trốn khỏi nơi đây? Làm sao?
- Tự mày đi mà hỏi hắn! - Turner đáp và đi ra cửa.
Cặp mắt Amber mở trừng trừng. Đây đúng là dịp may biết bao chờ đợi. Nếu hắn đã trốn thoát được, hắn sẽ làm lại, và có thể là chóng nữa. Trong trường hợp đó… Amber bỗng thấy phấn chấn hẳn lên và chứa chan hi vọng. Nhưng rồi mọi hi vọng lại tan biến: “Hãy ngắm ta mà xem! Ta cũng như một con ngỗng nhồi. Ta hôi hám và bẩn thỉu nữa. Đến con quỷ nó cũng chả thèm!”.
Không còn cách nào che giấu được nữa. Bề ngoài của cô đã bị thay đổi rất nhiều trong năm tuần lễ gần đây, cái bầu đã tới tháng thứ bảy, cô không thể nào cài khuy coócxê được nữa. Bộ ngực trước đây khêu gợi là thế, nay đã chảy xuống và cái áo sơ mi thành màu cháo lòng bẩn. Cái áo ngoài của cô dây đầy những vết thức ăn và cái váy cô đằng trước hếch lên một cách sỗ sàng. Đã từ lâu cô không còn mang đôi bít tất lụa dài nữa, chúng chỉ còn là một cái lỗ, và đôi giày của cô đã há mõm. Kể từ khi vào tù đến nay, cô chưa soi gương và chưa cởi quần áo bao giờ. Mặc dù cô đã lấy áo cọ răng, cô vẫn cảm thấy một lớp cặn dày làm chúng xỉn lại. Mặt nhem nhuốc những cáu bẩn, bộ tóc, cô thường dùng móng tay chải, bóng láng những mỡ.
Tuyệt vọng, Amber bỏ thõng đôi cánh tay xuống dọc thân mình. Tuy nhiên cô cũng nhận thức thấy đây có thể là vận may độc nhất, ý nghĩ đó làm cô phấn chấn. “Trong này tối, cô tự nhủ, anh ta chẳng nom rõ mình đâu. Và ta còn có thể sửa sang lại đôi chút”. Cô quyết định làm tất cả với điều kiện cho phép để có vẻ ngoài khá hơn, sau đó sẽ xuống tiếp rượu, mặc dù vào đó cô phải trả mất một đồng silinh quý báu. Nhưng cô có thể may mắn gặp được anh ta.
Amber dùng muối cọ răng bằng đầu áo sơ mi rồi súc miệng nhổ vào lửa thì một người đàn ông xuất hiện ở cửa và báo cho cô biết Jack Đen muốn gặp cô ở tiệm rượu. Cô giật mình vội quay lại:
- Tôi ấy à?
- Phải, cô.
- Trời ơi! Nhưng tôi chưa sửa soạn xong. Xin chờ cho một phút.
Lúng túng, cô lấy tay vuốt áo và cọ mặt, hi vọng lấy bớt đi được ít ghét.
- Tôi được thuê tiền để soi sáng cho cô đi xuống dưới chứ không phải để đợi ở đây. Xin mời cô đi cho!
Người đó lấy tay ra hiệu rồi tiến lên trước.
Amber vội vàng cởi khuy áo cổ để ngực hở nhiều hơn nữa, rồi vội vàng nói với bà bình dân:
- Bà làm ơn trông giùm cho con vẹt.
Nói xong cô vén váy và chạy theo người dẫn đường, tim đập mạnh như thể sắp được vào trong triều. Jack Đen là người đàn ông cao lớn nhất, Amber chưa từng thấy. Bộ tóc đen cứng, bóng láng dầu, rủ xuống cổ và hơi xoắn. Cô trông thấy những vòng vàng sáng chói mà anh ta đeo ở hai tai, đó là mốt rất thịnh hành của bọn thanh niên vô công rồi nghề. Nhưng ở người khổng lồ này lại làm lộ rõ thêm sức cường tráng. Anh ta mặc bộ quần áo mốt mới nhất, tất nhiên rất đắt tiền, với vẻ khinh miệt vì nó quá cầu kỳ.
Anh ta mỉm cười với Amber, nhe bộ răng bóng loáng và cúi đầu một cách trịnh trọng. Mặc dù to lớn, trông anh ta uyển chuyển và duyên dáng như một con mèo.
- Thưa bà, tôi xin tự giới thiệu: Jack Mallard, tục gọi Jack Đen, ở khu cưỡng bức.
“Khu cưỡng bức” là một khu lịch sự trong nhà tù, dành riêng cho những người giàu có.
Cô nghiêng mình chào lại lòng vui thích vì được đứng trước một người đàn ông, không những nhạy cảm với vẻ quyến rũ của mình, mà còn xứng đáng nữa.
- Còn tôi, thưa ông, tôi là bà Channell, ở khu “các bà bị bắt vì nợ nần”.
Cả hai cùng cười, anh ta cúi xuống hôn tay cô theo nguyên tắc và đó là nghi thức cuối cùng.
- Chúng ta vào thôi và “huýt một” chút?
- Chúng ta… gì ạ?
- “Huýt một”, nghĩa là uống một cốc! Tôi thấy bà chưa hiểu tiếng nói của chúng tôi.
Anh ta nắm cánh tay cô, cô nhận thấy anh ta không bị xiềng, mà lại còn có cả một thanh kiếm đeo bên sườn.
Amber ngồi xuống quay lưng vào tường. Jack Đen sau khi hỏi cô thích dùng gì, gọi rượu vang sông Rhin cho cô và rượu trắng cho anh ta.
Trong một lúc lâu hai người im lặng nhìn nhau, sau đó Jack Đen nói:
- Tôi có một căn phòng ở tầng ba, với một cửa sổ. Bà có thích được hít thở không khí trong lành và ngắm bầu trời trong sáng không?
Anh ta mỉm cười nửa miệng, đứng lên, đưa cánh tay cho cô.
Lúc hai người bước ra, cả phòng lên tiếng hoan hô: tất cả hét lên những lời tục tĩu lẫn với những câu khuyên nhủ và những tiếng cười lớn với Jack Đen, anh ta chỉ giơ tay tỏ dấu hiệu thân ái, không thèm nhìn họ.
Căn phòng được bày biện như ở phòng riêng của một khách sạn lộn xộn hết chỗ nói, nhưng không vì thế mà kém phần xa hoa, bên cạnh phần còn lại của nhà tù.
Jack Đen thường vắng mặt luôn vì anh ta có rất nhiều “việc xã hội” phải làm. Nhưng mỗi lần anh về, Amber lại cười nói vui vẻ, đóng vai trò của người đẹp, làm rạng sáng những ngày cô đơn của anh. Có một lần anh ta tước được một cái đồng hồ vàng của một trong những phụ nữ mê anh đem tặng cho Amber. Những kẻ cướp đường lớn là những quý tộc của tình hình và được rất nhiều người biết đến. Tên tuổi của chúng, thành tích của chúng được thảo luận công khai trong các tiệm và trong các góc phố.
Bốn ngày sau khi họ gặp nhau, Jack Đen thực hiện được một cuộc vượt ngục thần kỳ, mang Amber đi theo. Mỗi chiếc chìa khóa, mỗi cửa, mỗi hàng rào, đã được bôi trơn rất kỹ, mở ra trước theo kí hiệu, nhờ được ở một số đồng tiền có hình Hoàng thượng, được phân phát một cách công bằng. Ở ngoài phố một chiếc xe thuê đã chờ sẵn, hai người leo nhanh vào trong và đi dọc phố Bailey cổ. Jack Đen ngồi bên cạnh Amber vỗ mạnh vào đùi và cười lên như sấm.
Anh ta đưa Amber đến đường Ram ở Whitefriars, tại đó hầu hết mọi nhà đều là quán ăn, một phần của thành phố có quyền chứa chấp những tội phạm và những kẻ mắc nợ không trả được. Hai người dừng lại trước một trong những ngôi nhà đó, Amber sống ở đấy với Jack Đen. Anh ta đã tìm cho cô một bà đỡ lành nghề và một người vú em để nuôi đứa con mà cô mới sinh được đặt tên là Bruce. Amber cảm thấy thế là hết, vĩnh viễn xa lánh với thế giới, cái thế giới độc nhất mà cô khắc sâu trong tim, thế giới mà cô có thể tìm thấy Bruce Carlton.
Jack Đen còn tìm cho cô một thanh niên tên là Michael Godfrey để dạy cô nói đúng tiếng Luân Đôn như một bà lớn. Anh này đã mở cho cô vài đường chân trời về cuộc sống mà cô luyến tiếc.
Anh ta là một sinh viên tại trường trung cấp, nơi mà những cậu con trai học cách quản lý đồn điền, và hiểu đủ những luật lệ để sau này chỉ huy lãnh địa của cha ông để lại. Phần lớn các sinh viên đó sống trong các quán rượu nhiều hơn trong lớp học, và tiêu tiền về gái nhiều hơn là về sách vở.
Cũng như phần đông các bạn học, Michael thường hay lang thang vào các quán vì tò mò muốn biết các tội phạm sinh hoạt ra sao, và xem chúng như thế nào. Vì đã tiêu quá nhiều, nên mắc nợ nhiều, anh ta đã phải đi vay và quen với Jack Đen.
Mười lăm ngày sau khi Amber đến, Michael nhận lời dạy cô. Cha anh ta là một hiệp sĩ, có đồn điền ở Kent, đủ tiền để cho con ăn học. Anh vào trường Middle Temple đã một năm. Trong vài quý nữa, anh sẽ đi du lịch ra nước ngoài theo thường lệ.
Đối với anh, Amber là một học trò ham học. Cô học một số phát âm đặc biệt, phong cách đón, tiếp khách chu đáo, vài câu tiếng Pháp thông dụng, Amber tiếp thu khá tốt.
Michael say mê Amber, muốn biết tên thật của cô, muốn biết cô là ai. Cô thêu dệt lên một câu chuyện về thừa hưởng gia tài làm anh ta tin. Anh ta xui cô rời bỏ các quán, đến sống với anh cuộc đời sinh viên. Amber phải sống hãi hùng trong những ngày Jack Đen đi làm ăn, liền đi trốn với Michael.
Trong gần một tháng trời Amber không dám rời khỏi căn phòng của Michael gồm hai buồng. Ở đây cô được biết là Jack Đen lại bị bắt và đã bị treo cổ.
Michael thường đưa cô đi xem hát: cô kinh ngạc và hân hoan thấy các diễn viên lịch sự biết bao. Cô nhìn họ với con mắt thèm thuồng, cô muốn lên sân khấu. Ngồi ở tầng dưới với Michael, cô thấy những chàng thanh niên lịch thiệp chiêm ngưỡng các nữ diễn viên, sau đó lao vào hậu trường đưa họ đi ăn ở các khách sạn. Cô được biết rằng đa số các nữ diễn viên đều được những ông lớn trong triều bao che, do đó họ có những bộ quần áo tuyệt diệu, những căn phòng đẹp đẽ và thường có xe riêng.
Sau khi đã ngắm kỹ và gần những diễn viên đó, Amber kết luận là mình còn xinh đẹp hơn tất cả bọn họ. Cô có một giọng nói ấm áp, không còn âm thanh quê mùa, bóng dáng lịch sự. Mọi người đều công nhận, đối với nữ diễn viên còn đòi hỏi gì hơn. Hiếm người có được những ưu điểm như vậy!
Cuối cùng cô nói với Michael đưa cô đến giới thiệu với giám đốc nhà hát Hoàng gia. Ông ta đưa cô lên sân khấu đi đứng, khiêu vũ và ca hát. Lúc kết thúc cuộc thử nghiệm đó, ông ta vỗ tay vui vẻ.
- Cô chẳng khác nào như pháo bông trên sông Thames. Liệu cô có đóng được kịch không?
- Có ạ - Amber nói, tuy thực tế là cô chưa đóng bao giờ.
- Tốt lắm! … Nhưng không quan trọng đâu. Thứ tư tuần sau, chúng tôi sẽ trình diễn một vở “Tấn bi kịch của một cô gái” sáng mai mời cô đến dự buổi diễn tập vào lúc bảy giờ sáng, tôi sẽ có một vai cho cô.