Another S0

Lượt đọc: 506 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sketch 1

Con người chết đi sẽ thế nào?

- Hở?

- Sẽ phải sang thế giới bên kia sao?

- Chà… thế nào nhỉ?

- Phải lên thiên đường hay xuống địa ngục chăng?

- Hừ, thiên đường hay địa ngục đều do con người tưởng tượng ra thôi.

- Thế chết đi là không còn gì nữa à? Sẽ biến thành hư vô chăng?

- … Không, tôi nghĩ khác.

- Nghĩ khác?

- Thì, khi người ta chết đi, chắc hẳn là…

---❊ ❖ ❊---

Tôi tình cờ gặp cô bé ấy vào khoảng cuối tháng Bảy năm ngoái, tại bờ biển trông ra được ngọn hải đăng Raimizaki. Tôi không nhớ cụ thể ngày tháng nữa. Cô nữ sinh cấp hai tên Mei. Tôi vẫn còn ấn tượng, đó là lần thứ hai chúng tôi gặp nhau.

Lần đầu tiên đã hơn một năm về trước. Chính xác là vào khoảng đầu tháng Tám năm kia, khi chị Tsukiho rủ tôi đến ăn tối ở biệt thự nhà Misaki. Tối hôm ấy, chúng tôi chỉ chào hỏi vài ba câu. Mei có thân hình mảnh mai cùng nước da trắng muốt. Một cô bé trầm lặng và hơi cô độc, không có vẻ gì là hào hứng với buổi tụ họp. Trong ký ức của tôi là như vậy.

Điều khiến tôi ấn tượng nhất chính là con mắt trái màu xanh của cô bé. Nghe nói mẹ cô, một nghệ nhân chế tác búp bê, đã làm con mắt giả đặc biệt này cho con gái.

Màu mắt xanh thấp thoáng bí ẩn ấy đọng lại rõ nét trong tôi.

Vì vậy, mùa hè năm ngoái, khi gặp lại nhau, nhìn thấy miếng băng gạc bên mắt trái cô bé, tôi bất giác cất lời.

“Ồ! Em đeo băng mắt đấy à?” Rồi buột miệng tiếp, “Odd eyes đẹp vậy mà, sao lại che đi chứ?”

Đứa cháu đi cùng tôi lúc bấy giờ có hỏi, “Odd eyes là gì ạ?” Chất giọng vẫn như mọi khi, tông nam cao trong trẻo trước thời kỳ vỡ giọng.

“Nghĩa là hai mắt khác màu đó.” Trả lời xong, tôi bước đến chỗ cô bé. “Em là Mei phải không? Năm ngoái, chúng ta gặp nhau tại biệt thự nhà Misaki đúng chứ?”

“Chào anh.” Giọng cô nhỏ đến mức gần như chìm trong tiếng sóng. Cô đưa mắt nhìn xuống chân tôi và hỏi, “Anh bị thương ư?”

Sau khi nói “Không”, tôi mới nhìn xuống chân trái mình, khẽ gật đầu.

“Tôi gặp tai nạn, từ rất lâu rồi.” Tôi trả lời. “Năm ngoái em không nhận ra à?”

“À, vâng.”

“Vết thương xưa cũ không thể hồi phục, dù làm cách nào đi nữa, tôi cứ phải lê chân trái mà đi thế này. Cũng không đau đớn gì đâu.” Tôi gõ nhẹ lên đầu gối trái cho cô bé xem. “Đó là một tai nạn rất khủng khiếp. Hồi tôi học cấp hai. Xe buýt của lớp bị xe tải đâm…”

Cô bé nghiêng đầu, nhưng không nói gì. Tôi tiếp tục.

“Vài bạn trong lớp đã thiệt mạng. Cả giáo viên chủ nhiệm nữa. Tôi là một trong số những người sống sót.”

“…”

“Tôi là Sakaki Teruya. Một lần nữa, rất vui được làm quen với em.”

“Vâng.”

“Đây là So, cháu trai tôi. Em biết mà nhỉ? Con của chị Hiratsuka Tsukiho nhà tôi, hễ được nghỉ là nó đến đây chơi suốt. Cậu cháu thân thiết thế này cũng tốt, nhưng So à, cháu cần tích cực kết bạn ở trường nữa nhé!”

So không đáp lại tôi, chỉ rụt rè tiến lên từ phía sau và nói, “Chào chị.” Giọng thằng bé nhỏ đến nỗi như chìm lấp trong tiếng sóng.

Tôi có cảm giác mình đã nói rất nhiều chuyện lan man với Misaki Mei. Về những tấm hình tôi chụp theo sở thích, rồi lại đến những ảo ảnh thỉnh thoảng trông thấy trên bờ biển.

Sau hôm ấy, tôi có cơ hội gặp gỡ và nói chuyện với cô bé vài lần nữa, nhưng đã quên là ở những chỗ nào rồi. Có lẽ dần dần tôi sẽ nhớ ra, hoặc không. Chỉ có điều… Tôi chắc chắn là mình đã nói với cô bé rằng, “Con mắt kia của em. Con mắt xanh ấy…” Tất nhiên, tôi biết đó là con mắt thủ công được lắp vào để thay cho con mắt ban đầu. “Có lẽ nó giúp em trông thấy cùng những thứ giống tôi, cùng một hướng với tôi…”

Cô bé nhìn tôi, nét mặt thoáng kinh ngạc.

“Tại sao?” Cô lẩm bẩm. “Sao anh lại nói như vậy?”

“Chà. Tại sao?” Tôi cũng tự thấy bối rối, chỉ có thể trả lời một cách mập mờ, theo như tôi nhớ. “Sao lại thế nhỉ?”

Tên cô bé là Mei. Misaki Mei.

Mei trong Hán tự là “Minh (vang)”.

Vang trong “vang vọng”, hay trong “vang rền”? Misaki Mei.

Tôi = Sasaki Teruya, khoảng chín tháng sau thì chết.

“Chết” ở đây không phải nghĩa bóng, không phải kiểu “vui chết đi được” hay “chết cả cõi lòng”…

Mà đơn giản chỉ là “không còn sống nữa”.

Tôi giờ đây không phải người sống, mà là người chết. Chắc chắn thế.

Mùa xuân năm nay, vào một ngày đầu tháng Năm, tôi thực sự đã lìa đời. Phổi dừng hô hấp, trái tim ngừng đập, não bộ ngưng hoạt động vĩnh viễn… và tôi biến thành thế này. Không còn là thực thể, chỉ tồn tại dưới dạng nhận thức mà người ta vẫn gọi là linh hồn, hay ma.

Đó là một ngày đầu tháng Năm, Tuần lễ vàng [9] sắp kết thúc. Chủ nhật, mùng 3, sinh nhật 26 tuổi, 8 rưỡi tối, trăng khuyết mờ tỏ trên trời.

Tôi chết.

Tôi vẫn nhớ chính xác cảnh tử nạn của mình, hay có lẽ là khoảnh khắc trước khi mình tắt thở. Khung cảnh hòa quyện với âm thanh tạo thành “bức tranh” chết chóc sống động.

Bối cảnh là trong nhà, giữa không gian cao rộng của đại sảnh tầng một căn biệt thự bên hồ nơi tôi sống một mình suốt những năm qua. Tôi và Tsukiho vẫn thường gọi khu sảnh trước thông lên tầng hai này là tiền sảnh.

Tôi rơi xuống mặt sàn cứng đờ lát gạch đen ở tiền sảnh. Trên người mặc sơ mi trắng dài tay cùng chiếc quần đen, kiểu trang phục chẳng khác gì thời còn đi học.

Thân thể nằm ngửa. Tứ chi gập lại thành các góc cong queo. Dù cố gắng đến mấy, tôi cũng không thể cử động. Đầu vẹo hẳn sang bên và cũng bất động. Hình như xương cổ đã gặp vấn đề. Thế rồi, máu…

Máu tràn ra từ vết rách nào đó trên đầu, vấy đỏ cả trán và má, dần dần đọng lại thành vũng trên sàn nhà. Một cảnh tượng kinh hoàng.

Tôi mở to mắt, mơ hồ nhìn “bức tranh” chính mình trong giây phút hấp hối. Tuy nhiên…

Xét theo lẽ thường, hẳn là lúc đó tôi không thể nhìn thấy tình cảnh của bản thân. Nên có một cách lý giải rất đơn giản. Thứ tôi trông thấy là hình ảnh phản chiếu qua tấm gương treo tường. Tấm gương chữ nhật cao hơn đầu người đã soi tỏ dáng vẻ sẳp chết của tôi. Vào thời khắc hấp hối tôi lại tình cờ chứng kiến toàn bộ cảnh tượng ấy.

Cảm xúc trên khuôn mặt đầy máu bất ngờ biến đổi. Cơ thịt méo mó căng cứng chợt giãn ra, cả nỗi đớn đau, sợ hãi lẫn bất an dường như cũng tan biến. Nét mặt trở nên thanh thản lạ thường. Và rồi…

Đôi môi mấp máy…

Run rẩy một cách yếu ớt. Đây là…

Tôi đang nói gì đó chăng?

Phải rồi. Nói gì đó… có điều…

Bây giờ tôi không biết lúc ấy mình định và đã nói gì, cũng chẳng rõ mình cảm nhận hay suy nghĩ chuyện gì. Tôi không nhớ được.

Một âm thanh quen thuộc vang lên.

Là tiếng chuông của chiếc đồng hồ quả lắc cổ ở đại sảnh. Đã 8 giờ rưỡi. Chồng lên tiếng vang nặng nề ấy…

Tôi còn nghe thấy tiếng nói.

Tiếng ai la lên rất nhỏ.

Gọi tên tôi.

Teruya…

A… đây là…

Tôi bỗng nhận ra. Trong gương, tôi thoi thóp nằm kia, và ở một góc có bóng dáng ai vừa cất tiếng gọi tôi. Đó là…

Tới đây, ý thức lúc còn sống của tôi đứt đoạn. Tuy không xảy ra hiện tượng hồn lìa khỏi xác như người ta vẫn nói, nhưng tôi tin chắc đây chính là khoảnh khắc của cái chết.

Ký ức về cái chết tối hôm ấy vẫn đọng lại đầy sống động trong tôi. Dù vậy, những sự kiện trước và sau cái chết lại biến thành khoảng trống lan rộng dần như màn sương dày đặc phủ trùm tất cả. Tôi không rõ vì sao mình chết, cũng chẳng hay sau khi chết mọi sự thế nào. Quãng thời gian sau cái chết… à đúng, gọi là bóng tối vô tận thì chính xác hơn khoảng trống.

Bóng tối sau cái chết… rỗng không đến cùng cực.

Vậy đấy. Tôi = Sakaki Teruya đã chết.

Và không hiểu sao mình lại tồn tại dưới dạng này - hồn ma.

Hồn ma là một dạng tồn tại cực kỳ bất định. Nghĩ kĩ, cũng là lẽ đương nhiên. Nhưng chỉ tới lúc thành ma tôi mới ngộ ra.

Từ tối hôm chết đi, tôi mất ý thức về thời gian. Không còn thân xác nên cơ thể cũng không còn cảm giác chân thực. Tôi có thể suy nghĩ, nhưng những trải nghiệm quá khứ làm nền tảng cho dòng suy tưởng lại hết sức mơ hồ. Hay nói cách khác, các chi tiết cứ chập chờn, ngắt quãng.

Trí nhớ của tôi không liền mạch mà thường gián đoạn. Có thể nói là, giống những mảnh ghép rời rạc.

Thời gian…

Tri giác…

Ký ức…

Và, cả nhận thức…

Đều thế.

Tôi chắp vá từng đoạn, từng phần ký ức rệu rã lại với nhau, cố gắng duy trì bản thân trên ranh giới mong manh của nhận thức. Cho tới giờ, những mảnh ghép vẫn tiếp tục rơi rụng, chưa biết chùng một lúc nào đó chúng sẽ mất tăm mất tích.

Tôi cảm nhận rõ ràng mối nguy ấy, nhưng phiền muộn cũng chẳng ích gì. Chỉ còn cách chấp nhận sự thật hiển nhiên này.

Vì dẫu sao, tôi cũng chết rồi.

Hai tuần sau khi chết, tôi tỉnh dậy.

Tất nhiên, tôi không sống lại. Chỉ là tôi bỗng thoát khỏi bóng tối đã nhấn chìm mình ngay sau cái chết, và nhận ra rằng “tôi” đang ở đây. Tỉnh dậy là như thế.

Ban đầu, tôi không hiểu mô tê gì.

Sau khi tỉnh dậy, vật đầu tiên tôi nhận ra là tấm gương chữ nhật quen thuộc gắn trên tường tiền sảnh.

Tấm gương từng thản nhiên phản chiếu dáng vẻ tôi khi trút hơi thở cuối cùng.

Và bất chợt, tôi trông thấy, cách mình chừng một đến hai mét thôi… Là bản thân tôi đang đứng trước gương. Tôi cảm thấy thế.

Tất thảy mọi vật đều được phản chiếu một cách chân thực qua lớp tráng gương. Tất thảy ngoại trừ chính tôi.

Tôi cảm nhận cơ thể mình. Có tứ chi, có thân, cổ, đầu, khuôn mặt… tất cả đều ở đây, tôi cảm thấy. Mắt và tay đều trực tiếp nhìn và sờ được. Tôi vẫn mặc trang phục thường ngày, sơ mi trắng dài tay cùng quần đen, giống hệt buổi tối tôi chết tại nơi này.

Tôi đang có mặt ở đây.

Tôi cam đoan như vậy.

Thế nhưng, hình hài đó lại không phản chiếu lên tấm gương.

Tại sao?

Bối rối và hỗn loạn tột độ, cuối cùng, tôi cũng hiểu ra tình hình hiện tại.

Tôi đang có mặt ở đây. Nhưng không hiện diện như “người sống” với cơ thể bằng xương bằng thịt. Tôi đã thành “người chết” và mất đi thể xác. Thân thể tôi cảm nhận hiện giờ thực chất không tồn tại. Bộ quần áo cũng vậy. Những thứ này hẳn là dư ảnh lúc còn sống mà chỉ mình tôi ý thức được. Nói cách khác…

Không hiểu sao tôi lại tỉnh dậy ở đây, dưới dạng một hồn ma.

Tôi rời mắt khỏi tấm gương. Sàn nhà trước mặt không còn vệt máu nào. Ai đã lau đi rồi sao?

Tôi chậm rãi nhìn xung quanh. Chiếc đồng hồ quả lắc cổ đặt cạnh cánh cửa dẫn vào tiền sảnh. Trước khi tôi chết, nó đã gõ một hồi chuông vang vọng, giờ cây kim đang dừng ở thời điểm 6 giờ 6 phút. Nó không còn hoạt động. Phải chăng từ lúc tôi chết, không ai vặn dây cót nữa?

Tôi thử lên tầng hai. Khi di chuyển, tôi cứ ngỡ mình đang đi và bước lên cầu thang, nhưng nghĩ lại thì có lẽ đây cũng chỉ là cảm giác của dư ảnh. Cách tôi bước đi chắc cũng như lúc còn sống, vẫn là thói quen lê chân trái.

Đi hết cầu thang thì tới một hành lang dài, viền quanh đến nửa vòng đại sảnh.

Tầng hai gồm phòng đọc sách, phòng ngủ, và vài phòng trống nhiều năm không sử dụng. Dù tôi đã biến thành ma, nhưng những đặc điểm khái quát về căn biệt thự dường như vẫn vẹn nguyên trong trí nhớ.

Đi được nửa hành lang, tôi bỗng để mắt tới tay vịn bằng gỗ nằm ngay phía trên đại sảnh tầng một.

Một phần tay vịn có dấu vết hư hại. Chỗ bị gãy đã được ghép thêm đoạn gỗ mới, nhưng sửa chữa theo kiểu rất sơ sài. Tôi nhoài người qua tay vịn ấy, nhìn xuống tầng một.

Ngay dưới kia sao? Nơi tôi đáp xuống và từ giã cõi đời trong buổi tối mùng 3? Tức là tôi đã ngã từ đây xuống? Nên mới bị đập đầu rất mạnh, và có lẽ gãy cả xương cổ.

Tôi sợ hãi lục tìm trong làn ký ức mờ sương. Và loáng thoáng nghe tiếng nói.

Em đang làm gì vậy… Teruya.

Giọng ai đó.

Dừng lại đi.

Một vài giọng khác.

Đừng bận tâm! Sao lại thế… không được!

Ký ức bất ngờ dội về,

Cứ mặc xác tôi…

rồi tắt ngúm.

Tôi đi tiếp hành lang tầng hai, và bước vào một căn phòng. Là phòng ngủ.

Tấm rèm cửa màu rêu kéo kín, nhưng phòng vẫn sáng lờ mờ nhờ ánh nắng rọi qua khe hở. Một chiếc giường semi-double [10] với ga trải phẳng phiu, xem chừng đã lâu không ai sử dụng. Trên tủ đầu giường có một chiếc đồng hồ điện tử nhỏ. Khác với đồng hồ dưới tiền sảnh, nó vẫn hoạt động bình thường.

Màn hình hiển thị 2 giờ 25 phút chiều. Chủ nhật, ngày 17 tháng Năm. Cuối cùng tôi cũng hiểu, đã hai tuần trôi qua kể từ cái chết vào đêm mùng 3.

Đêm ấy, chuyện gì đã xảy ra tại ngôi nhà này?

Tại sao, cái gì đã đẩy tôi tới chỗ chết?

Màn sương giăng mắc chẳng chịu tan loãng. Tôi vẫn nhớ rằng bản thân đã chết, nhưng những sự kiện trước và ngay sau đó thì không sao nhớ được. Dẫu hiểu rằng mình đã biến thành một hồn ma mất trí, tôi vẫn cảm thấy thật nực cười.

Tại sao tôi chết?

Tôi cố gắng tìm đáp án cho câu hỏi khẩn thiết này. Tầm nhìn ngập tràn những ảo ảnh loạn xạ nhập nhằng, y như màn hình ti vi nhiễu sóng.

Trên tủ đầu giường. Vài chai nước cùng ly thủy tinh.

Giữa phòng. Thứ gì đó màu trắng rủ xuống, đung đưa.

Ơ?

Cái này là gì? Mới nghĩ tới đây, các ảo ảnh liền bị bôi xóa.

Tôi bối rối, thấp giọng lẩm bẩm, “Rốt cuộc đây là…”

Tiếng nói phát ra từ cổ họng (chỉ là dư âm lúc còn sống) lọt vào vành tai (dĩ nhiên cũng chỉ là dư ảnh của hình hài cũ). Tôi giật mình khi nghe thấy âm thanh rạn nứt, khàn khàn khó chịu, khác hẳn chất giọng nam trung vốn có trước đây.

Bất giác, tôi đưa hai tay lên cổ họng.

Những ngón tay chỉ là dư ảnh chạm vào da thịt cũng chỉ còn là dư ảnh. Chà, tôi không hiểu “cảm giác” này cho lắm.

“Cổ họng…” Tôi thử thì thầm lần nữa.

Rõ ràng vẫn nghe thấy chất giọng khàn khàn khó chịu.

Cổ họng bị tắc mất rồi. Hai tuần trước, tôi chết vì ngã từ hành lang tầng hai xuống. Hình như xương cổ đã gãy. Chính vì thế, khi biến thành ma, giọng tôi mới ra thế này.

Tôi chợt khựng lại, lòng đầy u uất, bóng tối trống rỗng lại ùn ùn kéo đến.

Người ta thường nói, “Có ma!”

Để miêu tả việc ma hiện ở nghĩa trang, phế tích, nhà hoang, góc ngã tư hay đường hầm với những uẩn khúc đằng sau…

Theo những người từng gặp ma thì, bình thường đó là đối tượng không thể nhìn thấy hoặc cảm nhận được. Còn đã nhìn thấy hay cảm nhận được chúng vì một lý do nhất định, người ta sẽ kinh ngạc, hãi hùng thốt lên, “Có ma!”

Con người thường không đoán được chính xác thời điểm linh hồn hiện ra. Dù có cố dự đoán thì cũng luôn trật lất. Chính vì toàn hiện ra vào những lúc không ai ngờ tới nên ma mới đáng sợ.

Tuy nhiên sau khi biến thành ma, tôi mới hiểu rằng, dù là nguồn cơn của hãi hùng thì tính chủ động cũng không cao hơn bao nhiêu. Vong hồn người chết lưu lạc trên trần gian có trạng thái tồn tại cực kỳ bất thường và không ổn định.

Linh hồn không xuất hiện liên tục. Nó không phải một thể tồn tại nhất định mà chỉ duy trì được trạng thái đồng nhất nhờ tập hợp nhiều mảnh ghép.

Vì vậy “tôi”, với danh nghĩa một hồn ma, không thể có mặt thường trực 24/24. À, không phải “có mặt”, “xuất hiện” thì đúng hơn. Thỉnh thoảng tôi hiện ra rồi lại biến mất, không theo bất cứ quy tắc, mục đích hay ý nghĩa gì. Tôi không rõ hồn ma bình thường thế nào, cũng không tìm hiểu được, nhưng chí ít trong trường hợp của mình thì tôi cảm thấy như vậy. Ví von thế này không chính xác lắm, nhưng có thể gọi hiện tượng xuất hiện-biến mất đó là “thức” và “ngủ”.

Thông thường, tôi sẽ ngủ trong bóng tối trống rỗng. Bóng tối ấy có lẽ tồn tại ở khoảng giữa “bên này” và “bên kia”. Đôi khi tôi thức dậy, nói đúng hơn là xuất hiện, và lang thang bên này.

Những lúc ấy, bao suy nghĩ về cái chết lại bủa vây tôi.

Vì sao tôi chết?

Chuyện gì xảy ra sau khi tôi chết?

Bên cạnh những nghi vấn khẩn thiết của một hồn ma mất ký ức, tôi còn chìm đắm trong nỗi buồn đau sâu sắc…

Vì cớ gì chứ?

Đây cũng là một câu hỏi lớn. Tới giờ này rồi mà tôi vẫn đau buồn điều gì? Về cái chết của mình? Về cuộc đời hai mươi sáu năm trước khi chết?

Hay là…

Kể từ lần tỉnh dậy ngày 17 tháng Năm, tôi bắt đầu thỉnh thoảng xuất hiện ở biệt thự bên hồ.

Những lúc như vậy, khi loanh quanh một mình trong ngôi nhà không còn người ở, tôi nhận ra hình bóng bản thân thuở sinh tiền tại nơi này đang phai mờ dần.

Sakaki Teruya. Sinh tại thị trấn Yomiyama vào ngày mùng 3 tháng Năm năm 1972. Nam giới. Độc thân. Hưởng dương 26 tuổi.

Vâng. Chính là tôi.

Bố tôi tên Shotaro. Sakaki Shotaro. Ông là một bác sĩ tài giỏi, nhưng lâm bệnh nặng và qua đời sáu năm trước, hưởng dương 60 tuổi. Đó là nỗi đau mất mát ngay trước khi tôi bước sang tuổi hai mươi.

Mẹ tôi tên Hinako. Bà đột ngột qua đời cách đây mười một năm, khi tôi còn học cấp hai. Lúc đó bà còn khá trẻ, khoảng hơn bốn mươi.

Chị Tsukiho hơn tôi tám tuổi. Cũng đúng mười một năm trước, người chồng đầu tiên mất sớm, chị mang thằng bé So mới được một tuổi về nhà bố mẹ đẻ. Mẹ tôi qua đời, nỗi đau chồng chất nỗi đau, sau cùng, cả gia đình quyết định rời khỏi Yomiyama.

Nơi đầu tiên chúng tôi chuyển đến chính là căn biệt thự bên hồ Minazukiko thuộc thị trấn Hinami này. Biệt thự vốn thuộc quyền sở hữu của bố tôi. Mười một năm trước, gia đình tôi gấp gáp chuyển đến đây cứ như đi lánh nạn khẩn cấp. Sang năm tiếp theo, chúng tôi sở hữu ngôi nhà mới ở mảnh đất khác, và cả nhà lại chuyển chỗ ở.

Một thời gian sau khi bố tôi qua đời, tôi thừa kế căn biệt thự này và tới đây sống. Lúc ấy, tôi vẫn đang học tại trường đại học tư của tỉnh. Nhân dịp chuyển chỗ ở, không hiểu sao tôi quyết định nghỉ học một thời gian. Rốt cuộc, hai năm sau, tôi bỏ học giữa chừng.

Kể từ đó, tôi tiếp tục sống một mình ở biệt thự, chưa từng kiếm công việc nào ổn định. Tôi sống theo ý thích, phó mặc bản thân cho khối tài sản kếch sù bố để lại.

“Đây là nơi yêu thích của tôi ngày xưa,” tôi nhớ mình từng kể với ai đó như vậy. Ai nhỉ, và vào lúc nào? “Bố tôi hẳn cũng rất yêu thích nơi này, mỗi khi tâm trạng, ông lại tới biệt thự một mình và ở lại vài ngày.”

Nghe nói, đây là biệt thự của một nhà tư sản nước ngoài từ mấy thập kỷ trước, được xây dựng theo kiến trúc của đất nước ông ta. Bố tôi mới gặp đã thích và quyết định mua luôn.

Ngoài phòng đọc sách trên tầng hai, căn biệt thự còn có phòng lưu trữ sách lớn nằm ở góc tầng một. Hàng ngàn cuốn sách lấp đầy trên kệ, hầu hết đều do người bố quá cố của tôi sưu tập. Sách ở đây có đủ thể loại, từ sách dành cho người lớn xếp san sát nhau đến tiểu thuyết và truyện tranh trẻ con. Lúc còn nhỏ, mỗi lần được dẫn đến ngôi nhà này, tôi đều dành rất nhiều thời gian trong phòng lưu trữ ấy.

Từ khi tôi trở thành chủ nhân căn biệt thự, So thường xuyên đến chơi. Như tôi ngày trước, thằng bé cũng dành hàng giờ trong phòng lưu trữ này thay vì đến thư viện, dù từ nhà Hiratsuka tới đây khá bất tiện, đi bằng xe đạp cũng mất gần ba mươi phút.

Trước năm bố tôi mất, chị Tsukiho bắt đầu gặp gỡ và tái giá với người chồng hiện tại, Hiratsuka Shuji. Khoảng thời gian tôi bắt đầu sống ở đây cũng là lúc chị ấy có bầu bé Mirei.

Còn So, thằng bé ngưỡng mộ cậu nó như một người cha hay anh. Như thế cũng tốt, nhưng đôi khi tôi vẫn thấy hơi lo. Mẹ tái giá, rồi em gái khác cha ra đời, thằng bé không khỏi suy nghĩ nhiều. Tuy trầm tính và nhút nhát, nhưng So rất thông minh. Chỉ vậy cũng đủ để khiến tôi lo lắng.

“Cậu Teruya sẽ sống một mình ở đây mãi ạ?” Có lần thằng bé hỏi. “Không kết hôn sao?”

“Tại tôi không có đối tượng nào cả.” Tôi nhớ lúc đó mình trả lời nửa đùa nửa thật. “Ở một mình cũng thoải mái. Tôi thích ngôi nhà này, hơn nữa…”

Tới đây, miệng tôi như bị khóa chặt, không thể nói hết câu. So nghiêng đầu, ngước nhìn tôi.

Rốt cuộc, mọi người đã phản ứng thế nào về cái chết của tôi? Không, trước hết thì, liệu có ai biết tôi đã chết vào tối mùng 3 tháng Năm?

Đến cuối tháng, tôi chợt nảy ra thắc mắc này.

Tôi chết đến nay đã hơn hai tuần, hẳn nhiên không còn ai sống trong biệt thự bên hồ nữa. Thế nhưng, tôi có cảm giác bản thân ngôi nhà không hề chết đi, nó vẫn sống tới giờ. Diễn đạt như vậy chẳng biết có đúng không.

Tôi nghe tiếng tủ lạnh chạy trong bếp, có lần, tôi còn nghe được tiếng chuông điện thoại. Bấy giờ tôi đang ở phòng đọc sách tầng hai. Tôi tò mò đi xuống tầng dưới, nhưng tất nhiên một hồn ma đâu thể bắt máy trả lời.

Đó là máy tổng của bộ điện thoại bàn không dây. Nó còn được trang bị chức năng trả lời tự động. Sau lời chào ghi âm, giọng người gọi tới vọng ra.

Này, Sakaki! Lâu rồi không gặp, mày vẫn khỏe chứ hả? Tao Arai đây.

Arai, viết bằng Hán tự là “Tân Tỉnh” hay “Hoang Tỉnh”?

Thử tìm kiếm trong đống ký ức rời rạc, cuối cùng tôi cũng nhớ ra. Người có cái tên kia chắc hẳn là cậu bạn cùng lớp ngày xưa.

Tôi hay nói với So mấy câu như “Hãy kết bạn đi”. Thế nhưng lúc còn sống, đặc biệt trong mấy năm gần đây, hầu như tôi chẳng có ai đủ thân để gọi là bạn. Không phải do tôi ghét tiếp xúc với người khác, chỉ là không giỏi bắt nhịp với câu chuyện và duy trì hứng thú của mọi người. Dù có cố đến mấy, các mối quan hệ cũng không bền lâu.

Bữa sau tao sẽ gọi lại cho mày.

Arai nói tiếp. Tôi không nhớ nổi khuôn mặt cậu ta.

Mày vẫn sống nhàn nhã như trước chứ hả? Ừ thì, tao có chút chuyện cần bàn… Ừm, nếu mày quan tâm thì gọi lại cho tao nhé. Được chứ?

Dưới con mắt người đời, tôi thuở sinh thời hẳn là cái dạng “no cơm ấm cật, vô công rồi nghề, vô ưu vô lo”, hay nói cách khác là “kẻ ăn không ngồi rồi có học thức”. Vế “ăn không ngồi rồi” thì khỏi phải bàn, nhưng “có học thức” hay không thì chính tôi còn thấy nghi hoặc.

Tôi thường mang theo chiếc máy ảnh yêu thích rồi tùy hứng lái xe đi đâu đó thật xa. Sau khi bỏ học, tôi cũng từng đi du lịch nước ngoài một mình, từ Nam Á đến tận Nam Mỹ.

Dù vậy, không hiểu sao tôi có cảm giác mọi chuyện từng trải qua cứ như những giấc mơ xa xôi, mùi vị hiện thực chỉ còn phảng phất thôi. Tôi đi du lịch khắp nơi như vậy với mục đích gì? Tôi của hiện tại không thể nhớ ra cảm xúc khi đó.

Khắp nơi trong biệt thự treo đầy hình tôi chụp. Ngoài những tấm hình ở địa điểm du lịch, còn rất nhiều hình chụp khu vực quanh đây. Có cả hình của những ảo ảnh vô cùng hiếm thấy mà tôi tình cờ bắt gặp lúc dạo quanh bờ biển.

Tôi (tạm coi như đang) ngồi bên bàn làm việc trong phòng đọc sách tầng hai, luẩn quẩn với những suy nghĩ về bản thân lúc còn sống.

Nằm ở một góc bàn là chiếc máy soạn thảo văn bản đời cũ [11] . Nhưng tôi bây giờ không còn khả năng khởi động hay sử dụng nó nữa.

Đối với một con ma không có thân xác, những hành động như bấm nút khởi động hay thao tác trên mấy loại máy kiểu này về cơ bản là bất khả thi. Tuy nhiên, cũng không hẳn là tôi không thể chạm vào đồ vật hay khiến chúng chuyển động. Tôi vẫn có thể giở sách vở hoặc di chuyển cánh cửa… Tôi không rõ đâu là giới hạn của khả năng này, nhưng có lẽ những hành động mang tính vật lý kể trên, trong mắt người sống, chính là hiện tượng tâm linh do ma quỷ gây ra. Tôi nghĩ vậy.

“Đây là hình chụp nhân dịp nào vậy?” Ai đó từng hỏi tôi như thế. Ai hỏi nhỉ, và vào lúc nào? “Người ngoài cùng bên phải là anh Sakaki ngày xưa à?”

Chí ít thì không phải So. Vì thằng bé không gọi tôi bằng “anh”.

Khung hình đơn sơ bằng gỗ mộc đặt trên bàn trong phòng đọc sách. Câu hỏi trên là về tấm hình với nước ảnh cũ kỹ lồng trong chiếc khung ấy. Nó vẫn nằm trên bàn cho đến giờ. Hình chụp năm thiếu niên, ba nam và hai nữ. Trong số ba người con trai, đứng ngoài cùng bên phải hẳn là tôi. Tôi mặc áo thun polo màu chàm, tay phải chống hông, miệng nở nụ cười. Tay trái nắm cây gậy màu nâu…

Địa điểm chụp hình như là gần đây. Hậu cảnh có hồ nước. Phải chăng là hình kỷ niệm chụp tại bờ hồ Minazukiko?

Ở góc phải bên dưới tấm hình có ghi ngày tháng, “3/8/1987”. Trên một phần khung hình có dòng viết tay “Kỳ nghỉ hè cuối cùng thời cấp hai”. Nếu là năm 1987 thì, phải, đã mười một năm trôi qua. Đây là kỳ nghỉ hè vào năm gia đình tôi rời khỏi Yomiyama, sau khi mẹ đột ngột qua đời.

Tôi đang học lớp Chín. Thời điểm ấy, tôi = Sakaki Teruya 15 tuổi.

Cả bốn người còn lại… đúng rồi, họ là bạn cùng lớp với tôi…

“Đây là hình kỷ niệm.” Tôi nhớ mình đã trả lời câu hỏi đó. “Hình kỷ niệm mùa hè năm ấy.”

“Ra thế.” Người kia thờ ơ đáp lại. “Trông anh Sakaki trong hình đang cười rất vui vẻ. Cứ như một người hoàn toàn khác …”

Những ký ức ùa về tới đây, rốt cuộc tôi cũng nhận ra.

Ra vậy. Chính là cô bé ấy sao?

Cô bé mắt hai màu mà tôi từng gặp lại ở bờ biển vào khoảng cuối tháng Bảy năm ngoái. Sau đó, cô bé đã tới căn biệt thự này…

Tên cô bé là Mei. Misaki Mei.

“Mei” viết bằng Hán tự là “Minh”, Misaki… Mei.

« Lùi
Tiến »