Thời tiết đầu tháng Mười có lúc vẫn giống mùa hè, ánh nắng như thiêu như đối chiếu lên da, ép ra rất nhiều mồ hôi.
Hồ Duệ Diệc cầm ô che nắng, bước ra từ cửa ra số Một của ga tàu điện ngầm Bệnh viện Đại học quốc gia Đài Loan, men theo lối đi bộ của đường Công Viên đi về phía Nam, qua đại lộ Khải Đạt Cách Lan rộng lớn rồi rẽ trái, tìm thấy thư viện Quốc gia nguy nga trên đường Trung Sơn Nam.
Chị đẩy cửa kính, bước vào không gian máy lạnh mát rượi. Trong không khí ngập tràn mùi sách làm người ta thanh thản, có điều, mục đích chuyến đi này của chị không phải để đọc sách, mà là kiểm tra xem những tin tức kỳ lạ đó có thực sự tồn tại hay không.
Phòng tư liệu ảnh thu nhỏ nằm ở tầng bốn, nhưng theo hướng dẫn thì phải vào từ phòng đọc tạp chí ở tầng ba. Hồ Duệ Diệc bước ra khỏi thang máy, xuyên qua khu đọc sách và khu truy cập máy tính, đi lên cầu thang thông với tầng bốn.
Trước đó, Hồ Duệ Diệc cũng đã lên mạng kiểm tra các tư liệu sưu tập về Đài Loan Nhật nhật tân báo . Tuy hiện giờ đã có thể đăng ký sử dụng máy tính kết nối đến kho dữ liệu số 34 ngay tại khu tài nguyên mạng ở bên trái lối vào thư viện, rồi đọc thời báo Đài Loan của thời kỳ Nhật trị, nhưng Hồ Duệ Diệc thầm nghĩ, đã mất công xin nghỉ để đến đây, đương nhiên phải xem hình dạng chân thực của cái gọi là “vi dạng [*] ”.
Trong kho lưu trữ được duy trì độ ẩm và nhiệt độ có bố trí hàng loạt tủ tài liệu bằng thép, những ngăn kéo tưởng như không đếm xuể thực sự khiến Hồ Duệ Diệc hơi nản lòng. Dưới sự hỗ trợ của nhân viên quầy phục vụ, chị giở cuốn sách tra cứu Chiêu Hòa thiên (quyển thượng) , quyết định bắt đầu tìm từ những tờ báo của năm Chiêu Hòa thứ nhất.
Nhật nhật tân báo từng phát hành phiên bản toàn Hán văn, nhưng đã bị bãi bỏ vào năm Minh Trị thứ 44 (1911). Sau đó, Nhật nhật tân báo lại được khôi phục dưới dạng Nhật văn xen lẫn hai trang Hán văn, đến năm 1937, sau khi chiến tranh Trung Nhật bùng nổ, chính phủ Nhật Bản thúc đẩy cuộc vận động Hoàng dân hóa [*] , hai trang Hán văn mới bị loại bỏ hoàn toàn. Cuộn phim dạng 35mm trong tay Hồ Duệ Diệc chính là bản chụp của Đài Loan Nhật nhật tân báo , thu thập các tờ báo từ năm 1898 đến năm 1944. Chị đặt cuộn phim vào trong máy đọc vi dạng, cố định xong cuốn phim thì bật nguồn. Ánh sáng giống như của kính hiển vi lóe lên, chiếu nội dung trên cuộn phim lên màn hình cao khoảng ba mươi phân.
Hồ Duệ Diệc điều khiển núm xoay, liên tục tiến lùi, tìm bài báo về vụ án Ma thần tử chưa có lời giải. Tuy không đọc được tiếng Nhật, chị vẫn kiên nhẫn xem sơ qua, thầm nghĩ chưa biết chừng sẽ xuất hiện những chữ Hán dễ hiểu như “ma giấu”, “không rõ đi đâu” hoặc “mất tích”. Nhưng không ngờ mới xem lướt được hai quyển tài liệu, mắt đã nhức ghê gớm, thậm chí còn xuất hiện bóng chữ giống như những con muỗi đen nhỏ bay vo ve trong tầm mắt.
Hồ Duệ Diệc mấy lần định bỏ cuộc, nhưng chỉ cần nhớ đến thi thể của Buni bị ngâm rữa nát trong nước sông năm đó là chị không dám lơi lỏng chút nào. Cuối cùng trong bản Hán văn in lần thứ tư của ngày mùng tám tháng Bảy năm Chiêu Hòa thứ 9 (1934), chị đã tìm thấy một tin tức thế này.
Ô tô cán bé gái tóc óc chết ngay tại chỗ
Cụm 61, khu 2, Nhật Tân Đinh, thành phố Đài Bắc, xe tải của thương hội Đức Mỹ, số hiệu Bắc 593. Tài xế tên là Lưu Vận Nam. 9 giờ 30 phút sáng ngày mùng bảy. Lái chung xe. Từ phía Tân Trang. Chạy đến con đường phía trước tiệm vàng ở cụm 146, khu 2, Thái Bình Định thuộc nội thành. Bỗng có Lâm Hoàng Sâm Mai, con gái nuôi của Lâm Thụy Thủy ở cụm 23, Tây Đinh, thành phố Cơ Long. Mười một tuổi. Đi ngang qua bị cán phải. Não tóe ra chết ngay tại chỗ. Sở Cảnh sát phía Bắc nhận được tin báo. Hai sĩ quan cảnh sát là chủ nhiệm hình sự Katakura và thanh tra Yabuki. Vội đến hiện trường điều tra. Nghe nói mấy hôm trước cô bé vì xem lễ tế Thành hoàng Hà Hải ở khu Đại Đạo Trình. Cùng mẹ nuôi đi đến phía Bắc. Dự định hôm nay về Cơ Long. Vậy mà lại gặp phải tai nạn thảm khốc này. Người mẹ nuôi từ tiệm xà phòng Kao trên đường Kinh Đinh đuổi tới. Tận mắt chứng kiến cảnh này. Tay chân bủn rủn. Nức nở không ra tiếng. Làm người khác cảm thông sâu sắc. Còn tài xế Lưu. Cũng phải chịu tội ngộ sát. Bị sở Cảnh sát phía Bắc gọi tới. Điều tra truy cứu gắt gao.
Tuy không chắc có liên quan đến Ma thần tử hay không, nhưng Hồ Duệ Diệc có linh cảm khó tả rằng vụ án này sẽ dẫn đến các vụ án khác cũng chưa biết chừng. Chị bèn in lại bài báo bằng máy in mạng.
Trong khi đợi in tài liệu, Hồ Duệ Diệc chợt nảy sinh ấn tượng mơ hồ đối với đoạn “phía trước tiệm vàng ở cụm 146, khu 2, Thái Bình Định” trong bài báo. Chị nghĩ đi nghĩ lại, nhận ra mình đã nhìn thấy một loạt địa danh tương tự trong mấy quyển báo thu nhỏ trước.
Phải xem lại một lượt nữa sao?
Hồ Duệ Diệc lại lần nữa muốn kháng cự, nhưng trong cõi u minh dường như có một sức ép mạnh mẽ thúc đẩy chị làm như vậy, thế là chị đành quay lại đặt từng cuộn phim đã xem vào trong máy, cẩn thận tìm những địa danh tương tự.
Bình tĩnh nào.
Tâm trạng sốt ruột nhiều lần trào lên trong lòng, Hồ Duệ Diệc đều nén xuống bằng cách hít thở sâu. Sau bao phen đấu tranh, cuối cùng chị đã tìm thấy. Đó là một mẩu tin vào ngày hai mươi mốt tháng Sáu năm Chiêu Hòa thứ 7, cũng được viết bằng Hán văn. Hồ Duệ Diệc nín thở đọc, cảm giác run rẩy lập tức trào lên từ giữa đùi.
Bé gái không có hành tung
Cụm 12, khu 2, Thái Bình Đinh, thành phố Đài Bắc, Lưu Xảo Xá, con gái lớn của tài xế Lưu Vận Nam. Mười hai tuổi. Bỏ đi hai mươi bảy đêm. Không biết đi đâu. Theo lời nữ giáo viên Noda của trường tiểu học Công lập Lão Tùng. Sau giờ học ra về. Học sinh Lưu không có biểu hiện gì khác lạ. Sở Cảnh sát phía Bắc nhận được báo cáo. Hiện đang điều tra chi tiết.
Mặc dù có mỗi phần địa chỉ “khu 2, Thái Bình Đinh” là trùng nhau, nhưng rất có thể não bộ chị đã nối sai mạch, nguyên nhân thực sự dẫn đến sự chú ý khó tả của chị đối với cô bé chết thảm dưới bánh xe, chắc là mối quan hệ giữa người đàn ông tên Lưu Vân Nam và Thái Bình Đinh.
Nếu lý giải của Hồ Duệ Diệc không sai, bản thân Lưu Vân Nam cũng sống ở Thái Bình Định, lúc đó cô con gái mười hai tuổi tên Lưu Xảo Xá của anh ta đã mất tích hai mươi bảy ngày; khoảng độ hai năm sau, Lưu Vận Nam tông chết một bé gái mười một tuổi ở Thái Bình Đinh. Liệu có thể giải thích là vì Lưu Vân Nam quá đau buồn, nên không nhìn thấy cô bé đột nhiên lao ra từ bên đường được không?
Hồ Duệ Diệc quyết định in cả trang báo này ra, giữ lại để ngày sau nghiên cứu kỹ hơn.
Cuối cùng Lưu Vân Nam có tìm lại được con gái không?
Bài báo trong năm Chiêu Hòa thứ 9 hoàn toàn không đề cập đến vụ mất tích này, vì vậy Hồ Duệ Diệc cho rằng cứ mù quáng tìm tiếp sẽ chẳng thu hoạch được gì. Chị quyết định đặt phát hiện này sang một bên, tập trung tìm bài báo liên quan đến Ma thần tử trước đã.
4 giờ 17 phút chiều, Hồ Duệ Diệc cảm thấy cổ và thắt lưng mỏi nhừ, bèn ngẩng đầu lên nhìn đồng hồ. Gần hết giờ chọn đọc tài liệu, chị chỉ tìm được một vài tin mất tích không đáng để mắt tới, hơn nữa chẳng có bài nào nhắc đến “giọng nói kỳ lạ”, thực sự hơi nản. Chị quyết định xem nốt phần còn lại của cuộn này, những cái khác để lúc nào rảnh đến đọc tiếp.
Có lẽ nhờ tâm trạng phấn chấn lúc sắp xong việc, Hồ Duệ Diệc để ý thấy một vụ mất tích xảy ra vào năm Chiêu Hòa thứ 8 ở một góc báo vốn dĩ có thể bị bỏ qua.
Dưới chân núi Tân Cao, ma giấu hay bắt cóc
Bài báo này xuất hiện ở một bên của bức ảnh chụp tổng đốc Nakagawa Kenzo leo lên núi Tân Cao, chỉ là một ô nho nhỏ, lại được viết hoàn toàn bằng tiếng Nhật, rất dễ bị bỏ qua. Tuy vậy vẫn có một số chữ Hán có thể nhận ra, ví dụ như “A Lý Sơn”, “Bát Thông Quan”, “sống Lão Nùng”, “khu lánh nạn trên đường lên núi Tân Cao”, vận vân. Núi Tân Cao tức là Ngọc Sơn, chính vì sự kiện ma giấu xảy ra ở Ngọc Sơn, nên mới khiến ra đa tìm kiếm của Hồ Duệ Diệc reo lên một tiếng.
Hồ Duệ Diệc từng đọc những sách vở có liên quan nên không lạ lẫm gì với cách gọi “núi Tân Cao”, cũng biết tổng đốc Đài Loan lúc đó coi núi Tân Cao là biểu tượng của việc thống trị Đài Loan. Ông Ishizuka Eizo, tổng đốc nhiệm kỳ thứ 13 là tổng đốc đầu tiên lên chơi núi Tân Cao; sau đó, Nakagawa Kenzo của nhiệm kỳ thứ 16 thì leo núi Tân Cao vào mùa hè năm Thiên hoàng thứ 2593”, trở thành vị tổng đốc thứ hai leo lên đỉnh núi cao nhất Đài Loan. Sở dĩ không gọi là năm Chiêu Hòa thứ 8 mà lại gọi riêng là “năm Thiên hoàng thứ 2593”, vì khi đó Nhật Bản bị quốc tế cô lập, chủ nghĩa quân phiệt dâng cao, dẫn đến các phát ngôn về chính trị của cơ quan quốc phòng ngày càng đanh thép hơn.
Tóm lại, Hồ Duệ Diệc vừa nhìn thấy một loạt bài báo liên quan đến việc Ishizuka Eizo leo núi Tân Cao trên các báo của năm Chiêu Hòa thứ 5. Việc ông ta và hai cô con gái bắt thanh niên thổ dân trong xã làm việc ngày đêm để họ leo lên núi Tân Cao cũng đã trở thành ngòi nổ của sự kiện Vụ Xã [*] . Chính vì sự kiện “Tổng đốc leo núi Tân Cao” long trọng hoành tráng như thế, nên Hồ Duệ Diệc vô cùng ngạc nhiên khi thấy bài báo chứa đầy sắc thái thần bí này ở đây.
Con gái của người bạn đi cùng tổng đốc Nakagawa lên núi cũng từng “bị ma giấu” sao?
Nói cho cùng, vào thời đại đó leo núi là một việc vô cùng nguy hiểm. Một khi đã mất tích trong núi, tạm chưa bàn đến yếu tố tai nạn, thổ dân mà nhìn thấy trẻ con Nhật Bản, có lý do gì để không giết cơ chứ.
Chỉ có điều, việc khiến Hồ Duệ Diệc kinh ngạc hơn là, cô bé mười ba tuổi tên “Matsuda Minako” này lại sống sót trở về từ trong ngọn núi nguy hiểm như một kỳ tích.
Trên tờ báo còn có một bức ảnh khác, đó là ảnh chụp cảnh Nakagawa Kenzo sau khi leo lên đỉnh Ngọc Sơn thì dẫn mọi người đi về phía cửa lên núi A Lý Sơn. Theo hiểu biết của Hồ Duệ Diệc, có ba tuyến đường lên núi Tân Cao, chia làm cửa lên núi A Lý Sơn, cửa đường sông Thủy Lý, cửa lên núi Ngọc Lý. Hiển nhiên Nakagawa Kenzo từ Hoa Liên tiến vào đường vượt đèo Bát Thông Quan, cũng tức là, Minako mất tích khi sắp đến gần đỉnh núi.
Điều làm Hồ Duệ Diệc chú ý hơn là, trong bài báo xuất hiện hai chữ “tiếng lạ (kisei)”.
Đúng lúc chị đang đau đầu suy nghĩ về mối liên quan trong đó thì nhân viên quầy phục vụ đến nhắc giờ, thế là chị vội vàng in cả trang báo này ra để thỉnh giáo ông chồng biết sơ sơ tiếng Nhật của mình.
Ngô Sĩ Thịnh bước ra từ hội quán mát xa thư giãn có băng rôn đỏ treo trên cửa, đi thẳng về xe.
Trước đây, nơi Ngô Sĩ Thịnh thường đi nhất là khu vực quanh đường Nam Hoàn Hà và Nam Trung Chính Tam Trùng, kể từ khi xây dựng sân bay MRT, “phố đèn đỏ” ở đó đã bị chính phủ dẹp sạch. Sau này nghe nói gái mại dâm Tam Trùng chia quân hai ngả, một tới Lô Châu, một dời đến dưới nút giao thông Thổ Thành bây giờ. Vì gần khu công nghiệp Thổ Thành, nhu cầu lớn, nên làm ăn còn tốt hơn cả trước.
Mẹ nó!
Rõ ràng là muốn sảng khoái một chút, thế mà tâm trạng lại trở nên tồi tệ bất thường. Ngô Sĩ Thịnh rất hiểu, vấn để hoàn toàn không phải do Tiểu Ái. So với những gái mát xa khác, Tiểu Ái không có mùi hôi miệng giống như nội tạng thối rữa, cũng không thủ dâm cho khách hàng với vẻ mặt chán ghét. Hơn nữa tính Tiểu Ái rất tốt, kể từ khi sang Đài Loan lấy chồng rồi ly hôn chớp nhoáng cách đây năm năm, cô ấy luôn biết thân biết phận mà làm việc, hằng ngày mặc váy siêu ngắn bận rộn từ 3 giờ chiều đến 5 giờ sáng, trong năm, sáu mươi nghìn tệ kiếm được mỗi tháng, cô ấy còn phải gửi ba mươi nghìn tệ về quê nhà. Vậy nên thực ra Ngô Sĩ Thịnh có một chút tình cảm thương hại đối với Tiểu Ái.
Nhưng lúc nghe thấy tiếng buông súng đầu hàng kỳ quái của người đàn ông nằm giường bên cách tấm rèm, cả người gã như thể bị sét đánh trúng, lập tức mềm nhũn ra.
“Sao vậy?”
Ngô Sĩ Thịnh lắc đầu, Tiểu Ái quay đầu nhìn theo ánh mắt của Ngô Sĩ Thịnh, mới biết chuyện gì đang xảy ra. Tiểu Ái không nhịn được bật cười một tiếng, vội vàng đổ tiếp một ít tinh dầu từ trên tủ cạnh giường, gắng sức xoa vuốt hơn.
“Không sao, hôm nay thế này thôi.”
Nói xong, Ngô Sĩ Thịnh toan đứng dậy mặc quần.
“Không cho ra sao? Như vậy không tốt cho cơ thể đâu.”
“Không cần, hôm nay thế này thôi. Anh vẫn trả ba trăm cho việc dùng tay.”
“Hay là em dùng miệng giúp anh nhé?”
“Không cần thật mà.”
Ngô Sĩ Thịnh vén rèm, bỏ lại Tiểu Ái đang không biết phải làm sao, luống ca luống cuống bước đến, vứt hai tờ một nghìn và ba tờ một trăm lên quầy, rồi lao ra ngoài.
Gã ngồi trên ghế lái, tinh thần hết sức bất an, vội châm điếu thuốc trong tay, nhưng cứ dật dờ không làm nổi vì ánh mắt đã rã rời. Khó khăn lắm mới châm được điếu thuốc, gã lập tức đưa lên miệng, rít mạnh mấy hơi.
Chuyện gì xảy ra với gã vậy?
Thực ra trong lúc mát xa bấm huyệt toàn thân, Ngô Sĩ Thịnh đã cảm thấy có gì đó không ổn. Khác với bình thường, trong người gã nóng lên một cách khó tả, chẳng cảm thấy thoải mái chút nào, hơn nữa vừa nhắm mắt lại là gã có thể nhìn thấy hình bóng Quách Tương Oánh đang bận rộn ở nhà. Gã không khỏi nghi ngờ rằng Quách Tương Oánh vẫn chưa chết, mà đang chuẩn bị bữa tối cho gã trong căn bếp tối tăm.
Chỉ là, càng nghĩ như thế, gã càng không muốn về nhà đối mặt với hiện thực.
Gã nổ máy, lái đến nút giao Thổ Thành, chạy dọc theo quốc lộ số 3 về phía Đông, thẫn thờ xoay vô lăng.
Ham muốn tình dục chưa được giải tỏa, lại chuyển về cơn đói cồn cào, hơn nữa còn đói đến mức hơi buồn nôn. Gã nôn khan liên tục, đành vớ bừa lấy viên kẹo trái cây trên xe bỏ vào miệng, tạm thời xoa dịu cái dạ dày đang quặn lên một chút.
Trong lúc hốt hoảng, gã phát hiện mình đã không rẽ trái, đi đường đi về phía Bản Kiều theo kế hoạch, mà lại tiếp tục chạy với tốc độ cao trên đường cao tốc.
Sau khi đi được khoảng ba mươi tư cây số, gã nhìn thấy ngôi đền hùng vĩ, còn có một pho tượng thổ địa khổng lồ, đứng sừng sững trên đỉnh núi xanh biếc.
Hóa ra là vậy.
Cảm giác ức chế bất ngờ ập đến đè lên lồng ngực, khiến Ngô Sĩ Thịnh hơi khó thở. Gã đành nhá xi nhan phải, tạm thời đỗ xe ở lề đường, đôi đèn vàng liên tục nhấp nháy.
Đây chính là cái gọi là tiềm thức sao?
Ngô Sĩ Thịnh nhìn chằm chằm lên đỉnh núi Hồng Lô Tái ở bên tay phải mà tục gọi là Hồng Lô Địa, bỗng nhớ đến lời cảnh cáo của đạo cô quái dị trong giấc mơ đêm đó: “Đừng đi... Núi là lối giao của vong linh!”
Hóa ra gã đang sợ hãi điều này sao?
Lúc này Ngô Sĩ Thịnh mới chợt hiểu ra, các giấc mơ trong quá khứ thì hầu hết đều là tỉnh dậy quên ngay, nhưng giấc mơ này lại giống như được chôn sâu trong tiềm thức, kiềm chế hoạt động của gã. Đương nhiên, tay Từ Hán Cường một đi không trở lại đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến Ngô Sĩ Thịnh chùn bước, chỉ có điều, trước đây gã là một kẻ không tin vào ma quỷ, sao lần này lại tin cơ chứ? Một thằng đàn ông ngạo mạn luôn tin mình là người may mắn, có thể trúng số độc đắc, lại không dám bước vào vùng núi, tìm chân tướng của giọng nói đó ư?
Sẽ chết.
Thời khắc này, Ngô Sĩ Thịnh đặt hết niềm tin vào đạo cô mồm thối đó. Từ cô ta, bằng một cách không sao diễn tả được, Ngô Sĩ Thịnh biết nếu tiếp tục điều tra thì gã nhất định sẽ chết.
Chỉ có điều, Ngô Sĩ Thịnh cũng biết, nếu không điều tra rõ nguyên nhân cái chết của Quách Tương Oánh, gã sẽ ôm hận cả đời. Dạo này, hằng đêm gã đều nhìn chằm chằm vào chỗ trống trên giường mà Quách Tương Oánh để lại, trên gối vẫn còn mùi mồ hôi và mùi tóc bết dầu của vợ gã, như thể đang nhắc nhở gã rằng, gã đã đối xử lạnh lùng với cái chết của vợ như thế nào.
Bầu trời bên ngoài cửa sổ xe tối dần, ráng chiều mang màu tím và màu cam tuyệt đẹp. Gã hạ quyết tâm, tắt đôi đèn vàng, đặt tay lên vô lăng, chầm chậm đạp ga.
Sau khi xuống đường cao tốc từ lối ra An Khanh, gã rẽ vào đường Hoàn Hà, chạy theo hướng Bắc về phía vùng đô thị Nam Thế Giác dựa vào định vị của điện thoại. Lúc này, biển báo trên đường bắt đầu xuất hiện dòng chữ “Đường bộ lên núi Hồng Lô Địa”, Ngô Sĩ Thịnh liền đi theo chỉ dẫn. Dần dần, phong cảnh dọc đường đã biến đổi, nhà máy, sạp hàng và quán cơm được xây dựng từ những căn nhà tôn thô sơ đã thay thế cho cảnh đô thị phồn hoa.
Biển hiệu “Gà nướng lu Hồng Lô Địa chính cống” hơi tróc màu đã lọt vào tầm mắt. Sau khi đi qua phía dưới cầu vượt của quốc lộ số 3, những khu công trình và máy xúc lớn nhỏ đứng sừng sững ở bên đường. Ngô Sĩ Thịnh xoay vô lăng, vòng vào một con đường hẹp cạnh sân bóng rổ, trên con đường ngoằn ngoèo, ngoại trừ lớp học tướng số và sạp xem bói, còn lại toàn là các nhà xưởng quy mô nhỏ, nhà kho và phòng quản lý.
Ngô Sĩ Thịnh dần dần giảm tốc độ, cẩn thận quan sát đạo quán thô sơ bên đường.
Đó là một ngôi nhà thấp được cải tạo từ công ten nơ vỏ tôn, trên tường ngoài có hai chữ “thông linh [*] ” rất lớn được viết bằng sơn đỏ. Lúc này cửa cuốn bằng sắt màu lam vẫn chưa được kéo lên, rõ ràng còn chưa bắt đầu “kinh doanh”, có điều nhìn qua song sắt gỉ sét, có thể trông thấy hai ngọn đèn chong màu đỏ máu.
Đúng lúc Ngô Sĩ Thịnh định lại gần hơn để quan sát thì ngọn đèn đỏ đối diện tay phải gã vụt tắt, từ phía bên kia bức tường tôn truyền ra tiếng tách khe khẽ.
“Soạt” một tiếng, cửa cuốn sắt được kéo lên.
Một ông lão đầu bạc để tóc húi cua bước ra với đôi mắt ngái ngủ, đột nhiên nhìn Ngô Sĩ Thịnh chằm chằm.
“Đi đi, ta không giúp được đâu.”
Ông lão xua tay tỏ ý đuổi Ngô Sĩ Thịnh. Ông ta nói giọng Khách Gia, vẻ bất lực.
“Gì cơ?”
“Anh bị ma nữ quấn lấy, chẳng còn được mấy ngày đâu, mau về chuẩn bị hậu sự đi.”
“Ý của ông là gì?”
Câu nguyền rủa đến bất thình lình làm Ngô Sĩ Thịnh sợ toát mồ hôi lạnh.
“Đèn bị phá mất rồi, còn làm gì được nữa? Nam trái nữ phải, đèn bên trái hỏng, đèn bên phải không có động tĩnh, chắc không phải vợ anh mới mất gần đây chứ?”
Nghe ông lão nói vậy, Ngô Sĩ Thịnh không thốt ra được câu nào.
“Xem ra ta đoán đúng rồi. Tuy ta có thể thông linh, nhưng không có cách nào giải nguy.”
“Tôi đến là để tìm một đạo cô, trước đây tôi từng gặp cô ta ở khu vực Bắc Đầu, cô ta bảo tôi, nếu cần giúp đỡ thì cô ta ở dưới chân núi Hồng Lô Địa.”
“Ta không biết anh đang nói đến ai, tóm lại, mau đi chuẩn bị hậu sự đi.”
Ngô Sĩ Thịnh nổi điên trước thái độ vô trách nhiệm của ông lão, bèn túm lấy cổ áo ông ta, cáu tiết chửi:
“Mẹ kiếp! Luôn mồm kêu người khác chuẩn bị hậu sự, ông muốn ăn đòn à!”
“…”
Thấy ông lão nhìn chằm chằm sau lưng mình, vẻ mặt nặng nề, Ngô Sĩ Thịnh liền cảm thấy nỗi sợ ập đến, vội quay đầu dòm xem có gì bất thường không. Nhưng ngoại trừ chiếc TOYOTA ALTIS Z do chính gã lái, thì sau lưng chỉ còn lại sườn núi phủ đầy cây bụi cỏ dại.
“Ở trên xe sao?”
“Ừ.”
Câu trả lời ngắn gọn của ông lão khiến Ngô Sĩ Thịnh suýt tiểu ra quần.
“Tôi nên làm thế nào?”
Ông lão quay đầu sang, nhìn Ngô Sĩ Thịnh bằng ánh mắt không thể cứu vãn.
“Tôi biết rồi.”
Ngô Sĩ Thịnh thả tay ra, đứng lặng tại chỗ, tiến thoái lưỡng nan.
“Bà đồng lợi hại nhất nơi này đang ở kia.”
Ông lão chỉ vào một con đường núi nhỏ hẹp rẽ nhánh, nằm xéo bên trên.
“Đi lên đó là có thể tìm được bà ta sao?”
“Rất dễ tìm, một đống người đổ xô đến nhờ bà ta giúp đỡ ấy.”
Ông lão nói xong, liền lách vào nhà. Trước khi kéo cửa cuốn sắt xuống, ông lão lại ngoảnh đầu nhìn Ngô Sĩ Thịnh.
“Hy vọng anh có thể sống sót.”
Sau đó “soạt” một tiếng, ông lão kéo cửa cuốn sắt xuống, bỏ mặc Ngô Sĩ Thịnh ở bên ngoài.
Ngô Sĩ Thịnh không muốn trở lại xe, không còn cách nào khác, đành đi bộ lên núi.
Hai bên đường núi mọc đầy cây trinh đằng ba mũi, sau khi quẹo trái rẽ phải chừng trăm mét, một mùi thảo dược hăng hắc bay đến.
Ngô Sĩ Thịnh lần theo mùi thảo dược ngoặt sang phải, rẽ vào một lối mòn hẹp hơn, quả nhiên nhìn thấy một nhóm các bà các chị đang xúm lại, không biết xôn xao bàn tán chuyện gì. Gã dừng bước, quan sát động tĩnh của họ từ xa.
Đột nhiên, tất cả bọn họ đều đổ dồn ánh mắt về phía Ngô Sĩ Thịnh đang nấp, làm gã nhất thời không biết hành xử ra sao.
Đám đông lùi lại chừa ra một khe hở, Ngô Sĩ Thịnh nhìn kỹ, hóa ra chính là đạo cô quái dị đó!
Chỉ thấy đạo cô vòng qua chiếc bàn gấp, gạt đám đông ra, rảo bước thẳng về phía Ngô Sĩ Thịnh, sau đó nhổ nước bọt vào mặt gã.
Hả?
Ngô Sĩ Thịnh sững sờ mất mấy giây mới hiểu chuyện gì vừa xảy ra.
Gã không nhịn nổi, điên tiết hét lớn: “Cô làm cái gì vậy?”
“Được rồi, giờ anh còn một tuần nữa.”
“Mẹ kiếp! Con mụ điên này!”
Ngô Sĩ Thịnh vung nắm đấm lên, định đánh vào mặt đạo cô. Nhưng gã lại nhớ đến câu tiếng dân tộc mà ông lão vừa nói, không khỏi nửa tin nửa ngờ. Mấy bà mấy chị kia nghe thấy, nhao nhao lao đến trách mắng Ngô Sĩ Thịnh không tôn trọng thầy.
Ngô Sĩ Thịnh lấy tay lau đờm trên mặt, bất ngờ phát hiện nó tỏa ra hương thơm dễ chịu của hoa cỏ.
“Đó là nước cốt thảo mộc tôi nhai, anh chớ cảm thấy buồn nôn. Giờ anh sắp bị ma con nhập, phải mau chóng đánh tan uế khí bám trên người.”
Đạo cô nói xong, liền kéo Ngô Sĩ Thịnh vào trong nhà.
Khác với những tòa công giải [*] bình thường, căn nhà lè tè này vừa sâu vừa tối, sau khi vòng qua thạch cảm đương [*] ở cửa nhà, ánh mặt trời bên ngoài đã bị ngăn cách hoàn toàn. Ngoại trừ gương bát quái, sơn hải trấn, bùa chú ở trên tường, bên trong chất đầy các loại đạo cụ thần phật, gian nhà chính đã chật hẹp lại lèn bàn thờ và ghế nhựa cho càng chật thêm. Đạo cô dẫn Ngô Sĩ Thịnh vào một căn phòng nhỏ, sau đó đặt một lò cao trên ghế của kiệu rước thần, thắp ba nén hương.
Ngô Sĩ Thịnh để ý thấy tay đòn bên phải của chiếc kiệu thần nhỏ đó dài hơn hẳn, một trác đầu tiên sinh [*] đang đốt vàng mã, huơ tay múa may trong không trung.
“Chiêu thỉnh thần minh, thần giáng!”
Ngô Sĩ Thịnh cũng biết láng máng về tín ngưỡng dân gian, vì vậy gã có thể lờ mờ đoán được, đạo cô này không phải một bà đồng bình thường, bà đồng chỉ là cách gọi theo thói quen mà thôi. Bất kể là trừ tà bắt ma, hay phù phép mời thần giáng, đều không giống với thầy mo trong dân gian Đài Loan. Từ khẩu âm của đạo cô, gã suy đoán rằng những phép thuật kỳ quái của cô ta có thể bắt nguồn từ phép thuật Mao Sơn ở đại lục.
Lúc này, cơ thể của đạo cô bắt đầu lắc lư dữ dội, cành đào mà cô ta cầm trong tay viết ra những chữ bói khó mà luận được trong khay cám tãi ra trên bàn. Sau khi dựa vào chữ để giải mã ý chỉ của thần, trác đầu tiên sinh viết một đạo bùa chú lên một tờ giấy vàng, rồi đưa cho Ngô Sĩ Thịnh.
Đạo Cô thở nhẹ một hơi, từ từ mở mắt ra, nói với Ngô Sĩ Thịnh:
“Lá bùa này là để hộ mạng anh, chỉ cần mang nó trên người, ma nữ kia tạm thời sẽ không gây nguy hại đến tính mạng anh, nhưng đây không phải là kế sách lâu dài. Muốn trừ khử ma nữ đó, phải lấy độc trị độc.”
“Lấy độc trị độc?”
“Bên mình ma nữ đó có một con ma trành [*] , chuyên môn giúp nó tìm người để nuôi ma con. Những người có ý chí bạc nhược, ý thức tự thân yếu kém thường sẽ trở thành mục tiêu, một khi những mục tiêu này nảy sinh thù hận và khí độc trong lòng, con ma trành đó sẽ nhân sơ hở mà nhập vào.”
“Thù hận và khí độc là sao?”
“Lòng người một khi sinh ra thù hận thì sẽ trở thành cái giường ấm nuôi dưỡng ma con.”
“Vậy lấy độc trị độc mà cô nói nghĩa là gì?”
“Chính là nuôi ma con để phản kích, diệt trừ tận gốc ma nữ đó.”
“Tôi không hiểu lắm.”
“Nói một cách đơn giản là anh phải tự mình nuôi ma con. Nói chung, có bốn cách để nuôi.”
“Bốn cách nào?”
“Cách thứ nhất, lấy gỗ hoàng dương ngâm vào chỗ nước có trẻ con chết đuối để tụ hồn, rồi dùng bùa khóa hồn đứa trẻ lại, đẽo gỗ thành hình người, đặt lên đàn làm phép một trăm linh tám ngày.”
“Nghe đáng sợ quá...”
“Đây vẫn chưa phải cách đáng sợ nhất đâu. Có người còn nạy quan tài, moi xác trẻ con từ trong bụng phụ nữ có thai chết vì khó sinh ra để tu luyện; kẻ thì đẽo gỗ đào thành quan tài nhỏ, đào mộ của đứa trẻ mới mất chưa lâu, lấy nến đốt cằm đứa trẻ, lấy quan tài nhỏ hứng mỡ xác chết, sau đó lại dùng thứ mỡ đó trực tiếp chế luyện ma con.”
Nghe thấy vậy, Ngô Sĩ Thịnh sợ đến đờ cả người, không thốt lên được tiếng nào.
“Còn một cách nhanh hơn. Đến thẳng những nơi xảy ra vụ giết người hoặc tai nạn, tìm một linh hồn trẻ con đã qua đời từ ba tuổi đổ lại. Sau đó lấy màn thầu thấm nước xác hoặc vết máu ở nơi đứa bé chết, tụ hồn xong thì nhét nó vào miệng xác thai nhi, đặt vào quan tài nhỏ rồi làm phép, chỉ cần bốn mươi chín ngày là có thể luyện thành hung thần.”
“Xác thai nhi á?”
“Cái gì cũng có nguồn cả mà.”
Nguồn của xác thai nhi, không phải là chỗ phá thai sao?
Ngô Sĩ Thịnh hơi buồn nôn.
Bất kể là cách nào đi nữa thì nghe cũng vô cùng tà ác. Nuôi ma con suy cho cùng vẫn là chuyện vô đạo đức, lại còn nguy hiểm. Ngô Sĩ Thịnh nghĩ đến cái chết của Quách Tương Oánh, còn cả Từ Hán Cường không bao giờ trở về... Tuy gã không dám không tin lời ông lão và đạo Cô vừa nói, nhưng cho dù Minako có khủng khiếp thế nào, gã cũng không muốn thử bừa cách này.
“Dù là cách nào thì cũng phải chọn giờ âm ngày âm tháng âm năm âm để xử lý. Coi như anh may mắn, năm sau vừa đúng năm Đinh Dậu, ngày gần nhất...” Đạo Cô bấm đốt ngón tay tính: “Là mùng tám tháng Một.”
“Không còn cách nào khác ư?”
Đạo Cô nghe thấy câu này, bật cười khinh miệt:
“Cách khác á? Ma nữ Nhật Bản đó có thể là ác ma, nhất định phải mạnh tay như vậy mới có thể diệt trừ tận gốc.”
“Còn giọng nói đó... Nếu có thể tìm được nguồn gốc của giọng nói đó thì sao?”
“Tôi biết anh muốn nói gì, nhưng cách đó còn nguy hiểm hơn cả nuôi ma con nữa. Anh tưởng xông vào địa bàn của ma nữ đó mà vẫn có thể an toàn thoát thân sao?”
Ngô Sĩ Thịnh kinh ngạc, có phần sững sờ không thốt nên lời.
“Cô biết chuyện này ư?”
“Con ma trành đó rất giỏi dụ bắt mục tiêu bằng giọng nói, không biết đã hại chết bao nhiêu người rồi.
Sau đó ma nữ Nhật Bản sẽ lợi dụng oán khí và lòng thù hận của vong linh, chế luyện ra thật nhiều ma con bán mạng tìm mục tiêu cho nó. Một bắt một, sau đó là hai bắt hai... càng ngày càng nhiều, càng ngày càng nhiều...”
Ngô Sĩ Thịnh cúi đầu, phát hiện hai tay mình không ngừng run rẩy vì sợ hãi.
“Tôi có một đồng nghiệp tên là Từ Hán Cường, có vẻ anh ta đã đi A Lý Sơn và không bao giờ trở lại...”
Đạo cô bĩu môi, liếc xéo Ngô Sĩ Thịnh.
“Đó là kết cục của việc tự tiện xông vào cấm địa đấy. Ma nữ Nhật Bản đó đang nuôi dưỡng một đội quân ma con trong vùng núi Ngọc Sơn, đi khắp nơi săn lùng kẻ chết thay. Người không hiểu chuyện vẫn cho rằng đó chỉ là Ma thần tử trong truyền thuyết dân gian Đài Loan.”
Ngọc Sơn?
Hóa ra Từ Hán Cường đi A Lý Sơn là để vào Ngọc Sơn, trừ khử Minako à?
Ngô Sĩ Thịnh ngẫm nghĩ, đúng vậy, trên đường vào vùng núi Ngọc Sơn, cũng chỉ có duy nhất một bưu cục A Lý Sơn thôi. Nói cách khác, Từ Hán Cường đã ôm quyết tâm ắt phải chết mà viết ra tấm bưu thiếp đó...
“Chẳng nhẽ không có cách nào giải quyết trực tiếp vấn đề này sao? Tôi cảm thấy nuôi ma con thực sự quá...”
Thấy Ngô Sĩ Thịnh phân vân, đạo cô đó đành cầm cành đào vừa mới viết chữ bói lên, uốn cong thành một hình thù quái dị, sau đó tiện tay vơ lấy một nắm tiền giấy, bọc cành đào lại, rồi quấn một tờ giấy giải nguy lên ngoài cùng.
“Nếu anh vẫn muốn thử bằng được thì cầm cái này theo. Trên đỉnh Tây của Ngọc Sơn, còn có một ngôi đền thần Tây Sơn của người Nhật Bản để lại, đó là sào huyệt của nó. Đốt cái này nhét xuống dưới đền thần, một khi đền thần bị thiêu hủy, pháp lực của ma nữ Nhật Bản đó cũng sẽ giảm mạnh, nếu may mắn, chưa biết chừng có thể tiêu diệt nó chỉ trong một lần ra tay.”
Ngô Sĩ Thịnh cầm lấy pháp khí có hình dạng giống con rối nhỏ, biểu cảm trên mặt tương đối phức tạp.
“Đúng rồi, trên xe tôi...”
“Đã giải trừ rồi. Đó chỉ là mảnh hồn của nó, không phải thân thể thật, không cần quá lo lắng.”
“Vì vậy hôm đó cô mới nhổ nước bọt ra ghế sau xe tôi à?”
“Năng lượng của mảnh hồn không mạnh, vả lại nó rất giỏi tránh né, nên tôi mới không phát hiện được ngay lập tức.”
Nghe đạo cô nhắc đến năng lượng, Ngô Sĩ Thịnh đột nhiên nhớ lại tình cảnh ngày hôm đó và những nghi ngờ không giải thích được.
“Tại sao tôi vừa bật vô tuyến điện là cô đã phát hiện ra mảnh hồn của nó?”
“Vô tuyến điện?”
“Đúng, bộ đàm vô tuyến.”
Đạo cô nghiêng đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi mới chậm rãi trả lời:
“Có thể là hiện tượng từ trường. Sách thuật số có giải thích rằng ác linh là một loại trường điện từ rất mạnh, tôi nghĩ chắc tín hiệu đã được phóng đại qua bộ đàm, nên tôi mới phát hiện ra mảnh hồn của nó.”
Lúc Ngô Sĩ Thịnh bước ra khỏi căn nhà thấp thì trời đã tối hẳn. Các bà các chị vừa nãy tụ tập trước nền xi măng ngoài cửa giờ chỉ còn lại mấy người quỳ trên đệm tròn ở cửa, thành tâm cầu khấn.
Gã xuống núi theo con đường lúc lên, lòng nghĩ đến “hiện tượng từ trường” mà đạo cô nói.
Nếu gã nhớ không nhầm, bình thường sóng vô tuyến phát ra từ đài vô tuyến đi qua ăng ten chuyển thành dòng điện, rồi lại thông qua “bộ điều hưởng” được cấu tạo từ cuộn cảm và tụ điện biến đổi, điều chỉnh tín hiệu sang trạng thái “cộng hưởng”. Như vậy thì điện cảm và điện dung của máy thu mới khớp được với tần số của sóng điện từ do đài vô tuyến phát ra, thế mới nghe được tiếng phát thanh của đài vô tuyến. Ví như máy thu thanh, chính là dùng núm vặn điều chỉnh tụ điện biến đổi trong máy để chọn nghe các kênh phát thanh khác nhau.
Nghĩ theo hướng này thì giả sử ác linh có thể lợi dụng trường điện từ cực mạnh, mô phỏng hiệu quả của mạch dao động điện từ, sinh ra sóng vô tuyến, biết đâu có thể làm người ta nghe thấy giọng nói của chúng...
Chỉ là, thông thường máy thu thanh vẫn phải được trang bị bộ tách sóng và bộ phát âm mới có thể phát ra âm thanh. Vì dòng điện dao động do bộ cộng hưởng sinh ra có cùng dạng sóng với sóng vô tuyến, tần số cao và tần số thấp tồn tại đồng thời, nên cuộn cảm của bộ phát âm sẽ sinh ra cảm kháng, khiến dòng điện không thể đi qua, cũng tức là không thể phát ra âm thanh.
Mặt khác, tần số âm thanh mà tai người nghe được cũng có giới hạn, đối với tai người, các dao động cao tần như sóng vô tuyến vốn đã thuộc phạm vi sóng siêu âm, vì vậy buộc phải dùng bộ tách sóng để loại bỏ sóng mang, chỉ giữ lại sóng điện từ tần số thấp đại diện cho âm thanh, rồi thông qua bộ phát âm để chuyển năng lượng điện thành năng lượng âm thanh, như thế mới có thể nghe thấy tiếng.
Nói cách khác, cho dù giải thích dưới góc độ sóng vô tuyến, vẫn không thể lý giải được tại sao một số người nghe thấy mà một số người lại không nghe thấy giọng nói của ma. Trừ phi...
Trừ phi cơ thể những người đó có sẵn công năng của máy dò và bộ phát âm.
Lẽ nào đây chính là “thể chất thần bí” mà người ta hay nói sao?
Ác linh tương ứng với đài phát thanh, còn người có thể chất thần bí chính là máy thu thanh.
Nếu như không mau chóng diệt trừ ác linh Minako, sóng vô tuyến mà nó phát tán sẽ hại chết thêm nhiều người có thể chất thần bí.
Nghĩ vậy, Ngô Sĩ Thịnh ngồi vào ghế lái, thu hết can đảm nổ máy.
W*e l*ove eb*ook
Quách Thần San kéo vali đi từ nơi xuống xe khách loại nhỏ đến sảnh xuất cảnh trên tầng ba của cảng hàng không số hai. Trong sảnh rất đông người, chị nhanh nhẹn tìm đến quầy của hãng EVA Air làm thủ tục check-in và ký gửi hành lý.
Trong lúc đợi lên máy bay, Quách Thần San vào Starbucks ở tầng bốn mua cà phê và bánh mì để chống đói. Nhiều lần thấy cảnh các cặp đôi vừa trò chuyện, vừa thưởng thức trà chiều đây mãn nguyện, chị lại tủi thân muốn khóc. Hồi đó chồng chị bận học khóa quản trị kinh doanh của trường Đại học Chính trị, mỗi tuần lên lớp hai ngày, cuối tuần còn phải thảo luận nhóm, Quách Thần San liền nghe lời chồng, hy sinh sự nghiệp của mình, tập trung cho gia đình, nửa đêm cũng phải theo chồng lái xe đi chuẩn bị báo cáo, còn phải tranh thủ ngày nghỉ đến quán cà phê để cùng học và vạch ra những điểm quan trọng trong sách giúp chồng, cứ liên tục như thế trong vòng ba năm.
Sau đó chồng chị nhắm trúng tiềm năng của thị trường giấy đại lục, liền dời trọng tâm công việc sang bên đó, thu hút các nguồn vốn của đại lục và Singapore để tăng vốn điều lệ, lần lượt mở nhà máy ở Thiên Tân, Thượng Hải, Nam Kinh và Tô Châu. Cùng với việc đề cao ý thức bảo vệ môi trường và chi phí nguyên vật liệu gia tăng, giá giấy cũng lên theo, quả nhiên doanh thu tăng trưởng 7% so với năm ngoái, giá cổ phiếu cũng tăng 10%. Lại thêm Công ty giấy của chồng chị liên tục quảng cáo là sử dụng bột giấy tái chế với tỷ lệ 60% theo “tiêu chuẩn Đức”, dưới sự tăng cường giám sát của chính phủ, nó lại bộc lộ được hết khả năng, trở thành doanh nghiệp có tầm quan trọng chiến lược của ngành giấy.
Nhìn lại bản thân trong quá khứ từ góc độ hiện tại, Quách Thần San cảm thấy mình chẳng khôn hơn em gái chút nào. Thậm chí, Quách Thần San tự ngẫm rằng, dựa vào điều kiện của bản thân, việc chọn một thiếu gia con nhà buôn bán làm chồng có lẽ là quyết định ngu xuẩn. Nếu không phải vì chị có sở trường về mặt tài vụ thì nhà chồng sao có thể ngắm trúng chị cơ chứ?
Lúc đó Công ty giấy của nhà chồng sử dụng chứng chỉ tiền gửi để phát hành thương phiếu, thông qua chênh lệch lãi suất và sự khác nhau về thời gian đáo hạn, nhiều lần tiến hành các thao tác chứng khoán ngắn hạn, kết quả là, do thao tác đòn bẩy tài chính không phù hợp và đầu tư quá mức, dẫn đến tình trạng quyết toán chứng khoán sai hẹn. Nếu không phải Quách Thần San tích cực kiểm tra tình hình tài chính thật sự của công ty, bán những tài sản không phải cốt lõi, đồng thời làm trung gian đàm phán kế hoạch trả nợ với ngân hàng cho vay, Công ty tuyệt đối không thể có thành tựu như ngày hôm nay.
Quách Thần San nghĩ về chuyện cũ với tâm trạng tràn đầy hối hận, chỉ biết thở dài liên tục. Việc đến nước này, bản thân đã mất đi giá trị lợi dụng, chị chỉ có thể một mình tự giữ lấy cái vỏ rỗng tuếch của gia đình đã không còn tồn tại từ lâu, nhìn chồng và bồ nhí tiêu dao bên ngoài, hưởng thụ thế giới và khối tài sản kếch xù mà chị đã giúp gia tộc giành về.
Máy bay bắt đầu phát thông báo bằng cả tiếng Trung và tiếng Anh, ngay sau đó thì cất cánh đúng giờ.
Quách Thần San nhìn đất Đài Loan dưới chân mình từ cửa sổ máy bay, không có tầng mây che khuất, có thể thấy rõ đèn đuốc dày đặc chiếu sáng toàn bộ đại đô thị phía Bắc. Chị lại bắt đầu tưởng tượng, đêm nay rốt cuộc có bao nhiêu người đau lòng muốn chết như chị, một mình khóc dưới những ngọn đèn kia.
Không biết có phải cố ý hay không, ánh đèn trên máy bay dường như tối đi, làm người ta mơ màng muốn ngủ, không ít người đã quấn chăn ngủ rồi. Quách Thần San lại không thể ngủ nổi. Màn hình đen trên máy bay phản chiếu vẻ mặt lo lắng của chị, các cơ trên gò má gần giật. Đó là người đàn ông của tôi, gia đình của tôi.
Giết cô ả...
Tôi phải lấy lại thứ thuộc về mình!
Bầu trời ngoài cửa sổ máy bay không có mây nên càng thêm tối tăm. Tâm trạng tiêu cực bao trùm tâm trí của Quách Thần San, chị siết chặt điện thoại trong vô thức, nhắm mắt lại, mặc cho nỗi hận nảy nở trong lòng.
Về nhà vẫn còn sớm nên Hồ Duệ Diệc quyết định đến siêu thị gần nhà để mua thức ăn. Chị đã mua cà rốt, khoai tây, hành tây và viên cà ri vị hơi cay, còn cả rau mầm và táo. Đây là những món mà chồng chị thích nhất, trước đây chị không biết rau mầm xào rất hợp để làm đồ ăn kèm món cà ri, không ngờ thử xong thì kinh ngạc tột cùng vì độ ngon, từ đó chị mới phát hiện chồng mình có vị giác rất nhạy bén đối với thức ăn.
Không, thực ra không chỉ có vị giác, năm giác quan của chồng chị dường như đều hơn hẳn người thường. Hồ Duệ Diệc cho rằng, điều này có liên quan đến tế bào nghệ thuật phát triển của chồng mình. Tuy cuối cùng anh không đi theo con đường sáng tác nghệ thuật chuyên nghiệp, nhưng làm một thầy giáo mỹ thuật trung học, dùng thời gian rảnh rỗi để chơi đùa với mực màu, chung quy vẫn tốt hơn làm một họa sĩ thu nhập không ổn định.
Trên bàn ăn tối, chồng chị đang vui vẻ kể về những chuyện vụn vặt khi đi tham quan buổi triển lãm tranh của bạn học hồi chiều.
“... Kết quả là có người chọc cậu ta, bảo bố cục bức tranh đó rất giống bức Suối nước nóng Bắc Đầu của Gobara Koto, khiến cậu ta lúng túng ra mặt, ha ha!”
"Gobara Koto à?”
“Một họa sĩ Nhật Bản, từng tổ chức triển lãm mỹ thuật ở Đài Loan, bồi dưỡng rất nhiều họa sĩ Đài Loan. Nãy anh vẫn chưa kể hết. Kết quả là người đó vừa nói xong, lập tức có người đặt ra nghi vấn, ngờ rằng bạn học của anh đạo tranh.”
“Tại sao?”
“Em xem này.” Người chồng vừa nói vừa lấy điện thoại ra, mở một bức tranh có bút pháp và tông màu rất trang nhã, phóng to cho Hồ Duệ Diệc xem. “Tòa nhà có mái màu xám ở phía sau là bảo tàng suối nước nóng Bắc Đầu, lúc đó gọi là nhà tắm công cộng Bắc Đầu. Còn tòa nhà có mái màu đỏ, tường màu trắng ở phía trước chắc là suối nước nóng Lung Nãi.”
Các tòa nhà trong tranh được bao quanh bởi những bụi cây trông giống rừng keo tương tư, hai cô gái mặc kimono cầm ô, dường như chuẩn bị bước lên cầu thang. Trên cầu thang có một cô phục vụ nữ đang gánh nước, trong nhà nghỉ thì có khách đang ngồi tán gẫu với nhau.
“Về góc độ, tranh của bạn học anh giống hệt bức này, nhưng giờ toàn bộ sườn núi đã bị nhà cao tầng bao phủ, không thể nào nhìn thấy bảo tàng suối nước nóng Bắc Đầu và suối nước nóng Lung Nãi cùng một lúc, chứng tỏ bạn học anh đạo tranh thật rồi.”
“Sao anh ta không đến tận nơi vẽ cảnh thật luôn?”
“Chuyện này thực ra cũng khó trách cậu ta được, giờ Bắc Đầu nhiều khách du lịch như thế, muốn vác theo một đống đồ vẽ đến đó, tìm vị trí tốt để yên tĩnh vẽ cảnh thật rất phiền phức.”
“Cho dù như vậy, cũng không thể đạo tranh được.”
“Đúng thế, có điều nói đến bảo tàng suối nước nóng Bắc Đầu, trước đây từng xảy ra một vụ án mạng kinh khủng.”
Nghe đến đây, Hồ Duệ Diệc cuối cùng cũng hiểu ngụ ý của chồng. Hóa ra chồng chị nói mấy chuyện này, ngoài để chia sẻ những điều thú vị thì còn có dụng ý tiếp tục chủ đề tối qua.
“…”
“Vẻ mặt ấy là sao, có liên quan đến Ma thần tử mà em đang nghiên cứu à?”
Chồng chị nói xong, liền lấy điện thoại mở một tấm hình khác, bên trên có những ô vuông ghi rõ địa điểm, tên trạm xe và nhà nghỉ.
“Đây là bản đồ chỉ dẫn của nhà nghỉ suối nước nóng Bắc Đầu vào năm 1935.” Sau đó chồng chị dùng tay phóng to bản đồ, chỉ vào một hồ nước trông như đang bốc khói. “Em nhìn cái này xem, đây là Địa Nhiệt Cốc.”
“Ồ, hóa ra là Địa Nhiệt Cốc.”
“Trước đây Địa Nhiệt Cốc được gọi là Địa Ngục Cốc, không chỉ nhiệt độ cực cao, nước suối còn có tính axit.”
“Có người... chết ở đây sao?”
“Ừ. Vào năm Chiêu Hòa thứ 10, có một cô gái xinh đẹp tên Chiyoko, sau một tuần kết hôn với nhà sư Yasuda Fumihide, được phát hiện đã chết phơi xác ở chỗ suối nước nóng phun trào. Lúc người dân phát hiện ra, thi thể của cô ta chỉ còn lại xương trắng, từ eo trở xuống đã bị ăn mòn hết cả, chứ đừng nói đến tóc và da. Vì nước suối quá nóng, đành phải đứng trên bờ lấy gậy vớt phần xác và xương vụn còn sót lại đặt lên ván, rồi dùng dây sắt kéo lên.
Hồ Duệ Diệc nhìn miếng thịt gà trong bát, chợt cảm thấy hơi buồn nôn.
“Được rồi, đừng kể nữa.”
“Xin lỗi, anh sẽ bỏ qua đoạn này. Tóm lại, lúc đó mọi người đều cho rằng vì vợ chồng bất hòa, nên Chiyoko mới mặc đồ ngủ một mình chạy đến Địa Ngục Cốc tự tử.”
“Nhưng?”
“Nhưng có lời đồn rằng, lúc Chiyoko về nhà ngoại, từng than phiền với mẹ nuôi rằng cô thường xuyên nghe thấy một cô bé nói tiếng bản địa bên tai mình.”
Nghe thấy chồng nói vậy, Hồ Duệ Diệc chợt nhớ đến bài báo về “vụ ma giấu Minako” mà chị tìm được hồi chiều, bèn rút tài liệu đã in từ trong túi ra, chỉ vào hai chữ “tiếng lạ”, hỏi:
“Anh dịch bài báo này hộ em cái.”
“ Nhật nhật tân báo à? Để anh xem...”
Người chồng kéo tài liệu về phía mình, tháo kính ra, gí sát mắt lại gần:
“... Xuất phát từ Ngọc Lý ở Hoa Liên cảng sảnh [*] , men theo đường cổ Bát Thông Quan, qua Bát Thông Quan đến khu cắm trại ở cuối sông Lão Nùng, sáng hôm sau, phát hiện Matsuda Minako mười ba tuổi đã bị mất tích, thế là chia làm hai đội, đội chính leo lên đỉnh theo kế hoạch đã định, và xuống núi theo hướng cửa lên A Lý Sơn, đội còn lại thì tạm nghỉ ở khu lánh nạn trên đường lên núi Tân Cao, tìm Minako ở vùng đầu nguồn sông Lão Nùng và thung lũng sông Trần Hữu Lan. Tìm kiếm như vậy ba ngày, đúng vào lúc sắp bỏ cuộc, có người tộc Bố Nông đưa Minako đến đồn cảnh sát Lạc Lạc, nghe nói cả người Minako ướt sũng, nằm sõng soài trên vách đá của khe suối gần suối nước nóng Lạc Lạc, dưới ngã rẽ của đường mòn. Theo miêu tả của người tộc Bố Nông, chỗ đó là Oung-oung (hẻm núi), phải đuổi ma quỷ đi bằng cách bắn cảnh báo. Sau khi được cứu, Minako liên tục nói mình nghe thấy giọng nói kỳ lạ... Đây là?”
“Đây là một mẩu tin vào năm Chiêu Hòa thứ 8 mà em tìm được. Anh xem, cùng là nghe thấy giọng nói kỳ lạ, nhưng sau khi bị ma giấu thì Minako lại được cứu về mà không rụng một sợi tóc.”
“Ý em là tại sao cô bé Nhật Bản lại không bị người tộc Bố Nông giết hả?”
“Không chỉ vậy, tất cả những người nghe thấy tiếng lạ đều chết, cô bé Minako này mất tích ba ngày trong vùng núi nguy hiểm, chẳng những không có vết thương như bị ngã hoặc rơi, cũng không nhắc đến tình trạng bị đói hay hạ thân nhiệt, mà sau khi tỉnh cô bé lại có thể nói chuyện với mọi người ngay lập tức, như chẳng có gì xảy ra, lẽ nào anh không cảm thấy quái lạ sao?”
“Cũng có thể bài báo không viết rõ? Huống hồ, nghe thấy tiếng lạ chỉ là cách nói của cô bé, không nhất thiết phải liên quan đến những sự kiện Ma thần tử mà chúng ta thảo luận trước đó.”
“Vậy anh hãy xem tiếp cái này.”
Hồ Duệ Diệc đưa hai tờ tài liệu khác cho chồng.
“Ô tô cán chết bé gái?”
“Đây là tin tức năm Chiêu Hòa thứ 9, Lưu Vận Nam đã tông chết một bé gái mười một tuổi ở khu 2, Thái Bình Đinh hồi đó. Rồi còn cái này nữa, bài báo năm Chiêu Hòa thứ 7. Lưu Xảo Xá, con gái mười hai tuổi của Lưu Vận Nam, mất tích hai mươi bảy ngày, sau đó có tìm thấy hay không thì em không biết. Tóm lại, trong ba năm đó, mỗi năm đều có một vụ án liên quan đến trẻ con.”
“Tay Lưu Vận Nam này sống ở khu 2, Thái Bình Định?”
“Chắc là không sai.”
“Nhưng mà, em lấy ba bài báo này, rốt cuộc muốn chứng minh điều gì? Ngoại trừ nạn nhân đều là trẻ con, còn có điểm chung gì khác sao?”
“Chỉ đọc ba bài báo này, em cũng không nghĩ ra có gì liên quan. Nhưng mà, chuyện anh vừa nói...”
“Án mạng Chiyoko năm Chiêu Hòa thứ 10.”
“Đúng, chính từ án mạng này, em mới nghĩ đến chuyện có thể điểm chung không phải là trẻ con, mà là hành vi trước khi chết. Anh xem kỹ chỗ này...” Hồ Duệ Diệc chỉ vào một đoạn trong bài báo về việc Lâm Hoàng Sâm Mai bị ô tô cán chết, đọc từng chữ một: “Nghe nói để xem lễ tế Thành hoàng Hà Hải ở khu Đại Đạo Trình, mấy hôm trước cô bé đã cùng mẹ nuôi lên phía Bắc. Dự định hôm đó về Cơ Long, thế mà lại gặp phải tai nạn thảm khốc này. Người mẹ nuôi từ tiệm xà phòng Kao trên đường Kinh Đinh đuổi tới, tận mắt chứng kiến cảnh này, tay chân bủn rủn.”
Trong thoáng chốc, chồng chị đã phát hiện ra chỗ bất thường, thở hắt ra một hơi.
“Anh hiểu rồi.”
“Mặc dù em không biết đường Kinh Đinh ở đâu, nhưng trước khi chết, Lâm Hoàng Sâm Mai từ một con đường khác lao đến khu 2, Thái Bình Đinh, tốc độ của cô bé quá nhanh, ngay cả người mẹ nuôi cũng không đuổi kịp, chỉ có thể trơ mắt nhìn con gái nuôi bị ô tô tông chết.”
“Quả thật rất bất thường. Hơn nữa họ đã chuẩn bị về nhà ở Cơ Long, thế mà lại đột nhiên xảy ra chuyện này, nói thật... quá là lạ lùng.”
“Lại nói chuyện Minako năm Chiêu Hòa thứ 8. Rõ ràng cô bé và đội leo núi cùng nhau ngủ ngoài trời ở điểm cắm trại sông Lão Nùng, vậy mà tự dưng đêm hôm khuya khoắt lại bỏ đội, một mình chạy vào trong núi sâu. Đây cũng không giống việc một đứa bé dám làm.”
“Sau đó là Chiyoko.”
“Đúng. Anh nghĩ mà xem, cho dù vợ chồng có bất hòa thế nào, thân là phụ nữ, thiết nghĩ tuyệt đối không thể chọn cách chết khốc liệt như vậy. Huống hồ Chiyoko còn xinh đẹp, nhất định rất quý trọng dung mạo của mình. Vả lại, một cô gái trẻ mặc đồ ngủ chạy ra ngoài tự tử... Dù nghĩ thế nào cũng thấy kỳ quặc.”
“Em nói không sai. Hành vi của Chiyoko trước khi chết quả thực hơi bất thường. Nghe nói, Chiyoko lao ra khỏi nhà lúc 5 giờ sáng. Khi đó chồng cô ấy đang tụng kinh ở trong viện Thiết Chân, cũng chính là chùa Phổ Tế bây giờ. Chiyoko quét dọn được nửa chừng thì đột nhiên dừng lại, chạy đến Địa Ngục Cốc trong bộ đồ ngủ... Liệu có phải giọng nói kỳ lạ đó đã mê hoặc bọn họ không?”
“Em cũng muốn biết, có điều, em không biết phải làm thế nào để chứng thực chuyện này... Suy cho cùng chúng ta đều không nghe được giọng nói kỳ lạ đó.”
“Qua những gì em nói, anh chẳng muốn nghe được giọng nói kỳ lạ chút nào.”
* * *
Ngô Sĩ Thịnh mua lương khô dinh dưỡng, dây thừng hướng đạo sinh, găng tay bảo hộ lao động sợi bông và mồi lửa, đồng thời để con dao Thụy Sĩ và chiếc đèn pin duy nhất trong nhà vào trong ba lô. Ba lô này trước đây gã mua để đi lội suối với bạn, có khả năng chống nước. Gã còn chuẩn bị áo mưa và la bàn để đề phòng tình huống ngoài ý muốn.
Vốn dĩ Ngô Sĩ Thịnh cho rằng, chỉ một ngày là leo đến đỉnh ngọn Tây của Ngọc Sơn, nếu có thể hành động cùng những người leo núi khác, chắc chẳng cần chuẩn bị nhiều thứ phiền phức như này, nhưng nhớ đến nội dung tấm bưu thiếp Từ Hán Cường gửi về nhà, gã cảm thấy cẩn thận một chút vẫn tốt hơn.
Ngô Sĩ Thịnh đã tra thông tin trên mạng, “cửa lên núi Ngọc Sơn” mà người ta thường gọi, thực ra là chỉ cửa lên núi từ chỗ yên ngựa Tháp Tháp Gia vào núi. Mọi người thường đỗ xe ở mốc cây số 108,4 của đường 18, sau đó đến báo cáo với trung tâm phục vụ leo núi Bài Vân và tiểu đội Tháp Tháp Gia thuộc đội cảnh sát Ngọc Sơn, trình giấy phép vào vườn quốc gia và giấy phép vào núi. Tiếp đó, lại chuyển sang ngồi xe buýt con thoi, từ bên ngoài Ủy ban Lâm nghiệp thực nghiệm Đại học Quốc gia Đài Loan đến thẳng cửa lên núi Ngọc Sơn.
Phiền một nỗi là, vì Ngọc Sơn có kiểm soát tải trọng sinh thái, số giường của sơn trang Bài Vân cũng có hạn, nên ban quản lý Ngọc Sơn không thể cho phép tất cả những người nộp đơn vào vườn quốc gia, một số người leo núi cũng vì thế mà phải đợi vài tháng. Tuy hạn ngạch số người đi khứ hồi trong ngày của tuyến ngọn Tây đã tăng, nhưng trước khi vào vườn quốc gia từ bảy ngày đến hai tháng, vẫn phải nộp đơn trên trang web của ban quản lý Ngọc Sơn mới được. Ngô Sĩ Thịnh không thể đợi lâu như vậy, đối với gã, trừ khử Minako là việc cấp bách nhất lúc này, nếu chậm một bước, thì có thể gã sẽ giống như lời ông lão Khách Gia nói... Không, chưa biết chừng ngay cả thời gian chuẩn bị hậu sự cũng chẳng có. Hơn nữa, mục đích chuyến đi này của gã là thiêu hủy trái phép các di sản văn hóa của vườn quốc gia, không thể đăng ký tên xong vẫn trắng trợn phóng hỏa được.
Vì vậy gã chỉ còn lại một lựa chọn - một mình xông lên.
Căn cứ theo thông tin trên mạng, từ cửa lên núi Tháp Tháp Gia, qua đình Mạnh Lộc, cửa lên núi Tiền Phong, rừng Bạch Mộc, Vách Đá Lớn, cuối cùng đến sơn trang Bài Vân sẽ cần khoảng bốn tiếng, tiếp theo lại từ sơn trang Bài Vân đi khoảng hai cây số về phía Tây thì có thể leo lên ngọn Tây của Ngọc Sơn. Miếu sơn thân trên đỉnh ngọn Tây chính là “đền thần Tây Sơn” mà đạo cô nói. Nếu nhanh chân thì có thể hoàn thành việc này trong một ngày.
Có một chỗ tương đối nguy hiểm, đó là sau khi Ngô Sĩ Thịnh dừng xe ở bãi đỗ xe Tháp Tháp Gia của Thượng Đông Phố, muốn tránh sự kiểm tra của tiểu đội Tháp Tháp Gia thuộc đội cảnh sát Ngọc Sơn, thì chỉ có thể băng qua rừng rậm rồi mới trà trộn vào với những người leo núi đã qua kiểm tra, cùng nhau đi theo tuyến đường cửa lên núi Tháp Tháp Gia. Theo cách tính này, cả đi lẫn về nhanh nhất cũng phải mất một ngày. Nói cách khác, chập tối nay gã phải khởi hành, lái xe năm tiếng liên tục đến Nam Đầu, tới bãi đỗ xe Tháp Tháp Gia trước nửa đêm, như vậy mới có thể suôn sẻ xuống núi trước khi trời tối vào hôm sau.
Gã đặt chiếc ba lô đã chuẩn bị xong lên ghế đẩu ở cửa, tựa vào thành cầu thang gỗ lạnh lẽo, trong đầu đã lên kế hoạch cho toàn bộ hành trình. Gã cúi xuống, ngửi thấy áo sơ mi trên người có mùi lạ, liền cởi áo sơ mi và quần, vứt vào trong đống quần áo bẩn, sau đó lại rút một chiếc sơ mi và quần bò khác từ dưới đáy đống quần áo bẩn, đưa lên mũi gửi.
Ừm, cái này vẫn ổn.
Thế là Ngô Sĩ Thịnh mặc áo sơ mi và quần bò, quyết định đi đến khu phố Cát Lợi gần đó, tìm xem có quán ăn vặt nào mở cửa không để ăn chút gì đó lót dạ.
Gã đảo khắp đường bé ngõ nhỏ, thấy những hàng rau và hoa quả ban ngày đã thu dọn cả rồi, quán bún gã định ăn cũng đã nghỉ, đành phải đi xa hơn về phía Tây.
Đang đi, Ngô Sĩ Thịnh phát hiện mình đã đến trường tiểu học mà trước đây Đình Đình từng học, đứng trước cánh cửa lưới bằng thép không gỉ ở cổng trường, nhìn vào tiền sảnh không một bóng người phía bên kia, gã chợt thẫn thờ.
Trong nháy mắt, dường như gã nhìn thấy Đình Đình từ trong bóng râm của tiền sảnh tung tăng chạy ra, gọi to: “Bố!!!” sau đó ríu rít kể với gã những chuyện thú vị xảy ra ở trường hôm nay. Khi ấy, Ngô Sĩ Thịnh sẽ ngượng ngùng chào hỏi bạn học của Đình Đình. Giờ nghĩ lại, đó mới là đỉnh cao của cuộc đời gã.
À, đúng. Lúc đó Đình Đình còn nói con bé muốn làm ca sĩ.
Vì trong số các học sinh tốt nghiệp của trường có một ca sĩ, nên Đình Đình cũng phát cuồng với giấc mơ ca sĩ, làm ầm lên đòi tham gia cuộc thi tuyển chọn tài năng ca hát, nhưng Ngô Sĩ Thịnh đã lấy lý do tuổi tác để cản Đình Đình. Sau này nghe nói ca sĩ đó ngày càng nổi tiếng, không chỉ đóng vài bộ phim thần tượng mà sau khi phát hành đĩa nhạc còn được rất nhiều giải thưởng. Nhìn thấy trường hợp thành công này, có một dạo Ngô Sĩ Thịnh còn kỳ vọng Đình Đình trở thành ca sĩ, một khi thành công thì tiền sẽ vào như nước, gã tha hồ hưởng lạc dưỡng già.
Nhưng lúc đó ngành nhập khẩu linh kiện ô tô của Ngô Sĩ Thịnh đã bắt đầu xuất hiện khủng hoảng. Chịu tác động từ sự suy thoái của nền công nghiệp xe hơi, hai bộ phận nghiệp vụ bị cho thôi việc toàn bộ. Gã may mắn thoát khỏi vụ này, nhưng bị công ty chuyển đến bộ phận xuất hàng. Vi xưởng xuất hàng ở tận Lâm Khẩu, quản lý yêu cầu gã hằng ngày phải có mặt lúc 7 giờ, khiến gã rơi vào cảnh ngày ngày phải đi sớm về muộn.
Thiếu ngủ trầm trọng, cộng với việc cả ngày phải bốc xếp hàng hóa nặng nhọc, khiến lửa giận trong Ngô Sĩ Thịnh ngày càng cháy mạnh. Lúc đó gã chỉ nghĩ đến việc mình vốn là nhân viên nghiệp vụ mà lại bị gọi đi khuân đồ, ngay cả đối chiếu với danh mục sản phẩm cũng bị mắng là tránh nặng tìm nhẹ. Trong lúc tức giận, gã đã xung đột với quản lý, kết quả là bị bên nhân sự gọi đến hỏi han.
Thật không may, lúc đó Ngô Sĩ Thịnh về tinh thần không tốt nên quên đánh dấu vào món hàng nào đó trên hợp đồng bán hàng, dẫn đến món hàng đó được bán cho khách với giá thấp hơn rất nhiều so với hợp đồng. Sau khi khấu trừ chi phí, tuy Công ty vẫn kiếm được một chút lãi gộp, nhưng đã có thiệt hại rồi, gã cũng không còn lý do để được ở lại công ty nữa.
Giá như có thể biết trước tương lai, biết mình giờ vừa mất vợ, con gái lại bỏ nhà đi, cả ngày nát rượu hút thuốc, sống một cuộc sống đói khổ trường kỳ, được bữa hôm mất bữa mai, thì Ngô Sĩ Thịnh thật sự muốn để thời gian dừng ở khoảnh khắc đó, chỉ cần giữ lại ký ức trước thời điểm đó là được rồi.
Lẽ nào cuộc đời gã cứ thế này sao?
Dạ dày nhộn nhạo một trận, Ngô Sĩ Thịnh lại bắt đầu buồn nôn. Gã móc tiền lẻ trong túi ra, vẫn còn chín mươi bảy đồng, đủ ăn một bát mì Dương Xuân.
Gã men theo tường bao của trường tiểu học đi tiếp về phía Tây, xuyên qua công viên cạnh trường, sau đó lần theo trí nhớ sơ sài chui vào trong một ngõ nhỏ, tìm quán mì cũ mấy năm rồi gã chưa từng ghé qua.
* * *
Từ sân bay thủ đô Bắc Kinh đi taxi dọc theo đường cao tốc sân bay vào trung tâm thành phố, mất tròn ba tiếng đồng hồ. Nhìn thấy khách sạn mình đặt phòng ở ngay trước mắt, nhưng xe lại bị kẹt trong biển xe trên đường Kiến Quốc khó mà nhích nổi một phần, Quách Thần San sốt ruột không chịu nổi, liền yêu cầu tài xế dừng xe bên đường ngay lập tức. Không ngờ chỉ là dừng xe bên đường mà cũng phải gần mười phút mới xong.
Ở Bắc Kinh lúc này trời đã se lạnh, đứng trước gió lâu sẽ đau đầu. Quách Thần San trùm mũ chiếc áo măng tô thuần lông dê lên, kéo vali, tiến về khách sạn cách đó mấy trăm mét.
Chị vừa kéo vali, vừa gọi WeChat cho chồng.
Đây là cuộc gọi thứ tư của chị, nhưng chồng chị không chỉ không gọi lại, mà còn lần lữa không bắt máy.
Chắc anh ta không thể biết chuyện mình đến đây chứ?
Quách Thần San không khỏi sinh nghi, nhưng chị tự nhủ: Không thể nào. Gã đàn ông đần độn đó trước giờ không hiểu vợ mình, cũng không thể phát hiện vợ đã biết mình đi ngoại tình được. Nghĩ vậy, Quách Thần San vào sẵn trạng thái chiến đấu.
Chị đã tính trước những tình huống có thể xảy ra tiếp theo, cũng chuẩn bị sẵn tâm lý mình sẽ thất bại hoàn toàn - bị chồng vứt bỏ, thu thập chứng cứ về Đài Loan nộp đơn ly hôn; hoặc trực tiếp giết ả hồ ly tinh đó, cho dù được thả về hay là bị câu lưu tại đây, đều không tránh khỏi trách nhiệm hình sự về tội giết người. Bất kể kết cục như thế nào, chị cũng sẽ không nhượng bộ dù chỉ một bước.
Tuy Quách Thần San thầm mong chồng sẽ quay đầu vì hai đứa con, nhưng nghĩ đến việc ả hồ ly tinh kia có thể sẽ dùng sách lược “lấy lùi làm tiến” để đối phó với sự xuất hiện của “chính thất” là chị, chị phải có kế hoạch ở lại Bắc Kinh lâu dài, để cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng” giữa á hồ ly tinh và chồng. Tình thế lần này ắt là trường kỳ kháng chiến, cho nên Quách Thần San vẫn đặt một phòng khách sạn, để phòng khi bất ngờ cần đến.
Chỉ có điều, đúng lúc chị ý thức được mình đang một mình bước trong gió lạnh, những tâm trạng cô đơn, hoài nghi, thê lương đồng thời xoáy vào tim chị, khiến chị không khỏi chất vấn bản thân rằng, rốt cuộc tại sao phải đi chuyến này.
Chị làm thủ tục nhận phòng ở quầy, lấy thẻ phòng và biên lai xong, liền về phòng cất hành lý, nghỉ ngơi một lát. Cuối cùng, vào cuộc gọi thứ mười một, chồng chị đã nhấc máy.
“Gì thế?
Giọng điệu cực kỳ lạnh nhạt.
“Anh đang bận à?”
Quách Thần San cố dằn cơn giận xuống mới khó nhọc nặn ra được câu này.
“Cô call trối chết liên tục như thế là định làm gì? Tôi đang bận, rất bận, vô cùng bận, hạng ở nhà nội trợ như cô không hiểu được đâu.”
Cơn giận của chồng chị rõ ràng cũng đang mấp mé bên bờ bùng phát. Nhưng Quách Thần San không phải loại đàn bà dễ bị bắt nạt, chịu gục ngã trước sự đe dọa ở mức độ này. Chị chọn cách bình tĩnh xử lý, gắng sức kiềm chế không để cho cảm xúc của mình bùng nổ, đáp lại bằng giọng dịu dàng:
“Em đến Bắc Kinh tìm anh.”
“…”
“Sao vậy? Không nói gì à?”
“Cô đến đây làm gì?” Lời vừa ra khỏi miệng, có vẻ chồng chị đột nhiên nhận ra mình đã lỡ lời, lập tức đổi giọng: “Thời tiết ở đây lạnh lắm, không có việc gì thì đừng... Khoan đã... em đã đến rồi sao?”
“Vâng ạ.”
Quách Thần San giả vờ thoải mái, nhưng não bộ thực tế đang chuyển động cấp tốc.
“Em... giờ đang ở đâu?”
“Em đang ở gần công ty anh, anh có rảnh đến gặp em không?”
Công ty giấy của chồng chị thuê một văn phòng trong tòa nhà văn phòng ở khu trung tâm thương mại gần Kiến Ngoại SOHO, làm chi nhánh của Công ty ở thành phố Bắc Kinh.
“Em đang ở gần Công ty à?”
“Vâng... Anh không tiện sao? Hay là em đến nơi anh trước, đợi anh tan làm?”
“Khoan, khoan đã!... Để anh tới chỗ em, dù sao giờ cũng hết giai đoạn bận rồi. Em đang ở đâu? À, không thì em đợi anh ở trung tâm Hoa Mậu, anh sẽ lái xe đến đón em.”
Quách Thần San vừa nghe đã biết chồng có tật giật mình, trực giác của chị quả là chuẩn xác. Nhưng chị hoàn toàn không có tâm trạng để khâm phục mình, chỉ cảm thấy ngực càng thêm uất nghẹn, hít thở càng khó khăn hơn. Chị cảm thấy thái dương ngâm ngẩm đau, màng nhĩ căng ra đến mức sắp nổ tung vì chênh lệch áp suất không khí, giống như ở trên máy bay.
Đã chuyển vào ở rồi sao?
Quách Thần San cảm thấy hai chân mềm nhũn, suýt chút nữa ngã quỵ trên vỉa hè.
Có rất nhiều người đi lại trên vỉa hè, nhưng không ai để ý đến trạng thái khác thường của chị, thậm chí còn chẳng nhìn chị lấy một cái.
“Được.”
Quách Thần San miễn cưỡng trả lời, cổ họng như nghẹn lại.
Nhưng chồng chị không nghe ra, mừng rỡ nói: “Chờ anh mười phút, anh đến đón em ngay!”
Sau khi cuộc gọi kết thúc, Quách Thần San lập tức vẫy xe trên đường Tây Đại Vọng. Vừa lên xe, chị liền nghiến răng nghiến lợi nói địa chỉ căn chung cư của chồng.
Lúc nghe thấy địa chỉ, có thể vì đó là khu căn hộ sang trọng có tiếng, nên tài xế quay đầu lại nhìn Quách Thần San một cái. Xe phóng một mạch về phía Bắc, sau mười mấy phút đã đến chung cư cao cấp trên đường Bắc Triêu Dương.
Chung cư này có giá một trăm nghìn nhân dân tệ một mét vuông, tính ra thì đắt gấp ba lần căn hộ cao cấp khu Thất Kỳ mà Quách Thần San đang ở. Hơn nữa nơi đây trang hoàng vô cùng xa hoa, toàn bộ không gian hơn ba trăm mét vuông được lát sàn gỗ tử đàn nhím, dù là giường ngủ, phòng tắm hay nhà bếp thì đều chọn dùng những thương hiệu tương đối cao cấp. Chị càng nghĩ càng căm phẫn, vừa nghĩ đến việc không những địa vị của mình bị uy hiếp, mà đối phương còn được sống sung túc hơn cả mình là tự nhiên sinh ra một luồng sát khí.
... Cô ả đó... Rốt cuộc dựa vào cái gì mà được hưởng thụ thành quả ngậm đắng nuốt cay của mình!
Quách Thần San từng đến đây mấy lần đợt chồng mới mua nhà, nên có chìa khóa và thẻ thông hành. Chị lao vào thang máy, ấn nút lên tầng hai mươi lăm.
Trong lúc thang máy từ từ leo lên, Quách Thần San đột nhiên xúc động muốn khóc. Chị nhớ lần trước đến đây, con trai con gái đều có mặt, cả nhà còn vui vẻ đến nhà hàng đồ Tây cao cấp gần đó ăn tối. Tối hôm đó, chị và chồng làm tình sau bao ngày xa cách, chồng chị còn thủ thỉ bên tai: “Công lao của em cả đấy.” Sau đó mút núm vú đã thâm của chị.
Người đàn ông luôn mồm nói yêu vợ, quả nhiên sau khi công thành danh toại vẫn chạy ngay theo bộ ngực trắng mịn của gái xinh tươi trẻ, vứt người phụ nữ đã giúp đỡ anh ta suốt chặng đường sang một bên sao?
Điều khiến Quách Thần San không thể tha thứ hơn là, chồng chị lại cuồng nhiệt với bồ nhí trong ngôi nhà cả con trai con gái đều đã ghé qua, trên chính chiếc giường vợ chồng họ từng làm tình mà không một chút kiêng dè. Quách Thần San thầm nghĩ, tuy mình sống ở Bắc Kinh không hợp, nhất quyết muốn về Đài Loan nên mới tạo ra khoảng trống trong tâm lý của chồng, nhưng đó cũng không phải là lý do để một cô bồ nhí ngang nhiên vào ở trong nhà. Nếu chỉ vì ham muốn nhất thời, có thể tìm đại một khách sạn để giải quyết, vậy mà cứ một mực muốn để gái dọn đến nhà riêng của mình, điều này không phải đã chứng tỏ chồng chị rất coi trọng cô ả đó sao?
Sau khi chuông reo lên ba tiếng, cửa mở ra.
Ngoài dự đoán của Quách Thần San, người ra mở cửa không phải hạng gái trẻ như chị tưởng, mà là một thiếu phụ ngoài ba mươi tuổi. Từ ấn tượng đầu tiên, chị đoán đối phương thậm chí có thể đã sinh con.
Biểu cảm của cô ả từ buồn chán đến kinh ngạc, từ kinh ngạc đến hoảng loạn, Quách Thần San nhìn không bỏ sót chút nào, nhưng nét chán nản và phẫn nộ hiện hết lên mặt Quách Thần San, cô ả đó cũng trông thấy rõ ràng.
Họ cứ lặng lẽ đứng đối mặt nhau ở cửa như thế đến vài chục giây, sau đó cô ả mới phá vỡ sự im lặng:
“Vào rồi nói sau.”
Giọng ả không phải giọng Bắc Kinh, có lẽ là người miền Nam.
“Cô cũng sợ bị hàng xóm phát hiện à.” Quách Thần San nói mỉa.
“Tôi không sợ.”
Cô ả đáp gọn lỏn. Quách Thần San sực hiểu tại sao chồng mình lại để người phụ nữ này sống trong nhà. Lòng dạ của cô ả này thực sự thâm sâu.
Ý nghĩ này lóe lên trong đầu Quách Thần San, nhưng mặt khác chị lại cho rằng mình đã thua. Cô ả này nghĩ cho danh dự của chồng chị từ tận đáy lòng, chứ không chỉ đơn thuần là hư trương thanh thế.
Cô ả cài cửa lại, dường như muốn dẫn Quách Thần San đến ngồi ở xô pha trong phòng khách. Nhưng Quách Thần San sao có thể để cô ta dắt mũi mình được - đây là nhà chị cơ mà! Chị bước vội vào nhà bếp, lấy một con dao gọt hoa quả từ trên giá dao nam châm xuống, rồi trở lại phòng khách.
“Không cần tôi phải nhiều lời, cô là người thông minh, chắc biết tôi muốn cô làm gì.”
“Chị dựa vào cái gì mà cho rằng tôi sẽ nghe theo chị?”
“Tôi chẳng cần dựa vào cái gì cả, cô không ngoan ngoãn rời khỏi đây, tôi sẽ giết cô.”
Nghe Quách Thần San uy hiếp, cô ả không những không sợ hãi mà khóe miệng còn nhếch lên, lộ ra nụ cười khinh miệt.
“Giết tôi? Trong bộ dạng chị thì chắc lớn tuổi hơn tôi nhỉ? Lời ấu trĩ như vậy mà chị vẫn thốt ra được à? Không sợ người ta cười cho ư?”
“Tôi không đùa với cô đâu.”
“Thế này đi, đợi anh ấy về tôi sẽ nói chuyện với anh ấy. Chị chỉ là tạm thời bị đối xử lạnh nhạt nên thấy không vui thôi. Có điều cũng không thể trách anh ấy được, đợt này đúng là một số vụ hoán đổi cổ phần và mua bán sáp nhập của công ty có làm anh ấy hơi lo lắng.”
“Cô không hiểu tiếng người à?”
“Vậy thì tôi không hiểu chị bất mãn cái gì. Anh ấy chuyển cho chị bao nhiêu tiền một tháng, tôi đều biết cả. Đương nhiên, chị tới đây không phải vì không đủ tiền, nhưng tôi thật lòng nói với chị một câu thế này, đừng khắt khe với đàn ông trong những việc kiểu này, không thì cuối cùng người chịu thiệt chỉ là đàn bà mà thôi.”
“Những việc kiểu này? Cô coi hôn nhân là cái gì thế hả?”
Quách Thần San bị cô ả chọc tức, kích động vung dao, gân cổ rít lên.
“Tôi mới là người phải hỏi, chị coi hôn nhân thành cái gì thế? Tuy tôi nhỏ tuổi hơn chị, nhưng chịu khổ vì đàn ông chắc chắn không ít hơn chị. Tôi thực sự, thực sự khuyên chị một câu với tư cách của một người từng trải rằng, nhượng bộ bây giờ không phải là thua, mà là chừa thêm chút không gian cho người đàn ông của mình.”
“Mày ngậm mồm lại cho tao! Con đĩ thối tha!”
Quách Thần San cầm con dao gọt hoa quả, nhào về phía cô ả trên ghế xô pha. Cô ả vội vàng né tránh, Quách Thần San mất thăng bằng, con dao huơ một cái, cắt rách lưng ghế xô pha dệt kim, cả người chị cũng theo đà ngã lên chiếc bàn trà lớn bên cạnh xô pha. Bàn trà lật nhào vì không chịu nổi trọng lượng của Quách Thần San, báo và tạp chí văng về phía ti vi, ấm nước và cốc thủy tinh thì rơi xuống sàn gỗ, vỡ tan.
Cô ả giật mình nhìn chằm chằm vào Quách Thần San đang nằm sõng soài trên mặt đất, nhất thời không biết nên làm thế nào cho phải.
Quách Thần San cảm thấy lưng và hông đau âm ỉ. Sau mấy tiếng di chuyển liên tục, cơ thể cứng đờ không cử động nổi, chị chỉ có thể nằm xụi lơ trên mặt đất chờ cơn đau qua đi.
Lúc này, chuông cửa “reng” lên một tiếng.
Cô ả như gặp được cứu tinh, lao ra mở cửa. Cánh cửa vừa mở ra, chồng Quách Thần San liếc thấy chị ngã trên mặt đất, vội xông đến đỡ chị dậy.
Nhưng hành động này lại càng làm Quách Thần San đau lòng hơn. Quách Thần San không kìm được nhắm mắt lại trong đau khổ, quãng thời gian thân mật ngày xưa của hai người như một thước phim chiếu trước mắt chị. Chị nắm lấy con dao gọt hoa quả ở cạnh tay, chĩa vào chồng hét lên:
“Đừng đụng vào tôi! Bỏ bàn tay bẩn thỉu của anh ra!”
Người chồng sợ hãi trước hành động của Quách Thần San, vội vàng đứng dậy lùi lại.
Quách Thần San thấy cô ả lộ ra vẻ mặt vừa thấu hiểu lại vừa bất lực, như thể muốn nói: “Đã bảo chị đừng ồn ào rồi mà, lần này không phải chị làm hỏng bét rồi sao?” Chị lại càng tức giận.
“Anh đừng qua đây. Lần này anh xong đời rồi, tôi phải hủy hoại anh, lên báo xong xem anh còn làm mấy trò bẩn thỉu kiểu gì! Tôi sẽ ly hôn! Tôi sẽ đòi bồi thường! Anh đã phạm tội ngoại tình! Tất cả tài sản đều thuộc về tôi, cả căn nhà này cũng vậy! Anh đừng hòng ngăn cản tôi, con đĩ này cũng đừng hòng lấy được một xu... Đôi gian phu dâm phụ các ngươi! Đi chết hết đi!”
Nhìn thấy Quách Thần San phát điên, lăm lăm dao gọt hoa quả, tóc tai rũ rượi la hét ầm ĩ, chồng chị không khỏi lộ vẻ kinh tởm. Vẻ mặt đó lại càng đẩy Quách Thần San đến bờ vực thẳm, khiến chị muốn đấu tranh đến cùng, chẳng ngại ngọc đá đều nát.
“Tôi, tôi sẽ giết cô ta ngay bây giờ!”
Quách Thần San bò dậy, cầm dao lao về phía cô ả. Chồng chị thấy vậy, vội vàng kéo cô ả sang một bên. Mắt thấy cô ả trốn sau lưng chồng, còn tỏ vẻ yếu đuối mong manh, Con tim Quách Thần San tan nát. Chị đột nhiên cảm thấy sức lực trong người mình tiêu tan hết cả, toàn thân xẹp xuống như bóng bay xì hơi, chỉ còn lại lớp da người ngoài cùng vẫn cứng cỏi chống đỡ chút danh dự cuối cùng.
Chị buông tay, con dao gọt hoa quả rơi xuống sàn gỗ, làm mẻ một lỗ nhỏ, phát ra một tiếng động nặng nề.
Trận chiến này đã kết thúc.
Tất cả đều không còn ý nghĩa.
Quách Thần San nhặt chiếc túi Birkin dưới đất lên, bước ra khỏi cửa, để lại hai người kinh ngạc không nói nên lời.
W*e l*ove e*book
Sau khi cuộc họp sáng thường lệ kết thúc, Hồ Duệ Diệc ra khỏi phòng họp cùng mọi người, rồi đi thẳng vào phòng bệnh của Tư Tư.
Nghe A Phần nói, tình trạng của Tư Tư tối qua vô cùng tệ. Rời khỏi phòng bảo hộ về phòng bệnh, Tư Tư chỉ duy trì được tâm trạng ổn định trong một ngày ngắn ngủi, rồi lập tức trở lại trạng thái điên khùng nói xằng nói bậy mấy hôm trước, cảm xúc cũng khó lường như thủy triều. Chiều hôm qua, trong khi bị mọi người khống chế vì cơn điên bộc phát nhấn chìm lý trí, Tư Tư đã ra tay đánh bị thương một điều dưỡng thực tập. Không biết làm thế nào, họ lại phải đưa cô vào phòng bảo hộ, đến sáng nay mới chuyển về phòng bệnh.
Phòng bệnh kéo rèm cửa sổ, ánh sáng tù mù, không khí cũng thiếu lưu thông, thoang thoảng mùi hôi ngột ngạt. Hồ Duệ Diệc ngồi bên cạnh giường bệnh, ngắm nhìn khuôn mặt say ngủ của Tư Tư. Sau khi được tiêm thuốc an thần, Tư Tư thường sẽ ngủ thế này cả ngày, không ồn ào không ầm ĩ, trông như một đứa trẻ.
Lúc này, A Phần bê máy đo huyết áp lách vào, hạ thấp giọng thì thầm bên tai Hồ Duệ Diệc: “Cô ơi, cháu nghe thấy...”
Hồ Duệ Diệc hơi dịch ra một chút, nhìn A Phần với ánh mắt băn khoăn. Vẻ mặt của A Phần hơi căng thẳng, nên Hồ Duệ Diệc đoán chuyện A Phần muốn nói chẳng vui vẻ nhẹ nhàng gì.
“Cháu nghe thấy gì?”
“Tư Tư nói... nói những lời giống trước đây cô kia từng nói...”
Hồ Duệ Diệc nhìn sang giường bệnh bên cạnh theo ánh mắt của A Phần. Hiện giờ người ngủ trên chiếc giường đó là một người đàn ông trung niên bị mê sảng do hội chứng cai rượu, mới chuyển vào được hai ngày - chỉ thấy tay chân ông ta không ngừng run rẩy, đổ mồ hôi lạnh, hai mắt trợn lên rất to, không rõ đang lầm rầm gì trong miệng - nhưng Hồ Duệ Diệc biết, người A Phần ám chỉ là Quách Tương Oánh.
“Lời gì giống cơ?”
“Minako! Tư Tư cũng nói đến Minako! Cô ấy nói Minako sắp giết cô ấy!”
Nhìn vẻ mặt căng thẳng của A Phần, Hồ Duệ Diệc không khỏi cau mày.
“Minako gì cơ?”
“Cô kia... Trước khi chết cô kia liên tục nói là Minako sẽ giết mình...”
“Cháu bảo là... Cô Quách nói như vậy sao?”
Nghe thấy ba chữ “Minako”, Hồ Duệ Diệc cảm thấy các mạch tư duy trong não dường như kết nối với thứ gì đó, dòng điện sinh học “xì xì xì” chạy qua, dần dần hiện ra một đường viền mờ ảo...
Lẽ nào...
Minako?!
“Vâng! Lúc đó cô Quách cũng liên tục nói như vậy, chúng ta đều cho rằng chỉ là cô ấy bị ảo giác thính giác... Cô ơi... Làm thế nào bây giờ? Ngộ nhỡ chúng đều là thật...”
“Tư Tư cũng nói những lời đại loại như Minako sẽ đến... sao?”
A Phần gật đầu lia lịa, nỗi sợ hãi trào lên từ tận tim gan đang hiện rõ trên mặt.
Hồ Duệ Diệc nghiêng đầu, nghĩ đi nghĩ lại mà vẫn không hiểu, vụ việc Minako bị ma giấu với “Minako ma quái mà Quách Tương Oánh và Tư Tư nghe thấy, rốt cuộc có mối liên quan gì?
“Được, Cô biết rồi. A Phần... A Phần?”
Hồ Duệ Diệc đợi đến khi A Phần bình tĩnh lại, nhìn thẳng vào mắt chị, mới nói tiếp:
“Cháu đừng bận tâm. Tôi nghĩ, có lẽ là Tư Tư nghe thấy Quách Tương Oánh nói vậy, cũng bắt chước theo mà thôi.”
“Nhưng mà cô ơi... Chuyện này không quan trọng thật sao? Cháu hơi lo cho Tư Tư...”
“Không sao đâu.”
Hồ Duệ Diệc trả lời với giọng chắc nịch, muốn xua tan nỗi bất an của A Phần.
“Thế ạ? Vâng, cháu biết rồi.”
“Cháu đừng nghĩ nhiều quá, về phía Tư Tư tôi cũng sẽ để ý thêm giúp cháu, nếu cháu cảm thấy không yên tâm thì cứ bàn giao cho những người trực ca đêm để ý đến Tư Tư hơn một chút là được, không nên chuyện bé xé ra to.”
“Vâng.”
Nhìn thấy vẻ mặt nghiêm túc của Hồ Duệ Diệc, A Phần cũng cảm thấy mình phản ứng thái quá, vi phạm nguyên tắc của điều dưỡng lâm sàng, nếu để điều dưỡng trưởng hoặc giám sát viên biết thì e là lại bị mắng một trận.
Nhưng Hồ Duệ Diệc lại đợi đến khi A Phần rời khỏi phòng bệnh mới dám há miệng thở dốc.
Rốt cuộc chuyện này là thế nào vậy?
Với mười sáu năm kinh nghiệm hướng dẫn người bệnh ở phòng bệnh tâm thần, Hồ Duệ Diệc chưa bao giờ nghe nói có những bệnh nhân sinh ra ảo giác thính giác giống hệt nhau, chứ đừng nói là nội dung kỳ lạ như vậy. Huống hồ, theo như chị biết, Quách Tương Oánh và Tư Tư không rành tiếng Nhật, đừng nói họ, e là ngay cả A Phần cũng phát âm từ “Minako” không đúng với thực tế.
Chỉ có điều, giữa con ma giết người “Minako” mà bệnh nhân nghe thấy trong ảo giác và “Minako”, nhân vật chính trong vụ việc ma giấu năm Chiêu Hòa thứ 8 mà chị vô tình phát hiện ra, dường như có mối liên kết kỳ diệu nào đó. Cho dù giải thích bằng lý do trùng hợp, cũng rất khó làm người ta tin hoàn toàn.
Điều làm Hô Duệ Diệc tò mò hơn là, tất cả những người nghe thấy “tiếng lạ” đều chết vì tai nạn, chỉ mình “Minako” sống sót như một kỳ tích, hơn nữa những người nghe thấy “tiếng lạ” đó còn nói ra tên cô ta... Mọi thứ ăn khớp với nhau, khiến Hồ Duệ Diệc không thể không tin bên trong nhất định có bí ẩn gì đó chưa được giải đáp.
Hoặc là, Minako đã tìm ra phương pháp gì đó để giải lời nguyền?
Ý nghĩ bất ngờ này làm Hồ Duệ Diệc liên tưởng đến một đoạn trong cuốn Núi, mây và thổ dân . Vì vừa giở ra đọc lại nên chị vẫn còn nhớ rõ.
Năm Chiêu Hòa thứ 6, trong kỳ nghỉ hè năm hai đại học, Tadao Kano đã leo núi bảy mươi ngày liên tục, bao gồm đi bộ và leo núi lên ngọn chính cùng các ngọn núi vệ tinh của Ngọc Sơn, và cả Nam Ngọc Sơn. Vào hạ tuần tháng Tám, đợi mãi bão mới tan, Tadao Kano lập tức lên kế hoạch đi bộ lên ngọn Nam của Ngọc Sơn và Nam Ngọc Sơn trong một ngày. Vào lúc 5 giờ sáng, họ xuất phát từ đồn cảnh sát Tân Cao, 7 giờ 25 phút đã lên đến đỉnh cao nhất Ngọc Sơn. Trên đỉnh Ngọc Sơn có một đền thần nhỏ gọi là “đền Tân Cao”, do quận trưởng Tân Cao Imai Masaharu chỉ đạo xây dựng. Năm 1925, sau khi mở rộng đến Tân Cao, liền tổ chức lễ trấn tọa. Lúc đó Imai Masaharu ngồi trên kiệu do người bản địa khiêng, ánh mắt hoàn toàn tương phản với đội ngũ đi theo, thần thái có phần tự cao tự đại.
Tadao Kano viết rằng, đền Tân Cao thờ ngự thần thể [*] của sơn thần - một chiếc gương nhỏ - bên cạnh có đặt một bình nước tinh khiết lớn. Trang tiếp theo trong sách còn in kèm một bức ảnh chụp ngôi đền vào năm 1938, nhưng sau khi thay đổi chính quyền, đền Tân Cao bị người ta thiêu rụi, nay đã không còn.
Liệu đền Tân Cao có liên quan gì không?
Sau khi suy nghĩ kỹ càng, Hồ Duệ Diệc cho rằng Minako không giải lời nguyền bằng cách viếng đền Tân Cao, vì từ đầu đến cuối cô bé chưa hề lên đến đỉnh núi Ngọc Sơn. Nghĩ theo góc độ khác, chị mới nhận ra, nguyên nhân Minako “bị ma giấu” có thể liên quan đến đền Tân Cao...
Vì thường nghe chồng nói về văn hóa lịch sử của Nhật Bản, nên Hồ Duệ Diệc biết đại khái ngự thần thể là gì, cũng hiểu một chút về thần thoại Nhật Bản, tín ngưỡng Thần đạo và lễ nghi thăm viếng Thần xã [*] .
Nói chung, hành động thăm viếng bắt đầu từ khi bước vào “cõi thần”. Trước khi bước vào “cõi thần”, bắt buộc phải hành lễ với cổng Torii ở lối vào thì mới có thể đi qua cổng Torii từ hai bên. Tiếp theo là nghi thức thanh tẩy bản thân trước khi thăm viếng, rửa sạch tay miệng ở Thủ thủy xá [*] , sau đó đến bái điện [*] cúng dường tiền, rung chuông và cầu nguyện, cuối cùng mới là rút thẻ. Một số người còn mua thẻ gỗ viết lời cầu nguyện và bùa hộ mệnh làm đồ lưu niệm.
Tuy lúc đó các cấp có thẩm quyền đã đề xuất xây dựng nhiều cổng Torii, bao gồm cả phía trong cửa lên núi Thủy Lý, nhưng cuối cùng vẫn đem con bỏ chợ, dẫn đến việc đền Tân Cao trở thành một trong số cực kỳ ít những Thần xã không có cổng Torii trong lãnh thổ nước Nhật. Vì vậy, rốt cuộc vẫn chưa biết phạm vi “cõi thần” của đền Tân Cao phải định nghĩa như thế nào.
Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, khu vực gần nơi đặt Thần xã chính là “cõi thần”, là nơi thần linh trú ngụ, những thứ “dơ bẩn” không thể tùy ý vào “cõi thần”, kiến thức thông thường này Hồ Duệ Diệc vẫn nắm được.
Sau khi hiểu được điều này, Hồ Duệ Diệc mới bắt đầu nhìn thẳng vào nguyên nhân Minako bị ma giấu - ngoài giọng nói kỳ lạ đó, liệu còn có khả năng nào khác không? Nếu mục đích rời đội của cô bé có liên quan đến đền Tân Cao hoặc thứ “dơ bẩn” mà cô bé mang trên người...
Hồ Duệ Diệc dường như nhìn thấy Minako hiện ra sờ sờ trước mắt.
Cô bé lặng lẽ rời trại, chạy về phía núi rừng tối tăm.
Giả như Minako không thể đến cõi thần của sơn thần vì cảm thấy mình dơ bẩn, cô bé sẽ làm gì?
Hồ Duệ Diệc nhớ lại một tập tục của người Nhật Bản. Trong quan niệm của Thần đạo, cái chết bị coi là thứ dơ bẩn, vì vậy trong Thần xã không có nghĩa địa, và tuyệt đại đa số người Nhật đều xử lý việc tang ma có liên quan mật thiết đến cái chết theo cách của Phật giáo.
Lẽ nào Minako đã tiếp xúc với cái chết của ai đó sao?
Hồ Duệ Diệc lắc đầu, muốn xua đi lối suy nghĩ nhảy cóc này; nhưng chị không kìm được mà nghĩ thêm, tạm chưa bàn đến nguyên nhân Minako cho rằng mình “dơ bẩn” là gì, chắc chắn cô bé đã lên kế hoạch đi làm chuyện gì đó, có thể là một loại nghi thức thanh tẩy cơ thể giống như ở Thủ thủy xá, để loại bỏ thứ “dơ bẩn” trên người mình. Có như vậy thì cô bé mới có thể theo đoàn leo lên đỉnh núi vào ngày hôm sau. Song có lẽ cô bé đã đánh giá thấp ma lực của ngọn núi, nên mới dẫn đến vụ ma giấu kéo dài ba ngày.
Giả sử vì vậy mà Minako giải được lời nguyền của giọng nói thì sao?
Giọng nói trầm ổn của chồng vang lên bên tai, khiến Hồ Duệ Diệc càng vững tin là mạch suy nghĩ của mình chính xác.
...Tìm kiếm như vậy ba ngày, đúng vào lúc sắp bỏ cuộc, có người tộc Bố Nông đưa Minako đến đồn cảnh sát Lạc Lạc, nghe nói cả người Minako ướt sũng, nằm sõng soài trên vách đá của khe suối gần suối nước nóng Lạc Lạc, dưới ngã rẽ của đường mòn. Theo miêu tả của người tộc Bố Nông, chỗ đó là Oung-oung (hẻm núi), phải đuổi ma quỷ đi bằng cách bắn cảnh báo. Sau khi được cứu, Minako liên tục nói mình nghe thấy giọng nói kỳ lạ...
Cả người ướt sũng.
Minako đã làm chuyện gì đó khiến cả người ướt sũng, từ đó giải được lời nguyền.
Cuối cùng, Hồ Duệ Diệc đã bắt được một tia sáng. Bây giờ, chỉ cần chị tìm ra chuyện đó là gì thì có thể cứu mạng Tư Tư.
Chị thầm tính, có lẽ phải tới suối nước nóng Lạc Lạc tìm hiểu xung quanh xem sao.
* * *
Đi theo quốc lộ số 3 về phía Nam, cảnh tượng đơn điệu nhàm chán dọc đường khiến Ngô Sĩ Thịnh nhiều lần suýt ngủ gật.
Bên ngoài cửa sổ xe đen kịt, dù có đèn đường và đèn xe chiếu sáng phía trước, nhưng chắc vì tốc độ quá nhanh nên chẳng khác không có là bao. Nếu không có tấm phản quang của hàng rào bảo hộ và mắt mèo phản quang trên mặt đường, e là Ngô Sĩ Thịnh đã bị tai nạn từ lâu rồi.
Ở Đài Trung, Ngô Sĩ Thịnh rẽ sang đường cao tốc 74, rồi cắt vào quốc lộ số 3. Sau khi ra khỏi giao lộ Minh Gian, gã chạy thẳng một mạch theo đường 16 vào trong núi. Trong những khối núi khổng lồ phía xa, mây mù đen kịt bao trùm toàn bộ đỉnh núi, Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy sợ hãi, liền giảm tốc độ.
Phải vào thật rồi...
Khó nhọc vượt qua nỗi sợ hãi trong lòng, Ngô Sĩ Thịnh tăng ga.
Cuối cùng, các bảng chỉ đường bắt đầu xuất hiện chỉ dẫn “Vườn quốc gia Ngọc Sơn”, băng ngang qua thị trấn Tập Tập và một nhánh của sông Trọc Thủy là sông Thanh Thủy, xuyên qua xã Thủy Lý, phong cảnh ngoài cửa sổ đã dần thay đổi. Cây cối nhiều hơn, đường cũng cong và hẹp hơn. Cả con đường không một bóng xe, bóng người, hơn nữa bóng tối ở đây khác với bóng tối trên đường cao tốc, đượm phần kỳ dị.
Ngô Sĩ Thịnh bất giác tỉnh táo hẳn, thỉnh thoảng còn lén nhìn gương chiếu hậu xem ghế sau có dấu hiệu thần bí kỳ quái gì không.
Rẽ phải vào đường ngắm cảnh Ngọc Sơn là chính thức đi vào phạm vi của xã Tín Nghĩa. Từ cửa sổ bên tay phải trông ra, có thể nhìn thấy sông Trần Hữu Lan - một nhánh khác của sông Trọc Thủy. Nước sông đen ngòm loáng thoáng vẳng lại tiếng ầm ầm. Bắt đầu từ đây, men theo Sông Trần Hữu Lan, chạy xe một mạch về phía Nam, vượt qua những con đường núi quanh co như ruột dê, là có thể đến khu vực Tháp Tháp Gia, đầu mút phía Nam của đường ngắm cảnh Ngọc Sơn, đồng thời cũng là điểm cao nhất.
Về mặt hành chính, khu vực Tháp Tháp Gia đồng thời thuộc cả xã Tín Nghĩa huyện Nam Đầu và xã A Lý Sơn huyện Gia Nghĩa, là con đường buộc phải qua để đến ngọn chính của Ngọc Sơn, ở đây chuyển sang đường 18 mà người ta hay gọi là “tỉnh lộ A Lý Sơn”, có thể đến được ngay bãi đỗ xe Tháp Tháp Gia nằm ở Thượng Đông Phố - đích đến của Ngô Sĩ Thịnh.
Ngô Sĩ Thịnh đỗ xe vào trong bãi đỗ lát gạch trải cỏ, cầm lấy ba lô trên ghế lái phụ, đang chuẩn bị đóng cửa xe thì trong đầu lại đột nhiên lóe lên hình ảnh chiếc máy ghi âm cát xét.
Gã suy nghĩ một chút, cuối cùng quyết định mang theo chiếc máy ghi âm bên mình.
Thông thường khách leo núi đều tập hợp, thu xếp hành trang ở bãi đỗ xe, để tiểu đội Tháp Tháp Gia của đội cảnh sát Ngọc Sơn kiểm tra giấy phép vào núi. Sau khi qua trạm kiểm soát sẽ chuyển sang ngồi xe buýt con thoi đến yên ngựa Tháp Tháp Gia. Lúc đó trong bãi đỗ xe có không ít người leo núi mặc áo khoác gió rực rỡ sắc màu, đã thu xếp hành trang xong, đang chuẩn bị xuất phát.
Ngô Sĩ Thịnh giả bộ muốn đến điểm tham quan khác, rồi đi về hướng khác thản nhiên như không.
Nhân lúc không có ai để ý, gã chui vào bụi cây, gạt cỏ dại và cành khô mới lấy đèn pin trong ba lô ra, soi xuống sườn núi dưới chân để tránh dẫn đến những phiền phức không đáng có.
Trong khu rừng lá kim không rõ chủng loại, khoảng cách giữa cây với cây rất hẹp, con dốc chỉ dài vẻn vẹn hai trăm mét cũng làm Ngô Sĩ Thịnh đổ mồ hôi đây người, phải đi hai mươi phút mới xuyên qua bụi cây đến được đường rừng Nam Khê. Đường rừng Nam Khê là một con đường đá dăm nhựa, rộng cỡ một ô tô đi lọt. Từ hướng mình vừa leo lên, gã đoán là nên rẽ trái.
Ngô Sĩ Thịnh nhìn trái nhìn phải, đoán nhóm leo núi ban nãy đã đi rất xa, liền rảo bước, tính đuổi theo cho kịp họ.
Đúng lúc này, bụi cây đột nhiên xao động một hồi, khiến Ngô Sĩ Thịnh giật mình sợ hãi.
Gã đứng im tại chỗ một lúc lâu mới dám đi tiếp.
Chẳng lẽ là khỉ?
Trên đường đâu đâu cũng là vết nước đóng băng, nhiệt độ trong núi vào buổi tối chỉ còn chưa đến mười độ, mặc mỗi chiếc áo gió mỏng manh này rõ ràng là không đủ. Ngô Sĩ Thịnh rất hối hận vì không mặc thêm vài cái áo.
Hai bên đường rừng Nam Khê, thiết sam và tiễn trúc Ngọc Sơn mọc đầy, ngoằn ngoèo dẫn lên dốc. Tiếng côn trùng thỉnh thoảng truyền đến, làm Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy tâm thần bất an, luôn cho rằng quỷ quái nào đó sắp xuất hiện, nên càng bước nhanh hơn.
Có lẽ là do tâm trạng quá căng thẳng, gã cảm thấy mình càng đi càng thở dốc, bèn ngồi xổm dưới gốc cây ven đường nghỉ ngơi chốc lát. Gã rút điện thoại trong túi ra tra Google Maps, chỗ này là một ngã ba giao giữa đường rừng Nam Tử Tiên Khê và đường rừng Ngọc Sơn.
Hóa ra đây là Đại Thiết Sam.
Nghỉ được một lát, Ngô Sĩ Thịnh đứng dậy, tiếp tục đi về phía trước. Gã tự nhủ, nếu không đi theo đúng kế hoạch, sợ rằng tối nay không thể xuống núi suôn sẻ, cho nên nhất định không được lười biếng. Dựa vào bảng chỉ đường, gã tiếp tục đi dọc theo đường rừng Nam Khê.
Còn cách cửa lên núi Ngọc Sơn... 1,4 cây số nữa...
Sau khi qua Đại Thiết Sam, đường rừng hơi dốc xuống, mặt đường có sương giá và vụn băng nên hơi trơn. May mà độ dốc không lớn, Ngô Sĩ Thịnh cẩn thận băng nhanh qua. Sau khoảng 50 mét, bên đường xuất hiện những mảnh gỗ lớn kỳ lạ.
Một số đoạn đường không có bờ bao, chỉ có những cây khô nhỏ bé và hàng rào bảo hộ bằng dây thép thấp tè, nhìn xuống một vùng tối đen. Ngô Sĩ Thịnh thầm nghĩ, nếu không cẩn thận ngã xuống khe núi, e là sẽ mất mạng.
Đi thêm khoảng mười phút là đến một khoảnh sân bán nguyệt được lát gạch chữ nhật. Sau khi đi qua, Ngô Sĩ Thịnh nhìn thấy một bia đá cao quá đầu, bên trên có đề năm chữ lớn - Cửa lên núi Ngọc Sơn.
Ngô Sĩ Thịnh quan sát địa hình một chút, phát hiện nơi này vừa khéo nằm ở khe núi kẹp giữa hai khối núi lớn, chẳng trách gọi là “yên ngựa” Tháp Tháp Gia, hình dáng quả thật hơi giống.
Gã bước nhanh xuống dưới, sau hai cột đá là đường nhỏ lên núi trông rờn rợn. Cột đá bên trái ghi “Ngọn Bắc Ngọc Sơn, cao 3920 mét so với mực nước biển”, cột đá bên phải ghi “Ngọn Đông Ngọc Sơn, cao 3940 mét so với mực nước biển”, trên biển báo hình thoi có lời cảnh báo khách leo núi phải “chú ý đá rơi”, “cẩn thận gió mạnh”.
Ngô Sĩ Thịnh hít một hơi thật sâu, thu hết can đảm đặt chân lên con đường nhỏ.
Lúc này, bên phải của gã hoàn toàn không có rào chắn, nếu bất cẩn bước hụt thì sẽ ngã xuống khe núi sâu không thấy đáy ngay lập tức.
Con đường lên núi này chỉ vừa một người đi, vì vậy chỉ có thể đi theo một hướng, hoặc là lúc gặp nhau sẽ phải xoay nghiêng đổi vị trí. Nếu là người hơi mập, rất có thể lúc xoay mình sẽ xô bạn leo núi ở đằng trước và đằng sau xuống khe núi.
Ngô Sĩ Thịnh rụt rè bước từng bước. Một số đoạn đường có cây và bụi rậm bên phía khe núi, làm Ngô Sĩ Thịnh thấy yên tâm; một số đoạn lại không có, khiến Ngô Sĩ Thịnh phải bước chậm hơn, cố gắng hết sức không nhìn xuống độ cao chóng mặt đó.
Con đường lên núi dần trở thành đường đá dăm, sau đó lại thành một lối mòn do người đi lại mà thành. Trong chớp mắt, tầm nhìn quang đãng hẳn, phía trước xuất hiện một con dốc dựng đứng, Ngô Sĩ Thịnh bám vào bức tường thấp trát xi măng chạy dọc con đường, chầm chậm tiến lên.
Nào ngờ chưa được mấy bước, vách núi bên trái đột nhiên dựng đứng, gã đành phải dang hai tay, nửa đi nửa bò trên vách đá bên trái, vượt qua đoạn đường núi này trong tâm trạng khiếp đảm.
Chỉ có điều, thử thách thực sự mới chuẩn bị bắt đầu.
Con đường càng lúc càng khó đi, mấy lần xuất hiện khúc cua lớn, còn có cầu ván gỗ lắc lư tròng trành, khiến Ngô Sĩ Thịnh không khỏi nghi ngờ, thông tin gã thấy trên mạng liệu có chính xác - sao những người khác có thể cười cười nói nói đi qua dễ dàng, còn mình lại loạng choạng thế này?
Thể lực xuống dốc lắm rồi...
Gã tự xét lại bản thân, có thể vì quá sợ hãi dẫn đến tay chân thiếu linh hoạt, nhưng nguyên nhân thực sự có lẽ là tại gã suốt ngày ngồi lì trên xe, nên các cơ khớp trên người đã cứng lại từ lâu rồi chăng? Tóm lại, Ngô Sĩ Thịnh đã tốn nhiều thời gian hơn dự kiến mới đến được đình Mạnh Lộc, nếu như không đi nhanh hơn, chắc chắn không thể đuổi kịp những người leo núi có năng lực thể chất vượt trội, dày dạn kinh nghiệm kia.
Đinh Mạnh Lộc thực chất là một ngôi đình bốn cột đơn sơ để người leo núi trú mưa, nghỉ ngơi qua loa. Nhưng Ngô Sĩ Thịnh không dám lười biếng nữa, tiếp tục rảo bước tiến về trạm tiếp theo - cửa lên núi Tiền Phong.
Cứ đi rồi đi, đường có vẻ xấu dần, Ngô Sĩ Thịnh cũng cảm thấy bắp chân mình bắt đầu đau nhức, nhói lên từng đợt. Gã hạ thấp người, nắm chặt đèn pin, dùng cả tay lẫn chân, duy trì tốc độ di chuyển bằng cách nửa đi nửa bò.
Đường mòn có vẻ dốc lên cao dần, nhiệt độ theo đó giảm xuống, Ngô Sĩ Thịnh cũng cảm thấy bắp chân căng cứng, chuột rút ập đến từng cơn, cả đùi và vùng hông sau đều xuất hiện cảm giác nhức mỏi nghiêm trọng. Cuối cùng gã cũng ngộ ra, một ngày nào đó cái lưng gù do tư thế lái taxi xấu tạo thành sẽ hủy hoại hoàn toàn sức khỏe của gã.
Khó khăn lắm mới cầm cự được đến bảng chỉ dẫn chi tiết tiếp theo, Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy thể lực của mình đã cạn kiệt. Tuy nhiên, theo lời thuyết minh trên bảng chỉ dẫn, sau khi qua cửa lên núi Tiền Phong, còn phải đi tiếp 5,8 cây số nữa mới đến được sơn trang Bài Vân. Nói cách khác, gã đi chưa được nửa đường mà thể lực đã không xong rồi.
Song điều làm Ngô Sĩ Thịnh khá tự đắc là, ở đài ngắm cảnh Bạch Mộc Lâm gã đã gặp hai người leo núi, một nam một nữ, chuẩn bị quay lại giữa chừng, đủ thấy là đoạn đường này thực sự quá khó khăn.
Nhìn thấy họ thu dọn đồ bếp, mùi thơm của mì gói tràn ngập trong không khí, Ngô Sĩ Thịnh bỗng cảm thấy cơn đói ập đến.
Cái gì vậy, không ngờ thể lực của một tài xế taxi như mình vẫn còn tốt chán!
Chẳng tập thể dục gì cả mà cũng leo thắng được các người, các người về nhà luyện tập lại đi!
Chỉ có điều, cảm giác vượt trội hơn người bị cơn thèm ăn bào mòn, chớp mắt đã tan như bọt nước. Hơn nữa tay chân thân thể đã lạnh cóng đến mức không chịu nổi. Ngô Sĩ Thịnh vội vã kêu hai người đó dừng lại, mạnh dạn hỏi:
“Có thể cho tôi một ít mì gói được không?”
Hai người leo núi trông có vẻ là vợ chồng đó nghe thấy tiếng liền dừng bước, ngơ ngác nhìn nhau. Người nữ nhìn người nam một cái, người nam mới chủ động mở miệng đáp:
“Thế anh có nước nóng không?”
“À... không có...”
“Xem ra anh cũng không có bếp ga hay xoong nồi... Anh lên núi mà đem ít đồ như thế à?”
“Tôi, tôi định khi trời sáng sẽ xuống núi.”
“Cái áo anh đang mặc cũng mỏng quá... không sao thật chứ?”
“Chốc lát thôi mà, không sao.”
“Nhưng mà chúng tôi dùng hết nước nóng mất rồi, hay chúng tôi đưa mì gói cho anh trước, khi nào anh đi tiếp thì xin người khác nước nóng sau.”
Người nam lấy hai gói mì từ trong ba lô ra, đưa cho Ngô Sĩ Thịnh.
“Cho anh thêm một gói này.”
“Cảm ơn.”
“Không có gì. Ừm, xin đừng cố quá, bên trong núi này không phải chuyện đùa đâu.”
Hai người leo núi đó vẫy tay tạm biệt Ngô Sĩ Thịnh, quay người đi vào lối nhỏ phía sau, tiến về hướng Tháp Tháp Gia.
Cố quá!
Trông tôi giống đang cố quá lắm à!
Nhận mì của họ, nhưng Ngô Sĩ Thịnh lại tức anh ách. Bớt coi thường người khác đi! Tôi sẽ đi bằng được cho các người xem!
Nghĩ vậy, Ngô Sĩ Thịnh cũng không muốn mượn người leo núi khác nước nóng hay xoong nồi gì nữa, gã xé bao bì, nhét vắt mì khô cứng vào miệng rồi nhai vụn.
Sau khi bổ sung nhiệt lượng, chân cũng tạm thời được nghỉ ngơi, Ngô Sĩ Thịnh lại lên đường. Không biết do yếu tố tâm lý hay đơn giản chỉ là mới có thêm năng lượng, đoạn đường đến Vách Đá Lớn suôn sẻ hơn nhiều. Cứ như vậy, sau khi đi liên tục hơn năm tiếng đường núi, trời đã bắt đầu sáng dần.
Bóng cây vẫn đen kịt, được nền trời xanh nhạt tôn lên, biến thành bóng cắt trông như tranh thủy mặc. Lại qua một lúc nữa, mặt trời nhô lên, các vì sao biến mất, Ngô Sĩ Thịnh cũng cất đèn pin đi. Bầu trời đã sáng rõ, cỏ cây muôn vật đều trở lại màu sắc ban đầu, gã cũng có thừa phong cảnh để ngắm.
Các vách núi ở quanh Vách Đá Lớn phủ đầy những cây thiết sam Đài Loan và vân sam Đài Loan cao thẳng tắp, thỉnh thoảng có thể nhìn thấy những cây thông, cỏ lau, cẩm chướng, nhưng sau khi vượt qua Vách Đá Lớn, diện mạo khu rừng bắt đầu đơn điệu hẳn, chủ yếu chỉ có rừng sam, trông rất giống vô số cột cờ sừng sững trên núi trong bóng tối. Còn có cả cây long đảm Ngọc Sơn nổi tiếng. Lúc này, long đảm Ngọc Sơn đã quá mùa hoa, trên thân cây màu đỏ chỉ còn lại những lá hẹp nho nhỏ, không có gì bắt mắt. Từ lớp sương đóng băng trên lá, gã đoán nhiệt độ ở đây bây giờ chắc phải dưới 0.
Ngô Sĩ Thịnh duy trì nhiệt độ cơ thể bằng cách rảo chân đi nhanh lên núi, sau khi leo qua vô số bậc đá, xuất hiện một cây sam khổng lồ mọc hướng về phía chân trời.
Ngay sát đó là một cây cầu treo trông rất nguy hiểm, dựa vào con số được đánh dấu trên tấm biển kim loại của cây cầu, gã đã đi được một quãng đường khá xa. Gã bám vào sợi xích sắt cố định ở hai đầu cầu, nhắm mắt bước qua.
Sau khi qua cây cầu treo, Ngô Sĩ Thịnh nhìn thấy chỉ dẫn trên mặt đất có ghi: “Bài Vân 0.5↓”, không khỏi mừng rỡ thở phào. Chỉ có điều, sau khi vất vả băng qua các bậc đá, đến được sơn trang Bài Vân, lại xuất hiện biển báo “Nộp giấy phép vào vườn quốc gia”. Ngô Sĩ Thịnh để ý thấy, một số người leo núi chọn cách ăn uống ở sơn trang Bài Vân trước để bổ sung thể lực, một số thì bỏ tạm ba lô ở đây, mang hành trang gọn nhẹ lên chinh phục đỉnh. Để tránh trạm kiểm tra, Ngô Sĩ Thịnh dùng lại thủ đoạn cũ, nhân lúc mọi người không chú ý, vòng ra phía sau trạm nghỉ, luồn qua khe hở của hàng rào lưới thép, chui vào rừng cây.
Ngô Sĩ Thịnh trốn trong rừng, đứng từ xa nhìn những người leo núi lục tục xuất phát từ cửa lên núi ở cạnh trạm xá bên trái sơn trang Bài Vân. Theo bảng chỉ đường, ngọn Tây Ngọc Sơn cách sơn trang Bài Vân chưa đây 3 cây số, nhưng chỉ nghĩ thôi cũng biết, vì độ dốc khác nhau nên chắc chắn không thể đi dễ dàng hơn trước.
Nhắm đúng thời cơ, Ngô Sĩ Thịnh lần theo tiếng người băng qua rừng cây. Khoảng ba phút sau, gã đến một ngã ba, tiếp theo bắt đầu xuất hiện đất trơ sỏi đá với địa hình xấu, rễ cây to bằng bắp chân nhô hẳn lên, một vài nơi thậm chí phải bám vào xích sắt được cố định trên vách núi, có khi phải nắm cả rễ cây thì mới tiếp tục leo lên được.
Bầu trời phơi ra lớp màu xanh lam hoàn mỹ, tầng mây thưa mỏng, sức gió trở nên cực mạnh, rừng tiễn trúc chợt giống roi da có thể quất lên người bất cứ lúc nào, trong khoảnh khắc ngẫu nhiên, sức gió đã mấy lần làm Ngô Sĩ Thịnh mất thăng bằng, suýt chút nữa ngã xuống đường đá. Càng đi lên cao, không khí càng lạnh đến cóng cả người, lá kim của cây sam rõ ràng cũng đã đọng sương.
Giờ phút này, những người leo núi đều tập trung vào con đường núi trơ đá trước mặt, chẳng nói một lời, dường như đang im lặng đối đầu với ngọn núi này, giống một thời khắc thiêng liêng trước khi chinh phục.
Mãi đến khi sắp lên tới đỉnh, Ngô Sĩ Thịnh mới nghe thấy một người leo núi nào đó nói với bạn đồng hành rằng: “Đây chắc là độ cao 3500 mét rồi nhỉ!” Từ giọng điệu có thể nghe ra người nọ đang vô cùng hưng phấn.
Trong 100 mét cuối cùng, một số người leo núi rõ ràng đã cố leo nhanh hơn. Vì ngọn Tây không có trạm tam giác [*] , nên những người lên đến đỉnh thường đứng trước biển chỉ dẫn, cầm thẻ thông tin chuẩn bị sẵn và chụp ảnh với nhau.
Đài Loan Bách Nhạc [*] No.25... cao 3518 mét so với mực nước biển?
Hóa ra mình đã chinh phục một trong trăm ngọn núi lớn mà không hề hay biết!
Ngô Sĩ Thịnh bỗng lấy làm đắc ý, dẫu sao trước đây nghe đến chuyện về leo núi, gã đều cảm thấy hết sức xa vời. Suốt ngày phải nghe những người bạn thích leo núi khoe khoang khoác lác về mấy bức ảnh leo đến đỉnh - gã không khỏi mừng thầm - nay gã cũng trở thành một người trong số đó rồi!
Những người leo núi thay phiên nhau chụp ảnh kỷ niệm trước biển chỉ dẫn, giờ Ngô Sĩ Thịnh mới để ý thấy tấm biển chỉ dẫn này có chỉ rõ hướng của “miếu sơn thần”.
Cuối cùng... có thể kết thúc tất cả rồi...
Tiếp theo, Ngô Sĩ Thịnh chỉ cần đốt pháp khí giống con rối nhỏ đó, nhét dưới miếu sơn thần, đợi đền thần cháy rụi là có thể hóa giải lời nguyền khủng khiếp của Minako, ngăn cản cô ta tiếp tục dùng giọng nói giết người vô độ.
Gã theo đoàn người xuyên qua rừng lãnh sam thẳng tắp, vòng sang phía bên kia.
Từ đây có thể nhìn xa về phía ngọn Bắc Ngọc Sơn, khe gió Ngọc Sơn và sống núi của ngọn chính Ngọc Sơn. Dưới chân rặng núi, có thể lờ mờ trông thấy một bộ lạc bên dưới. Nhìn sang góc khác, phía xa hơn, còn có thể trông thấy Quan Sơn, cũng là một trong số Bách Nhạc.
Đền thần Tây Sơn nằm ở vị trí cực kỳ dễ thấy, trông hơi nhỉnh hơn miếu thổ địa, có người đang chắp tay khấn vái. Điện chính của đền thần sử dụng phong cách Nagarezukuri [*] giống như đền Fushimi Inari-taisha, là một trong những hình thức “Hirairi [*] ” phổ biến nhất. Ngô Sĩ Thịnh đứng trước đến thần, phát hiện ra một chuyện khiến gã khá bất ngờ.
Tượng Quan Âm?
Đây... có được coi là phạm vi thế lực của Minako không?
Nhìn thấy trong đền thần Tây Sơn có đặt tượng Quan Âm, Ngô Sĩ Thịnh bỗng cảm thấy bối rối. Không phải là gã không hiểu tại sao lại đặt tượng Quan Âm ở trong, nói cho cùng, từ sau khi thay đổi chính quyền, càng những tiểu tiết về văn hóa và tôn giáo kiểu này thì càng được chú ý; vấn đề là theo lời đạo cô, ngôi đền thần này là di họa của người Nhật Bản, căn cứ địa của ác linh Minako... nay đã đổi sang thờ tượng Quan Âm, ma nữ Nhật Bản sao có thể tiếp tục xâm chiếm ngôi đền thần này được?
Thật sự... không thể nào...
Sau khi tín ngưỡng Quan Âm từ hai xứ Tuyền, Chương [*] truyền vào, Quan Âm luôn là một trong năm vị thần gia đình (Quan Âm Bồ Tát, Thiên Thượng Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Táo Quân, Thổ Địa) được đại đa số người dân Đài Loan tôn sùng, và Ngô Sĩ Thịnh cũng vậy. Từ nhỏ Ngô Sĩ Thịnh đã theo bố mẹ lễ bái “tranh Quan Âm” treo ở vị trí tốt lành trong gian thờ thần, sớm tối dâng hương thờ cúng cùng với tổ tiên. Nếu đốt cháy đến thần Tây Sơn theo lời đạo cô đó nói, thì cũng sẽ thiêu rụi cả pho tượng Quan Âm này, đây là điều gã không thể làm được.
Nhưng mà... nếu những gì đạo cô đó nói là thật thì sao?
Nếu không làm theo thì chính mình sẽ chết - ý nghĩ này cứ lởn vởn trong đầu Ngô Sĩ Thịnh mãi không dứt. Giờ vẫn còn nhiều du khách, còn có cớ để trì hoãn, nhưng đến khi vãn khói thưa người thì sao? Gã do dự đi tới đi lui bên thân cây gần đó, nhìn những người nối nhau lễ bái thành kính đến ngẩn cả người.
Cuối cùng, người khiến gã hạ quyết tâm là một phụ nữ trung niên.
Người phụ nữ đó ngồi trước đến thần, giơ tay chữ V về phía ống kính máy ảnh. Cô ta mặc một chiếc áo khoác đỏ tươi, nhìn là biết hàng cao cấp. Cô ta có đôi má gầy gò, đuôi mắt cụp xuống, sống mũi tẹt, thoáng trông làm Ngô Sĩ Thịnh nhớ đến Quách Tương Oánh vừa chết thảm. Cho dù tình cảm vợ chồng của họ như thế nào, thì chung quy Minako cũng đã cướp đi người vợ kết tóc của gã, gia đình của gã. Gã căm thù Minako, đến mức phải trừ khử nó mới vui được.
Trong khi nấp sau thân cây đốt con rối nhỏ, gã tự nhủ rằng, Quan Âm Bồ Tát sẽ tha thứ cho gã vì hồi nhỏ gã luôn ngoan ngoãn lễ bái, rồi lập tức vòng ra phía sau đến thần thật nhanh, lén nhét con rối đã bén lửa vào khe hở giữa mặt dưới đền thờ và bệ đá, sau đó vờ như không có chuyện gì xảy ra, đứng sang phía bên kia, cúi nhìn phong cảnh dưới núi.
Nếu không có gì bất ngờ, kể cả đội cứu hỏa có đến thì đền thần cũng bị cháy rụi từ lâu rồi. Dù du khách có mang theo bình nước, cũng không thể dập tắt bó đuốc cháy bừng bừng nhờ gió núi thổi.
Vẫn có người tạo dáng chụp ảnh, nói cười hỉ hả trước đền thần.
Không ai phát hiện ra việc gã làm.
Sau khi xác nhận điều này, Ngô Sĩ Thịnh yên tâm theo các đội khác rời khỏi đây, trở về theo hướng cửa lên núi.
Vì đã trút bỏ được bầu tâm sự, Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy hết sức nhẹ nhõm. Từ góc này nhìn về phía xa, dường như có thể thấy con đường núi từ Tháp Tháp Gia đến cửa lên núi. Sau đó gã mới ngoái lại nhìn đỉnh Tây Sơn sâu thẳm, như sực nhớ ra điều gì.
Hử?
Sao lại không có khói...?
Lẽ nào lửa bị dập tắt rồi sao?
Ngô Sĩ Thịnh lập tức cảm thấy căng thẳng, co chân chạy trở lại.
Song càng đến gần đỉnh núi, gã càng khẳng định đền thần Tây Sơn vẫn bình an vô sự.
Gã nhìn chằm chằm vào đỉnh núi với vẻ khó tin, đồng thời leo lên núi thật nhanh, đến nỗi hoàn toàn không nhận ra gã chỉ còn lại một mình, hơn nữa cũng không để ý thấy phía trước có những tảng đá rơi trơn trượt. Chính vì vậy, Ngô Sĩ Thịnh đã đạp hụt một mỏm đá khá dễ trèo, trượt chân rơi xuống khe núi trong tích tắc.
Ngô Sĩ Thịnh lăn lông lốc trên sườn núi, đầu óc trống rỗng. Gã không có kinh nghiệm bị rơi ngã, chỉ cảm thấy cơ thể không ngừng va phải đá, sau đó tiếp tục lăn xuống sâu, không sức đâu mà phản kháng. Ý niệm rõ rệt duy nhất trong đầu gã là một ý nghĩ buông xuôi: à, lần này đi đời thật rồi.
Không biết đã lăn bao lâu, cơ thể cuối cùng cũng dừng lại.
Gã định đứng dậy, nhưng lại cảm thấy lục phủ ngũ tạng như bị đánh, nên không dám động đậy. Mắt cá chân đau điếng, chắc đã gãy xương. Chỏm sau đầu cũng hơi sưng. Nếu không có chiếc ba lô giúp chặn mấy nhát đá đâm thì e là gã đã mất mạng từ lâu rồi.
Đến khi cơn đau thuyên giảm một chút, gã mới dám ngồi dậy, quan sát tình hình hiện tại.
Gã suy đoán lung tung, dựa vào vị trí vừa mới lăn xuống thì đây có lẽ là một khe núi nhỏ nào đó ở giữa ngọn Tây và ngọn Bắc. Có điều gã cũng không dám khẳng định suy đoán của mình chắc chắn đúng, dù gì đã lăn lông lốc cả quãng dài, sao xác định vị trí chính xác được. Nói trắng ra, điều duy nhất gã có thể khẳng định chỉ là “chỗ này có rất nhiều đá” mà thôi.
Ngô Sĩ Thịnh thử cử động mắt cá chân. Vẫn động đậy được. Nhưng gã cho rằng, nếu là gãy xương thật thì không được cử động bừa bãi mà phải chờ cứu viện. Thế là gã rút điện thoại trong túi ra.
Đang định gọi điện xin lời khuyên, nhưng lại phát hiện điện thoại không bắt được sóng, Ngô Sĩ Thịnh mới bàng hoàng nhận ra tình hình không ổn.
Gã bắt đầu hướng lên trên núi hét lớn, nhưng không rõ tại sao hét rát cả họng mà chẳng thấy chút động tĩnh nào.
Lẽ nào đám người trên núi điếc hết cả rồi sao?
Mẹ kiếp! Một lũ đần độn!
Rõ ràng là tự mình phạm sai lầm, nhưng lại quay ra trách móc đối phương không chú ý đến tình cảnh nguy cấp của mình trước, đây chính là triết lý sinh tồn của Ngô Sĩ Thịnh. Trong lòng gã chỉ lo chửi bới, nguyền rủa những người không phát hiện ra gã nhất định sẽ không được chết yên ổn, vân vân, cũng vì thế mà đánh mất khả năng phán đoán bình tĩnh.
Gần giữa trưa, mây mù từ trong khe núi tràn ra, dần che khuất Ngô Sĩ Thịnh đang nằm sõng soài trong khe núi, khiến gã càng khó bị phát hiện. Gã lạnh đến phát run, thầm nghĩ nếu không mau chóng đi khỏi thì sẽ chết ở đây.
Gã nén đau đứng dậy, thử bước hai, ba bước. Sau khi phát hiện mình vẫn đi lại được, Ngô Sĩ Thịnh vội vội vàng vàng quay lại nơi mình ngã xuống, rồi hoàn toàn tuyệt vọng.
Xong đời rồi... Chỗ này vốn dĩ không thể leo lên được...
Vách đá gần như thẳng đứng, không có bất cứ công cụ nào, mắt cá chân còn bị thương, rốt cuộc phải leo lên như thế nào đây?
Mây mù càng lúc càng dày đặc, dần che khuất các vách đá xung quanh, gay go hơn là, bầu trời bắt đầu xuất hiện mây vũ tích hình bầu ngực treo rủ xuống. Cho dù Ngô Sĩ Thịnh không hiểu các hiện tượng mây, nhưng từ màu xám chì đậm đặc cũng có thể nhìn ra một cơn mưa giông cực lớn sắp giáng xuống. Gã vội vàng tìm một vách đá cheo leo, núp vào chân vách miễn cưỡng có thể nằm ngang, im lặng đợi mưa qua.
Quả nhiên, những hạt mưa to bằng hạt đậu bắt đầu rơi xuống, tiếp theo là màn mưa, sau đó là thác nước cực lớn.
Tệ hơn là sấm sét bắt đầu xuất hiện.
Ngô Sĩ Thịnh núp dưới vách đá, run rẩy không ngừng vì lạnh và sợ hãi trước sức mạnh của thiên nhiên. Sấm sét liên tục giáng xuống những cành cây mảnh nhọn - ban đầu là những tia điện li ti, sau đó ở điểm tiếp xúc bắn ra ngọn lửa màu xanh, kèm theo tiếng sấm ầm ầm, cảnh tượng này đủ để khiến tất cả những người lạc đường trong núi hoảng loạn.
Nước mưa lạnh giá thấm vào người, chiếc áo khoác mỏng nhanh chóng ướt sũng làm Ngô Sĩ Thịnh không chịu nổi mà run bần bật.
Cứ tiếp tục thế này... mình sẽ chết vì lạnh...
Gã nghe răng mình va vào nhau lập cập, cứ như đang lắng nghe tiếng đồng hồ đếm ngược tử thần. ©Facebook Group: We Love Ebook, mời các bạn tham gia Nhóm để tải nhiều sách hơn nữa!