Một chiếc taxi bóng loáng đỗ trước cửa hàng McDonald's trên đường Văn Tâm.
Quách Thần San bước xuống xe, kéo vali, cảm thấy cơ thể mệt mỏi lạ thường.
Vào đêm đoạn tuyệt đó, chị đã khóc suốt đêm trong một khách sạn ở Bắc Kinh, chỉ ngủ được một tiếng vào sáng sớm hôm sau rồi tỉnh ngay. Điện thoại có hai mươi sáu cuộc gọi nhỡ của chồng, nhưng chị không muốn gọi lại, mà đặt vé về Đài Loan.
Hóa ra... cuộc hôn nhân của chúng ta chỉ còn giá trị bằng hai mươi sáu cuộc điện thoại...
Quách Thần San không khỏi nhớ lại, trước đây lúc còn là người yêu, chị từng cãi nhau một trận đến mức tưởng chừng chia tay với chồng. Lúc đó Quách Thần San cố tình cắt liên lạc, chồng chị đã gọi hàng trăm cuộc điện thoại, còn ngồi cả ngày trong quán cà phê gần nơi chị trọ, để nắm đúng thời điểm chị ra ngoài, quỳ xuống xin lỗi chị.
Nếu thật sự muốn níu kéo chị quay lại, hẳn là sẽ giống lần trước, canh ở sân bay đợi chị...
Nhưng không. Chồng chị không còn là người đàn ông toàn tâm toàn ý, trao hết cho chị như trước nữa. Quách Thần San lên máy bay mà không một chút trở ngại, trở về Đài Loan.
Quách Thần San đi qua giếng trời, đột nhiên nảy sinh cảm giác chán ghét kinh khủng đối với tòa nhà này. Chị đứng lặng cạnh hồ nước sau giếng trời, chăm chú nhìn vào công trình màu đen nằm trong khe hở giữa các tòa nhà cao tầng. Chị luôn cảm thấy thứ đó rất xui xẻo, không sao diễn tả nổi, giờ thì cuối cùng đã hiểu ra tại sao.
Hóa ra đó là bia mộ của mình à...
Đó là địa điểm mới của tòa nghị chính hội đồng thành phố, từ góc nhìn của chị, có thể trông thấy mặt bên phủ kính màu đen. Tuy nó do Công ty kiến trúc nổi tiếng của Thụy Sĩ thiết kế, cũng rất được người dân thành phố khen ngợi, nhưng vào giây phút này, trong mắt Quách Thần San, nó đã biến thành một huyệt mộ u ám đủ để nuốt chửng chị.
Lúc mới chuyển đến, sao chị không nhận ra điều này cơ chứ? Chỉ lo thưởng thức đại sảnh trần cao, phòng tiếp tân và phòng nghe nhìn sang trọng bị những căn phòng xa xỉ như phòng trà, phòng thử rượu, phòng học nấu ăn, trung tâm thẩm mỹ, KTV, phòng mạt chược, phòng thể dục, thậm chí cả phòng tắm spa ẩn khuất, mê hoặc đến mức hoa cả mắt, mà không biết rằng sau chưa đầy một năm sống như mơ, người trong nhà đã tứ tán khắp nơi, chỉ còn mình chị vẫn ở lại tòa lâu đài vật chất bất di bất dịch này, đợi chết.
Những suy nghĩ cực kỳ tiêu cực từng bước chiếm cứ đầu óc của Quách Thần San, dường như chị đang tìm lối ra trong một mê cung không có ánh sáng, cuối cùng lại bất ngờ va phải một căn phòng bí mật bị chôn sâu bên rìa ý thức. Bên trong có một giọng nói quen thuộc dẫn dắt hành động của Quách Thần San, sau đó chị mở nó ra.
Trả thù.
Chị nên đoạt lại những gì thuộc về chị...
Quách Thần San nghe thấy giọng đó nói như vậy.
Đó là... giọng ai?
Sau ba lượt vắt óc suy nghĩ, cuối cùng Quách Thần San cũng nhớ ra mình đã nghe thấy giọng nói đó ở đâu.
Thật là một bất ngờ đẹp đẽ.
Dù đã ba năm trôi qua nhưng tình cảnh hôm đó vẫn sống động như một thước phim chiếu lại. Một nhóm quý bà đang ngồi trên ghế ngoài trời của quán rượu nào đó, ánh mặt trời xuyên qua chiếc ô che nắng khổng lồ trên đầu họ, rọi vào ly thủy tinh trang trí hình bán đảo Cape Cod, làm cho chất lỏng màu đỏ máu trong ly càng thêm trong suốt.
Giọng nói đó đến từ góc chéo đối diện với Quách Thần San. Một người phụ nữ toàn thân mặc đồ Burberry, tay phải cầm ly rượu, tay trái nhẹ nhàng vuốt ve đứa bé sơ sinh trong lòng. Quách Thần San nghe cô ta nói về bí quyết có con của mình, cánh môi mở ra khép vào, lỗ mũi phập phồng theo giọng điệu, vẻ mặt đắc ý làm người khác khó quên. Nhưng Quách Thần San có thể hiểu được tâm trạng của cô ta. Nếu cô không có đứa con đang ôm trong lòng thì dưới áp lực của dòng họ, chồng cô đã có tình mới từ lâu rồi.
Hóa ra là Hồng Lô Địa à...
Người phụ nữ đó đã xin Chú Sinh nương nương tại Nam Sơn Phúc Đức cung ở Hồng Lô Địa, được một đứa con trai, nhưng lập tức có người đặt ra nghi vấn, bảo rằng đó không phải là miếu âm [*] sao? Cô ta nghe xong liền mỉm cười đáp: “Nếu đúng là như vậy, còn cầu được cục cưng này sao!” Sau đó mới có một người phụ nữ khác giải thích rằng, Phúc Đức cũng không thể là miếu âm, chỉ vì ở bên cạnh “hộp đêm (bãi tha ma)”, nên mới đồn đại vậy thôi.
Chủ đề vừa mở, lập tức có người chia sẻ bí quyết hồi xuân và giữ chồng, bảo là cũng tìm pháp sư ở Hồng Lô Địa, vô cùng kinh nghiệm, không chỉ khiến chồng hồi tâm chuyển ý bỏ bồ nhí, mà còn chẳng cần đến thẩm mỹ viện để chỉnh hình vi phẫu và dưỡng nhan nữa.
Lúc đó Quách Thần San chỉ nghe như chuyện cười, cũng không bao giờ cho rằng mình cần tiếp xúc với những thứ tà ma ngoại đạo đó. Chị hoàn toàn không ngờ mới có ba năm mà mình đã rơi vào tình cảnh này.
Chị lấy điện thoại ra, tìm số của Lâm Thục Mỹ rồi bấm gọi.
"A lô?”
“Thục Mỹ phải không? Tớ là Thần San đây.”
“Ừ, Có việc gì thế?”
“Giờ cậu có rảnh không, tìm một người hộ tớ với.”
“Giờ tớ đang chuẩn bị đi chơi bóng quần với chồng, cậu cần gấp lắm à?”
“Gấp lắm.”
“Cậu vẫn khỏe đấy chứ? Nghe giọng có vẻ...”
“Không khỏe. Cho nên xin cậu đấy.”
“Cậu muốn tìm ai?”
“Tớ quên mất tên của cô ấy rồi, chồng cô ấy làm bên sơn hóa học đó.”
“Sơn hóa học? Cậu nhớ tên công ty không?”
Quách Thần San nhớ tên của công ty sơn đó có chữ “thần”, vì có liên quan đến tên của mình, nhưng tên đây đủ là gì thì đã quên sạch bách.
“Thần gì đó... tớ quên rồi.”
“Là Thần Vũ phải không? Cậu muốn tìm Tú Cầm?”
“Đúng, đúng, chính là Tú Cầm. Cậu có số của cô ấy không?”
“Tớ có, tớ nhắn cho cậu ngay đây.”
Sau khi cúp máy, chưa đến mười giây, Lâm Thục Mỹ đã gửi một số điện thoại đến. Quách Thần San ấn giữ vào chuỗi số đó, điện thoại hiện ra một thanh tùy chọn, bao gồm quay số, gọi FaceTime, gửi tin nhắn, thêm thông tin liên lạc và sao chép.
Quách Thần San do dự một chút, cuối cùng vẫn ấn quay số.
* * *
Sau khi ô tô tiến vào Đông Phố, có thể thấy nhiều vách núi sạt lở, việc này làm Hô Duệ Diệc nhớ đến tình cảnh thảm khốc năm xưa. Nhưng càng đến gần phố suối nước nóng, càng có nhiều cửa hàng và khách sạn đặc sắc trong khu vui chơi, không còn là cảnh núi rừng đơn điệu nữa.
Hồ Duệ Diệc xuống xe, rảo bước đi vào khách sạn suối nước nóng đã đặt trước. Chồng Hồ Duệ Diệc đỗ xe xong, xách vali đi vào thì vừa đúng lúc chị hoàn tất thủ tục nhận phòng. Hai người họ để vali cỡ lớn ở phòng, chỉ mang theo ba lô nhẹ nhàng tiện dụng ra ngoài.
Muốn đến suối nước nóng Lạc Lạc Cốc, thông thường đều đi qua đường cổ Bát Thông Quan. Hồ Duệ Diệc và chồng men theo ngõ Khai Cao đi thẳng về phía Nam, trên bức tường dọc đường, thỉnh thoảng xuất hiện những hình vẽ graffiti cầu vồng và tô tem của tộc Bố Nông. Sau khi xuyên qua một đường hầm thì đi lên dốc theo biển chỉ dẫn, bản đồ chỉ đường bằng gỗ cho họ biết nơi đây là điểm bắt đầu của đường cổ - cửa lên núi Đông Phố.
Bên cạnh bậc thang leo lên trên có một cột đá lớn khắc tô tem của tộc Bố Nông, trên mặt đất còn khắc cả lời giới thiệu về lịch sử của con đường cổ. Họ đi qua vô số bậc đá lát bằng đá phiến sét, tiến vào phạm vi của rừng ma trúc.
Trên mặt đường có rất nhiều lá khô, sau khi dính nước mưa thì trở nên trơn trượt. Hồ Duệ Diệc vừa mới nghe nhân viên lễ tân khách sạn nói rằng, chiều hôm qua có một trận mưa lớn bất ngờ trút xuống, vì vậy nhân viên nhắc Hồ Duệ Diệc nhất định phải cầm theo áo mưa.
Đang đi, mặt đường bỗng trở nên vô cùng gập ghềnh, còn có nhiều khẩu hiệu cảnh báo đá rơi. Hóa ra chỗ này là vách đá Phụ Tử, do đứt gãy sông Sa Lý Tiên kéo trượt, tạo thành các khối đá vỡ vụn trên đường núi. May mà đoạn đường đi bộ còn lại vẫn khá dễ đi, rất nhanh sau đó, họ đã đến ngã rẽ đầu tiên - ngã ba suối nước nóng Lạc Lạc Cốc.
Biển chỉ đường ở ngã ba bảo họ đi thẳng sẽ đến thác Vân Long, sau khi qua thác Vân Long, muốn đi tiếp thì phải nộp đơn mới được. Có điều, Hồ Duệ Diệc cũng không có tâm trạng để thưởng thức phong cảnh con đường cổ, bèn rẽ phải luôn, con đường đi bộ bắt đầu dốc xuống rất nhanh, chênh lệch khoảng 300 mét, vì có một số nơi thậm chí dốc đến bảy mươi độ, lại thêm hiện tượng sạt lở do gió bão, lũ bùn gây nên, khá nguy hiểm.
Họ men theo con đường đất đá cao và dốc, chầm chậm bước trên lối nhỏ hình chữ S, sau vài chục phút, đã có thể nhìn thấy nơi giao nhau giữa sông Trần Hữu Lan và sông Lạc Lạc.
Chật vật mãi mới xuống đến điểm cuối, rốt cuộc cũng nhìn thấy hẻm núi tráng lệ do sông Trần Hữu Lan như một chiếc rìu tạo thành. Họ men theo bờ phải của sông Trần Hữu Lan, đi qua bệ cáp thép bỏ hoang, nghi là cáp treo Lưu Lung thời kỳ đầu.
“Nghe nói sơn trang Cổ Đạo ngày trước ở gần đây đấy!”
Chồng chị luôn thích nghiên cứu sâu về lịch sử và sự biến đổi của địa vật, nhìn thấy di tích Lưu Lung, không kìm được mà hồ hởi thông báo.
Sơn trang Cổ Đạo còn được gọi là nhà nghỉ Ngô Kết. Ngay từ thời nhà Thanh, tổ tiên của Ngô Kết đã khai hoang ở Lạc Lạc Cốc, đến đời Ngô Kết thì dựng giường ghép lớn cao hai tầng ở khe suối, để tiếp đón khách du lịch với chi phí ăn ở rẻ. Hồi đó, du khách còn ngồi cáp treo Lưu Lung bắc qua sông Trần Hữu Lan đi tham quan thạch nhũ, nên nhà nghỉ rất được những người leo núi hoan nghênh, trong ngoài khắp nơi đều là cờ và câu chữ lưu niệm của các đoàn leo núi.
Có điều, sau khi ban quản lý Ngọc Sơn được thành lập, cảnh sát vườn quốc gia và cảnh sát hình sự phân cục Tín Nghĩa cho rằng Ngô Kết tự ý kinh doanh, còn mắc máy phát điện cỡ nhỏ, lợi dụng dòng nước xiết của khe suối ngọn Bắc để phát điện, có nghi vấn trốn thuế và khai hoang quá mức, nên đưa Ngô Kết đi xử theo pháp luật. Sơn trang Cổ Đạo cũng vì vậy mà tiêu tan.
Họ dựa theo chỉ dẫn trên đá, đi ngược dòng lên tận thượng du, cẩn thận trèo qua những tảng đá khổng lồ giữa lòng suối. Ở những chỗ nước sâu hơn, còn phải lội trong nước suối lạnh buốt ngập đến đầu gối.
“Đến rồi!”
Hồ Duệ Diệc mừng rỡ ngoảnh lại nhìn chồng. Trên vách đá bên trái hiện rõ chỗ nước chảy ra, mùi lưu huỳnh thoang thoảng bay đến.
“Đây là suối nước nóng ạ?”
“Đúng rồi. Em không nhìn thấy chỗ nào cũng bốc khói sao? Ha ha.”
Hồ Duệ Diệc tìm một vách đá có hoa văn nhiều màu sắc, cởi giày và tất, ngồi trên một tảng đá lớn, ngâm chân xuống nước suối nóng.
“Dễ chịu quá!”
Chồng chị cũng tìm một tảng đá lớn để ngồi. Mặc cho quần áo bị ướt, anh nằm thẳng xuống nước.
Có điều, vì là hẻm núi do dòng sông chảy qua tạo thành nên hai bên bờ có không ít những vách đứng khó trèo. Hồ Duệ Diệc không kìm được bắt đầu tưởng tượng đến cảnh năm xưa Minako bị mắc kẹt trên đó - người tộc Bố Nông nhìn thấy, chắc là cũng rất nhức đầu đây.
“Đúng rồi, em bảo muốn đến đây là vì bài báo về Minako... Nhưng em nói phá giải lời nguyền... rốt cuộc là có ý gì?”
“Em nghi ngờ Minako cố ý rời đội, chạy đến đây.”
“Cố ý rời đội? Lý do là gì?”
“Em đoán là do cô bé đã tiếp xúc với thứ gì đó khiến cô bé cảm thấy không sạch sẽ... Không chừng là tiếp xúc với cái chết hoặc đám tang của ai đó, tóm lại, cô bé không thể trực tiếp lên đỉnh núi, vì ở đó có đền thần.”
“Ừm... Nhưng việc này có liên quan gì đến nguyền rủa?”
“Không phải các Thần xã đều có Thủ thủy xá để người thăm viếng rửa sạch dơ bẩn sao? Em nghĩ, Minako làm thế là để loại bỏ dơ bẩn của mình, nhưng kèm theo đó lại trừ bỏ được lời nguyền của giọng nói.”
“Ý của em là... thanh tẩy”
“Thanh tẩy? Là sao?”
“Em nhắc đến Thủ thủy xá, anh còn tưởng em biết cơ. Thủ thủy xá trong Thần xã chính là nơi để thanh tẩy, dùng nước rửa sạch cơ thể mình, loại bỏ dơ bẩn. Trước đây anh có đọc qua cuốn Cổ sự ký , nếu nhớ không nhầm, Izanagi [*] vì tiếp xúc với những thứ chết chóc ô uế khi xuống Hoàng Tuyền [*] , nên đã tiến hành nghi lễ thanh tẩy nước Tsukushi và Hyuga [*] .”
“Em không biết điều này... Ý của anh là, thật sự Minako đã... tiến hành thanh tẩy ở suối nước nóng này sao?”
“Thanh tẩy có rất nhiều hình thức, ngoài Thủ thủy xá, còn có Thủy hành, Lung hành, Thủy cấu ly và Hàn cấu ly... Chắc em từng xem các cảnh tu hành dưới thác nước trong phim rồi chứ? Đó chính là Lung hành, là thanh tẩy.”
“Vậy suối nước nóng cũng có tác dụng này ạ?”
“Tất nhiên là có, văn hóa nhà tắm và suối nước nóng của người Nhật Bản có liên quan đến lễ thanh tẩy. Trước đây suối nước nóng không phổ biến như bây giờ, thông thường người dân chỉ có thể lấy cớ thăm viếng thì mới được ngâm suối nước nóng”
“Cho nên...” Hồ Duệ Diệc không khỏi trầm ngâm một lúc. “Minako thật sự là vì việc này...”
“Ấy, vợ này, sao em lại để tâm đến chuyện này như thế?”
“…”
“Có liên quan đến sự việc bệnh viện em phải không? Là cô Tư Tư đó à?”
“Ừm.”
“Ồ, anh hiểu rồi. Em lo rằng cô ta sẽ chết.”
“Anh nói giọng đó là có ý gì?”
“Không có gì. Chỉ là anh hơi ngạc nhiên, em lại đi tin những lời thần quỷ đó.”
"Em...”
“Trước đây em còn không tin cả bói toán cơ mà. Lần này có gì khác sao?”
“Khác?”
Bị chồng hỏi như vậy, Hồ Duệ Diệc mới phát hiện quả thật mình chưa bao giờ nghĩ đến vấn đề này.
Tại sao lần này mình... lại tin trên đời có ma quỷ tồn tại?
“Em nghĩ, chắc là vì em tin họ.”
“Tin... ai?”
“Em ở phòng bệnh tâm thần đã rất nhiều năm, những bệnh nhân đó là những người không biết nói dối. Vì vậy em mới cảm thấy giọng nói đó nhất định là thật.”
“Điều đáng nói là họ lại có vấn đề về tâm thần, nên có thể là ảo giác chăng? Không phải có triệu chứng gọi là... ảo giác thính giác gì đó sao? Chắc bác sĩ cũng chẩn đoán như vậy phải không?”
“Không phải ảo giác thính giác. Em cực kỳ chắc chắn đó không phải là ảo giác thính giác.”
“Em đã nói vậy thì anh cũng cảm thấy rất có khả năng. Luôn có những người có thể thông linh, nhìn thấy ma quỷ. Nghe thấy giọng nói của ma quỷ, sau đó bị mê hoặc thần trí... Hình như cũng không huyền bí cho lắm. Em muốn đi chỗ khác xem không?”
Hồ Duệ Diệc cũng cảm thấy ngâm thế đủ rồi, bèn theo chồng lên đường đi du ngoạn khu vực thác Vân Long, để gió tự hong khô quần áo và giày tất ướt. Họ dạo chơi đến gần giữa trưa, mới nhằm hướng khách sạn quay về.
Hồ Duệ Diệc và chồng tìm được một quán ăn có phục vụ các món ăn của người bản địa ở gần Khách sạn, vì không phải ngày nghỉ, lại đã quá giờ dùng bữa, nên trong quán chỉ có hai người họ.
Lúc sắp ăn xong, Hồ Duệ Diệc phát hiện có một bà cụ chắc là người Bố Nông ngồi ở cửa quán, trông về núi rừng đằng xa, không biết trong lòng đang nghĩ gì.
“Bà ấy đã chín mươi mốt tuổi rồi, chắc hai người không nhìn ra đâu nhỉ?”
Người đàn ông trung niên vừa nãy bưng đồ ăn ra, chắc là chủ quán, thân mật bắt chuyện với họ. Nghe chủ quán nói vậy, Hồ Duệ Diệc thật sự hơi ngạc nhiên. Xét theo tuổi bình quân của người bản địa thì bà cụ coi như là cực thọ rồi.
“Anh là?”
“À, tôi là con của bà ấy.”
Hồ Duệ Diệc mừng húm. Cuối cùng cũng nghe được giọng nói khoáng đạt độc nhất của người bản địa.
“Mẹ của anh khỏe thật đấy.”
“Đúng thế, trước đây bà thường đi đường núi, nhờ thế mà sức khỏe tốt lắm.”
“Thường đi đường núi?”
“Ừ, từ thời thuộc Nhật, trước khi chuyển đến đây, hudasmumu (cụ) của tôi từng làm cảnh đinh của đồn cảnh sát Nhật Bản, thường hay chạy qua chạy lại giữa Thủy Lý và Quan Cao. Mẹ tôi cứ thế chạy theo... Đường sá ở đây, kể cả đường cổ Bát Thông Quan, cứ hỏi bà ấy là chuẩn!”
Hồ Duệ Diệc không lạ gì kế hoạch di cư tập thể của chính phủ Nhật Bản lúc bấy giờ. Sau sự kiện Vụ Xã, để kiểm soát các dân tộc bản địa của Đài Loan, người Nhật đã thi hành chính sách cưỡng chế di cư tập thể. Năm Chiêu Hòa thứ 9, ban quản lý thổ dân của cục Cảnh vụ vạch ra “kế hoạch mười năm di dời thổ dân”, vì từng xảy ra “sự kiện thổ dân xã Quận Đại tẩu thoát”, nên khu thổ dân của quận Tân Cao, cũng tức xã Tín Nghĩa hiện nay, là một trong những vùng thực hiện việc di cư tập thể triệt để nhất. Không ít thị tộc và bộ lạc của xã Quận Đại đã bị ép phải rời khỏi nơi ở của tổ tiên, chuyển đến khu vực mà nay là thôn Đông Phố và thôn La Na. Việc chuyển đến đây” mà chủ quán nói, có lẽ chính là một phần trong kế hoạch di cư tập thể.
“Cảnh đinh?”
“Thực ra chính là tạp vụ, làm chân sai vặt đi mua đổ hoặc gửi thư giúp họ. Cô cũng biết đấy, hồi đó chúng tôi toàn bị kêu đi làm những việc như sửa đường sá này, thồ hàng lên núi này, chúng tôi nhiều kinh nghiệm nhất đấy.”
Tuy giọng điệu khá nhẹ nhàng, nhưng Hồ Duệ Diệc vẫn có thể nghe ra chủ quán hơi bất mãn trước cách xã hội đối xử với người bản địa.
“Mẹ tôi ngồi rỗi cũng chán lắm, nếu hai người thích thì có thể nói chuyện với bà. Tôi đi rửa bát cái đã.”
“Được rồi.”
Chồng chị thanh toán xong, muốn về khách sạn tắm rửa nghỉ ngơi trước, để chị ở lại quán ăn một mình. Chị tự ý tìm một chiếc ghế đẩu ở cửa, ngồi xuống trước mặt bà cụ. Mặt bà tuy có nếp nhăn, nhưng chắc vì nước da ngăm đen nên trông lại trẻ. Chỉ từ những nếp nhăn hằn rõ trên da mu bàn tay mới nhìn ra được bà đã cao tuổi.
Bà cụ để ý thấy Hồ Duệ Diệc, bèn tủm tỉm cười, hai nếp nhăn khóe miệng làm Hô Duệ Diệc liên tưởng đến khe suối mà chị khảo sát hồi sáng.
“Con chào dì ạ.”
“Chào con.”
Đây là lần thứ hai Hồ Duệ Diệc bị bà cụ làm kinh ngạc. Cụ già người bản địa ở độ tuổi này mà lại nói tiếng phổ thông chuẩn như vậy, hơn nữa đầu óc vẫn khá minh mẫn, không thua lớp trẻ ở đồng bằng chút nào.
“Dì à, dì khỏe thật đấy, vừa nãy con trai dì nói dì đã chín mươi mấy tuổi rồi. Con có quen mấy cô bạn người Bố Nông, còn trẻ mà còn không khỏe bằng dì!”
“Thật à... Con quen ai vậy?”
Hô Duệ Diệc suy nghĩ một chút, quyết định không nhắc đến Buni.
“Con quen Aping.”
Aping là tên tiếng bản địa của Tư Tư.
“Còn cái tên đằng sau?”
Hồ Duệ Diệc đoán bà cụ nói đến tên thị tộc. Nhưng chị không biết trên thị tộc của Tư Tư.
“Con không biết.”
“Islituan? Tansikian? Manquqou?”
Bà cụ liên tục đưa ra ba từ mà Hồ Duệ Diệc nghe không hiểu, nhưng vừa nhìn thấy vẻ mặt của Hồ Duệ Diệc là bà hiểu ngay, dù có hỏi tiếp thì Hồ Duệ Diệc cũng chẳng rõ.
“Không sao, con đến đây chơi à?”
Hồ Duệ Diệc bị bà cụ hỏi một câu như vậy, bỗng nhiên hơi bí từ.
Có thể coi là đến chơi không?
Có lẽ giống một cuộc điều tra cá nhân hơn!
Nhưng Hồ Duệ Diệc nghĩ lại, cảm thấy trả lời như vậy thật quá xa rời thực tế, không khéo bà cụ còn cho rằng chị là cảnh sát.
“Vâng ạ, con đến tắm suối nước nóng.
“Vậy, con có đi dah-dah-han không?”
Hồ Duệ Diệc biết “dah-dah” trong tiếng Bố Nông có nghĩa là động vật dùng lưỡi liếm thức ăn, vì động vật thích đến Lạc Lạc Cốc liếm khoáng chất của suối nước nóng nên cũng có nghĩa là suối nước nóng. Nơi bà cụ nói chính là suối nước nóng ở Lạc Lạc Cốc.
“Có ạ, hồi sáng con có đi ngâm một lúc, rất dễ chịu ạ!”
“Bây giờ không thể đi ra phía sau thác Vân Long được rồi, đáng tiếc!... Sau khi vượt qua núi, có rất nhiều cây cà chua thân gỗ ngon! Trước đây già thường hay đi!”
Hồ Duệ Diệc đoán, nơi bà cụ nói chắc là khu rừng phía sau đường rừng Quận Đại. Chỗ đó vì gặp thiên tai như gió bão và động đất, vách núi bị sụp hết cả, chỉ có một con đường ruột dê nhỏ có dây thừng hỗ trợ để đi qua. Chắc là để tránh xảy ra nguy hiểm cho người leo núi, ban quản lý Ngọc Sơn đành áp dụng biện pháp quản chế.
“À thế ạ. Có điều con không khỏe như dì, chắc không trèo nổi đâu.”
“Không đâu, rất nhiều người đang đốt lửa sưởi ấm ở Wulitu (Sơn Tỳ Bà Địa) mà! Còn có sơn ốc Lạc Lạc, trước đây già từng đi qua, lúc đó nó vẫn còn là đồn cảnh sát của người Nhật Bản!”
Đồn cảnh sát Lạc Lạc.
Hồi đó Minako đã được người tộc Bố Nông đưa đến đồn cảnh sát Lạc Lạc từ một ngã ba phía trên nối với đường vượt đèo Bát Thông Quan. Thời gian đầu cảnh sát của đồn Lạc Lạc thường đi tắt theo ngã ba này xuống tắm suối nước nóng, song giờ con đường đã đổ nát vì mưa gió nên đi lại khó khăn. Nhưng đồn cảnh sát lại được cải tạo thành sơn ốc Lạc Lạc, đã qua vài lần tu sửa, két nước cũng được thay mới, coi như là lán lánh nạn cho người leo núi nghỉ lại khi lên núi.
Nghe bà cụ nói đến sơn ốc Lạc Lạc, Hồ Duệ Diệc chợt nảy ra ý nghĩ kỳ lạ, với cái tuổi chín mươi mốt của bà cụ thì năm Chiêu Hòa thứ 8 bà tầm bảy, tám tuổi, không chừng đã nghe tin đồn Minako bị ma giấu.
“Dì ơi, dì đã từng nghe đến một người tên là Minako chưa?”
Bà cụ nhíu mày.
"Minako...?”
Bà cụ từ trầm tư, ngờ vực, hoài nghi, rồi lại đến kinh ngạc, vẻ mặt biến đổi phức tạp cho thấy bà đã mò được cái tên ướt át này từ nơi sâu nhất trong ký ức.
“Minaku. Ý con là Minaku phải không?”
Tuy Hồ Duệ Diệc cảm thấy âm nghe hơi khác, nhưng chị lập tức hiểu ra, có thể là do cách phát âm từng âm tiết của cái tên tiếng Nhật “Minako” này trong tiếng Bố Nông có sự sai khác.
“Vâng. Một Cô bé người Nhật Bản, năm Chiêu Hòa thứ 8 leo núi Tân Cao, sau đó mất tích.”
“…”
Bà cụ đột nhiên quay ngoắt đi, vẻ mặt sa sầm.
“Dì à? Dì sao vậy? Không khỏe ạ?”
Nhìn thấy bà cụ mặt cắt không còn giọt máu, Hồ Duệ Diệc lo lắng hỏi. Nhưng bà cụ chẳng đáp lại mà quay ngoắt vào trong nhà, còn không cả chào tạm biệt, bỏ lại Hồ Duệ Diệc ngồi ở của một mình.
Nhưng bà cụ càng tỏ vẻ thần bí thì Hồ Duệ Diệc càng cảm thấy bà cụ đang che giấu bí mật gì đó. Thế là chị chẳng màng lễ phép, xộc thẳng vào trong quán ăn, đuổi theo bà cụ.
“Dì ơi!... Dì ơi! Dì sao vậy? Con đã nói điều gì... không nên nói hay sao?”
Bà cụ dừng bước chân loạng choạng, tay chống eo, nhìn Hồ Duệ Diệc với vẻ ưu tư. Qua một lúc lâu, bà cụ mới mở miệng nói:
“Cô đừng hỏi nữa!”
Hồ Duệ Diệc khựng lại trước giọng điệu gay gắt của bà cụ. Nhưng sau khi nghĩ đến trạng thái tinh thần ngày càng tồi tệ của Tư Tư, chị lập tức, thu hết can đảm nói ra mối lo của mình.
“Dì à... nếu dì biết gì đó thì nhất định phải cho con biết! Aping... Cô ấy liên tục nói là mình sắp bị Minaku giết...”
Bà cụ trợn mắt, mí mắt chảy xệ đột nhiên mở ra, để lộ lòng trắng màu vàng sẫm ở bên dưới. Hô Duệ Diệc thấy vậy, càng tin là bà cụ biết chuyện về Minako.
Bà cụ chậm rãi bước tới bàn ăn, kéo lấy một cái ghế đầu nhựa từ bên dưới, tì khuỷu tay lên bàn, chống đầu.
“Minaku... Cô ta vẫn còn sống à?”
"Dạ?”
“Lúc đó, sau khi hahanup (thợ săn) phát hiện và cứu cô ta, tumuku (thủ trưởng) và taini-uni (trưởng lão các hộ) palihansiap (mở cuộc họp) vào buổi tối, họp xong họ bảo rằng cứ đưa cô ta đến hasisiu (đồn cảnh sát), giao cho tamu-ungan (cảnh sát) là được, và đuổi bọn uvaaz (trẻ con) chúng ta đi chỗ khác, nói cô ta là hanitu (ma quỷ)...”
Bà cụ bắt đầu nói chêm một loạt các từ Bố Nông vào giữa câu, nhất thời Hồ Duệ Diệc không thể hiểu được. Nhưng từ ngữ cảnh của câu nói có thể lờ mờ luận ra ý của bà cụ. Mà từ cuối cùng thì chị hiểu. Nói tóm lại, Minako là ma, nên lúc đó bà cụ bị đuổi khỏi hiện trường, không được phép tiếp cận Minako.
“Hóa ra Minaku đúng là hanitu ...”
“Nhưng Baisu không nghe lời, lén chạy đến taluhan (lán) để xem Minaku, kết quả là ba hôm sau, anh ấy bảo là nghe thấy tiếng của latuk , rồi chạy vào trong núi và không bao giờ trở lại...”
" Latuk ?”
“Ừ. Latuk .”
Hồ Duệ Diệc lấy điện thoại ra, tra “lato”, “lado”, đều không tìm thấy kết quả nào có liên quan, cuối cùng mới nghĩ ra hậu tố này hơi ngắn, có âm gốc lưỡi rõ ràng, có thể là âm bật của phụ âm “k”, thế là lại gõ “tiếng latok ” vào thanh tìm kiếm.
Trang web hiện ra kết quả “cung cầm”. Hồ Duệ Diệc nhấn vào, phát hiện đây là một loại nhạc cụ của tộc Bố Nông, lấy trúc làm cung, lấy dây thép mảnh làm dây đàn. Khi chơi, ngậm một đầu của cây đàn trong miệng, tay trái giữ cung tay phải gảy dây, sẽ phát ra tiếng nhạc du dương...
“Nhưng con không hiểu... Tại sao cô ta... Tại sao lại bảo Minaku là hanitu ?”
“Minaku không có hanitu (linh hồn)... Cô ta không có ihdian (đau khổ), cũng không có kainaskalan (vui sướng)... Cô ta không phải là bunun (người)...”
“Dì, hanitu là gì ạ?”
“Chúng tôi có hai hanitu , một cái ở đây, một cái ở đây.” Bà cụ lần lượt vỗ vào vai trái và vai phải của mình. “Bên này là makwan hanitu , bên này là mashia hanitu . Makwan hanitu khiến người ta trở nên xấu xa, giận dữ, tham lam, đánh người; còn mashia hanitu làm người ta trở nên tốt đẹp, biết giúp đỡ người khác, yêu thương người khác. Nhưng Minaku... không có cả hai.”
“Tại sao? Cô ta đã làm gì?”
Bà cụ lắc đầu.
“Vì tama (bố cô ta đã lấy hanitu của cô ta đi rồi...”
“Lấy hanitu đi?... Baisu cũng vậy ạ? Bị Minaku lấy đi rồi?”
“ Taini-uni nói đó là matisnanulu (chiêm bao). Sau khi ngủ hanitu sẽ rời khỏi cơ thể đi chơi khắp nơi, biến thành những việc mà ta thấy trong mơ... Sau khi Baisu ngủ, hanitu đã biến mất.”
Hồ Duệ Diệc lần đầu tiên nghe thấy từ matisnanulu này, xét từ ngữ cảnh, chị đoán Baisu mắc chứng tương tự như mộng du, rồi không bao giờ trở lại. Từ biểu cảm của bà cụ, Hồ Duệ Diệc có thể cảm nhận rõ nỗi đau thương của bà.
Chị thẫn thờ đứng dưới chân cầu thang, đưa mắt nhìn theo bà cụ bước từng bước lên trên.
Giữa cầu thang mờ tối, bóng dáng vẫn còn khỏe mạnh chuyển sang cầu thang đối diện, biến mất khỏi tầm mắt của Hồ Duệ Diệc. Vẻ mặt chị thẫn thờ, như đang nhìn theo truyền thống đi xa dần, chỉ còn lại truyền thuyết.
Th*ank yo*u fo*r your reading.
Mặt trời chói lọi trên không, cả vách đá nóng rực vì nắng chiếu. Lúc Ngô Sĩ Thịnh tỉnh dậy, quần áo đã gần khô. Chỉ là hôm qua dầm mưa suốt cả chiều, thân nhiệt hơi bị hạ, đến giờ đầu vẫn còn ngâm ngẩm đau, cổ họng cũng rất khó chịu.
Gã thử leo lên vách đá gần như dựng đứng một lần nữa, nhưng không có chốt đá hoặc rìu leo núi trợ giúp, có mỗi dây thừng thì cũng vô dụng.
Chỉ cần tìm được một nơi có sóng là ổn rồi...
Ngô Sĩ Thịnh kiểm tra dung lượng pin của điện thoại, vẫn còn hơn năm mươi phần trăm, vả lại không bị rơi vỡ, mọi thứ vẫn hoạt động bình thường, coi như là may mắn trong bất hạnh. Gã cầm điện thoại chạy lung tung, tìm nơi có nguồn tín hiệu mạnh hơn.
Vô tình, gã đã đi về phía Bắc gần 500 mét, phía trước xuất hiện một dòng suối.
Là suối!
Ngô Sĩ Thịnh hết sức phấn khởi. Gã nghĩ rằng chỉ cần có suối, gần đây nhất định sẽ có nhà dân, hoặc ít nhất sẽ gặp được du khách đi ngược dòng. Vì vậy gã quyết định xuôi dòng đi xuống dưới.
Nhưng Ngô Sĩ Thịnh đã đánh giá sai tình hình, cũng quên mất hôm nay không phải ngày nghỉ, dọc đường chẳng gặp được du khách nào, trái lại còn nhiều lần giẫm cả xuống suối vì mắt cá chân đơ cứng, làm quần áo khó khăn lắm mới hong khô được lại ướt sũng cả.
Chẳng mấy chốc, sau khi đi chừng 2 cây số đường thủy, gã đến một ngã ba.
Gã thoáng do dự, lấy la bàn ra, cuối cùng quyết định đi về phía Đông. Vì ngọn Tây Ngọc Sơn chắc là nằm ở phía Tây con suối, nên nếu đi về phía Tây, thể phải leo một đoạn đường núi nữa, không chừng thực chất là một thác nước, chẳng thể nào leo lên được.
Nhưng Ngô Sĩ Thịnh đã đặt cược sai hướng hoàn toàn.
Càng đi, địa hình càng dốc dần, Ngô Sĩ Thịnh cũng cảm thấy có thể mình đã chọn sai đường, nhưng gã thừa nhận sai lầm của mình quá muộn, đến nỗi lúc muốn quay đầu thì đã vin cành cây nhảy qua mấy thác nước, chẳng thể nào mạo hiểm tuột xuống được nữa.
Cứ như vậy, Ngô Sĩ Thịnh chỉ có thể chọn cách tiếp tục đi lên, hy vọng phía bên kia núi là thôn làng.
Sắc trời tối dần, Ngô Sĩ Thịnh càng thêm căng thẳng, đầu chỉ nghĩ đến việc ngộ nhỡ lạc đường trong núi thì phải làm thế nào. Gã bị tiếng chim kêu và tiếng lá cây lạo xạo do thú vật di chuyển dọa mấy lần, lại càng hoảng loạn.
Nhìn bầu trời màu cam sẫm qua khe hở của tán lá, gã hiểu rõ rằng mình đã sai, đêm nay chắc chắn phải nghỉ lại trong núi, dù trên đường đã ăn lương khô dinh dưỡng, nhưng bụng vẫn đói không chịu nổi. Với lại nghe nói trong núi có gấu, vũ khí duy nhất gã có trong tay chỉ là một con dao Thụy Sĩ, gã lo đến mức sắp khóc, hoàn toàn không tin mình có thể sống qua đêm nay.
Gã thu nhặt những cành cây khô trong rừng, dựa lưng vào một vách đá rồi châm lửa. Lúc lau bật lửa gã mới nhận ra đã rất lâu rồi mình không hút thuốc, điều bất ngờ là, ngay cả bây giờ gã cũng không thèm hút thuốc chút nào.
Có lửa... Chắc những con vật đó không dám lại gần chứ?
Còn một chuyện nữa khiến Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy ngạc nhiên với chính mình, đó là chưa bao giờ gã tha thiết muốn sống như bây giờ.
Tuy rất đói bụng nhưng gã cho rằng, dù thế nào đi nữa, cũng vẫn phải để dành lương thực cho hai đến ba ngày, nên đành tu ừng ực nước suối lấy hồi sáng để dạ dày căng phồng lên, tạo cảm giác no giả.
Dần dần, Ngô Sĩ Thịnh bắt đầu quen với bầu không khí trong núi.
Tiếng côn trùng rả rích rất quy luật, gió núi thỉnh thoảng thổi mạnh, còn cả không khí lạnh đến thấu xương, đều là những thứ gã không thể cảm nhận được khi lái taxi trong thành phố.
Gã chăm chú nhìn đống lửa không ngừng bập bùng biến dạng, dao động theo gió, há to miệng hít vào mùi gỗ cháy, bỗng nhiên có cảm giác an tâm, như thể Quách Tương Oánh và con gái đều đang ở bên cạnh gã, cả nhà cùng ngắm lửa trại, tận hưởng cảm giác nhàn nhã không phải làm gì cả.
Trong lúc ngẩn ngơ, gã chợt cảm thấy có ánh mắt nào đó đang nhìn về phía mình qua đống lửa cháy rừng rực. Gã lập tức ngẩng đầu.
Một cô gái mặc kimono màu nâu.
Mặt của cô ta trắng bệch, đôi mắt đen tuyền, từ trong đôi mắt đen đó, Ngô Sĩ Thịnh không nhìn thấy bất kỳ cảm xúc nào khác ngoài sự hư vô.
“... Cô là?”
"Minako.”
Hả?
Minako?!
Ngô Sĩ Thịnh sợ đến mức lập tức bò lùi lại vài bước. Nhưng Minako không có vẻ định truy đuổi.
Cô ta giống như... một khối không khí...
“Cô đến để... giết tôi sao?”
Lần này Minako không trả lời câu hỏi của Ngô Sĩ Thịnh. Hai người giữ nguyên tư thế, vây quanh đống lửa giữ ấm.
Cô ta là Minako thật sao?
Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy cô gái mặc kimono phía đối diện chỉ là một cô bé vô hại, gã không hiểu tại sao Quách Tương Oánh lại sợ hãi như thế.
Hơn nữa, không rõ cơ thể cảm nhận được điều gì mà Ngô Sĩ Thịnh lại cảm thấy, thật tốt khi có cô ta ở bên. Gã lại bỏ thêm nhiều cành khô vào đống lửa, ngọn lửa gặp gió thổi càng bùng cháy mạnh hơn.
Dần dần, Ngô Sĩ Thịnh nhắm mắt lại. Gã duỗi tay chân, rũ bỏ mệt mỏi của cơ thể, chìm vào cõi mộng.
Mãi đến sáng hôm sau, Ngô Sĩ Thịnh mới sực tỉnh vì gió ban mai mát lạnh táp vào mặt.
Đống lửa đã tắt, Minako biến mất tăm. Gã ăn một miếng lương khô, rồi rảo bước trong nắng mai nhàn nhạt. Thế núi bắt đầu thay đổi, con đường đá dưới chân gần như biến thành một con đường núi dốc xuống dưới, rồi dần dần bằng phẳng trở lại. Ngô Sĩ Thịnh vượt qua một biển báo đề “sạt lở cấm đi qua”, phía trước là một vùng lòng chảo rất sâu, còn có không ít thân cây bị gió quật đổ nằm chắn ngang chính giữa. Một số đoạn đường sạt lở đến độ phải bám sát vào vách đá chầm chậm nhích từng bước một như lúc trèo lên ngọn Tây.
Sau khi vượt qua vách đá, Ngô Sĩ Thịnh đến một khe suối sạt lở, gần đó có bảng chỉ đường. Gã có cảm giác, nhất định có thể tìm thấy những người leo núi ở quanh đây, giúp gã rời khỏi ngọn núi này.
Gã ngồi nghỉ trên bậc thềm gỗ mục nát, sau đó gắng sức đi một mạch xuyên qua cây cầu sắt nguy hiểm màu đỏ. Mặt dưới của cầu đã bị khoét rỗng, dường như có thể sập bất cứ lúc nào. Nhưng Ngô Sĩ Thịnh rất may mắn. Sau khi vượt qua cây cầu nguy hiểm một cách suôn sẻ, gã đến một bãi hoang trơ sỏi đá, phía trước là thảo nguyên rộng lớn. Gã phát hiện ra một con lạch ở cạnh thêm cầu thang đá trên thảo nguyên, lập tức bổ sung thêm nước.
Lúc này mặt trời đã lên rất cao. Ngô Sĩ Thịnh rút điện thoại ra, thấy pin chỉ còn chưa đầy một phần ba. Đáng lẽ phải ra khỏi vùng núi rồi, nhưng vẫn không tìm thấy nơi có thể liên lạc, cũng chẳng gặp được khách leo núi, gã không khỏi có chút nản lòng.
Ngô Sĩ Thịnh đánh tiếp tục đi, men theo bậc thang đá xuống suối, đi về phía trụ cầu bậc đá ở thượng du. Trên bậc đá cũng có rất nhiều cành rơi cây đổ, không dễ đi lại. Sau khi qua suối, gã đi lên trên theo một lối mòn do giảm đạp mà thành, lối mòn trở nên rộng hơn, cùng với đó Ngô Sĩ Thịnh càng cảm thấy mình đang đi đúng đường.
Tuy vậy, bước vào một rừng tiễn trúc vừa thấp vừa rậm rạp lại là một con đường xuống dốc.
Bỗng nhiên, Ngô Sĩ Thịnh nhác thấy bóng một người đàn ông ở trong rừng thông, liền vội vã đuổi theo. Bóng người chui qua một khe hở do cưa cây mà ra, biến mất gần một lò nung bằng đất trông như đang đốt than củi.
Lạ thật... sao mới chớp mắt một cái đã không thấy rồi...
Nơi đây rừng cây rậm rạp chắn mất ánh sáng bên ngoài nên vô cùng âm u. Ngô Sĩ Thịnh gập hông chui ra khỏi rừng rậm, tiễn trúc và đỗ quyên mục chi chít khắp nơi, gã đành phải luồn qua rãnh mà chui.
Tiếng dòng nước chảy bắt đầu rõ ràng dần. Ngô Sĩ Thịnh rảo bước nhanh hơn, quả nhiên phát hiện trên mặt đất có mảnh bát vỡ, ba hòn đá và một cái bếp đơn giản do tôn xếp thành.
Nhất định là của người đó để lại!
Ngô Sĩ Thịnh suy đoán, người đàn ông đó cắm trại ngủ ngoài trời ở đây, vừa nãy nhất định là người đó tiểu tiện xong, lên đường đi đến mục tiêu tiếp theo. Gã vừa nghĩ vừa nhảy qua con lạch, lên dốc đuổi theo.
Lại có mảnh bát vỡ?
Tuy hơi nghi ngờ, nhưng Ngô Sĩ Thịnh đoán có thể người đàn ông đó bất cẩn làm vỡ. Sau khi sang phía bên kia ngọn núi, con dốc trở nên thoai thoải, ngoài ra lại phát hiện thêm một lò nung than củi nữa ở ngã ba.
Làm sao bây giờ... phải chọn bên nào?
Lần này Ngô Sĩ Thịnh không muốn chọn bên phải nữa. Gã đi lên dốc bên trái, gạt những bụi tiễn trúc mọc lộn xộn và những thân cây đổ, lối mòn bắt đầu lẫn lộn khó nhận rõ, cũng không thể theo dấu đường đi của người đàn ông nọ. Gã nhìn thấy một tảng đá lớn phẳng dẹt, bèn quyết định đi theo hướng đó, tạm thời dùng đá nhỏ đánh dấu trên thân cây dọc đường.
Đó là?
Phía trước xuất hiện một chiếc thang sắt phế thải. Khu vực này có rất nhiều thông hai lá và tiễn trúc, chỉ có đoạn gần thang sắt trông có vẻ đi tiếp được. Sau khi lên dốc, Ngô Sĩ Thịnh nhìn thấy một đường bờ bao bằng đá và vách đá cao chót vót, có thể thấy những rãnh đất trũng dài giống như chiến hào ở khắp nơi. Lúc này, Ngô Sĩ Thịnh lại nhìn thấy bóng người vụt qua, liền vội vàng hét lớn.
“Này! Chờ tôi với!”
Nhưng bóng người đó không ngoảnh đầu. Ngô Sĩ Thịnh lập tức vắt chân lên cổ chạy.
Gã nắm lấy cành đỗ quyên, gồng hết sức lực trèo lên con dốc cao đầy sỏi đá, một con dốc do những phiến đá lớn xếp thành hiện ra.
Khắp nơi đều là dấu vết của người, nhưng sao lại chẳng gặp được một ai!
Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy rất chán nản. Gã trèo qua bờ bao và đá vụn, nhảy lên một bậc đá, suýt nữa vấp phải cành đỗ quyên từ trong khe đá đâm ra. Lại đi thêm một đoạn dốc nữa, bỗng có một mùi thối rữa bay đến.
Thối quá!
Ngô Sĩ Thịnh bịt mũi và miệng, nhưng mùi thối thực sự quá nồng nặc, khiến gã liên tục nôn ra nước chua.
Vốn dĩ gã muốn đi quách cho xong, nhưng nghĩ thế nào cũng cảm thấy bất thường, đành lần theo mùi đến bên một rãnh nước bằng đá phiến dài khoảng 2 mét. Một người đàn ông mặc áo khoác xanh nước biển nằm sõng soài giữa hai phiến đá, nước xác vàng đậm đặc sệt đọng trong rãnh nước, chầm chậm chảy xuôi dòng.
Ngô Sĩ Thịnh không nhịn nổi nữa, nôn đầy ra đất. Dịch vị trắng nhạt bốc mùi chua lòm, hòa trộn với mùi chua của xác chết thối rữa, càng khiến gã khó mà chịu nổi.
Ngô Sĩ Thịnh muốn rời khỏi đây càng sớm càng tốt, nhưng gã đã nhìn thấy chiếc ba lô leo núi ở trên lưng xác chết. Gã tự an nhủ, nếu không thử kiểm tra xem có đồ ăn trong đó hay không thì tối đói bụng chắc chắn sẽ hối hận.
Thế là gã đeo găng tay bồng, cẩn thận kéo khóa ba lô, sau đó lấy từng thứ một bên trong ra.
Ngoài lương thực, còn có bản đồ, bếp ga, dụng cụ nấu nướng, đèn đeo đầu, đài, máy ảnh và túi ngủ. Tuy dùng đồ của người chết có hơi áy náy, nhưng dưới sự đe dọa của cái đói và sự sống còn, Ngô Sĩ Thịnh vẫn lấy. Gã vái ba vái về phía xác chết, sau đó chạy như bay rời khỏi hiện trường.
Tại sao lại chết ở một nơi như thế?
Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy rất khó hiểu. Rõ ràng thức ăn đầy đủ, nhìn cũng không có dấu vết gì giống như bị dã thú tấn công, thế mà lại chết như vậy. Huống hồ, một người đàn ông to lớn nằm ngã trong con mương rộng chỉ khoảng 25 xen ti mét, không chỉ địa điểm kỳ lạ, mà kể cả bất cẩn ngã vào, chắc cũng không đến mức bị ba lô đề cho không bò dậy được chứ?
Ngô Sĩ Thịnh ăn cá ngừ đóng hộp vừa đoạt được, đồng thời suy nghĩ về những việc này.
Có lẽ nào mình cũng...
Tận mắt chứng kiến cái chết, Ngô Sĩ Thịnh không khỏi nghĩ đến việc mình có thể sẽ gặp phải thảm cảnh tương tự. Gã lấy bản đồ ra, nói gì thì cũng phải tìm được một con đường ra khỏi núi. Hôm qua là do điện thoại mất sóng, không có bản đồ để tham chiếu nên mới lạc đường; giờ có bản đồ rồi, nhất định có thể ra khỏi đây.
Đây là một tấm bản đồ đường đi theo chiều dọc của quần thể núi Ngọc Sơn với tỷ lệ xích là 1:25000, phía dưới còn có biểu đồ chênh lệch độ cao của ngọn chính, ngọn Nam, ngọn Đông Ngọc Sơn và núi Nam Ngọc Sơn. Nhìn bản đồ, Ngô Sĩ Thịnh nhận định rằng, sau khi rơi xuống ngọn Tây, chắc chắn gã đã đi một mạch theo hướng ngọn Bắc thì mới không gặp được thôn xóm và khu dân cư nào cả.
Trên bản đồ, gã nhanh chóng tìm ra vị trí ngờ là thảo nguyên ban nãy, tức đại thảo nguyên Bát Thông Quan; sau đó, từ dòng suối đã băng qua, gã đoán chắc mình đã đến bờ Nam của chi lưu sống Lão Nùng, chỉ cần đi thêm một đoạn về phía Đông nữa là có thể đến được Sơn ốc Ba Nại Y Khắc. Bình thường đó là nơi cắm trại của khách leo núi, nhất định có thể tìm được người đưa gã ra khỏi núi.
Ngô Sĩ Thịnh luồn dưới các bậc đá tránh đất đá sạt lở, sau đó cẩn thận đi xuống dốc. Gã trèo qua một thân cây thông hai lá to lớn, đi hình zigzag men theo lối đi hiện lên rõ rệt, và đi xuống qua vô số bậc đá. Sau khi băng qua lạch nước, gã đến một vách đá có nước chảy. Từ trên cao nhất nhìn xuống, có thể bao quát cả lòng sông Lão Nùng.
Sau khi vượt qua một vũng bùn và một con suối ngắn, dựa theo phương hướng trên bản đồ, Ngô Sĩ Thịnh đi về phía sườn dốc ở hướng thượng nguồn, tiến vào rừng thông, vì mặt đất cực kỳ trơn trượt nên lại tốn không ít thể lực.
Trời lại tối nữa rồi.
Ngô Sĩ Thịnh nhìn đồng hồ trên điện thoại, mới nhận ra đã sắp đến thời điểm mặt trời xuống núi. Gã vội vàng tăng tốc, cuối cùng cũng đến được mé Đông lên núi của Bát Thông Quan, chịu trăm đắng nghìn cay vượt qua sống núi, tìm thấy sơn ốc Ba Nại Y Khắc.
Hả?
Sau khi tận mắt nhìn thấy sơn ốc Ba Nại Y Khắc, Ngô Sĩ Thịnh không khỏi thất vọng.
Đây mà cũng coi là sơn ốc ư?
Sơn ốc Ba Nại Y Khắc trước mặt chỉ là một căn nhà tôn tồi tàn cũ kỹ, tường ngoài được quét sơn màu vàng lạc đà, còn có hình graffiti. Không có cửa, lối ra vào mở toang, nhìn là biết không có ai ở bên trong.
Đi qua sạn đạo ở trên con lạch, Ngô Sĩ Thịnh thò đầu vào trong sơn ốc.
Quả nhiên không có ai.
Trong nhà vô cùng bẩn thỉu và bừa bộn, hơn nữa mùi thối bốc lên nồng nặc, không khéo còn có du khách đại tiểu tiện trực tiếp lên sàn. Ván gỗ, can xăng, cục gỗ và vải bạt xanh trắng vương vãi khắp nơi, trên tường chỗ nào cũng có dấu vết vá víu, ánh nắng xuyên qua mái nhà thủng lỗ chỗ...
Rốt cuộc đây là sơn ốc kiểu gì vậy?
Ngô Sĩ Thịnh phải chịu trăm đắng nghìn cay mới tìm được sơn ốc, nhưng lại không thể ở nổi. Sơn ốc trong tưởng tượng của gã là một căn nhà gỗ nhỏ trong rừng, Có điện và nước máy, có thể nằm trên chiếc giường màu rắng để nghỉ ngơi.
Gay go hơn là, ở đây vẫn không có sóng, mà pin chỉ còn mười ba phần trăm, đã chuyển sang cảnh báo màu đỏ.
“Mẹ kiếp! Đệch!”
Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy mình bị đùa bỡn, không nhịn nổi chửi đổng.
Tối nay phải qua đêm ở một nơi như thế này sao...? Niềm an ủi duy nhất của gã là đêm nay cuối cùng cũng có túi ngủ để giữ ấm. Tuy gã không phải dạng người sợ lạnh, nhưng chỉ dựa vào một chiếc áo khoác mỏng tá túc trong núi, gió lạnh thổi cả đêm thì vẫn khá chật vật đối với một cơ thể đã bước sang tuổi trung niên.
Hình như hôm nay còn lạnh hơn hôm qua...
Bản đồ đường cổ Bát Thông Quan
(đoạn từ Đông Phố đến Đại Thủy Quật)

Bầu trời đã biến thành màu tím gần như mực, một bức màn mây ti mỏng giăng kín cả đường chân trời, tầng mây dường như dày dần rồi sà xuống, tạo thành hình dạng giống như thấu kính, xung quanh mặt trăng bắt đầu có quầng rồi tối sẫm dần, trông có vẻ như mưa núi sắp ập xuống. Ngô Sĩ Thịnh nghĩ bụng chắc không thể mạo hiểm đi tiếp trong núi nữa rồi.
Sơn ốc dù rách nát đến đâu thì chung quy vẫn có thể che gió. Ngô Sĩ Thịnh đá cục gỗ và can xăng ra, để chừa một khoảng trống, sau đó trải túi ngủ, chắp tay vái túi ngủ ba vái, rồi vội vàng chui vào trong. Gã chỉ muốn nhanh chóng đánh một giấc đến sáng trong chiếc túi ngủ ấm áp. Không biết đã bao nhiêu lần gã tự nhủ, ngày mai nhất định phải xuống núi.
8 giờ tối là lúc mưa to nhất, nước mưa ào ạt trút từ lỗ thủng trên mái xuống, như vòi nước xả thẳng vào nhà. Ngô Sĩ Thịnh bị tiếng gió thổi quật tấm chắn đánh thức, tỉnh dậy gã mới phát hiện nửa dưới túi ngủ đã ngâm trong nước đọng, chân buốt đến mức sắp mất cảm giác, chỉ có thể lờ mờ cảm thấy đau nhói râm ran.
Ngô Sĩ Thịnh vội vàng chui ra khỏi túi ngủ, cởi giày tất, sau đó mới giật mình nhận ra ngón chân đã hơi bị bỏng lạnh, sưng lên như xúc xích, còn lốm đốm những mảng màu xanh tím đáng sợ.
Chạm nhẹ một cái, cảm giác đau buốt truyền đến làm gã sợ đến mức vội vàng vắt kiệt đôi tất, sau đó đi vào, hy vọng hơi ấm của tất sẽ giúp ngón chân hồi phục. Nhưng khi định xỏ giày lại thì bị vướng ngón chân sưng tấy, gã đành nghiến răng, gắng gượng nhét chân vào trong giày.
Hự! Hự!
Ngô Sĩ Thịnh đau đến mức không kìm nổi tiếng kêu, vừa nằm rên rỉ, vừa đợi cơ thể quen dần với cơn đau.
Cuối cùng cơn đau cũng dần qua đi, đúng vào lúc gã buông lơi cảnh giác, chuẩn bị thở phào một hơi thì...
Gã nhìn thấy Minako trong bộ kimono màu nâu đứng ở cửa sơn ốc, nhìn gã chằm chằm.
Lần này, Ngô Sĩ Thịnh rất chắc chắn rằng “thứ” đang đứng trước mặt mình không phải là người, vì nước mưa rơi lên người cô ta không hề bị bắn ra.
Vả lại, lần này Minako không cho người ta cảm giác vô hại giống như lần trước. Gã dường như có thể nhìn thấy một quầng sáng đen tà ác rừng rực sau lưng Minako này. Cảm giác đè nén kinh khủng khiến Ngô Sĩ Thịnh không dám thở mạnh.
Đó là?!
Gã thấy đầu Minako bắt đầu chuyển động.
Không, không chỉ vậy! Cơ thể của cô ta cũng chuyển động đồng bộ!
Vừa rồi là... Hóa ra vừa rồi là phía sau lưng của cô ta! Bây giờ mới là chính diện!
Bây giờ đầu và thân của Minako đều xoay lại một trăm tám mươi độ, ngược hoàn toàn so với ban nãy. Cô ta nhoài về phía trước, hai chân hai tay vặn vẹo như côn trùng, nhanh chóng bò qua chỗ Ngô Sĩ Thịnh.
Cô ta có khuôn mặt trắng bệch dị thường, cằm hướng lên trên, khoang miệng sâu hoắm há ra, đôi mắt không thấy đồng tử nhìn trừng trừng từ dưới lên trên, mái tóc đen nhánh quét trên mặt đất phát ra tiếng sột soạt chói tai.
Ngô Sĩ Thịnh đành phải mặc kệ cái chân bị bỏng lạnh, bật dậy nhảy lùi mấy bước.
Nhưng sơn ốc chỉ có một lối ra vào. Ngô Sĩ Thịnh chỉ còn cách đối đầu với Minako có thân hình giống như bọ xít, qua cột nước đang trút thẳng từ lỗ thủng trên mái nhà xuống.
Bỗng nhiên, gã nhớ ra nguyên nhân khiến Minako không thể lại gần mình.
Lá bùa đó!
Gã thò tay vào túi áo khoác, sờ tờ giấy thô ráp, tạm thở phào một hơi.
May mà gã mang theo bên mình, nếu để trong ba lô, e rằng giờ đã bị con quái vật đó giết rồi!
Ngô Sĩ Thịnh ép sát vào vách, miếng gỗ chắp vá trên vách tường sơn ốc cào rách áo khoác của gã. Khi gã di chuyển, Minako cũng vặn vẹo thân thể theo, đờ đẫn dán mắt vào gã.
Giờ đây cửa đã ở ngay trước mắt, không có bất cứ chướng ngại vật nào cản trở gã.
Sau đó, chỉ cần nắm bắt thời cơ, chạy thẳng một mạch. Ngô Sĩ Thịnh bật người giống như lò xo, vươn tay trái vơ lấy ba lô gần cửa, chạy vọt ra khỏi sơn ốc. Trong khoảnh khắc gắng sức, ngón chân lập tức truyền lên một cơn đau như xé, nhưng gã mặc kệ, liều mạng chạy qua sạn đạo trên con lạch.
Bên ngoài sấm sét đì đùng, mưa lớn xối lên người gã, làm gã ướt đẫm toàn thân chỉ trong vài giây. Gã chui vào trong rừng rậm, lê bước chạy tán loạn khắp nơi, sau đó vấp chân một cái, ngã lên một bình đài có bờ bao, lòng bàn tay bị cành cây nhỏ đâm vào.
“A! Đệch!”
Ngô Sĩ Thịnh chửi thề trong đau đớn. Thấy lòng bàn tay hơi rỉ máu, gã không cả dám nhổ cành cây ra.
"A! A... A! A!”
Gã vừa ra sức thở dốc, vừa bước qua bờ bao tiếp tục đi về phía trước.
Mẹ kiếp! Tiếp theo phải làm thế nào đây!
Ngô Sĩ Thịnh nhớ lại lời đạo cô đó nói, dưới sự bảo vệ của bùa chú, tạm thời Minako không giết được gã, nhưng pháp lực hộ thân này chỉ duy trì được một tuần, nay đã lạc đường trong núi ba ngày, trừ thêm một ngày chuẩn bị lên núi nữa, cũng tức là, nếu không có cách nào ra khỏi ngọn núi này sau ba ngày, gã sẽ bị Minako giết chết, dần dần thối rữa trong núi hoang đèo vắng giống người đàn ông kia.
Trong tay không có đèn pin, rừng cây và cơn mưa cũng che khuất mọi nguồn sáng. Gió dữ cuốn lá rụng và cành khô trên mặt đất bay qua bay lại, những cành cây trường vĩ trông như cánh tay quỷ múa tán loạn trên không trung. Ngô Sĩ Thịnh co ro rúc vào giữa một thân cây và tấm bia đá tránh gió mưa, toàn thân không ngừng run rẩy.
Đột nhiên, một chai rượu bị gió thổi tới, va vào bia đá, phát ra tiếng “choang” giòn tan, khiến Ngô Sĩ Thịnh sợ giật nẩy mình. Gã lấy lại bình tĩnh rất nhanh, nhưng ngay sau đó lại phát hiện trên hòn “đá” mà gã dựa lưng có lỗ hổng. Cầm lên xem, hóa ra là đầu lâu một con nai!
“Cái đệch!”
Cánh tay Ngô Sĩ Thịnh rụt phắt lại trong chớp mắt, chiếc đầu lâu bay ra.
Đây là chỗ quái quỷ gì vậy?
Ngực gã phập phồng dữ dội, xương sườn đau như muốn nứt ra. Sau cơn kinh hãi vừa rồi, gã có vẻ bị đau sốc hông.
Mẹ kiếp... Mẹ kiếp!
Ngô Sĩ Thịnh đút tay vào túi áo khoác để giữ ấm, sau đó mới phát hiện lá bùa đã bị ướt. Hơn nữa...
Rách rồi?!
Một luồng điện từ háng xộc lên, nước tiểu phun ra không kiềm chế nổi.
Rách rồi... Rách rồi...
Gã không dám lấy lá bùa ra để tận mắt xác nhận sự thực là nó đã bị rách, nhưng đồng thời gã cũng thừa biết, lá bùa hộ thân đã mất tác dụng rồi.
Gần như cùng lúc đó, Ngô Sĩ Thịnh liếc thấy một khối sương mù lớn màu trắng đục tuôn ra từ cánh rừng bên phải.
Sương mù càng lúc càng gần, dường như có hình thể và đường nét. Đến khi chỉ còn cách chưa đầy mười mét, những hình thể đó không còn là khối khí liên kết chặt chẽ với nhau nữa, mà là từng cơ thể độc lập...
Đó là... tay?
Cơ thể được hình thành từ sương mù trắng, trên người dường như còn mặc đồng phục, trông giống một đám lính bị mất đầu. Chỉ thấy họ giơ tay, như thể đang dán con mắt không tồn tại vào ống ngắm của khẩu súng trong tay, điên cuồng bắn quét một khối sương mù khác ở đằng trước.
Khối sương mù kia di chuyển còn nhanh hơn, kín đáo hơn. Ngô Sĩ Thịnh chớp mắt cật lực vài lần để xác nhận là mình không nhìn lầm. Sương mù bắt đầu tản ra khắp nơi thành vài luồng khí, lẩn trốn rất nhanh trong rừng cây, rồi xuyên phá đội hình địch bằng tốc độ mà mắt người không thể theo kịp. Những người lính bắt đầu ngã xuống từng người một, Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy mình bắt đầu nghe thấy tiếng than khóc...
Đó là?
Vì có xem phim nên Ngô Sĩ Thịnh cũng biết về sự kiện Vụ Xã, dường như một trận chiến đẫm máu tương tự đang được trình diễn trước mắt gã. Không lâu sau, những người lính không đầu bị tiêu diệt, nhưng khối sương trắng kia cũng trở nên khá thưa thớt, gần như không thể nhìn thấy. Trong thoáng chốc, Ngô Sĩ Thịnh để ý thấy có vết chữ khắc trên mặt sau tấm bia đá mà gã đang ôm. Gã lấy đầu ngón tay chạm vào những rãnh lõm đó, không lâu sau lại kinh ngạc thả tay ra, ngã ngửa về đằng sau nằm lên thân cây dưới chân.
“Nơi chết trận ư?”
Ngô Sĩ Thịnh cảm nhận được hạ bộ của mình lại rỉ nước tiểu. Gã không muốn ở lại nơi ẩm thấp này thêm một giây nào nữa, nhưng đồng thời, gã cũng không biết mình phải làm thế nào thì mới có thể ra khỏi vùng núi rừng ma quái rộng lớn không thấy mặt trời này.
Gã đội đèn đeo đầu, đi xuyên rừng cây theo sự chỉ dẫn của la bàn. Chỉ có điều, rõ ràng luôn đi về hướng Tây, nhưng lại liên tục đi qua những khung cảnh na ná nhau, như thể đang đi lòng vòng giữa những cái mương và bờ bao giống nhau, hết cái này đến cái khác, kể cả muốn quay lại sơn ốc cũng hết cách. Bất kể đi như thế nào thì nhìn đâu cũng thấy những rừng cây u ám giống hệt, hoàn toàn không có manh mối để nhận ra chỉ dẫn trên bản đồ. Dù ngẩng đầu, định tìm đường dựa vào vị trí của trăng và sao, gã cũng chỉ có thể nhìn thấy một chút ánh sáng le lói qua kẽ hở của tán lá mà thôi.
Ngô Sĩ Thịnh lấy điện thoại ra trong tuyệt vọng. Tuy vẫn còn một chút pin, nhưng vẫn không bắt được sóng.
Thật sự... phải chết ở đây sao?
Gã suy sụp tinh thần, ngồi lên đống lá rụng trong rừng, cúi đầu.
Tôi không muốn chết...
Còn có cách nào khác không?
Dù không chết đói ở trong núi thì sợ là cũng sẽ bị Minako giết chết...
Ngô Sĩ Thịnh lấy máy ghi âm cát xét của Từ Hán Cường từ trong ba lô ra, nhìn nó rất lâu rồi mới quyết định xóa đoạn ghi âm của Từ Hán Cường, ghi lại lời trăng trối của mình trước khi chết.
“Tôi, tôi là Ngô Sĩ Thịnh... Tôi sống ở khu Bắc Đầu thành phố Đài Bắc...”
“Nếu tôi chết... thi thể thối rữa... xin hãy giúp tôi hỏa táng - tôi không muốn bị giòi bọ ăn...”
“Tiếp theo, chú út, cô hai... cả bố nữa - tôi, tôi yêu mọi người...”
“Nếu tìm thấy cô ba thì nhớ đến thắp hương trước linh vị tôi, nói, nói với tôi...”
Ngô Sĩ Thịnh không kìm lòng được, nghẹn ngào không thành tiếng. Gã ấn nút dừng, nhét máy ghi âm vào túi áo khoác, để tránh trường hợp ba lô bị người khác lấy đi hoặc dã thú tha mất, máy ghi âm cũng mất tích theo.
Gã nằm trên rễ cây to lớn, vứt bản đồ lên trên ba lô, vô thức nắm lấy mắt cá chân trong bóng tối, vì dường như mắt cá chân bị côn trùng cắn, ngứa râm ran. Sau đó, gã để ý thấy mặt sau bản đồ hình như viết đầy những chữ xiêu xiêu vẹo vẹo.
Hả?
Ngô Sĩ Thịnh cầm bản đồ lên, bật đèn đeo đầu. Nét chữ vô cùng lộn xộn, hơn nữa còn lẫn lộn với nhau, không có thứ tự nào cả. Một số chỗ thậm chí còn không nhìn ra là nét móc hay là nét chấm, nhưng gã vẫn kiên nhẫn luận từng chữ một.
“Giọng nói... không ở đây... Trúng kế? Nghĩa là gì?”
Tuy không hiểu đoạn mở đầu này có ý nghĩa gì, nhưng càng đọc Ngô Sĩ Thịnh càng cảm thấy quen thuộc, như thể đã đọc được nội dung tương tự ở đâu đó...
"A!”
Không. Không phải là nội dung tương tự.
Là nét chữ tương tự!
Cách chuyển bút giống nhau, nét móc giống nhau, chúng đã xuất hiện trên tấm bưu thiếp A Lý Sơn đó.
Đây là... chữ của Từ Hán Cường?!
Cũng tức là... thi thể người đàn ông thối rữa đến mức chảy ra nước xác đó...
“Từ Hán Cường! Đó là Từ Hán Cường!”
Ngô Sĩ Thịnh không kìm được kinh ngạc kêu lên dưới tán rừng không một bóng người.
En*joy y*our re*ading.
Quách Thần San đỗ xe bên lề đường, lấy một tờ giấy nhớ từ trong túi Birkin, bên trên có ghi cách làm thế nào để tìm được pháp sư Hồng Lô Địa. Dựa vào mô tả của Hoàng Tú Cầm, chị bắt đầu leo lên dốc.
“Từ đường nhỏ đi lên chừng 50 mét, sẽ thấy một xưởng lốp xe...”
Chị vừa lẩm bẩm, vừa quan sát kỹ cảnh vật xung quanh.
“A, đây rồi.”
Quách Thần San rẽ trái ở chỗ biển hiệu “Kim loại tấm. Sơn sấy”, con đường càng dốc hơn, trinh bằng ba mũi mọc đầy trên bức tường gạch dọc đường, có mùi thảo dược hăng hắc từ phía trước bay đến.
Cuối cùng, chị lần theo mùi hương tìm được một căn nhà chỉ có hai tầng.
Nhìn căn nhà thấp bé trước mặt, Quách Thần San không khỏi nhíu mày. Thậm chí chị còn nghi ngờ căn nhà này là một công trình xây dựng trái phép, nên chiều cao mỗi tầng mới thấp như vậy.
Trước nền xi măng ngoài cửa, có rất nhiều các bà các cô trạc tuổi chị đang quỳ trên đệm tròn, miệng lầm rầm cầu khấn, dập đầu nhịp nhàng, lâu lâu lại có tiếng trầm đục vang lên.
Vài người chú ý đến Quách Thần San, nhìn trang phục trên người chị với ánh mắt đố kỵ. Nhưng Quách Thần San chẳng bận tâm. Chị đi đến trước thạch cảm đương ngoài cửa, nhẹ nhàng gõ đốt ngón tay lên trên tường gỗ “cộc, cộc” hai tiếng, rồi tự ý bước vào trong nhà.
Tất cả cửa sổ trong nhà đều được kéo rèm, tối đến mức xòe tay không thấy năm ngón. Chị yên lặng đợi ánh sáng xanh lục trong tầm mắt biến mất, đến khi mắt đã thích nghi với bóng tối, mới tiếp tục đi sâu vào trong.
Hành lang dẫn đến sảnh sâu hun hút, hai bên tường treo đầy những gương bát quái, sơn hải trấn và bùa chú phức tạp. Trên sàn nhà chất đống nhang, chuông lắc và những đạo cụ thần phật khác mà chị từng thấy nhưng không biết tên gọi. Cuối hành lang chính là sảnh đường, bên trong không có ai, bên trái kê một chiếc bàn thờ, vài chục chiếc ghế nhựa được xếp thành chín hàng chín cột, gần như không có chỗ trống cho người đứng hoặc đi qua.
“Chị chính là chị Quách đã gọi điện trước phải không?”
Quách Thần San nghe thấy tiếng liền quay đầu. Một đạo cô mặc áo dài đen bước ra, thoạt nhìn, Quách Thần San cảm thấy cô ta có vẻ hơi giống chưởng môn phái Nga Mi trong tiểu thuyết võ hiệp. Mắt của cô ta lồi ra thô lỗ, đỉnh đầu lởm chởm đâm ra ít chân tóc to và ngắn, hai bên má không biết là dính nước bọt hay chất nhầy gì đó, có mùi chua xộc vào mũi.
Đây là đại sư đó ư?
“Vâng.”
Đạo cô vừa quan sát quần áo và túi xách của Quách Thần San từ trên xuống dưới, vừa nhe hàm răng ố vàng nói:
“Chỗ chúng tôi có thu phí, bạn của chị nói với chị rồi chứ?”
“Vâng.”
Quách Thần San rút một chiếc phong bì dày khoảng ba phân từ trong túi Birkin ra, đưa cho đạo cô. Đạo cô đó không giấu nổi vẻ mừng rỡ, lập tức cầm lấy đút vào trong ngực.
“À, chị Quách này, hôm nay chị đến là muốn tôi giúp vấn đề gì thế?”
Quách Thần San trầm ngâm một lúc rồi mới chậm rãi đáp:
“Tôi muốn con đàn bà ấy chết.”
Tuy đây là một yêu cầu nghe rợn cả người, nhưng đạo cô không hề tỏ ra kinh ngạc. Trái lại cô ta còn mỉm cười, vỗ vai Quách Thần San, nhỏ giọng:
“Vậy... chị muốn cô ta chết như thế nào?”
Quách Thần San cảm thấy kinh ngạc, bất giác hé miệng.
“Chết như thế nào ư? Ý cô là gì?... Tôi không hiểu.”
“Thì sẽ đúng như những gì chị muốn. Chỉ cần có ma con giúp đỡ, chị muốn cô ta chết thế nào cũng đều được cả.”
“Cách... bình thường nhất thì sao?”
Đạo cô nhíu mày, tỏ vẻ đáng tiếc.
“Chỉ cần cách bình thường thôi sao? Có chết treo cổ, chết đuối, chết cháy, ngã chết, tông chết... còn có cưỡng hiếp chết nữa. Đại đa số mọi người đều chọn cách cưỡng hiếp chết, dù chị muốn xử lý như thế nào thì chi phí đều như nhau cả.”
“Cưỡng hiếp chết?!”
“Phải, hạng cướp chồng người ta bị ma cưỡng hiếp chết, âu cũng là hình phạt thích đáng.”
Quách Thần San đột nhiên cảm thấy ngực hơi khó chịu, bắt đầu sợ hãi.
“Làm vậy liệu có... tàn nhẫn quá không?”
“Chị chưa nghe câu này sao? Nhân từ với kẻ địch là tàn nhẫn với chính mình. Nhà Phật cũng nói: “Từ bi sinh họa hại, tiện lợi thành đê hèn, chị cứ nghĩ cho kỹ rồi hãy quyết định.”
“Lúc nào có thể hoàn thành giúp tôi?”
“Việc này phải thực hiện vào năm âm tháng âm ngày âm. Thật may cho chị, năm sau vừa khéo là năm Đinh Dậu, ngày gần nhất...” Đạo cô bấm đốt ngón tay tính: “Là mùng tám tháng Một. Sắp đến rồi.”
“Tốt.”
“Sau khi nuôi được ma con, chị có thể đốt bùa đưa cho nó, để nó đi làm chuyện chị muốn làm, nhưng lại không muốn bẩn tay.”
“Được rồi, đừng nói mấy chuyện đáng sợ ấy nữa. Tiếp theo tôi cần phải làm gì?”
“Mời chị theo tôi.”
Đạo Cô dẫn Quách Thần San đi vào một căn phòng nhỏ ở bên trái hành lang. Giữa phòng đặt một chiếc kiệu, đạo cô đứng lên ghế đẩu thấp, nhoài người bên cạnh chiếc lò cao trên ghế hiệu thần, lấy bật lửa thắp ba nén hương to bằng ngón tay cái.
Chỉ thấy đạo cô vịn vào cánh tay đòn bên phải kiệu thần, dùng ngón giữa và ngón trỏ kẹp vàng mã, châm lửa, vung vẩy loạn xạ trong không trung, như thể đang vẽ một loại bùa chú nào đó trên không.
“Chiêu thỉnh thần minh, thần giáng!”
Sau đó, cơ thể của đạo cô bắt đầu lắc lư từ trước ra sau, mùi chua trên người cô ta tỏa ra xung quanh, khiến Quách Thần San không chịu nổi phải bịt mũi lại. Đạo cô vươn tay phải, rút ra một cành đào từ trong ngăn kéo bàn gỗ ở bên cạnh, sau đó viết những chữ bói như rồng rắn lẫn lộn lên đống gạo trên mâm gỗ. Sau khi viết xong, đạo cô đó bình tĩnh trở lại, lấy một tờ giấy vàng, chép lại chúng làm bùa chú.
“Tìm một chiếc áo mà chồng chị thường mặc nhất, dán lá bùa này lên ngực áo, sau đó giấu ở nơi mà anh ta không thể tìm được. Như vậy, anh ta sẽ mãi mãi không rời bỏ chị.”
Quách Thần San nhận lấy lá bùa, khẽ gật đầu.
“Có chuyện này.”
“Chị cứ nói.”
“Cái việc nuôi ma con đó, nghe bạn tôi bảo, phải lấy máu tươi của mình cho nó ăn... đúng không?”
“Đương nhiên. Nếu không sao gọi là ‘nuôi’ ma con.”
Nói xong đạo cô liền bật cười. Tiếng cười quái dị khiến Quách Thần San nổi da gà khắp người.
“Phải... cho ăn bao lâu.”
“Thông thường vào giờ Tý mỗi đêm, chích một lỗ nhỏ trên đầu ngón tay giữa, chị là phụ nữ, nên phải dùng tay phải, liên tục trong bốn mươi chín ngày, tuyệt đối không được gián đoạn, không thì sẽ bị ma con cắn trả.”
“Cắn trả?!”
“Chúng cũng biết đói bụng mà.”
“Vậy sau bốn mươi chín ngày thì không cần cho ăn nữa phải không?”
“Không phải là không cần cho ăn nữa, mà là đổi sang đồ cúng. Chị Quách, ma con có thể giúp chị làm rất nhiều việc, nhưng chị cũng phải báo đáp mới được, nếu không thì không ăn nói được với những linh hồn trẻ sơ sinh đó đâu.”
“Nhưng, ngộ nhỡ bị cắn trả thật thì sao? Tôi phải làm thế nào?”
“Chỉ cần chị cúng dường cho nó thật tốt, nó sẽ không cắn trả lại chủ nhân của mình đâu. Chị Quách, chị sợ hãi như vậy, có chắc là vẫn muốn nuôi ma con không? Chúng ta còn phải đi tìm đất xác âm để thu thập linh hồn trẻ sơ sinh, chị cứ sợ nọ sợ kia như thế, tôi e là đến lúc đó chị không chuẩn bị tốt tâm lý, sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, nếu ngay cả tôi cũng không thể thu dọn nổi thì gay go đấy.”
Đạo Cô đút hai tay vào ống tay áo, nghiêng đầu, nhìn Quách Thần San với ánh mắt lo lắng.
“Được rồi, tôi biết rồi. Đã đến đây thì nhất định phải làm cho xong việc này. Tôi nhất định phải khiến ả ta chết thật thê thảm.”
“Vậy thì tuần sau chúng ta gặp lại nhé?”
Quách Thần San gật đầu một cách kiên định. Đạo cô tiễn Quách Thần San ra cửa rồi mới quay vào trong nhà.
Quách Thần San nhìn đồng hồ đeo tay, 5 rưỡi, mặt trời đã xuống núi rồi, đường chân trời phía Tây chỉ còn lại chút ráng vàng cam.
Trước nền xi măng vẫn còn không ít các bà các cô đang cúng bái ba quỳ chín lạy, một người phụ nữ đeo băng đô trong số đó cứ trừng mắt nhìn chị. Vẻ mặt của cô ta như xác khô, bộ dạng như muốn ăn tươi nuốt sống Quách Thần San.
Không khí tỏa ra từ căn nhà thấp này hay từ mỗi một người ở đây đều khiến Quách Thần San khiếp sợ, như thể có một đám ma con chuyên được nuôi để giết người đang tụ tập tại đây.
Giọng nói của đạo cô không ngừng vang lên trong đầu, Quách Thần San túm chặt chiếc túi Birkin trước ngực trong vô thức, bước nhanh xuống con đường núi.
* * *
Hồ Duệ Diệc trở về phòng khách sạn, giội qua người rồi chui vào chăn bông.
Chị nằm bên cạnh người chồng đã ngủ say, quyết định lấy điện thoại tra xem hanitu mà bà cụ nói là gì, ấn vào một trong các trang web, vừa đọc vừa phát ra tiếng lẩm bẩm trong vô thức.
“Mình chỉ biết hanitu là tín ngưỡng linh hồn của tộc Bố Nông, không ngờ còn chia ra cả ‘thiện’ và ‘ác’...”
Tín ngưỡng linh hồn, cũng chính là tôn giáo tự nhiên, thường có đặc tính của thuật phù thủy. Hanitu là một loại sức mạnh siêu nhiên, đối lập với sự tồn tại của dihanin . Dihanin tương tự như thần của người Hán, còn Hanitu thì giống ma quỷ của người Hán.
Theo những gì bà cụ mô tả, mashia hanitu ở vai phải là thiện linh, còn makwan hanitu ở vai trái là ác linh.
Người Bố Nông tin rằng, một khi hanitu rời khỏi cơ thể, cơ thể sẽ chết, nói cách khác, người chết rồi thì linh hồn sẽ thoát ra, hóa thành hanitu . Cơ thể sẽ thối rữa, nhưng hanitu sẽ không biến mất, không thể lên thiên đàng mà cũng chẳng xuống được âm phủ, tiếp tục vất vưởng ở trần gian. Khác biệt ở chỗ, lúc ở trong cơ thể thì hanitu là “sinh linh ( mihumis-tu-isang )”, còn sau khi chết đi thì trở thành “tử linh ( mataz-tu-isang )”.
Trang web viết, người Bố Nông cho rằng có ba loại quỷ: “Ca Lạp Tây Lý Tư quỷ ( Kanasilis )”, “Ban Ban Bảo Nạp Nhi quỷ ( Banban-tainga )” và “Nhân quỷ”. Tuy “Ca Lạp Tây Lý Tư quỷ”, “Ban Ban Bảo Nạp Nhi quỷ” đều xuất hiện dưới hình dạng “người”, nhưng con trước thì toàn thân màu xanh lam, con sau thì có một đôi tai to và sừng, thích dụ bắt trẻ con và ăn não của chúng, rõ ràng khác với loại thứ ba. Theo cách nói của bà cụ, Minako hẳn là thuộc loại thứ ba - Nhân quỷ.
Nhân quỷ cũng chia tốt xấu, những người biến thành ác quỷ thường bị giết một cách thảm khốc, hoặc chết vì tai nạn, nên mới ôm oán hận trong lòng, vất vưởng ở nhân gian, dụ dỗ người vô tội vào trong núi hoặc đến bên vách đá để lấy mạng họ. Lúc này chỉ có thể dùng thuật phù thủy để cầu cúng giải trừ thì mới tìm lại được hanitu của mình.
Nhưng Hồ Duệ Diệc nghĩ không thông, theo bài báo trên Nhật nhật tân báo , Minako thực sự đã được cứu, vì không chết nên về lý thuyết không thể biến thành ác quỷ; chỉ có điều, Minako đã không chết, lại còn tắm rửa suối nước nóng để thanh tẩy phá giải lời nguyền rồi, tại sao bà cụ vẫn bảo Cô ta là ma quỷ, bảo hanitu của cô ta bị bố đoạt đi cơ chứ?
Lúc này, người chồng trở mình, quay sang phía Hồ Duệ Diệc. Sau đó, có thể là do cảm nhận được ánh mắt của Hồ Duệ Diệc, chồng chị chỉ ngủ thêm được vài giây, rồi từ từ mở mắt.
“Em về rồi à?”
“Vâng, em muốn hỏi anh một chuyện.”
“Chuyện gì thế?”
“Hồi sáng anh bảo, ông Izanagi gì đó, vì chạy xuống cõi Hoàng Tuyền, gặp phải những thứ chết chóc ô uế, nên đã tiến hành nghi lễ thanh tẩy ở nước Tsukushi gì đó, đúng không?”
“Ừm...”
“Ông ấy gặp phải thứ chết chóc ô uế gì?”
Chồng chị ngáp một cái rồi mới trả lời:
“Vợ của ông ấy là Izanami bị Hỏa thần thiêu chết lúc sinh hạ Hỏa thần. Vì không đành lòng nên Izanagi đã đuổi theo đến cõi Hoàng Tuyền. Vì Izanami bị bỏng nên nhiều lần cảnh cáo Izanagi không được nhìn trộm. Nhưng Izanagi cứ không chịu nghe, mắt thấy khuôn mặt chảy đầy mủ mọc đầy giòi của vợ, liền sợ hãi bỏ chạy.”
“Ồ, sau đó thì sao?”
“Sau đó Izanami cảm thấy mình bị sỉ nhục, giận đến mức phái Yomotsu Shikome và đại quân Bát Lôi Thần đuổi theo Izanagi, kết quả là bị Izanagi đẩy lui. Izanami quyết định đích thân ra tay, khi Izanagi chạy đến một nơi gọi là Yomotsu Hirasaka [*] , ông ấy dằn lòng dùng những tảng đá khổng lồ chặn Izanami lại, hai người đoạn tuyệt từ đây.”
“Chuyện này đúng là hơi đau buồn, nhưng Izanami không chết mà? Sao lại bảo là chết chóc ô uế?”
“Đã đến cõi Hoàng Tuyền rồi, còn không gọi là chết chóc ô uế sao?”
“Cũng phải ha, nhưng cảnh ngộ của Izanami làm em nhớ đến cô gái chết ở Địa Ngục Cốc mà trước đây anh nói.”
“Em nói đến Chiyoko sao? Cũng hơi giống. Chết ở huỳnh tuyền nhiệt độ cao không khác bị thiêu chết là mấy...”
“Hoàng Tuyền á?”
“Huỳnh, huỳnh trong lưu huỳnh ấy. Cơ mà vẫn là từ đồng âm thật. Hơn nữa cách viết Hán tự của lưu huỳnh trong tiếng Nhật, quả thực cũng là chữ hoàng trong màu vàng...”
Là trùng hợp sao?
Hồ Duệ Diệc không khỏi nghĩ thầm, hàng loạt trùng hợp phát hiện ra trong quãng thời gian này, chỉ cần có liên quan đến Minako thì không có chuyện nào thực sự là trùng hợp, mà hẳn có mối liên hệ nào đó chưa nhìn ra. Càng nghĩ về nó, chị càng hết sức quan tâm đến Địa Ngục Cốc, và cả Chiyoko đã chết ở đó nữa.
“Này, anh có thể giúp em một việc được không?”
Chồng chị nhíu mày.
“Việc gì thế? Mỗi lần em hỏi như vậy đều không phải là việc tốt lành gì...”
“Em muốn đi suối nước nóng Lạc Lạc Cốc một chuyến nữa, múc một xô nước suối nóng đem về.”
“Tại sao phải làm việc này?”
“Vì Tư Tư. Tuy em không hoàn toàn tin vào lời nguyền rủa gì đó, nhưng nếu Tư Tư thực sự chết vì em không làm việc này, em sẽ cắn rứt lương tâm cả đời mất.”
“Lấy đâu ra xô múc nước cơ chứ?”
“Cạnh quán ăn có một cửa hàng tạp hóa, hình như đó có bán.”
“Được rồi. Coi như thể dục vậy. Lúc nào xuất phát?”
“Để sáng mai nhé, hôm nay đã đi mệt lắm rồi.”
“Thế giờ em muốn làm gì?”
Ánh mắt của chồng chị thoáng mông lung, có vẻ kỳ lạ.
“Anh muốn làm gì?”
“Em không mang cái đó sao?”
“Không cần đâu, sau khi uống nội tiết tố đã tốt hơn nhiều rồi.”
“Vì vậy?”
“Được rồi. Có còn trẻ nữa đâu mà.”
Nhìn thấy bộ dạng mất kiên nhẫn của Hồ Duệ Diệc, chồng chị cười “khà” một tiếng. Anh bò dậy, chồm lên trên người Hồ Duệ Diệc, bắt đầu vuốt tóc chị.
Thật bất ngờ, Hồ Duệ Diệc cảm thấy thư thái chưa từng có. Lúc mới mãn kinh, không chỉ da dẻ trở nên nhắn nheo, ngay cả âm hộ cũng khô và hẹp lại, hơn nữa có thể do âm đạo đàn hồi kém đi, nên chỉ cần chồng cử động, chị sẽ đau dữ dội. Sau khi uống nội tiết tố theo lời khuyên của bác sĩ, tình hình đã cải thiện đáng kể. Vả lại mãn kinh rồi thì không phải lo chuyện có thai nữa, còn có thể cảm nhận được cảm giác sung sướng khác hẳn hồi trẻ.
Sau cuộc ân ái đã lâu không làm, cả hai chìm vào giấc mộng, hoàn toàn không biết rằng ngoài cửa sổ trời bắt đầu đổ mưa to, ánh chớp trên bầu trời chốc chốc lại chiếu sáng ngọn núi phía xa.
Hồ Duệ Diệc ngủ một mạch đến khoảng 10 giờ thì bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại.
Chị không muốn chui ra khỏi chăn, đành vươn dài tay ra.
Ở đâu nhỉ?
Mò đi mò lại, mãi mới chạm được vào điện thoại, nhưng chị lại bất cẩn làm nó rơi xuống gầm tủ đầu giường.
Rốt cuộc vẫn phải ra khỏi chăn...
Hồ Duệ Diệc ngồi dậy, nhặt điện thoại ở dưới đất lên.
Là số máy lạ.
Chị do dự một lúc rồi mới bắt máy.
"A lô?”
Loa thoại cực kỳ ồn ào, gió mưa bên kia có vẻ rất mạnh, thường xuyên có tiếng lá cây hoặc tiếng mưa đập vào kính.
“Cứu... với... nhanh...”
“Gì cơ? Tôi không nghe rõ! Anh là ai?”
“Cứu... tôi... với... nhanh... lên... Làm ơn...”
Tập trung lắng nghe một lúc lâu, kết quả chỉ nghe rõ được từ “làm ơn”. Chị liền tăng âm lượng, gần như gào lên hỏi lại người đó một lần nữa.
“Rốt cuộc anh là ai? Tôi không nghe rõ!”
Có điều, tiếng ồn bên kia thật sự quá lớn, chẳng nghe rõ gì cả.
“Ai vậy?”
Người chồng bị Hồ Duệ Diệc đánh thức, cất tiếng hỏi.
“Em không biết, có thể là nhầm máy...”
“Vậy thì cúp máy thôi.”
“Ừm.”
Hồ Duệ Diệc chui lại vào trong chăn ấm. Chị bĩu môi, ngay trước khi sắp ấn nút cúp máy, một cảm giác kỳ lạ tụ lại ở đầu ngón tay chị, hình như có gì đó không đúng.
Tại sao... Hình như chị từng nghe thấy giọng nói này rồi...?
Chị nghĩ đi nghĩ lại, nhưng không thể nhớ ra chủ nhân của giọng nói đó là ai.
Hả?
Khoan đã.
Lẽ nào là?!
Hồ Duệ Diệc đột nhiên bật dậy khỏi giường. Chị cầm điện thoại, mở to mắt, trừng trừng nhìn mưa to gió lớn ngoài cửa sổ.
Một dự cảm chẳng lành dấy lên trong lòng chị.
Tha*nk you f*or yo*ur reading.
Qua sự giải mã của Ngô Sĩ Thịnh, cuối cùng thông điệp ở mặt sau tấm bản đồ mà Từ Hán Cường để lại cũng đã rõ được một nửa.
“Hóa ra là vậy.”
Từ Hán Cường kể rằng anh ta nghe thấy giọng nói của một cô bé. Giọng nói của cô bé đó giống như được truyền qua radio, đến từ một nơi rất xa, rất trống trải, chỉ có mình anh ta nghe thấy, còn người khác thì không. Cô bé biết hát một số bài hát tiếng Đài, cũng biết hát vài ca khúc tiếng Nhật, chỉ không biết nói tiếng phổ thông. Nghe ngữ điệu và cách dùng từ của cô bé thì không giống người hiện đại, vì vậy Từ Hán Cường đã từ bỏ việc kiểm tra thính giác, cũng không còn cho rằng trạm phát sóng gần đó bày trò nữa.
Rõ ràng cô bé đó không như những gì Ngô Sĩ Thịnh nghĩ. Cô bé không phải hóa thân của Minako, mà là một bé gái khác, một bé gái biết nói tiếng Đài. Giọng nói xuất hiện chưa được mấy ngày, Từ Hán Cường đã bắt đầu nhìn thấy một số ảo giác, có lúc còn rõ ràng đến mức khiến anh ta không phân biệt nổi đâu mới là thật. Ảo giác này thậm chí còn hại anh thò tay chạm phải cưa tròn trong lúc làm việc, ngón cái tay phải bị cắt đứt lìa.
Theo mô tả của Từ Hán Cường, cô bé đó khoảng mười hai, mười ba tuổi, mặt bị bỏng nghiêm trọng, không thể nhìn rõ ngũ quan, ngay cả mí mắt cũng tan đã chảy. Vì Từ Hán Cường không hiểu tiếng Đài, nên luôn là cô bé đó nói, cô bé dẫn anh ta đến các địa điểm ảo giác, giống như hướng dẫn viên và khách du lịch.
Giai đoạn sau, một cô gái mặc kimono màu nâu tên là “Minako” bắt đầu xuất hiện trong ảo giác. Minako trạc tuổi cô bé đó, nhưng cực kỳ hung ác, lúc nào cũng bóp cổ cô bé, trông như muốn giết cô bé; cô bé đó cũng rất sợ Minako, nên luôn cầu xin Từ Hán Cường bảo vệ mình.
Dần dần, Từ Hán Cường ngày càng không thể phân biệt nổi đâu là ảo giác, đâu là hiện thực. Lúc Từ Hán Cường mở mắt, Minako sẽ bất thình lình gí sát mặt, trừng trừng nhìn anh ta; hoặc là lúc anh ta đánh răng, sẽ nhìn thấy chéo áo của Minako trong gương. Cô ta có thể xuất hiện ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào, dù Từ Hán Cường không sợ ma, nhưng cuối cùng cũng bị cô ta làm cho suy nhược tinh thần.
Từ Hán Cường viết đến đây thì đột nhiên dừng bút, bản đồ giống như bị xoay chín mươi độ, giữa các hàng nhỏ hẹp, anh ta bắt đầu viết về chiếc máy ghi âm cát xét.
Hóa ra, sở dĩ anh ta sử dụng chiếc máy ghi âm cát xét cũ kỹ vì phát hiện ra rằng, khi có người gọi vào điện thoại, ảo giác sẽ gián đoạn đột ngột, cho nên nghi ngờ giọng nói kỳ lạ đó là một loại sóng vô tuyến. Anh ta bèn thử một số cách chặn sóng vô tuyến, chẳng hạn như đội mũ bảo hiểm công trường, mở đài suốt đêm, thậm chí còn lấy băng dính dán điện thoại lên đỉnh đầu. Anh ta cũng nhận thấy rằng, những phương pháp này đặc biệt hiệu quả vào buổi sáng hoặc lúc mưa giông.
Để chứng minh giả thiết của mình, Từ Hán Cường tiến hành ghi âm lúc giọng nói và ảo giác xuất hiện, lý do là muốn thử xem có thể ghi lại giọng nói kỳ lạ mà mình nghe thấy con người khác thì không đó hay không.
Ngô Sĩ Thịnh nhớ, trong cuộn băng ghi âm quả thật xuất hiện những tạp âm như “soạt soạt” và “loẹt xoẹt... loẹt xoẹt...” Nếu nhìn dưới nguyên lý của băng ghi âm, lúc ghi âm, âm thanh được cuộn cảm trong máy ghi âm chuyển hóa thành dòng điện cảm ứng, hình thành từ trường biến thiên. Trên băng từ của cuộn băng có bột từ, khi đi qua đầu từ hình khuyên, bột từ sẽ bị từ hóa, sau đó dựa vào sự thay đổi của từ trường, hình thành “từ dư” có cường độ từ trường và hướng cực từ khác nhau, tiếp đó ghi lại âm thanh.
Nói cách khác, “giọng nói” mà Từ Hán Cường và Quách Tương Oánh nghe thấy, không phải là sóng vô tuyến đơn thuần.
Máy ghi âm không thể ghi lại tín hiệu âm thanh của sóng vô tuyến. “Giọng nói” đó chắc vẫn có tính chất của sóng âm thì mới bị bộ thu âm của máy ghi âm lọc lấy, từ hóa vào băng ghi âm.
Trên đời có thứ như vậy sao?
Đồng thời có cá tính chất của sóng âm lẫn sóng ánh sáng? Nghe có vẻ giống cổng kết nối AV của ti vi, Ngô Sĩ Thịnh nghĩ đùa rằng, không chừng còn chia làm hai đường âm thanh trái, phải [*] . Bất kể nghĩ thế nào, việc này cũng đã vượt quá tầm hiểu biết của Ngô Sĩ Thịnh. Huống hồ, chỉ cần tưởng tượng rằng sau khi chết, linh hồn con người sẽ trải qua phản ứng phân hạch nào đó, chuyển hóa thành một loại sóng hỗn hợp riêng biệt, gã đã cảm thấy khó mà tin nổi.
Tuy nhiên, việc giảm tần suất quấy nhiễu của âm thanh không những không giải quyết được vấn đề mà còn gây ra tác dụng ngược khó tiếp nhận hơn. Minako bắt đầu tấn công Từ Hán Cường thực sự, lần nghiêm trọng nhất là khiến anh ta không rõ rốt cuộc mình đang ở trên dầm thép móng nhà, hay là đang đứng trên giàn giáo cao mười tầng. Nếu không có người bên cạnh thì anh ta đã tan xương nát thịt từ lâu rồi.
Ngô Sĩ Thịnh thầm nghĩ, có lẽ vì Minako là một con ma thực sự tồn tại chăng? Từ chối để cô ta chiếm giữ đại não, tương đương với việc nhổ bỏ ký sinh trùng ra khỏi cơ thể vật chủ, đe dọa nghiêm trọng đến sự sống còn của cô ta.
Nhưng đồng thời, nếu để Minako chiếm giữ não bộ, khống chế năm giác quan và ý nghĩ, thì giống như để một ý thức hệ độc hại khống chế bản thân, một ngày nào đó vật chủ sẽ trở thành con rối của Minako, đánh mất bản thân, tiếp theo sẽ gây nguy hiểm cho người khác. Bất kể chấp nhận hay là không chấp nhận, cuối cùng đều sẽ bị Minako hại chết.
Đọc đến đây, Ngô Sĩ Thịnh không khỏi đau lòng nghĩ đến cái chết của Quách Tương Oánh.
Cô ấy... chính là bị ảo giác của Minako bức tử...
Lẽ nào... không có cách trừ khử Minako sao?
Phương pháp ban đầu Từ Hán Cường chọn là lợi dụng địa hình để diệt tận gốc giọng nói đó. Tuy núi cao không chặn được sóng vô tuyến, nhưng có thể hấp thụ một phần sóng vô tuyến, đặc biệt những nơi có quặng kim loại thì mức độ hấp thu sóng sẽ càng lớn hơn. Thế là anh ta đi khắp các núi ở ngoại ô phía Bắc - những địa danh Ngô Sĩ Thịnh có thể nhận ra chỉ có Dương Minh Sơn, Thập Tứ Khanh Sơn, Sư Cầu Lĩnh, Thổ Khố Nhạc, Trực Đàm Sơn và Tượng Sơn - nhưng rõ ràng là hiệu quả không đáng kể.
Cuối cùng, Từ Hán Cường đến vùng núi A Lý Sơn và Ngọc Sơn, rồi chết tại đây. Theo cách nói của Từ Hán Cường thì là “trúng kế của Minako”, nên mới bị lừa vào trong núi, không ra ngoài được.
Vậy còn mình... có tính là trúng kế của Minako không?
Ngộ nhỡ... không ra được thật...
Ngô Sĩ Thịnh gấp bản đồ lại, cất vào ba lô.
Lúc này mưa cũng ngớt dần, Ngô Sĩ Thịnh cố định đèn đeo đầu, quyết định đi vòng thêm một lần nữa từ nút giao này. Điện thoại vẫn không bắt được sóng, la bàn không ngừng quay loạn xạ đầy khó hiểu. Gã chỉ còn cách cầu trời cho mình có thể đi ra khỏi khu rừng rậm này một cách suôn sẻ.
Gã đi về phía Bắc dọc theo một bờ bao xếp đá hình xương cá, cao chừng 2 mét, cành gãy và cỏ lau rậm rạp bao phủ khắp nơi, đi được vài mét, một bức tường đất nện rộng năm gian hiện ra. Đi vòng qua phía bên kia của bức tường đất nện, suýt nữa thì gã giẫm phải tấm lưới thép gai rách nát rơi trên mặt đất.
Ngô Sĩ Thịnh dừng lại để thở gấp và xoa dịu tâm trạng của mình. Nếu để sợi thép gỉ sét đâm xuyên qua giày, những ngón chân đã bị bỏng lạnh e là sẽ nhiễm trùng, hoại tử hoàn toàn.
Đằng trước hình như có một cây cầu ván, thế là gã đi tiếp, lúc đến gần mới phát hiện cây cầu đã hư hại, đứt gãy, móng gỗ để cố định ván cầu cũng bị ngâm ngập trong nước, như một đống bùn.
Gã toan bỏ ý định sang bờ bên kia thì phát hiện có những mảnh vụn lạnh buốt rơi xuống đỉnh đầu.
Là tuyết?!
Tuy không biết mấy về núi, nhưng nói gì thì nói, Ngô Sĩ Thịnh cũng đã sống trên mảnh đất này mấy chục năm, trong ấn tượng của gã, chương trình thời sự chưa bao giờ đưa tin vùng núi bước vào mùa tuyết hay du khách ngắm tuyết vào tháng Mười một cả. Nhưng khi gã gom những mảnh băng đó lại trong lòng bàn tay thì đúng là vụn hoa tuyết trắng.
Vụn tuyết tiếp xúc với thân nhiệt của Ngô Sĩ Thịnh nhanh chóng tan thành một vũng nước. Gã hất đi, ngẩng đầu lên nhìn, bỗng phát hiện phía trước có một dãy các nhà gỗ một tầng trải dài.
Dãy nhà có khoảng bảy, tám căn, thoạt nhìn thì hơi giống nhà tập thể kiểu Nhật mà bố gã từng nhắc đến.
Chỗ này mà cũng có nhà dân à!
Ống khói của nhà gỗ đang chậm rãi nhả ra khói màu xám đen, Ngô Sĩ Thịnh mừng vui khôn xiết, lập tức lấy dây thừng hướng đạo sinh ra, buộc vào thân cây bên cạnh mương, nắm lấy dây thừng, cẩn thận bước từng bước xuống đến đáy mương.
May mà độ dốc của mương không lớn, hơn nữa nước đọng từ trận mưa lớn trước đó chảy xuống phía dưới rất nhanh, không bị ướt giày một lần nữa. Ngô Sĩ Thịnh sang bờ đối diện một cách suôn sẻ, sau đó bắt đầu leo dốc. Gã dùng cả tay lẫn chân, cộng với sự hỗ trợ của cành cây to mà gã nhặt được, cuối cùng, gã tóm lấy cành cây đu người, leo lên móng phía bên kia của cây cầu ván.
Trong dãy nhà dài, chỉ có căn nhà số 202 ở giữa là sáng đèn. Ngô Sĩ Thịnh lại gần nhìn, phát hiện cạnh cửa có một tấm biển gỗ, bên trên khắc chữ “Matsuda”.
Gã gõ nhẹ mấy cái lên cửa gỗ, không lâu sau, một cô bé ước chừng mới lên cấp hai kéo cánh cửa trượt ra. Cô bé có làn da trắng nõn, miệng nhỏ màu đào, đầu còn búi tóc kiểu shimada đáng yêu, trên người mặc bộ kimono thanh nhã màu nâu nhạt, nhìn tổng thể giống một trái lê mới chín, vô cùng thuần khiết.
Chỗ này mà cũng có một thiếu nữ Nhật Bản xinh đẹp ở ư?!
Ngô Sĩ Thịnh đứng ở cửa, do dự không biết có nên vào nhà hay không, nhưng có vẻ cô bé không biết nói, cứ mở rộng cửa như thể đang đợi Ngô Sĩ Thịnh tự bước vào.
Có lẽ cô bé... cũng nhận ra mình là một người xin trú nhờ chăng?
“Xin lỗi... cháu có thứ gì nóng có thể cho chú ăn không?”
Cô bé nghiêng đầu, như thể đang suy nghĩ.
Sau đó, cô bé gật đầu, lách người vào trong một hành lang dài, để Ngô Sĩ Thịnh ở lại gian nền đất bên ngoài.
Không lâu sau, cô bé lại thò đầu ra, vẫy tay với gã, sau đó lại biến mất trên hành lang.
“Không sao! Chú ở đây ăn một tí là được rồi!”
Ngô Sĩ Thịnh sợ làm bẩn sàn nhà, nên không muốn giẫm lên sàn gỗ sạch sẽ bóng loáng. Nhưng dù gã có kêu to thế nào, cô bé vẫn không đáp lại, cũng chẳng bước ra mời gã nữa.
Cô bé bị điếc à?
Vì tất đã ướt hết cả, hơn nữa nghĩ đến ngón chân bị bỏng lạnh đang sưng tấy, nếu cởi giày ra một lần nữa, có thể sẽ không xỏ vào được, nên Ngô Sĩ Thịnh không dám cởi giày, đành đạp sạch bùn đất trên đế giày thể thao ở gian nền đất, rồi giẫm trực tiếp lên hiên nhà.
Đầu tiên là phòng khách. Cô bé không ở đây, cũng không có người nào khác, bên trong chỉ có một cái bàn sưởi và bốn cái đệm ghế, trong hốc tường có treo tranh cuộn và bài vị tổ tiên, bài trí vô cùng trang nhã.
Ngô Sĩ Thịnh tiếp tục đi vào bên trong hành lang, sau khi qua ba gian phòng, cuối cùng gã cũng nghe thấy tiếng động trong phòng ăn. Gã bước vào, phát hiện cô bé đang tăng lửa cho nồi canh trên bếp lò, mùi thơm xộc vào mũi, Ngô Sĩ Thịnh lập tức cảm thấy được cứu, thậm chí còn cảm động đến mức sắp khóc.
Cô bé bưng ra một bát gỗ, bên trong đựng đầy canh miso nóng hổi.
“Cảm ơn!”
Ngô Sĩ Thịnh thực sự đói không chịu nổi, lập tức bưng lên húp sùm sụp.
Sau đó cô bé lại mang dưa muối và cà tím xào lên, còn lấy bánh ohagi [*] nướng từ trong lò tường ra. Trong lúc Ngô Sĩ Thịnh đang ngấu nghiến tận hưởng bữa ăn, cô bé kéo cửa sổ, khuân một thùng các tông ra. Ngô Sĩ Thịnh nhìn thấy tuyết ngoài cửa sổ bắt đầu tích tụ thành một bãi trắng muốt.
Cửa sổ này có ba lớp cơ à?!
Lớp ngoài cùng là kính, ở giữa có một lớp cửa lưới, trong cùng lại là một lớp kính nữa, thùng các tông được đặt giữa lớp cửa. Cô bé mở thùng, lấy cải bắp, củ cải và nấm trùng nhung từ bên trong ra, thái tất rồi bỏ vào nồi canh trên bếp om.
Đúng là hiếm thấy...
Tuy bên ngoài đang có tuyết rơi, nhưng Ngô Sĩ Thịnh cảm thấy nhiệt độ không thấp lắm, gã không khỏi phỏng đoán kết cấu của cửa sổ, cả phương pháp lợi dụng nhiệt độ thấp tự nhiên để bảo quản rau củ nữa. Song càng nghĩ gã càng cảm thấy không hợp lý.
Xưa nay chưa bao giờ nghe nói Đài Loan có một nơi như vậy...
Ngô Sĩ Thịnh đặt bát canh trong tay xuống, chăm chú nhìn bóng lưng của cô bé...
Kỳ lạ quá...
Dường như có gì đó mắc ở răng, gã bèn dùng đầu lưỡi thăm dò kẽ răng và nhả ra một chiếc gai nhỏ.
Hóa ra là xương cá à...
Có điều, sau khi nhìn kỹ, gã phát hiện trên xương cá có nhánh li ti, nhìn kỹ hơn thì xương cá có khớp, hơn nữa độ dày của hai đầu trước sau lại không đều như xương cá bình thường...
Đây là?!
Cô bé dường như phát hiện ra có sự bất thường, quay người lại, nhìn Ngô Sĩ Thịnh.
Giữa hai người tràn đầy một sự im lặng quái dị.
Không đúng, thật sự có gì đó không đúng...
Đúng lúc đó, một sợi tóc từ trần nhà phất phơ bay xuống, nhẹ nhàng rơi xuống bàn ăn.
Giờ là cái gì đây...
Ngô Sĩ Thịnh từ từ ngẩng đầu lên, trông thấy vật thể màu nâu sẫm đang ở trên trần nhà.
Cơ thể gã dường như đông cứng lại, không thể cử động.
Đó là...
Minako đang bò trên trần nhà, trừng mắt nhìn Ngô Sĩ Thịnh. Đầu của cô ta xoay một trăm tám mươi độ, mái tóc đen nhánh xõa xuống, che đi đôi mắt lôi thô lỗ và khuôn mặt thối rữa.
Sau đó, khuôn mặt của cô bé đang đứng trước nồi canh cũng bắt đầu biến dạng, trắng bệch dần, ánh mắt trống rỗng.
Đó là Minako gã đã nhìn thấy tối qua!
Hóa ra... Có hai Minako sao?!
Các cơ nhỏ của ngón tay có thể cử động trước tiên, những bộ phận cơ thể khác cũng dần hồi phục. Ngô Sĩ Thịnh lập tức đẩy bàn ăn, loạng choạng lao về phía cửa phòng ăn.
Trong thoáng chốc, ảo giác vỡ tan như bong bóng, không có cái gọi là phòng ăn, cũng không có phòng khách và hành lang, ngay cả dãy nhà vốn dĩ cũng không tồn tại. Chỉ là gã bị ảo giác của Minako lừa vào trong một rừng tiễn trúc, lúc gạt thân trúc để chạy trốn, lòng bàn tay, áo khoác và má gã đều bị cứa rách.
Từ đầu đến cuối, thực ra gã chỉ vòng quanh cùng một chỗ!
Ngô Sĩ Thịnh lao đi trong rừng như phát điên, nhiều lần vấp ngã vì rễ cây và đất đá. Đầu gối gã còn bị mảnh thủy tinh của chai rượu vỡ trên mặt đất cứa đứt, phụt máu. Nhưng gã thực sự quá sợ hãi, không dám dừng lại dù chỉ một giây.
Gã tiếp tục chạy sấp ngửa về phía Bắc, đột nhiên phía trước quang đãng hẳn, ngờ rằng có thể không còn đường để đi, gã lập tức giảm tốc độ. Quả nhiên là một rãnh núi, nếu chạy tiếp thì e là thực sự không còn đường quay lại.
Ngô Sĩ Thịnh nhìn quanh một vòng, phát hiện khu vực này đất đá sạt lở rất ghê gớm, trông hơi giống đường rừng bị bỏ hoang, muốn đi tiếp thì chỉ còn lại một con đường đổ nát nguy hiểm vừa đi vừa phải bám xích sắt. Trước tình cảnh không đường nào khác để đi, gã đành phải quay lại khu rừng lần nữa, bắt đầu đánh dấu lên thân cây.
Không xong rồi, không xong rồi, nơi nào trông cũng giống hệt nhau!
Bỗng dưng gã nghĩ đến việc không biết lúc nãy mình ăn phải thứ gì, không khỏi thấy lợm cả giọng. Gã thò ngón tay vào trong miệng, móc ở gần cuống lưỡi để nôn ra hết những thứ trong dạ dày.
Lá cây, bùn, còn có...
Đó là...?!
Nhìn thấy dế mèn, đuôi chuột, thậm chí còn cả phần thân nát bấy của gián núi, Ngô Sĩ Thịnh bỗng chốc hiểu ra. Tưởng rằng trong canh có bỏ thêm cá khô, thực ra lại là cánh dế; xương cá vừa nãy mắc trong kẽ răng, thực ra là chân gián núi; còn bánh ohagi... Gã càng nghĩ càng nôn dữ dội, axit trong dạ dày không ngừng trào lên họng.
Mę kiếp... Mę kiếp...
Tôi sắp chết rồi... sắp chết thật rồi...
Rừng sồi lá hẹp chắn bớt một phần cơn mưa, nhưng mưa lớn vẫn dữ dội, chốc chốc lại có tiếng sấm rền vang khắp cả khe núi. Ngô Sĩ Thịnh ngồi xụi lơ trên một tảng đá lớn phủ đầy rêu, gần đó có dấu vết ngờ là của động vật bới đất, còn có rất nhiều vết mài sừng.
Gã muốn khóc, nhưng lại không khóc nổi.
Nhưng tôi... muốn sống...
Gã vẫn không thể vứt bỏ hoàn toàn khát vọng sinh tôn.
Ngô Sĩ Thịnh lấy máy ghi âm từ túi áo khoác ra, ấn nút ghi âm.
“Tôi muốn về nhà... loẹt xoẹt...”
“Loẹt xoẹt... Tôi muốn sống... Bíp...”
“Bíp... Tôi đói quá.”
Giọng nói của gã bắt đầu nghẹn lại, chuyển thành tiếng khóc.
“... Từ khi bị đuổi việc, từ khi Đình Đình bỏ đi, từ khi cô ấy qua đời...”
Đủ loại cảm xúc phức tạp và đau khổ, thoáng chốc bùng ra trong lồng ngực Ngô Sĩ Thịnh.
“Tại sao?... Loẹt xoẹt... Tại sao tôi chỉ biết trốn tránh...”
“Tại sao phải đợi đến khi một mình chờ chết trong núi thì tôi mới hiểu được...”
“Loẹt xoẹt... Nếu như, nếu như...”
Ngô Sĩ Thịnh nói đến nửa chừng thì ngừng lại.
Khoan đã...
Đó là... ma trơi sao?
Đây là lần đầu tiên gã nhìn thấy ma trơi. Nhất thời, gã quên đi nỗi sợ hãi, chỉ lặng lẽ chăm chú nhìn ma trơi vờn bay trong mưa.
Ngô Sĩ Thịnh lấy điện thoại ra, chỉ còn lại ba phần trăm pin.
Vẫn không có sóng.
Gã bật máy ảnh, ngắm chuẩn ngọn lửa ma trơi trắng xanh, ấn nút chụp.
Giống như vừa hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng, màn hình điện thoại tối sầm, bên trên hiện biểu tượng hết pin.
Ma trơi tiếp tục cháy thêm vài giây nữa, sau đó mới dần và tan biến vào hư vô.
Đây chắc... không phải là ảo giác chứ?
Đúng lúc gã nghĩ như vậy, một ngọn lửa ma trơi khác lại xuất hiện. Có điều, thế lửa lần này mãnh liệt hơn, chập chờn không có quy tắc, như thể định cảnh báo.
Đây là?
Đột nhiên, một tràng tiếng bước chân dồn dập từ khu rừng đằng sau truyền tới. Ngô Sĩ Thịnh ngoái đầu lại nhìn rồi bật dậy theo phản xạ, điên cuồng chạy về hướng khác.
Giây tiếp theo, Minako đã nhảy lên tảng đá mà Ngô Sĩ Thịnh vừa mới ngồi, tóc xổ tung ra, đầu không ngừng xoay tròn, phát ra những tiếng khớp xương cọ xát lách cách.
Eo của cô ta giống như khúc thân của côn trùng, hai tay hai chân lắc lư trước sau nhanh như mô tơ, những nơi cô ta đi qua, lá rụng và cành khô đều bị quét sạch. Khoảng cách giữa cô ta và Ngô Sĩ Thịnh cũng càng lúc càng gần.
Toi rồi...
Lần này, Ngô Sĩ Thịnh cảm nhận được một cách sâu sắc sự khác biệt. Nhất định là pháp lực của đạo cô đã biến mất hoàn toàn, phen này chết thật rồi - Ngoài việc chạy trốn thì đây là ý nghĩ duy nhất của gã.
Gã không dám ngoảnh lại, chỉ muốn chạy đến nơi Có ánh sáng.
Sau khi xuyên qua rừng cây, phía trước là một con dốc đứng um tùm cỏ dại. Mà trên đỉnh dốc lại bất ngờ xuất hiện một dải hàng rào bảo hộ!
Ngô Sĩ Thịnh leo lên dốc, quờ quạng trong bãi cỏ, ngón tay bị cạnh sắc của lá cỏ cứa đứt, chảy máu. Khó khăn lắm mới leo được một nửa, Minako đã đến chân dốc, chỉ còn cách Ngô Sĩ Thịnh chưa đầy 5 mét.
Trong quá trình leo dốc, Ngô Sĩ Thịnh bất cẩn đánh rơi chiếc giày thể thao chân phải, văng trúng mắt của Minako không lệch một chút nào. Nắm bắt thời cơ, Ngô Sĩ Thịnh vừa lăn vừa bò qua hàng rào, đặt chân lên mặt đường nhựa quen thuộc, lê chân phải bị thương nặng, đạp lên thác nước đang chảy ào ào xuống đường cái, tiến về phía ánh đèn đường đằng trước.
Chỉ trong nháy mắt, Minako đã nhảy lên hàng rào bảo hộ, trừng mắt nhìn Ngô Sĩ Thịnh với vẻ dữ tợn. Cô ta giống một con châu chấu nhảy tanh tách, bay qua con đường nhựa, sắp sửa đuổi kịp Ngô Sĩ Thịnh.
Đó là!
Phía sau ngọn đèn đường tiếp theo có một bốt điện thoại!
Ngô Sĩ Thịnh dường như nhìn thấy một tia hy vọng, dùng toàn lực bứt tốc như thi chạy 100 mét.
Gần như chỉ một tích tắc trước khi bị bắt kịp, Ngô Sĩ Thịnh đã lách mình vào trong bốt điện thoại, đóng cửa cái “rầm”, chân đạp vào bức tường bằng nhựa acrylic phía đối diện, lưng chống vào cánh cửa, có chết cũng không để Minako đẩy ra.
Mồ hôi trộn với nước mưa, lăn qua trán, chảy vào mắt Ngô Sĩ Thịnh. Gã sợ đến mức không ngừng nức nở, nước mắt không thể phân biệt được là do vui mừng hay sợ hãi mà tuôn rơi. Minako bắt đầu lùi lại.
Vốn dĩ Ngô Sĩ Thịnh cho rằng mình đã thoát khỏi sự truy sát của Minako, đang định thở phào thì lại phát hiện Minako một lần nữa tăng tốc đâm vào cửa. Nhờ vào lấy đà, lực va đập lần này còn mạnh hơn cả lần trước. Gã cảm thấy toàn bộ không khí trong phổi bị ép ra trong nháy mắt, một cơn đau bất thường bùng phát nơi đầu phổi, và gã bắt đầu ho dữ dội.
Sau vài lần va đập, cánh cửa acrylic xuất hiện một số vết nứt. Tuy nhiên, Minako cũng đã tạm thời buông tha Ngô Sĩ Thịnh, nhảy lên nóc bốt điện thoại, cách tấm sắt, phát ra tiếng “xì... xì...” quái dị.
Ngô Sĩ Thịnh vội vàng nhấc điện thoại lên, nhưng dù điên cuồng bấm số 110 hay 119 thì gã cũng không gọi được mà chẳng biết tại sao. Gã thò tay vào túi quần, nhận ra mình chỉ còn lại ba đồng một đồng. Có điều, gã chẳng quay nổi một số điện thoại nào cả.
Mẹ kiếp... Sao mình lại chẳng nhớ gì cả...
Ngô Sĩ Thịnh hoàn toàn không nhớ nổi số điện thoại của bố hay em trai, chứ đừng nói đến những đồng nghiệp ngày thường chẳng liên lạc. Gã tuyệt vọng cúi người trên máy điện thoại công cộng, cảm thấy mình đã đi đến đường cùng.
Khó khăn lắm... Khó khăn lắm mới...
Lúc này, trên nóc bốn đột nhiên im phắc, bằng trực giác, Ngô Sĩ Thịnh lập tức ngả về phía sau, chặn chắc cánh cửa.
Đôi mắt chằng chịt tia máu của Minako lúc này chỉ cách gã một bức tường acrylic trong suốt.
Mình thật vô dụng...
Gã ngồi trượt xuống, “kèn kẹt”, mông bên phải cảm thấy có vật cứng.
Ngô Sĩ Thịnh thò tay vào túi sau, lấy vật cứng đó ra.
Danh thiếp?
Đây là...
Gã cầm danh thiếp của Hồ Duệ Diệc, bên trên có viết chức danh, địa chỉ email, còn có cả số điện thoại di động.
Ngô Sĩ Thịnh lập tức bật dậy, bỏ toàn bộ tiền lẻ vào trong máy điện thoại, sau đó ấn số của Hồ Duệ Diệc.
“Tút... tút...”
Bắt máy mau lên, mau lên đi!
Làm ơn!
Cuối cùng Hồ Duệ Diệc cũng nghe điện thoại.
"A lô?”
“Cứu tôi! Cứu tôi với! Tôi là Ngô Sĩ Thịnh, trước đây ở bệnh viện! Làm ơn! Mau đến cứu tôi! Tìm người đến! Mau lên! Làm ơn!”
“Gì cơ? Tôi không nghe rõ! Anh là ai?”
“Làm ơn! Xin chị đấy! Tôi là Ngô Sĩ Thịnh! Cái người trong bệnh viện ấy! Vợ tôi! Chị nhớ chứ! Làm ơn! Mau lên... Mau đến cứu tôi! Gọi cảnh sát tới!”
“Rốt cuộc anh là ai? Tôi không nghe rõ!”
“Tôi là Ngô Sĩ Thịnh! Ngô Sĩ Thịnh! Chị từng gặp tôi ở bệnh viện! Làm ơn...
Một giọng nam khác phát ra từ ống nghe, hỏi câu:
“Ai vậy?”
“Em không biết, có thể là nhầm máy...”
“Không! Không phải nhầm máy! Không phải! Xin chị đấy! Làm ơn...”
Hả?
"A lô? A lô? A lô?”
Không còn âm thanh nữa...?
Ngô Sĩ Thịnh ngẩn người trong thoáng chốc. Ống nghe từ trên tay gã rơi xuống.
Làm ơn đừng cúp điện thoại của tôi...
Nhưng đã muộn mất rồi. Hổ Duệ Diệc đã ngắt cuộc gọi. Gã cũng đã cược hết nhẵn chút phỉnh cuối cùng.
Giờ thì kết thúc thật rồi.
Gã thậm chí chẳng còn sức để treo lại ống nghe, ngồi xụi lơ trên sàn bốt điện thoại, nhìn Minako từ trên nóc nhảy xuống.
Dường như Minako lại sắp chạy lùi về sau lấy đà, lần này, cho dù cửa không vỡ, e rằng Ngô Sĩ Thịnh cũng không chống đỡ nổi.
Gã không kìm được mà bắt đầu nức nở, dòng lệ trào ra vành mắt, từ má và lỗ mũi chảy xuống. Gã nhấn nút ghi âm bằng ngón tay run rẩy, vờ như bên cạnh vẫn còn có người nghe gã nói.
“Tôi, tôi... Tôi không muốn chết...”
“Không, không muốn chết...”
“Con gái, con gái của tôi... còn chưa tha thứ cho tôi mà! Cầu xin ông trời!”
Lạch cạch.
Băng ghi âm đã quay đến cuối. Ngô Sĩ Thịnh cầm máy ghi âm, nhắm mắt lại, nước mắt trào ra, lăn dài trên má.
Kết thúc rồi.
Trong khóe mắt của gã, một bóng đen đang đâm vào bốt điện thoại với tốc độ cực nhanh.
Tính mạng của tôi... kết thúc ở đây rồi.
Hả?
Loáng thoáng ở đâu vẫn còn có người nào đó đang nói...
Là điện thoại! Điện thoại vẫn chưa ngắt!
W*e lo*ve eb*ook.
Ngô Sĩ Thịnh dang hai chân ra, trong chốc lát, cơ bắp căng tràn sức mạnh. Một tiếng “bình” lớn vang lên, gã đã chống đỡ được đòn tấn công của Minako. Chỉ là, vết nứt trên cánh cửa acrylic lại càng lớn hơn, sắp vỡ tan đến nơi rồi.
Ngô Sĩ Thịnh lập tức cầm điện thoại lên, hét lớn bằng sức mạnh như nút sữa mẹ.
"A lô!”
“A! Anh là anh Ngô phải không? Anh Ngô Sĩ Thịnh?”
“Phải! Tôi đây! Cầu xin chị! Tìm người đến cứu tôi! Làm ơn!”
“Anh Ngô, anh bình tĩnh lại một chút, giờ anh đang ở đâu? Tôi cần một điểm mốc thì mới có thể báo cảnh sát!”
“Tôi, tôi đang ở trong một bốt điện thoại!”
“Anh còn thừa tiền lẻ không?”
“Không có! Hết mất rồi!”
Đột nhiên, sau lưng lại vang lên một tiếng “bình”!
Ngô Sĩ Thịnh ho một trận dữ dội, phun ra đờm, tức thì ống nghe dính đầy nước bọt.
“A! Đó là gì vậy! Thôi bỏ đi... Thế này thì không được rồi... Tôi nghĩ...”
“Gì mà không được! Làm ơn, tôi sắp bị cô ta giết chết rồi...”
“Đợi một chút! Anh Ngô, anh cứ bình tĩnh đã, không có điểm mốc rõ ràng nào gần anh sao?”
“Có đèn đường, có cột điện! Ở đây nhìn đâu cũng na ná nhau, tôi không biết hình dung thế nào?”
“Đợi đã! Có cột điện sao? Anh có nhìn rõ số hiệu bên trên không?”
“Số hiệu à?”
Ngô Sĩ Thịnh vặn người, ép chặt đầu vào góc bốt điện thoại, cuối cùng cũng miễn cưỡng nhìn được một tấm sắt màu xanh lam ở mặt bên của cột điện. Nhưng vì mưa gió che phủ nên chữ số bên trên khó mà trông rõ.
“Chị đợi tôi một chút!”
Ngô Sĩ Thịnh đặt ống nghe xuống, Minako lại bắt đầu lùi lại.
Mẹ kiếp! Sắp dùng hết tiền điện thoại rồi!
Gã quyết định được ăn cả ngã về không, kéo cánh cửa ra, bước ngang một bước dài.
Ngô Sĩ Thịnh ghi nhớ số hiệu của cột điện bằng một tốc độ phi thường, sau đó quay trở vào bốt điện thoại, gắng sức chống đỡ đòn tấn công của Minako. Dũng khí và ý chí sinh tồn xưa nay chưa từng có đang tiếp sức gã.
Mình phải sống!
Ngô Sĩ Thịnh cầm ống nghe lên, đọc to:
“Số hiệu của cột điện là... Suối Bản Bộ... Số 18... L0609CE82!”
“Đợi một chút! Để tôi ghi lại đã!”
“Số 18 suối Bản Bộ... L0609CE82! L0609CE82! Có nghe thấy không?”
Tút, tút, tút...
Có nghe thấy không...
Chị ta có nghe thấy không... Lần này điện thoại đã bị ngắt kết nối hoàn toàn.
Minako lại nhảy lên nóc bốt điện thoại, phát ra tiếng kêu quái dị như chó ngao địa ngục.
Ngô Sĩ Thịnh chỉ có thể ôm hy vọng, lặng lẽ đợi cứu viện của Hồ Duệ Diệc. ©Facebook Group: We Love Ebook, mời các bạn tham gia Nhóm để tải nhiều sách hơn nữa!