Arsène Lupin Tái Xuất

Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 104 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN MỘT:
CƠN MƯA TIA LỬA
CHƯƠNG 1
mẹ coralie

Gần sáu rưỡi chiều, bóng tối ngày một dày thêm, có hai người lính dừng lại ở một ngã ba trồng nhiều cây cối đối diện với Bảo tàng Galliera, nơi giao giữa đường Chaillot và đường Pierre-Charron [1] . Một người mặc áo khoác bộ binh màu xanh da trời; người kia, là người Sénégal, mặc áo len màu be, quần ống túm rộng lùng thùng và áo khoác có thắt lưng ở giữa, loại trang phục mà Trung đoàn Zouave [2] và Quân đoàn châu Phi bản địa vẫn mặc kể từ hồi chiến tranh. Một người đã cụt chân phải, còn người kia mất cánh tay bên trái.

Họ đi lòng vòng quanh một khoảng sân rộng, ở giữa sân trồng những bụi hoa bắt ruồi rất xinh; rồi họ dừng lại. Người lính bộ binh vứt điếu thuốc đi. Người Sénégal nhặt nó lên, rít vài hơi, ép chặt mẩu thuốc vào giữa ngón tay cái và ngón trỏ để tắt lửa rồi bỏ luôn vào túi.

Họ không nói với nhau một lời.

Gần như cùng lúc, trên đường Galliera xuất hiện hai người lính khác. Không rõ họ thuộc đơn vị nào, vì quân phục của họ khá kỳ dị. Nhưng một người đội mũ đấu [3] màu đỏ của Trung đoàn Zouave; còn người kia đội mũ kê pi của lính pháo binh. Người đầu tiên chống nạng, còn người thứ hai chống gậy.

Họ dừng lại ở một ki ốt bên đường.

Rồi trên đường Pierre-Charron, Brignoles và Chaillot [4] , lại lần lượt xuất hiện thêm ba người nữa: một người lính bộ binh cụt tay, một lính pháo binh đi khập khiễng, một lính thủy đánh bộ bị vẹo một bên hông. Mỗi người đi thẳng về phía một cái cây và tựa lưng vào đó. Chẳng ai nói với ai lời nào. Không một ai trong bảy thương binh đó có vẻ quen biết hay để tâm đến sự có mặt của những người còn lại.

Dù đứng ở đâu, sau những thân cây, cạnh ki ốt hay bên khóm hoa, những người nọ đều không cử động. Thi thoảng mới thấy có người đi ngang qua nơi ngã ba vắng vẻ chỉ có vài ngọn đèn đường leo lét đó, nhưng họ cũng chẳng kịp nhận ra mấy cái bóng bất động vào tối ngày mùng Ba tháng Tư năm 1915 ấy.

Đồng hồ điểm sáu giờ rưỡi.

Đúng lúc đó, cánh cửa của một ngôi nhà nhìn ra quảng trường hé mở. Một người đàn ông bước ra ngoài. Anh đóng cửa lại, băng qua đường Chaillot và đi vòng qua khoảng sân rộng phía trước viện bảo tàng.

Đó là một sĩ quan mặc bộ quần áo ka ki. Dưới chiếc mũ cảnh sát màu đỏ với ba vạch vàng, có một dải băng lớn quấn xung quanh đầu anh, che đi trán và gáy. Người đàn ông đó cao và rất gầy, phần phía dưới chân bên phải của anh là một chiếc chân gỗ, đầu có bịt đệm cao su. Anh phải chống gậy để đi lại.

Sau khi rời khỏi quảng trường, anh bước xuống đường Pierre-Charron. Ở đó, anh quay đầu, ung dung đưa mắt nhìn khắp xung quanh.

Quan sát kĩ một lượt, anh bước đến chỗ một cái cây ở phía đối diện viện bảo tàng. Anh lấy đầu gậy gõ nhẹ vào cái bụng đang nhô ra. Cái bụng đó liền thụt trở vào.

Viên sĩ quan đi tiếp. Lần này, anh cứ thẳng đường Pierre-Charron mà tiến về phía trung tâm Paris. Anh đi mãi cho đến lúc gặp đại lộ Champs-Élysées, lúc này, anh mới leo lên vỉa hè phía bên trái.

Cách đó hai trăm bước chân có một khách sạn lớn, nhưng theo như tấm băng rôn treo trên đó, khách sạn giờ đã được dùng làm trạm quân y. Viên sĩ quan không đến gần mà đứng cách đó một đoạn để những người từ bên trong đi ra không nhìn thấy mình, và anh chờ đợi...

Bảy giờ kém mười lăm, rồi bảy giờ.

Vài phút nữa trôi qua.

Năm người từ trong khách sạn đi ra. Rồi hai người nữa. Cuối cùng, một phụ nữ xuất hiện ở tiền sảnh, đó là một cô y tá với chiếc áo khoác lớn màu xanh có hình chữ thập đỏ.

“Cô ấy đây rồi!” Viên sĩ quan thì thầm.

Cô y tá bước xuống con đường mà anh vừa đi qua và rẽ у vào đường Pierre-Charron, cô đi trên vỉa hè bên phải, và cứ thế đi đến chỗ ngã ba giao với đường Chaillot.

Dáng đi cô mềm mại, gót sen cô nhè nhẹ, uyển chuyển dạo trên đường. Gió ùa vào người cô, làm chiếc áo choàng màu xanh lam phồng lên và tung bay trong gió theo nhịp bước. Mặc dù cô khoác chiếc áo choàng rộng bên ngoài, chuyển động nhịp nhàng của hông và vẻ trẻ trung trong dáng điệu vẫn hiện lên rất rõ.

Viên sĩ quan lơ đãng bước theo cô, vừa đi vừa khua gậy như đang đi bát phố.

Lúc đó, trên đoạn đường này không một bóng người qua lại, chỉ có anh và cô.

Ấy vậy mà, ngay khi cô vừa băng qua đại lộ Marceau, lúc viên sĩ quan còn chưa kịp tới nơi, có một chiếc ô tô đang đỗ trên đại lộ liền nổ máy và bắt đầu lăn bánh, chầm chậm bám theo người phụ nữ trẻ, nhưng luôn giữ một khoảng cách nhất định để không bị phát hiện.

Đó là một chiếc xe taxi. Viên sĩ quan quan sát thấy hai điều: Thứ nhất, có hai khách là đàn ông ngồi bên trong xe, và thứ hai, một trong hai vị khách đó cứ liên tục nhoài ra ngoài cửa sổ, rướn mình lên nói chuyện với người lái xe. Anh đã kịp nhớ mặt của gã đàn ông đó. Gã có bộ ria mép xồm xoàm che gần nửa mặt, đầu đội sùm sụp một chiếc mũ phớt màu xám.

Cô y tá vẫn vô tư bước, không ngó nhìn xung quanh. Viên sĩ quan bấy giờ đã băng qua đường và đi mau hơn, anh nhận thấy chiếc xe kia tăng tốc khi cô gái tiến đến gần ngã ba phía trước bảo tàng.

Từ chỗ của mình, viên sĩ quan có thể nhìn bao quát khắp quảng trường; nhưng dù nhìn kĩ đến mấy, anh cũng không thể phát hiện sự hiện diện của bảy thương binh kia trong bóng tối. Đường vắng tanh, chẳng một bóng người, cũng chẳng có xe cộ nào qua lại. Chỉ có ở phía xa, nơi nút giao tranh tối tranh sáng của những con đường lớn, hai chiếc xe điện cửa đã buông mành khuấy động màn đêm tĩnh mịch.

Giả như có đưa mắt nhìn đường sá xung quanh, hẳn cô y tá cũng không thấy bất cứ điều gì đáng phải lo. Cô vẫn bước đi không chút do dự. Và có lẽ cô không biết có một chiếc xe đang bám theo mình, vì cô không hề ngoái lại nhìn một lần nào.

Nhưng chiếc ô tô bắt đầu rút ngắn khoảng cách. Tới gần quảng trường, cách cô y tá chừng mươi, mười lăm mét - khi đó, cô vừa đến chỗ những hàng cây, và vẫn không hay biết chuyện gì đang diễn ra - chiếc ô tô lại tiến tới gần cô hơn, nó không đi giữa lòng đường nữa mà ép sát vào vỉa hè. Gã đàn ông ngồi phía bên trái, chính là gã vẫn luôn nhoài người ra cửa sổ, mở cửa và leo ra đứng ở bậc cửa xe.

Viên sĩ quan lập tức băng qua đường, chân bước gấp gáp hơn, anh không sợ bị nhìn thấy vì lúc ấy, xem chừng hai gã kia chỉ bận tâm đến mỗi việc của mình. Anh đưa chiếc còi lên miệng. Không nghi ngờ gì nữa, việc đã biết trước nay sắp sửa xảy ra.

Chiếc ô tô đột ngột dừng lại. Từ hai bên cửa xe, hai gã đàn ông nhảy xuống và lao lên vỉa hè chỗ quảng trường cách ki ốt vài mét. Cùng một lúc, tiếng hét thất thanh của cô y tá và tiếng tuýt còi chói tai của viên sĩ quan vang lên. Và cũng cùng một lúc, hai gã đàn ông tóm lấy con mồi của chúng, kéo cô về phía chiếc ô tô, còn bảy người thương binh thình lình xuất hiện như thể vừa chui ra từ những thân cây chỗ họ ẩn nấp, đồng loạt xông vào hai gã bắt cóc.

Cuộc chiến ngắn ngủi như thể chưa từng xảy ra. Hay đúng hơn, chẳng có cuộc chiến nào xảy ra cả. Ngay từ đầu, tay lái xe nghe mùi sắp xảy ra ẩu đả, liền vội vã nổ máy và bỏ chạy hết tốc lực. Còn hai gã đàn ông kia, thấy sự không thành, lại thấy một hàng gậy gộc, nạng gỗ huơ lên đầy hăm dọa, cộng thêm nòng súng của viên sĩ quan chĩa thẳng vào người, đành buông cô y tá ra, chạy ngoằn ngoèo để viên sĩ quan không ngắm bắn được, rồi biến mất trong màn đêm trên phố Brignoles.

“Nhanh chân lên, Ya-Bon.” Viên sĩ quan ra lệnh cho người lính Sénégal cụt tay. “Xách cổ một tên về đây cho tôi!”

Vừa nói, anh vừa đưa tay đỡ lấy cô y tá đang run rẩy và tuồng như muốn ngất xỉu. Anh ân cần trấn an cô, giọng đầy trìu mến: “Đừng sợ gì cả, Mẹ Coralie, tôi đây, Đại úy Belval, Patrice Belval đây.”

Cô y tá lắp bắp, không nói nên lời: “Là anh ư, Đại úy?”

“Phải, và những người bạn của em đang tập trung cả ở đây để bảo vệ em, toàn là những bệnh nhân từng được em chăm sóc. Tôi tìm gặp họ ở trung tâm điều dưỡng”

“Cảm ơn các anh... Cảm ơn...” Và cô nói thêm, giọng run rẩy: “Thế còn những người kia? Hai gã đàn ông đó đâu rồi?”

“Bỏ chạy rồi! Ya-Bon đang đuổi theo chúng.”

“Nhưng họ muốn gì ở tôi? Phép mầu nào đã đưa các anh đến đây vậy?”

“Chúng ta sẽ nói về chuyện này sau, Mẹ Coralie bé bỏng ạ. Nói chuyện về em trước đã. Bây giờ tôi phải đưa em về đâu nhỉ? Hay là em đến chỗ này cùng tôi và nghỉ ngơi một chút cho bình tĩnh lại đã?”

Thế rồi, viên sĩ quan cùng một trong số các thương binh nhẹ nhàng dìu cô y tá vào ngôi nhà mà bốn mươi lăm phút trước anh đã bước ra. Cô y tá ngoan ngoãn đi theo.

Ba người mở cửa một căn hộ ở tầng trệt và bước vào phòng khách có lò sưởi đang đỏ lửa. Người sĩ quan bật đèn điện.

“Mời em ngồi.” Anh nói.

Cô y tá thả mình xuống một chiếc ghế. Viên sĩ quan liền ra lệnh: “Poulard, cậu mau đi tìm một cái cốc trong phòng ăn. Còn cậu, Ribrac, lấy cho tôi một chai nước mát trong bếp... Chatelain, cậu tìm chai rượu rum nhỏ trong tủ ở gian cất thức ăn... À mà thôi, Mẹ Coralie không thích rượu rum... Vậy...”

“Vậy...” Cô y tá mỉm cười và nói. “Cho tôi xin một cốc nước thôi.”

Đôi má cô, ban nãy còn tái mét, giờ đã hồng hào hơn một chút. Đôi môi cũng tươi tắn trở lại, và một nụ cười tin cậy nở trên môi. Gương mặt cô dịu dàng và rất có duyên, khuôn mặt trong sáng với những đường nét hết sức thanh tú, với nước da trắng và thường trực biểu cảm ngây thơ của một đứa trẻ luôn ngạc nhiên nhìn đời bằng đôi mắt mở to. Những nét thanh lịch, dễ mến ấy vẫn có lúc toát lên vẻ năng động, tỏa ra từ ánh mắt sáng ngời, sâu lắng và suối tóc đen nhánh, mềm mượt như nhung xõa xuống hai vai từ bên dưới chiếc mũ y tá trắng tinh.

“A ha!” Viên Đại úy vui vẻ reo lên khi thấy cô uống xong cốc nước. “Em có vẻ khá hơn rồi, Mẹ Coralie nhỉ?”

“Khá hơn rất nhiều!”

“May quá! Nhưng những giây phút vừa rồi quả thật đứng tim! Hồi hộp thật ấy chứ! Chúng ta phải bàn bạc và làm rõ việc này mới được, em thấy thế nào? Trong khi đó, các cậu, phải tỏ lòng kính trọng với Mẹ Coralie đi chứ! Này các cậu, hãy nhớ lại hồi em ấy từng vỗ về các cậu và nhồi mềm gối cho các cậu nằm, giờ đã đến lúc chúng ta săn sóc lại Mẹ Coralie, như những đứa con chăm lo cho mẹ mình rồi, đúng không?”

Tất cả bọn họ quây quần bên cô y tá, những người đã mất tay và những người chân đi khập khiễng, những người tàn tật và những người mang bệnh trong người, tất cả đều hân hoan khi được gặp lại cô. Và cô siết chặt tay họ đầy tình cảm.

“Chà, Ribrac, cái chân của anh thế nào rồi?”

“Tôi không còn đau nữa, Mẹ Coralie ạ.”

“Thế còn anh, Vatinel? Vết thương ở vai anh ra sao?”

“Chẳng có vết tích gì nữa cả, Mẹ Coralie ơi!”

“Anh thì sao, Poulard? Anh nữa, Jorisse?”

Tình cảm trong cô dâng trào khi gặp lại họ, những người vẫn luôn gọi cô là Mẹ Coralie. Và Patrice Belval thốt lên: “Ôi, Mẹ Coralie bé bỏng, em lại khóc nữa rồi! Mẹ Coralie thân yêu, vậy là em vẫn còn yêu thương tất cả chúng tôi. Khi chúng tôi nằm bẹp trên giường bệnh, cố gắng không gào thét vì bị cơn đau hành hạ, chúng tôi đã thấy mắt em ầng ậng nước. Mẹ Coralie đã khóc vì những đứa con lớn xác của mình. Mỗi lần như vậy, chúng tôi lại cắn chặt răng hơn nữa để nén đau.”

“Còn tôi lại khóc thêm nữa...” Cô nói. Chỉ vì các anh cứ sợ làm phiền tôi.” 11 ...

“Và hôm nay, em lại khóc đấy. Ôi không, em dễ mềm lòng quá! Em thương chúng tôi. Chúng tôi yêu quý em. Không việc gì phải khóc đâu. Nào, Mẹ Coralie, em hãy cười lên đi... A, Ya-Bon về rồi kìa, Ya-Bon lúc nào cũng cười đây.”

Cô bỗng đứng bật dậy. “Anh nghĩ Ya-Bon sẽ tóm được một trong hai kẻ đó chứ?”

“Tôi có nghĩ thế không à? Tôi đã bảo Ya-Bon xách cổ một tên về mà. Cậu ấy không để chúng thoát đâu. Tôi chỉ sợ một điều...”

Họ đi ra tiền sảnh. Ya-Bon, anh chàng Sénégal đang bước lên bậc tam cấp, tay phải tóm lấy gáy một gã đàn ông. Gã nọ nom rất thảm hại, bị xách lên như một con rối. Đại úy ra lệnh: “Thả hắn ra!”

Ya-Bon nới lỏng tay. Gã kia rơi bịch xuống sàn đá.

“Tôi sợ là sợ điều này đây.” Đại úy thì thầm. “Ya-Bon chỉ còn tay phải; nhưng khi bàn tay ấy tóm cổ ai, nếu kẻ đó không bị bóp chết, ắt đấy là một phép mầu. Quân Đức hẳn biết rõ điều đó.”

Ya-Bon có vóc người vạm vỡ, nước da đen bóng mái tóc quăn tít và vài sợi râu xoăn lưa thưa ở cằm. Anh ta mặc chiếc áo nẹp của lính, trên ngực áo gắn hai huân chương, một bên tay áo rỗng ở vai trái. Một bên má, một bên hàm và một nửa miệng của Ya-Bon đã bị đạn đại bác làm vỡ. Phần còn lại của miệng kéo dài đến tận tai, làm anh ta trông cứ như đang cười - một nụ cười chẳng bao giờ dứt, nụ cười đó lại càng bội phần ấn tượng vì phía mặt bị thương - đã được ghép da, che phủ vết thương hết mức có thể - vốn lạnh lùng không cảm xúc.

Không chỉ vậy, Ya-Bon còn mất cả khả năng nói. Cổ lắm, anh ta cũng chỉ có thể phát ra những tiếng gầm gừ lộn xộn nơi cổ họng, vì thế anh ta mới có biệt danh là Ya-Bon [5] .

Ya-Bon lại ồm ồm trong cổ, vẻ rất hài lòng, đưa mắt nhìn vị chỉ huy của mình, rồi lại nhìn sang gã nạn nhân, hệt như chú chó săn hào hứng đứng trước con mồi mình vừa nhặt lại.

“Tốt lắm!” Viên Đại úy nói. “Nhưng lần sau nhớ nhẹ tay hơn một chút nhé.”

Viên Đại úy cúi xuống, sờ xem tim của gã bị bắt có còn đập không và thấy gã nọ chỉ bị ngất. Anh nói với cô y tá: “Em có biết hắn ta không?”

“Không!” Cô khẳng định.

“Em chắc chứ? Em chưa từng gặp gã này ở đâu à?”

Gã nọ có cái đầu rất lớn, tóc đen, bôi sáp, râu ria xồm xoàm đã hoa râm. Gã mặc bộ quần áo màu xanh đậm, may bằng vải tốt và được cắt rất khéo, cho thấy gã sống cũng khá sung túc.

“Chưa... chưa bao giờ!” Cô quả quyết.

Đại úy Belval lục túi áo. Chẳng thấy giấy tờ gì bên trong. “Đành vậy.” Anh đứng dậy và nói. “Chúng ta sẽ chờ hắn tỉnh dậy rồi hỏi rõ. Ya-Bon, hãy trói tay chân hắn lại và ở đây, ngoài sảnh, canh chừng cho tôi. Còn các cậu, mau về thôi, đến giờ quay lại trung tâm điều dưỡng rồi. Tôi có chìa khóa đây. Chào Mẹ Coralie rồi về đi các cậu.”

Sau khi các thương binh nói lời từ biệt, Đại úy tiễn họ ra ngoài rồi quay lại với cô y tá, đưa cô trở vào phòng khách và nói: “Bây giờ chúng ta hãy nói chuyện, Mẹ Coralie nhé! Trước khi giải thích mọi chuyện, hãy nghe tôi nói cái đã. Không lâu đâu.”

Họ ngồi trước đống lửa đang reo vui trong lò sưởi. Patrice Belval đặt một cái gối kê dưới chân Mẹ Coralie, tắt bớt một bóng đèn đang làm cô chói mắt và khi đã chắc chắn cô thực sự thoải mái, anh mới bắt đầu nói: “Em cũng biết đấy, Mẹ Coralie, tôi đã rời trạm quân y được tám hôm. Giờ tôi đang ngụ ở trung tâm điều dưỡng dành cho bệnh nhân của trạm trên đại lộ Maillot, khu Neuilly. Tôi chỉ ngủ lại đó vào buổi tối và để người ta thay băng vào buổi sáng. Thời gian còn lại, tôi đi chơi, đi bát phố, ăn trưa và ăn tối ở những chỗ mình thích và đi thăm bạn bè. Chà, sáng nay, lúc tôi đang chờ bạn ở một nhà hàng lớn trên phố thì tình cờ nghe được đoạn cuối của một cuộc trao đổi... Nhưng tôi phải nói rõ với em: Nhà hàng đó được ngăn làm hai gian, một gian dành cho khách tới dùng bữa, còn gian bên kia dành cho khách uống cà phê. Vách ngăn lại cao ngang đầu người. Khi đó, tôi ngồi một mình bên gian thực khách, ở gian bên kia có hai người khách ngồi quay lưng lại phía tôi, nên kiểu gì, tôi cũng không thể nhìn rõ họ được. Chắc họ nghĩ xung quanh chẳng có ai nên nói chuyện với nhau khá to, có mấy câu khiến tôi sửng sốt... nên tôi liền ghi ngay vào sổ tay.”

Anh rút cuốn sổ trong túi ra và nói tiếp: “Mấy câu nói khiến tôi chú ý - em sẽ hiểu vì sao ngay thôi - được thốt ra sau những câu nhắc đến cơn mưa tia lửa từng xảy ra hai lần trước chiến tranh, một dạng ám hiệu dùng vào ban đêm để báo cho đồng đội phải hành động ngay. Chuyện này có nói lên điều gì với em không?”

“Không. Sao thế ạ?”

“Em sẽ hiểu thôi. À, tôi quên nói với em: Hai người đàn ông kia nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh, rất chuẩn, nhưng nghe ngữ điệu, tôi có thể khẳng định chắc chắn không có ai trong số họ là người Anh cả. Những gì họ nói, dịch sát nghĩa, là thế này:

“Nói tóm lại...” Một tên nói. “Mọi chuyện đã quyết cả rồi. Tối nay, mày và thằng kia sẽ phải có mặt ở chỗ đã định, trước bảy giờ một chút.”

“Chúng tôi sẽ có mặt, thưa Đại tá. Chúng tôi cũng đã chuẩn bị xong xe cộ.”

“Tốt lắm! Nhớ nhé, con nhỏ đó sẽ rời khỏi trạm quân y vào khoảng bảy giờ tối.”

“Ngài đừng lo. Không thể có sai sót gì được đâu, vì cô ta luôn đi qua đường Pierre-Charron.”

“Thế bọn mày đã lên kế hoạch cụ thể cả rồi chứ?”

“Rồi, cụ thể đến từng chi tiết. Chuyện đó sẽ diễn ra ở quảng trường cuối đường Chaillot. Cho dù lúc đó có người đi chăng nữa, họ cũng chẳng kịp cứu cô ta đâu, vì chúng tôi sẽ hành động rất nhanh.”

“Có tin được tên lái xe không đấy?”

“Chúng ta đã trả cho hắn rất hậu, đủ để hắn phải vâng lời. Ta cũng chỉ cần có thế.”

“Tốt lắm! Ta sẽ chờ bọn mày ở chỗ đã giao hẹn, trong ô tô. Bọn mày sẽ giao con nhỏ đó cho ta. Kể từ thời khắc đó, chúng ta sẽ làm chủ tình thế.”

“Và ngài sẽ làm chủ con nhỏ đó, ngài Đại tá ạ, điều đó với ngài mà nói thật chẳng tệ, vì cô ta xinh kinh khủng.”

“Xinh kinh khủng, đúng vậy đấy. Ta đã biết cô ta từ lâu nhưng chưa bao giờ có dịp làm quen... Ta phải tranh thủ cơ hội này mới được!”

Tên Đại tá lại nói: “Chắc sẽ có khóc lóc, kêu gào, cào cấu. Thế lại càng hay, ta thích bị chống cự... khi ta là kẻ mạnh nhất.”

Nói xong, hắn cười rất thô bỉ. Tên kia cũng hô hố cười theo. Lúc chúng thanh toán tiền, tôi lập tức đứng dậy và chạy về phía cánh cửa nhìn ra đại lộ, nhưng chỉ có một tên đi ra qua cửa đó. Tên này có râu mép rất rậm, để quặp, đầu đội mũ phớt màu xám. Còn tên kia đã ra bằng cửa phía con đường giao với đại lộ. Lúc đó, trên đường chỉ có một chiếc taxi. Tên râu ria đã lên chiếc xe đó và đi mất, tôi đành phải bỏ ý định bám theo hắn. Chỉ là... chỉ là theo như tôi biết, em luôn rời trạm quân y lúc bảy giờ tối và về theo đường Pierre-Charron, có đúng vậy không?”

Viên Đại úy im lặng. Cô y tá trầm ngâm, vẻ lo lắng. Mãi cô mới lên tiếng: “Sao anh không báo cho tôi biết?”

Viên Đại úy kêu lên: “Báo cho em ư? Ngộ nhỡ người chúng muốn giở trò không phải em thì sao? Sao phải làm em lo lắng chứ? Còn ngược lại, nếu người chúng nói đúng là em, báo cho em biết cũng nào có ích gì? Nếu lần này thất bại, chúng sẽ giăng ra cái bẫy khác để làm hại em; còn chúng ta lại không hề hay biết nên sẽ không thể ngăn chặn được. Không, cách tốt nhất là chấp nhận cuộc chiến. Tôi đã huy động được một nhóm gồm toàn những bệnh nhân cũ của em hiện đang ở trung tâm điều dưỡng; và, tình cờ làm sao, người bạn mà sáng nay tôi hẹn lại sống gần quảng trường. Anh ấy chính là chủ nhân ngôi nhà chúng ta đang ở đây. Tôi đã xin anh ấy cho mượn nhà từ sáu đến chín giờ tối nay. Đó là những gì tôi đã làm, Mẹ Coralie ạ! Bây giờ, em cũng đã tỏ tường mọi việc như tôi, em thấy thế nào?”

Cô nắm lấy tay viên Đại úy. “Tôi thấy anh đã cứu tôi khỏi một nguy hiểm đáng sợ mà tôi không hề hay biết. Tôi cảm ơn anh rất nhiều.”

“Không, không!” Anh nói. “Tôi không nhận lời cảm ơn đâu. Với tôi, cứu được em là cả một niềm vui to lớn! Tôi chỉ muốn biết suy nghĩ của em về toàn bộ việc này thôi.”

Cô y tá chẳng do dự lấy một giây, đáp rất dứt khoát: “Tôi chẳng có suy nghĩ nào cả. Không một từ nào, không một sự việc nào trong toàn bộ câu chuyện anh vừa kể gợi lên được gì trong tôi, dù là một ý tưởng nhỏ nhất cũng không.”

“Em không có kẻ thù nào chứ?”

“Cá nhân tôi thì không.”

“Thế còn gã đàn ông mà hai tên thủ phạm định bắt cóc em để giao cho hắn thì sao? Hắn nói hắn biết em.”

Coralie hơi đỏ mặt và nói: “Không phải tất thảy phụ nữ trên đời đều có đôi ba người “trồng cây si”, hoặc công khai hoặc âm thầm hay sao? Tôi cũng không biết người đó là ai.”

Đại úy im lặng khá lâu, rồi lại nói tiếp: “Nếu vậy, chúng ta chỉ còn hy vọng moi được thông tin từ tên bị bắt kia thôi. Nếu hắn không chịu nói - chà, tệ thật, tôi sẽ giao hắn cho cảnh sát và họ sẽ biết cách làm cho hắn phải khai ra.”

Cô gái giật mình. “Giao cho cảnh sát ấy ạ?”

“Tất nhiên rồi. Thế em muốn tôi làm gì với tên đó? Hắn không thuộc về tôi. Hắn thuộc về cảnh sát.”

“Không, không!” Cô gay gắt kêu lên. “Tuyệt đối không được! Làm vậy cảnh sát sẽ soi mói đời tư của tôi... Rồi sẽ có những cuộc điều tra!... Tên tôi sẽ bị nằm lẫn với những chuyện không hay ho này.”

“Nhưng mà, Mẹ Coralie, tôi không thể...”

“Tôi xin anh, tôi van anh, bạn tôi ơi! Xin anh hãy nghĩ ra cách nào đó, nhưng đừng để người ta nhắc đến tên tôi! Tôi không muốn mọi người nói về mình!”

Viên Đại úy nhìn cô y tá, hơi ngạc nhiên trước phản ứng của cô. Rồi anh nói: “Người ta sẽ không nhắc đến em đâu, Mẹ Coralie bé bỏng ạ. Tôi sẽ thu xếp việc này.”

“Vậy anh định làm gì hắn?”

“Ái chà!” Viên Đại úy phá lên cười và nói. “Đầu tiên, tôi sẽ lịch sự hỏi hắn rằng liệu hắn có muốn trả lời các câu hỏi của tôi không; sau đó cảm ơn hắn về sự quan tâm của hắn đối với em. Và cuối cùng, tôi mời hắn ra về.”

Rồi anh đứng dậy. “Em có muốn gặp hắn không Mẹ Coralie?”

“Không!” Cô đáp. “Tôi mệt quá rồi! Nếu không cần đến tôi, anh cứ tự mình tra hỏi hắn. Rồi sau đó kể lại cho tôi cũng được...”

Cô có vẻ đã kiệt sức vì những gì vừa trải qua, lại thêm bao mệt nhọc của một ngày dài làm việc với vai trò một y tá. Viên Đại úy không nài ép gì nữa. Anh đi ra và khép cửa phòng khách lại.

Cô nghe thấy anh nói: “Này Ya-Bon, cậu trông nom cẩn thận đấy chứ? Có gì mới không? Tên tù binh của cậu thế nào rồi?... A, anh đây rồi, anh bạn! Anh thở lại được chưa đấy? Ồ, tay của Ya-Bon hơi cứng quá, phải không?... Sao vậy? Anh không trả lời à?... Này, có chuyện gì thế? Hắn không nhúc nhích... Khỉ thật! Không lẽ hắn...”

Anh kêu lên một tiếng. Cô gái vội chạy ra ngoài sảnh. Viên Đại úy liền ngăn cô lại và nói rất dứt khoát: “Đừng ra ngoài này! Chẳng ích gì đâu!”

“Nhưng anh bị thương rồi!” Cô kêu lên.

“Tôi ư?”

“Máu dính trên cổ tay áo anh kìa.”

“Đúng vậy thật, nhưng không sao đâu. Là máu của tên kia dính sang áo tôi đó.”

“Hắn bị thương ạ?”

“Phải, hay đúng hơn là máu ở miệng hắn chảy ra. Có lẽ mạch máu nào đó bị đứt...”

“Sao? Ya-Bon đâu có siết chặt đến mức đó?”

“Không phải tại Ya-Bon.”

“Thế thì tại ai?”

“Đồng bọn của hắn.”

“Bọn chúng quay lại sao?”

“Đúng vậy, và chúng đã siết cổ hắn.”

“Chúng siết cổ hắn ư? Không thể nào!”

Cô đẩy Đại úy ra và bước lại gần tên tù binh. Gã không còn cử động. Mặt gã trắng bệch - màu của người đã chết. Một sợi dây bằng lụa đỏ rất mảnh, có khoen ở mỗi đầu, thít chặt vào cổ gã.

« Lùi
Tiến »