Arsène Lupin Tái Xuất

Lượt đọc: 128 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 3
chiếc chìa khóa gỉ

Năm lên tám, Patrice Belval đang sống ở Paris với cha, nơi anh vẫn sống từ bé, thì được gửi đi học ở một trường của Pháp tận London. Mãi mười năm sau, anh mới ra trường.

Thời gian đầu, Patrice còn nhận được thư từ của cha mỗi tuần. Nhưng sau đó, một hôm nọ, ngài Hiệu trưởng đến báo với anh rằng anh nay đã mồ côi, mọi chi phí học tập của anh được đảm bảo và khi trưởng thành, anh sẽ được nhận khoản tiền thừa kế hai trăm nghìn franc qua một luật sư tư vấn người Anh.

Hai trăm nghìn franc không đủ cho một chàng trai sớm có nhiều sở thích đắt tiền, đã không một xu dính túi lại còn nợ hai mươi nghìn franc khi được gửi sang thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Algeria. Do đó, chẳng mấy chốc, anh tiêu hết số tiền thừa kế, và bắt đầu tìm việc làm. Trời phú cho anh tính năng động và trí óc nhanh nhẹn, khôn ngoan, tuy không có năng khiếu gì đặc biệt, nhưng rất có năng lực với những công việc đòi hỏi sự chủ động và tính quyết đoán. Lúc nào trong đầu anh cũng đầy ắp ý tưởng mới, lại có cả ý chí lẫn hiểu biết về vận hành doanh nghiệp, anh tạo dựng được lòng tin nơi mọi người và tìm được nguồn vốn đầu tư để làm ăn. Không chỉ kinh doanh điện, anh còn mua luôn mấy con suối và thác nước, mở dịch vụ xe hơi ở các thuộc địa, nhảy cả vào lĩnh vực đường thủy và khai thác mỏ. Chỉ trong vài năm, anh đã làm chủ một tá doanh nghiệp và tất cả đều rất phát đạt.

Chiến tranh đối với anh là một cuộc phiêu lưu kỳ thú. Anh can trường chiến đấu hết mình. Từ một trung sĩ của một trung đoàn thuộc địa, Patrice lên lon đại úy hải quân trong trận sông Marne lần thứ nhất [9] . Ngày Mười lăm tháng Chín, Patrice bị thương ở bắp chân và phải cưa chân luôn trong ngày hôm đó. Hai tháng sau, chẳng biết vì lý do bí hiểm nào, dẫu cụt chân, anh vẫn được làm quan sát viên trên chiếc máy bay do một trong hai phi công xuất sắc nhất điều khiển. Nhưng thật không may, một quả đạn pháo đã đặt dấu chấm hết cho loạt kỳ tích của cả hai vị anh hùng vào ngày mùng Mười tháng Một. Lần này, Đại úy Belval bị thương nặng ở đầu, được cho giải ngũ và đưa vào bệnh viện quân y ở đại lộ Champs-Élysées. Cũng trong thời gian đó, Mẹ Coralie bắt đầu vào làm y tá ở bệnh viện này.

Ở đây, anh phải khoan sọ. Cuộc phẫu thuật thành công, nhưng vẫn có biến chứng. Anh bị cơn đau hành hạ dữ dội, nhưng không bao giờ than thở kêu ca gì, thậm chí với khiếu hài hước bẩm sinh, anh còn giúp những người đồng chí cùng cảnh thương tật xung quanh lên tinh thần và ai cũng dành tình cảm chân thành cho anh. Anh pha trò chọc mọi người cười, an ủi và động viên họ bằng sự sôi nổi và lối cư xử luôn luôn vui vẻ trong mọi tình huống dù là xấu nhất.

Chắc chắn không một ai trong số họ có thể quên cách anh tiếp đón một người chế tạo chân giả có khớp tới gặp anh để chào hàng. “A ha! Chân giả có khớp cử động hẳn hoi cơ à! Nhưng để làm gì cơ chứ, thưa ông? Chắc là để che mắt thiên hạ, không cho họ biết tôi đã cụt mất một mẩu chân, có đúng không? Vậy tức là theo ông, bị cụt chân là một thiếu sót rất lớn và tôi, một sĩ quan Pháp, phải giấu nó đi như giấu một điều đáng xấu hổ, phải không?”

“Không hề, thưa Đại úy... Tuy nhiên...”

“Vậy món đồ đó của ông giá cả thế nào?”

“Năm trăm franc.”

“Năm trăm franc? Ông nghĩ tôi có thể bỏ ra năm trăm franc cho một cái chân giả, trong khi còn hàng trăm nghìn kẻ khốn khổ khác cũng thương tật như tôi phải đi lại nhờ nạng, nhờ chân gỗ hay sao?”

Ai nấy đều thích thú khi nghe được cuộc trao đổi của họ. Đến Mẹ Coralie bé bỏng cũng nhoẻn miệng cười. Và với Patrice Belval, điều gì có thể sánh với nụ cười của Mẹ Coralie đây?

Như anh từng thổ lộ, ngay từ ngày đầu tiên gặp mặt, anh đã phải lòng cô. Anh si mê dung nhan lay động lòng người, vẻ duyên dáng thơ ngây, đôi mắt dịu dàng và tâm hồn trong sáng, hiền lành đã ân cần sà xuống bên bệnh nhân, xoa dịu nỗi đau của họ như bàn tay êm ái của cô. Ngay từ ngày đầu tiên gặp mặt, sức quyến rũ của cô đã len lỏi vào sâu trong anh và hoàn toàn bọc kín lấy anh. Giọng nói của cô mang lại cho anh một cuộc đời mới. Cô mê hoặc anh bằng ánh mắt và mùi hương rất riêng của mình. Bị khuất phục hoàn toàn trước tình yêu đó, anh khao khát đến cồn cào được dâng hiến và đem hết sức lực ra phụng sự người con gái nhỏ bé, thanh mảnh mà anh lúc nào cũng lo sợ bị hiểm nguy rình rập, vây quanh.

Và giờ đây, sự việc vừa rồi cho thấy anh đã đúng. Nguy hiểm đã hình thành và anh đã có may mắn kéo được cô ra khỏi nanh vuốt của kẻ thù. Anh hân hoan trước chiến thắng đầu tiên, nhưng tuyệt đối không được chủ quan. Rồi sẽ có những cuộc tấn công khác. Anh không khỏi thắc mắc liệu có gì liên quan giữa âm mưu hãm hại Coralie sáng nay với việc báo hiệu bằng cơn mưa tia lửa ngoài kia không? Hai sự việc được hai kẻ trong nhà hàng nhắc đến đó lẽ nào lại không phải là một phần của cùng một mưu đồ đen tối?

Những tia lửa vẫn tiếp tục lóe lên ở phía xa. Theo như Patrice suy đoán, chúng được bắn lên từ phía sông Seine, ở một điểm nằm giữa hai đầu mút bên bờ sông, có thể đầu bên trái là Trocadéro và đầu bên phải là ga Passy.

“Chừng hai hoặc ba cây số theo đường chim bay.” Anh tự nhủ. “Sao không ra đó mà kiểm tra nhỉ? Ta sẽ biết ngay thôi.”

Có chút ánh sáng le lói lọt qua lỗ khóa trên cánh cửa của một căn phòng ở tầng hai. Đó là phòng của Ya-Bon, bà quản lý bảo Ya-Bon đang chơi bài cùng cô bạn gái của mình. Patrice bước vào.

Ya-Bon không còn chơi bài nữa. Anh ta ngủ thiếp đi trên chiếc ghế bành kê trước bàn đánh bài, những lá bài nằm la liệt trên bàn, và tựa trên chiếc tay áo rỗng phía bên trái là đầu một người phụ nữ. Đó là Angèle, cô hầu bếp, bạn gái của Ya-Bon. Cô ta ngáy to như kéo bễ.

Patrice nhìn họ với vẻ mãn nguyện. Hình ảnh anh nhìn thấy khẳng định những lý luận của anh là đúng. Nếu Ya-Bon tìm được tình yêu, lẽ nào những người tàn tật khác lại không được hưởng điều ngọt ngào ấy?

Anh khẽ chạm vào vai anh chàng người Sénégal. Anh ta tỉnh dậy và mỉm cười, hay đúng hơn, đoán được Đại úy của mình sẽ đến, anh ta cười từ trước cả khi bị đánh thức.

“Tôi cần cậu, Ya-Bon ạ.”

Ya-Bon ồm ồm tỏ vẻ vui mừng và đẩy Angèle ra. Cô ta gục xuống bàn và tiếp tục ngáy.

Khi bước ra ngoài, Patrice không nhìn thấy mấy tia lửa nữa. Những tia lửa sáng đã bị những tàn cây che khuất. Anh và Ya-Bon đi dọc theo đại lộ. Để tiết kiệm thời gian, anh bắt chuyến xe lửa đến đại lộ Henri-Martin. Từ đó, anh rẽ xuống đường La Tour, con đường chạy thẳng đến Passy.

Trên đường đi, anh không ngừng nói với Ya-Bon về những mối bận tâm trong lòng, dù biết rõ anh chàng da đen chẳng thể hiểu được hết những gì mình nói. Nhưng việc đó đã trở thành một thói quen của anh. Ya-Bon, trước hết là người đồng đội thân thiết, sau là một hầu cận trung thành, tận hiến cho Patrice hệt như một chú chó cưng. Anh ta bị mất tay vào cùng ngày chỉ huy của mình bị mất chân, rồi anh ta cũng bị thương ở đầu vào cùng một hôm với Patrice. Anh ta tin rằng số phận đã an bài cho mình được nếm trải cùng những thử thách giống Đại úy, anh ta mừng rỡ khi bị thương hai lần cùng Đại úy và sẽ rất sung sướng nếu một ngày nào đó được cùng chết với Đại úy Belval. Về phần mình, Đại úy đáp lại lòng sùng bái ngây ngô và hết sức cung kính ấy bằng tình bằng hữu chân thành, thân ái; anh hay trêu chọc Ya-Bon, có khi hơi thô, nhưng lại làm anh chàng gốc Phi thêm yêu quý anh hơn. Ya-Bon đóng vai một người bạn tâm tình thụ động, một người chuyên lắng nghe và là chỗ để người khác trút ra những bực bội trong lòng.

“Cậu nghĩ sao về tất cả những chuyện này, Ya-Bon?” Đại úy vừa đi vừa khoác tay Ya-Bon và hỏi. “Tôi thấy chúng là một phần trong một mưu đồ lớn hơn nữa. Cậu có nghĩ thế không?”

Ya-Bon có hai kiểu gầm gừ trong cổ họng. Một kiểu có nghĩa là đồng tình, kiểu còn lại nghĩa là phản đối. Anh ta gầm gừ: “Có!”

“Thế thì không còn nghi ngờ gì nữa.” Viên Đại úy nói. “Chắc chắn Mẹ Coralie lại sắp sửa gặp nguy hiểm rồi. Đúng không?”

“Đúng!” Ya-Bon lại ồm ồm trong cổ họng, anh ta vẫn luôn đồng tình với ý kiến của Đại úy.

“Tốt lắm! Vậy bây giờ chúng ta chỉ còn một việc: Tìm hiểu xem trận mưa tia lửa vừa rồi ám chỉ điều gì. Ngày chiếc khí cầu của địch tới thăm chúng ta lần đầu tiên hồi tuần trước, đã có lúc, tôi đồ rằng... Cậu có nghe không đấy?”

“Có!”

“Tôi đồ rằng đó là một ám hiệu phản bội, với ý định không kích lần thứ hai...”

“Phải!”

“Ơ, cái đồ đầu đất này! Phải cái gì mà phải! Làm sao đó có thể là ám hiệu cho khí cầu của địch được chứ khi theo như những gì tôi nghe thấy, ám hiệu này chúng đã dùng hai lần trước chiến tranh? Vả lại, liệu đó có thật là ám hiệu không?”

“Không!”

“Không nghĩa là thế nào? Không thì đó là cái gì chứ? Tốt nhất là cậu cứ ngồi yên dựa cột mà nghe cho tôi, ông bà bảo rồi, biết thì thưa thốt... Đến tôi còn chẳng hiểu chuyện này ra làm sao đây! Thú thật, tôi hoàn toàn không hiểu một tí gì. Chúa ơi, sao mà phức tạp quá! Tôi sợ mình không đủ khả năng để giải quyết đống rắc rối ấy.”

Patrice còn bối rối hơn nữa khi hai người đến điểm cuối đường La Tour. Giao lộ trước mặt anh có tới mấy con đường mà anh không biết phải rẽ vào đường nào. Hơn nữa, dẫu đang đứng giữa trung tâm khu phố Passy, trên nền trời tối đen như mực, chẳng thấy có ánh sáng nào lóe lên.

“Chậc, thế là hết mất rồi.” Anh nói. “Chúng ta đã phí công vô ích. Tại cậu cả đấy, Ya-Bon ạ. Nếu không phải mất thời gian quý báu để gỡ cậu ra khỏi vòng tay của cô bồ nhà cậu, hẳn ta đã tới nơi kịp lúc rồi. Tôi công nhận Angèle hấp dẫn đấy, nhưng mà...”

Patrice đứng lại, xác định phương hướng, lòng dạ mỗi lúc một thêm rối. Anh chọn bừa một lối mà đi, và một khi đã phải dò dẫm, không nắm đủ thông tin cần thiết, chuyến đi chắc chắn sẽ chẳng thu được kết quả gì. Anh toan bỏ cuộc. Đúng lúc ấy, có một chiếc limousine hạng sang từ đường Franklin lao ra, chạy theo hướng từ quảng trường Trocadéro về, trong xe vang lên tiếng người quát khá to: “Rẽ trái... rồi đi thẳng, khi nào tôi bảo thì dừng.”

Đại úy Belval giật mình. Anh thấy giọng nói đó mang ngữ điệu của người ngoại quốc, giống hệt một trong hai giọng nói mà anh nghe được ở nhà hàng ban sáng.

“Có khi nào là tên khốn đội mũ màu xám...” Anh lẩm bẩm. “... Trong băng đảng định bắt cóc Mẹ Coralie không nhỉ?”

“Phải!” Ya-Bon lại ồm ồm.

“Không phải thế sao? Trận mưa tia lửa vừa rồi đã giải thích vì sao hắn lại có mặt ở các khu này. Chúng ta không được bỏ qua manh mối này đâu. Nhanh lên, Ya-Bon!”

Nhưng Ya-Bon chẳng cần phải vội. Chiếc ô tô chạy vào đường Raynouard, và Belval có thể tự mình đến chỗ chiếc xe khi nó dừng lại cách giao lộ chừng ba, bốn trăm mét, trước một cái cổng lớn có mái vòm ở phía tay trái.

Năm người đàn ông bước xuống.

Một người bấm chuông cửa.

Khoảng chừng ba, bốn mươi giây trôi qua. Rồi Patrice lại nghe thấy tiếng chuông cửa kêu lần thứ hai. Năm người đàn ông vẫn túm tụm vào nhau, đứng chờ trên vỉa hè. Cuối cùng, sau tiếng chuông thứ ba, mới thấy một ô cửa con bé xíu trổ trên một cánh cửa gấp mở ra.

Một thoáng im lặng, rồi có tiếng cự cãi. Người đứng đằng sau ô cửa con hình như đang yêu cầu nhóm người kia giải thích. Nhưng bất thình lình, hai tên trong nhóm húc mạnh vào cửa, cửa bật tung và cả băng tiến vào bên trong. Một tiếng động rất lớn vang lên. Cánh cửa đóng sầm lại. Ngay lập tức, Đại úy tiến đến để quan sát.

Đường Raynouard là một đường làng cũ, một thời từng uốn lượn giữa những ngôi nhà và vườn tược trong làng Passy ở phía sườn đồi được sông Seine mơn trớn. Bây giờ, ở đây chỉ còn vài chỗ mang dáng vẻ thôn quê, nhưng cũng ngày một ít đi. Đường chạy quanh vài khu đất cũ. Những ngôi nhà cổ khuất sau những rặng cây, có cả ngôi nhà mà đại văn hào Balzac từng ở - ngôi nhà vẫn được bảo tồn nguyên vẹn cho đến tận hôm nay. Cũng chính trên con đường này, có khu vườn bí ẩn nơi Arsène Lupin tìm ra những viên kim cương của một vị quan thầu thuế trong khe nứt trên mặt một chiếc đồng hồ mặt trời [10] .

Chiếc ô tô vẫn đỗ bên ngoài ngôi nhà nơi năm tên lạ mặt vừa phá cửa xông vào, điều này khiến Đại úy Belval không thể tiến lại gần hơn. Ngôi nhà đó nằm sau một bức tường lớn, cách xây dựng trông có vẻ giống một khách sạn kiểu cũ hồi Đế chế thứ nhất. Mặt tiền ngôi nhà có hai dãy cửa sổ tròn xếp thành hàng dài, dãy ở tầng trệt được căng lưới thép, dãy ở tầng phía trên có lắp cửa chớp rất kiên cố. Xa hơn nữa là một ngôi nhà khác, hoàn toàn độc lập với ngôi nhà này.

“Không làm được gì từ phía này đâu.” Đại úy nói. “Ngôi nhà này vững chãi như pháo đài thời Trung cổ ấy! Tìm chỗ khác thôi.”

Từ đường Raynouard, những con đường nhỏ một thời từng ngăn chia những khu đất cũ chạy thẳng ra sông. Trong đó, có một ngõ nhỏ chạy dọc theo bức tường phía trước ngôi nhà này. Đại úy Belval cùng Ya-Bon rẽ vào ngõ nhỏ đó. Con ngõ rất xấu, mặt đường rải một lớp đá dăm nhọn, lởm chởm, chỉ có một ngọn đèn đường tù mù chiếu sáng.

“Giúp tôi một tay, Ya-Bon. Bức tường cao quá. Nhưng có khi nhờ được cột đèn...”

Được anh bạn gốc Phi giúp đỡ, anh leo lên cột đèn, vươn một tay ra nhưng rồi phải rụt lại ngay khi phát hiện trên tường cắm đầy mảnh thủy tinh, không thể bám vào được. Anh tụt xuống, bực tức nói: “Hay thật đấy, Ya-Bon! Lẽ ra cậu phải báo trước cho tôi chứ. Suýt chút nữa là cậu làm tôi bị đứt tay rồi đấy. Cậu đang nghĩ cái quái gì trong đầu thế? Tôi thật không hiểu tại sao cậu cứ đòi đi cùng với tôi cho bằng được!”

Con ngõ bắt đầu bẻ ngoặt về một phía, ánh sáng không chiếu tới được nữa, đoạn đường hai người đi lúc này trở nên tối om. Đại úy Belval phải mò mẫm lần đường. Chợt anh thấy anh chàng người Sénégal đặt tay lên vai mình.

“Gì thế, Ya-Bon?”

Tay Ya-Bon đẩy anh sát vào tường. Ở chỗ đó, có một cánh cửa thụt vào.

“Ồ, phải rồi.” Anh nói. “Có một cánh cửa. Cậu nghĩ tôi không thấy à? Chắc chỉ có mỗi Ya-Bon là có mắt đấy!”

Ya-Bon đưa cho anh một bao diêm. Anh quẹt liên tục hết que này đến que khác để kiểm tra cái cửa.

“Tôi đã nói với cậu thế nào nhỉ?” Đại úy nghiến răng ken két. “Chẳng làm được gì đâu! Gỗ rất dày, lại có thanh chắn và đinh đóng lởm chởm thế này... Xem này, còn không có cả tay nắm cửa, chỉ có độc một lỗ khóa thôi... Chúng ta phải có chìa mới được, loại chìa đặt riêng, đánh theo yêu cầu ấy!... Ví dụ như chiếc mà người nào đó vừa gửi về trung tâm cho tôi...”

Anh im bặt. Một ý nghĩ có phần vô lý vụt lóe lên trong đầu anh; đúng vậy, dẫu khá vô lý, nhưng anh không thể cưỡng lại được điều ý nghĩ đó xui khiến, anh nhất định phải làm theo.

Anh lùi lại. Anh có mang theo chiếc chìa khóa bên mình. Anh liền lấy nó ra.

Anh quẹt thêm một que diêm. Lỗ khóa hiện lên. Anh tra ngay chìa vào ổ. Anh thử vặn sang trái: chiếc chìa xoay trong ổ. Anh đẩy nhẹ: cánh cửa mở ra.

“Ta mau vào thôi!” Anh nói.

Anh chàng da đen đứng như trời trồng. Patrice đồ rằng vì anh ta quá sửng sốt. Đến bản thân anh còn kinh ngạc không kém kia mà! Nhờ điều thần diệu chưa từng có nào mà chiếc chìa khóa này lại đúng là chìa của lỗ khóa này kia chứ? Nhờ điều thần diệu nào mà người bí ẩn đã gửi chìa khóa cho anh lại đoán được anh sẽ có lúc cần đến nó, mà không nhắn nhủ gì thêm? Thật quá ư thần diệu!

Nhưng Patrice đã quyết định phải hành động ngay lập tức, không cố giải đáp câu đố kỳ lạ mà sự tình cờ quái quỷ vừa hí hửng đặt ra cho mình nữa.

“Vào thôi!” Anh đắc thắng nhắc lại.

Bị những cành cây quệt vào mặt và nhận thấy mình đang đi trên cỏ, anh đoán phía trước chắc chắn phải là một khu vườn. Bóng tối dày đặc đến mức anh không thể nhìn ra những lối đi trên mặt đất đen sì, um tùm cỏ. Sau khi dò dẫm chừng đôi phút, Patrice vấp phải mấy tảng đá, trên có một làn nước mảnh chảy qua.

“Úi!” Anh bực bội. “Tôi ướt hết cả rồi đây này. Ya-Bon chết tiệt này!”

Anh chưa nói dứt lời đã nghe thấy tiếng sủa dữ dội vang lên từ phía cuối vườn; rồi thốt nhiên, nhanh như chớp, tiếng sủa nghe đã ngay sát bên tai. Patrice nhận ra con chó canh đã biết có người lạ xuất hiện trong vườn nhà nó và đang hung hãn lao về phía họ. Dù can đảm là thế, Patrice vẫn không khỏi rùng mình, bởi cuộc tấn công trong màn đêm đặc quánh luôn mang lại một ấn tượng rất kinh khiếp. Anh phải làm sao để tự vệ? Anh chỉ mang theo một khẩu súng lục phòng thân, và nếu nổ súng, họ sẽ bị lộ.

Con vật phóng vụt đến. Nghe tiếng nó xé gió hệt như tiếng lợn rừng lao vút đi trong rừng rậm, anh biết chắc: con chó này rất khỏe. Nó hẳn đã giật đứt được dây xích vì Patrice nghe thấy tiếng sắt va vào nhau loảng xoảng. Patrice xuống tấn, chuẩn bị đối đầu với con vật. Nhưng qua màn đêm, anh nhìn thấy Ya-Bon chạy ra chắn đằng trước để bảo vệ anh, vừa đúng lúc con chó xồ vào mục tiêu.

“Hay lắm, Ya-Bon! Sao không để tôi lên trước? Can đảm lắm, Ya-Bon! Tôi tới đây, anh bạn!”

Hai địch thủ đang quần nhau trên cỏ. Patrice sà xuống, tìm cách giúp anh bạn da đen. Lúc thì anh chạm vào bộ lông của con chó, lúc thì chạm phải quần áo của Ya-Bon. Nhưng hai địch thủ ôm siết lấy nhau, lăn lộn dưới đất và trận chiến quá quyết liệt, Patrice không tài nào nhúng tay vào được.

Dẫu vậy, trận đấu không kéo dài. Vài phút sau, cả hai bên đều không cử động nữa. Cả người cả chó đều chỉ nằm thở hồng hộc như sắp chết.

“Ổn cả chứ, Ya-Bon?” Đại úy lo lắng hỏi.

Anh chàng gốc Phi vừa lồm cồm bò dậy vừa ồm ồm trong cổ họng. Patrice quẹt một que diêm. Dưới ánh lửa lập lòe, Patrice thấy Ya-Bon đang duỗi thẳng cánh tay duy nhất của mình ra đằng trước. Nơi bàn tay anh ta, lủng lẳng một con chó khổng lồ đang thở hồng hộc, cổ họng bị năm ngón tay thép của Ya-Bon siết chặt. Một đoạn dây xích bị đứt nối vào vòng cổ của con chó.

“Cảm ơn Ya-Bon. Tôi thoát được trong gang tấc đấy. Cậu thả nó ra được rồi. Tôi thấy nó không thể làm gì được chúng ta nữa đâu.”

Ya-Bon tuân lệnh. Nhưng chắc chắn anh ta đã siết cổ con chó quá mạnh. Nó quằn quại trên bãi cỏ một lúc, rên rỉ vài tiếng rồi nằm im bất động.

“Tội nghiệp!” Patrice nói. “Xét cho cùng, nó chỉ làm đúng nhiệm vụ của mình là ngăn chặn những kẻ xâm nhập như chúng ta... Chậc, ta cũng phải thực hiện nhiệm vụ của mình thôi, Ya-Bon ạ. Cũng chẳng dễ dàng gì đâu.”

Xa xa, có một vật gì sáng lóa lên, tuồng như một ô kính cửa sổ phản chiếu ánh sáng, soi bước anh đi và dẫn anh leo lên một dãy bậc thang khoét vào đá, băng qua những khoảng sân vườn nối liền nhau theo dạng bậc thang, đến một khu đất bằng phẳng nơi ngôi nhà được dựng lên. Ở phía này, tất cả các ô cửa sổ cũng tròn và trổ cao như dãy cửa sổ ngoài mặt phố, và cũng được lắp cửa chớp rất kiên cố, đóng im im. Nhưng có một ô cửa để mở, làm ánh sáng mà anh nhìn thấy lúc còn ở dưới kia lọt ra ngoài.

Sau khi dặn Ya-Bon nấp vào một bụi cây, Patrice lại gần ngôi nhà, lắng tai nghe ngóng. Có tiếng người xôn xao, văng vẳng bên trong, nhưng cửa chớp đóng quá chặt, anh không thể nghe hay nhìn thấy gì. Patrice tiếp tục lần mò theo các ô cửa sổ. Qua ô cửa thứ tư, anh thấy có bậc tam cấp.

Phía trên bậc tam cấp có một cánh cửa...

“Người ta đã gửi cho mình chìa khóa vườn.” Anh tự nhủ. “Thế thì chẳng có lý do gì mà cánh cửa dẫn từ nhà ra vườn này lại không mở.”

Cửa để mở thật. Tiếng xôn xao bên trong giờ đã nghe rõ hơn, và Belval nhận thấy âm thanh đó từ bên dưới cầu thang vọng lên. Dường như chiếc cầu thang này dẫn đến phần nhà không có người ở, được chiếu sáng nhờ ánh đèn tù mù phía trên đầu anh.

Anh leo lên trên. Một cánh cửa trên lầu một chỉ khép hờ. Anh thò đầu qua khe cửa rồi lách người vào bên trong. Anh thấy mình đang đứng ở một ban công hẹp trổ ra giữa một căn phòng rất lớn, tạo thành một gác lửng chạy khắp ba mặt căn phòng, dọc theo gác lửng là những giá sách lớn cao đến tận trần nhà. Ở mỗi đầu căn phòng có hai cầu thang xoắn ốc bằng sắt nằm sát tường. Sát lan can trên gác lửng cũng xếp đầy sách, giúp Patrice không bị những người dưới tầng trệt, cách chừng ba đến bốn mét, nhìn thấy.

Patrice nhẹ nhàng tách hai chồng sách ra. Đúng lúc đó, tiếng người bên dưới đột ngột trở nên ầm ĩ hơn, và anh thấy năm tên ban nãy la hét như những kẻ điên, đồng loạt lao vào một người khác và vật người đó nằm lăn ra sàn, làm người kia không kịp chống cự.

Thấy vậy, Patrice muốn lao ngay xuống cứu nạn nhân. Chỉ cần anh hô một tiếng, Ya-Bon sẽ lập tức xông vào; có Ya-Bon làm trợ thủ, chắc chắn anh sẽ hạ được năm tên kia thật gọn ghẽ. Nhưng anh lại không làm như thế, vì anh thấy bọn chúng không dùng vũ khí và có vẻ không định làm hại nạn nhân. Sau khi làm nạn nhân bất động, chúng chỉ ghì chặt cổ, vai và hai cổ chân người nọ.

Một trong năm tên nhanh chóng đứng lên, nói với giọng ra lệnh, chắc đây là kẻ cầm đầu: “Trói lão lại... Nhét giẻ vào mồm lão... Mà thôi, không cần, cứ để lão kêu cho đã đời. Có ma nào nghe được lão đâu...”

Ngay lập tức, Patrice nhận ra đó chính là giọng của một trong hai tên anh gặp ở nhà hàng ban sáng. Tên này nhỏ thó, ăn mặc đẹp đẽ, da hơi ngăm và có bộ mặt dữ tợn.

“Cuối cùng chúng ta cũng tóm được lão.” Gã nói. “Lão khốn! Tao nghĩ lần này lão sẽ phải mở miệng đấy. Đã sẵn sàng dùng đủ mọi biện pháp chưa, anh em?”

Một trong bốn tên còn lại hằm hè, giọng đầy hằn học: “Rồi! Và cùng một lúc, dù có gì xảy ra đi nữa!”

Tên vừa nói có hàng ria mép đen sì, xồm xoàm; và Patrice nhận ra đây là tên thứ hai mà anh đã gặp ở nhà hàng, tức là một trong hai tên toan bắt cóc Coralie và đã trốn thoát. Chiếc mũ phớt màu xám của gã để trên ghế.

“Mọi biện pháp cùng một lúc, và dù có gì xảy ra đi nữa ư, Bournef?” Tên cầm đầu cười khẩy. “Hay lắm, tiếp tục công việc thôi nào. Chà, Essarès, lão từ chối tiết lộ bí mật sao, lão già? Thế thì chúng ta phải vui một chút mới được!”

Mọi đường đi nước bước của chúng chắc chắn đã được chuẩn bị kĩ từ trước, các phần việc được phân công rất cẩn thận, vì hành động nào của chúng cũng đều được thực hiện rất nhanh chóng và gọn gàng tới mức khó tin.

Sau khi trói gỗ nạn nhân lại, chúng khiêng ông ta lên, ném vào một chiếc ghế bành có lưng rất thấp, rồi dùng dây thừng buộc chặt ngực và eo ông ta vào đó. Hai chân nạn nhân, vốn đã bị trói chặt vào nhau, bị chúng đặt lên trên mặt một chiếc ghế nặng trịch, cao gần bằng chiếc ghế bành, và chúng để cho hai bàn chân của ông ta thò ra ngoài. Sau đó, bọn chúng tháo giày và tất của ông ta ra. Tên đầu sỏ ra lệnh: “Vào lò!”

Giữa hai ô cửa trong số bốn cửa sổ nhìn ra vườn, có một lò sưởi lớn lửa cháy đỏ rực, có những chỗ như trắng xóa vì nhiệt độ rất cao nơi đáy lò. Đám người đó đẩy hai cái ghế với nạn nhân đang bị trói lại gần lò lửa, cho đến khi đôi chân trần của ông ta chỉ cách chỗ than đang cháy đâu chừng năm tấc. Tuy miệng bị nhét đầy giẻ, người đàn ông tội nghiệp vẫn ré lên những tiếng kêu kinh hãi, và mặc dù bị trói chặt, hai chân ông ta vẫn quằn quại và co rúm lại.

“Tiếp! Tiếp tục đi!” Tên thủ lĩnh hung hăng gào lên. “Gần nữa vào!”

Patrice Belval nắm chặt lấy báng khẩu súng lục.

“Mình phải xông tới thôi!” Anh tự nhủ. “Không thể để con người khốn khổ kia...”

Nhưng ngay giây phút quyết định đó, đúng lúc anh chuẩn bị đứng lên và hành động, một sự tình cờ vô cùng kỳ dị và hết sức bất ngờ xảy đến. Đối diện với anh, ở phía bên kia căn phòng, trên ban công liền với ban công anh đang đứng, anh thấy có một mái đầu phụ nữ. Mái đầu gí sát vào lan can, mặt tái mét và kinh hoàng tột độ, mắt mở to vì khiếp sợ trước cảnh tượng diễn ra bên dưới, trước ngọn lửa đang cháy bùng dữ dội.

Patrice nhận ra đó là Mẹ Coralie.

« Lùi
Tiến »