Bà Chúa Hòn

Lượt đọc: 21556 | 5 Đánh giá: 9,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 22 -

Tư Thiện ngồi uống rượu, trong căn nhà riêng sau nhà cô Huôi. Tuy không được chứng kiến cái chết của Xí Vĩnh, ông ta đã nghe dư luận đồn đãi, với khá nhiều chi tiết: nào là Xí Vĩnh bị nhốt trong cái cũi rồi trấn xuống nước, nào là cậu Cẩu muốn giết Xí Vĩnh để hăm dọa cô Huôi.

Nhưng đó là vấn đề phụ thuộc.

 Cô Huôi đã vắng nhà. Đứa nữ tỳ cho biết là cô đến nhà cậu Cẩu. Tư Thiện khen thầm:

– Đàn bà như vậy thiệt là đủ khí phách, xứng đáng làm bà chúa một cõi. Nếu nhu nhược thì bọn Mười Hấu sẽ giết luôn tới cô.

Nghĩ vậy, Tư Thiện bèn khóa cửa lại, không muốn cho bất cứ ai thấy mặt ông ta. Cũng may là bọn Mười Hấu quá quê mùa. Nếu biết nhìn xa hơn, Mười Hấu đã bắt ông ta để hăm dọa cô Huôi, như trường hợp Xí Vĩnh.

Tuy chưa đầu độc cậu Cẩu, nhưng Tư Thiện vẫn còn bản án treo mà bất cứ giờ phút nào Mười Hấu cũng được quyền đem ra xét xử lại: tội tình nghi làm gián điệp cho quân Lang Sa.

Mười Hấu chưa làm, vì dưới mắt ông ta, Lang Sa chỉ làm một nhóm vài trăm người, đến Rạch Giá vài mươi hôm để thị oai rồi qua xứ khác.

Tư Thiện khóa chốt cửa, nằm xuống.

Đột nhiên có tiếng gọi to:

– Ông ơi!

Đúng là giọng đứa nữ tỳ. Ông ta hỏi kỹ:

– Ai đó?

– Dạ, con!

– Chuyện gì lạ mà kêu tôi?

– Dạ, có người mang đến cho ông một gói trà.

Lập tức, Tư Thiện mở cửa. Đứa nữ tỳ cầm gói trà trên tay. Ông ta hỏi:

– Người đó đâu rồi?

– Dạ, họ muốn vô đây, nhưng con không cho. Họ nói rằng gói trà nầy để khen thưởng ông về buổi lễ.

– Được rồi!

Khi đứa nữ tỳ vừa quay mặt, Tư Thiện đóng cửa thật nhanh rồi mở gói trà. Trống ngực ông đánh mạnh nghe thình thịch. Ông để gói trà trên bàn, tự hỏi:

– Ai mà có quen với ta?

Gói trà được mở ra, để hé miếng giấy nhỏ, bên góc có ghi rõ ba lằn màu, hai lằn thì đúng hơn: xanh và đỏ, chính giữa có khoảng trắng.

Tư Thiện chụp miếng giấy, xé cái góc có ba sọc ấy mà bỏ vô miệng nhai nuốt. Ông ta trợn mắt, đọc mấy hàng chữ bên dưới. Đó là chữ Nho, do người thông ngôn ở đồn binh Rạch Giá gởi cho ông.

Lá thơ rất ngắn, đại ý người thông ngôn chuyển lời hỏi thăm đến Tư Thiện, cho biết rằng chừng mười ngày nữa có thể người Lang Sa kéo binh đến Hòn Chông.

Binh số Lang Sa rất ít, chừng mười người. Nếu thấy không có gì bất lợi, ngày mai Tư Thiện nên ra mé rạch mà đứng hai tay khoanh trước ngực để làm dấu hiệu.

Xem xong, Tư Thiện xé miếng giấy bỏ vô miệng. Với một tô nước trà nóng, ông ta nuốt gọn cái tài liệu quan trọng ấy.

Dưới mắt Tư Thiện thì vùng Hòn Chông nầy có địa thế hiểm trở. Gặp lúc khác, chưa ắt quân Lang Sa kéo đến được. Nhưng đây là lúc nhân tâm ly tán, ai nấy đều ngán cậu Cẩu. Với mười người và đôi ba khẩu súng, người Lang Sa và lính mã tà có thể bắt sống hoặc giết cậu Cẩu.

Điều thắc mắc của Tư Thiện vẫn là cô Huôi. Cô Huôi nên thương thuyết rồi đầu hàng trong danh dự với quân Lang Sa, Tư Thiện sẽ đóng một vai tuồng quan trọng.

Dạo nầy chắc cô Huôi đã chán chê cái địa vị bà Chúa Hòn rồi. Nếu cô thỏa thuận, nhà cầm quyền Lang Sa sẽ phong cho Tư Thiện làm chức tri huyện hoặc cai tổng. Chừng đó cô Huôi được tự do tái giá, không sợ dư luận. Hai vợ chồng tha hồ ngao du đó đây, sống với chút ít bổng lộc và huê lợi ruộng vườn.

Nói ra quá sớm, liệu cô Huôi tin lời không?

Lại còn cậu Cẩu! Nhứt định là cậu sẽ phản ứng mãnh liệt để rước lấy thảm bại nhục nhã. Nghe tiếng súng, bọn hộ vệ sẽ chạy trốn. Đó là chưa nói đến trường hợp vài đứa làm nội ứng hoặc đến đầu hàng trước khi người Lang Sa nổ súng.

Tư Thiện qua thăm cô Huôi.

Cô ngồi dậy đón tiếp ân cần:

– Khó lắm. Ông ráng chịu đựng vài ngày nữa là xứ nầy có nhiều chuyện thay đổi.

Nghe qua, Tư Thiện sửng sốt. Hay là cô Huôi đã bắt gặp đứa nữ tỳ lúc nó liên lạc với người từ Rạch Giá đến?

Ông ta hỏi:

– Thưa cô, hỗm rày chắc có chuyện lạ.

Cô Huôi lơ đểnh:

– Ông biết rồi, thấy rồi. Cậu Cẩu đang hung hăng đến mức tôi muốn tránh xa vài ngày. Ở đây, lúc cậu nổi cơn điên, có thể tôi bị mang họa. Còn ông thì nên tránh mặt. Ông Mười Hấu như người cỡi con trâu điên. Con trâu chạy lẹ, đụng đâu chém đó. Ông Mười chỉ biết cầm roi quất mạnh cho con trâu bớt điên, quay trở lại chuồng cũ. Nhưng càng quất thì con trâu càng chạy mau.

Tư Thiện phục thầm sự nhận xét của cô Huôi. Nhưng nếu cô Huôi ra đi, ông ta sẽ bị lấn hiếp, tội trạng cũ còn rành rành đó.

– Thưa cô, cô tránh về đâu?

Đôi mắt cô Huôi trở nên mơ màng:

– Về quê, ở với cha. Cha tôi hiền lành và khôn ngoan lắm. Ông không bao giờ đòi hỏi địa vị, danh vọng. Năm ngoái, tôi giúp ông một số tiền. Tuổi già, đâu cần ăn uống, rượu thịt. Ông đem tiền ấy trao cho một ông đạo, nhờ xây cất một ngôi chùa nhỏ. Tôi về ngôi chùa đó, xem thử còn thiếu sót điều gì không? Hoặc là cần dùng ít tiền nhưng mấy tháng qua, sư sãi không cho tôi biết.

Tư Thiện nói:

– Làm sao tôi theo cô cho tấm thân được an nhàn!

Như hiểu thâm ý của Tư Thiện, cô Huôi nói:

– Bây giờ thì chưa được. Nhưng ông đừng buồn. Đó là trời định. Ngày xưa, nghe ba tôi nói lại thì phen đó bông quỳnh hoa nở rộ. Ông đạo Đất biết rằng hễ hoa nở thì tôi được làm bà Chúa. Điều ấy đúng thật. Nhưng khó lắm. Số mạng của tôi giống như đóa hoa.

– Cô nói sao tôi chưa hiểu.

– Hoa có ba thời kỳ: khi mới trổ búp, khi nở và khi tàn héo rụng xuống.

– Bây giờ, cô đang lúc trổ bông?

Cô Huôi cười:

– Ông khen tôi. Nhưng tôi hiểu tôi nhiều hơn người khác. Quỳnh hoa là thứ hoa sớm nở tối tàn. Đáng lý ra tôi gặp nhiều tai nạn. Nhờ biết xử sự khéo léo, tôi sống đến ngày nay. Hoa trổ búp là lúc mới gặp ông Chúa Hòn. Bây giờ thì hoa nở, sắp sửa tàn héo.

Sự nhận xét ấy khiến Tư Thiện ngạc nhiên. Tuy rằng cô Huôi không hiểu tình hình chiến sự, không liên lạc với người Lang Sa hoặc triều Huế, nhưng cô đi đến một kết luận giống như Tư Thiện, căn cứ vào số tử vi.

Quả thật, cái địa vị bà Chúa Hòn của cô đã quá lung lay, chỉ còn là danh từ đẹp, tượng trưng, cho hậu thế nhắc nhở thôi.

Một khi quân Lang Sa kéo đến, làm sao cậu Cẩu chống nổi! Với tư thế yếu kém, dẫu ăn nói khéo léo đi nữa, cô cũng phải đầu hàng kẻ có khí giới mạnh hơn.

Tư Thiện cúi đầu chào:

– Thưa cô, tôi về.

Cô Huôi hỏi kỹ:

– Ông gặp tôi, có chuyện gì không? Nếu ai lấn hiếp, cứ cho biết.

Tư Thiện đã quá thỏa mãn. Ngày giờ mà ông ta được gần gũi cô Huôi đã gần kề. Cô Huôi là người biết sống tùy thời.

Cô Huôi nằm ngủ thiu thiu.

Đâu vào khoảng nửa đêm, cô giựt mình thức dậy. Phía nhà ông Mười Hấu đèn đuốc tối om.

Cô ra lịnh cho nữ tỳ:

– Tắt đèn ở phòng khách, khóa cửa cẩn thận, ai kêu thì đừng mở.

Nữ tỳ hỏi:

– Nếu họ kêu theo lịnh ông Mười hoặc cậu Ba thì làm sao?

Cô Huôi nói:

– Cứ bảo rằng ta đi vắng, thí dụ như ta đi chùa lễ Phật.

Bọn hộ vệ cứ chạy tới lui ngoài đường. Chúng nó bàn tán qua lại về cơn điên của cậu Ba. Có đứa quả quyết rằng oan hồn cûa Xí Vĩnh hiện về, nước dưới sông sôi lên ùng ục rồi từng cục lửa đỏ ké bay bổng đáp xuống nhà cậu Cẩu.

Cô Huôi ngáp dài, cố quên sự thất bại.

Ngủ một giấc, cô giựt mình thức giấc. Đứa nữ tỳ đem ngọn đèn từ nhà bếp lên. Nó khoát tay:

– Thưa cô, có người lạ.

Cô Huôi hỏi:

– Ai mà đến giờ nầy ? Ta đã căn dặn đừng cho họ vào nhà. Bọn hộ vệ ở ngoài cổng có xét hỏi không?

Nữ tỳ đáp:

– Đứa hộ vệ kêu cửa trước rồi kêu cửa sau. Con sợ bị cô rầy nên không dám lên tiếng. Lát sau đứa hộ vệ nói rằng ông Mười Hấu muốn tới đây.

Nghe qua, cô Huôi hơi bối rối. Mười Hấu đến nhà, lúc mặt trời chưa mọc, thì quả là ông ta đang thi hành thủ đoạn đen tối gì đó.

Chẳng lẽ ông ta tới đây để giết cô, hòng dẹp trừ tất cả những người chống đối!

Nhớ đến Mười Hấu, cô Huôi vẫn giữ thái độ cố hữu, không xem ông ta như kẻ thù. Là người lớn tuổi, ông ta luôn luôn trầm tĩnh. Nếu muốn giết cô, ông ta cũng cần chờ một vài tháng nữa. Bá Vạn và Xí Vĩnh bị giết, dân chúng đang xôn xao, bọn hộ vệ thì hoang mang đến cùng cực. Ngu dại gì mà Mười Hấu đến gặp cô để giết? Nghĩ vậy, cô nói lớn giọng:

– Ai muốn gặp ta? Hộ vệ đâu.

Từ ngoài kia, tên hộ vệ nói vọng vào:

– Dạ, ông Mười!

Như chờ đợi quá lâu nên sốt ruột, Mười Hấu lên tiếng:

– Thưa cô, tôi đây.

Cô Huôi hỏi:

– Ta là đàn bà, chẳng một ai được tới đây gặp ta lúc ban đêm. Tại sao không đến lúc ban ngày. Hãy chịu khó chờ khi mặt trời mọc. Phải Mười Hấu không? Hay là người khác giả dạng, tới đây bày trò ám muội?

Mười Hấu đau xót và lo sợ vô cùng. Lời của cô Huôi quá cứng rắn và lạnh lùng. Dường như cô muốn bỏ rơi tất cả sự nghiệp và khinh thường ông. Cô dám thách đố công khai.

Ứng phó cách nào bây giờ? Mười Hấu cứ gãi đầu, nói lẩm bẩm:

– Tội nghiệp tôi. Tôi đến một mình. Đến lúc nầy là thất lễ, nhưng…

Làm sao ông Mười dám nói sự thật! Cậu Cẩu đang nổi cơn điên, bò lăn trên nền nhà. Trời gần sáng rõ, nếu cơn bịnh kéo dài thì còn gì thể diện?

Bọn hộ vệ đang bàn tán và khinh khi cậu Cẩu. Lúc nầy, nếu cô Huôi triệu tập bọn chúng rồi ra lệnh là cậu Cẩu và luôn cả ông Mười phải trở thành xác không hồn.

Cô Huôi nói:

– Tại sao biết thất lễ mà cứ tới? Ông là đàn ông, tôi là đàn bà. Rồi đây, nhiều người nói xấu tôi.

Mười Hấu chưa biết trả lời thế nào cho gọn. Mặt trời sắp mọc, phương đông vài đợt mây nằm vắt ngang chân trời. Nếu chờ đợi thì e trễ nải công việc.

Một tên hộ vệ chạy nhanh vào:

– Ông ơi! Thưa ông…

– Cái gì?

– Đằng kia lửa cháy!

Mười Hấu truyền lịnh:

– Cứ múc nước tưới! Tụi bây chậm chạp quá.

– Dạ, lúc nãy ông không cho phép tụi tôi lại gần nhà.

– Bây giờ tao cho phép…

Rồi ông Mười gõ cửa nói nghẹn ngào:

– Cô ơi! Xin cô giúp giùm. Bằng không, tôi tự tử.

Cô Huôi nghe được câu chuyện bên ngoài. Đúng là cậu Cẩu nổi cơn điên. Vì chính ông Mười đang sợ sệt, không dám cho bọn hộ vệ đến gần nhà.

Cô ra lệnh cho nữ tỳ:

– Đốt thêm một ngọn bạch lạp rồi mở cửa.

Vừa qua khỏi ngưỡng cửa, ông Mười quỳ xuống:

– Xin cô giúp giùm.

Để ông Mười được bình tĩnh, cô Huôi khoát tay đuổi đứa hộ vệ. Nữ tỳ khép cửa lại.

Cô ra lệnh cho nữ tỳ vào trong rồi nói:

– Ông Mười cứ nói thật.

– Tôi biết cô buồn giận…

– Ừ! Đã biết thì còn tới đây làm gì? Cậu Ba giết ai thì giết. Cậu đủ quyền hạn, nhưng dùng cái cũi để nhốt một cô gái rồi nhận nước thì quả thật là tàn ác. Dân chúng tới xem, họ sợ sệt. Hễ quá sợ thì họ không còn sợ nữa. Ít ra, khi đóng cái cũi, ông nên cho tôi biết. Bây giờ cậu Ba nổi cơn điên!

– Dạ phải. Xin cô tới, nói cách nào cho cậu …bớt điên.

– Ông đến đây chỉ vậy thôi?

– Vì sợ cậu Ba chết thình lình, tôi cầu cứu với cô. Lúc nãy, cậu đốt nhà…

Cô Huôi đứng dậy, ra đứng trước sân. Ngọn lửa từ từ hạ xuống. Đúng là điềm cậu Cẩu sắp chết. Bỗng dưng mà cô Huôi cười khanh khách:

– Ông cho tôi là người lên đồng lên bóng, là thầy phù thầy pháp sao chớ? Tôi mà trị bệnh điên cho kẻ khác? Lát nữa tôi mới tới. Ông về đi.

Ông Mười Hấu chết điếng trong bụng. Ngọn lửa tắt là do bọn hộ vệ chạy chữa. Nhứt định là cậu Cẩu đang quát mắng, ghen tức với bọn hộ vệ.

Lúc nầy nếu cô Huôi bỏ đi nơi khác hoặc gọi tất cả bọn hộ vệ đến đây thì cậu Cẩu bị truất phế trong nháy mắt.

Ba bốn đứa hộ vệ chạy nhanh về phía ông Mười, theo sau là chín mười đứa khác. Đứa dẫn đầu lên tiếng:

– Ông ơi! Cậu Ba đòi xử tử bọn tôi như …cô Xí Vĩnh. Ai cứu bọn tôi bây giờ?

Mười Hấu khoát tay:

– Trở về đằng kia!

Cô Huôi nhận ra thâm ý ấy nên cười to:

– Tôi trở thành người trị bệnh điên sao chớ! Ông coi tôi ra gì?

– Dạ, tôi lạy cô. Cô là người …có quyền lực cao siêu. Xin lạy cô lần chót.

Mười Hấu đi trước, cô Huôi và đứa nữ tỳ theo sau. Bọn hộ vệ cúi đầu chào cô Huôi rồi không ai bảo ai, xúm nhau xếp hàng phía sau

Mười Hấu ngỡ rằng bọn chúng muốn tập họp lại để chờ cô Huôi ra lịnh khởi loạn.

Cô Huôi như không chú ý tới chi tiết ấy. Khi đến cổng, cô nghe tiếng khóc mếu máo trong nhà. Đúng là giọng cô Ngó. Thoạt tiên, ông Mười ngỡ rằng cậu Cẩu đã chết. Nhưng cô Ngó đã đến ngoài thềm mà phân trần:

– Nó chưởi tôi. Nó xé quần áo, rồi nằm lăn ra đất. Hồi nãy nó đốt nhà…

Cô Huôi vào trong, truyền cho ông Mười Hấu đốt đèn lên thật sáng. Cậu Cẩu hỏi:

– Ai làm gì vậy?

Cô Huôi thấy tình thế quá phức tạo. Nếu bỗng dưng mà cậu Cẩu gọi đích danh cô để chưởi mắng thì còn gì là thể diện. Trong số người đang nắm quyền hành ở vùng Hòn Chông, chỉ riêng cô là có danh nghĩa đứng đắn, là trong sạch nhứt. Cô không trả lời, cứ bước vô phòng.

Cậu Cẩu lồm cồm ngồi dậy:

– Ai đó?

Cô Huôi nói:

– Tôi đây. Nãy giờ ai lấn hiếp cậu? Cậu cứ nói rõ, tôi hứa trừng trị người ấy.

Đôi mắt cậu Cẩu trợn tròn:

– Con Xí Vĩnh.

– Nó chết rồi. Ngày mai, nên cúng món gì cho nó ăn..

– Tại sao nó khuấy rối tôi?

Cô Huôi không còn lạ gì cái bản tánh ngạo mạn, xem trời bằng vung của cậu Cẩu:

– Nó là ma quái, đâu dám khuấy rối cậu? Hơi đâu mà cậu tốn thời giờ để ăn thua với con ma đó. Cậu ban bố chút ít muối gạo là nó chạy đi nơi khác.

Thời khắc trôi qua, yên lặng. Đôi môi cậu Cẩu như mấp máy, nói chưa ra lời. Cô Huôi truyền lịnh:

– Nữ tỳ đâu! Rót rượu cho cậu uống.

Cậu Cẩu nhìn vào cô Huôi. Cô trợn mắt:

– Cậu chưa tin tôi sao? Lúc trước, tôi nằm chiêm bao thấy ma quỷ hiện về. Nhờ lớn tuổi nên tôi không nổi giận như cậu. Mình là người giàu sang, nhiều quyền thế. Hơi đâu mà giận kẻ đói khát. Túng thế, họ phải liều mạng. Cậu tin lời tôi không? Nãy giờ, vì có tôi ở đây nên con Xí Vĩnh không dám tới. Xưa kia nó sợ tôi lắm.

– Cô là người …nhiều oai quyền. Lạ thật, nãy giờ con Xí Vĩnh biến mất. Để tôi nằm xuống coi thử nó còn ở đây không?

Tuy không phải là người chuyên trị bệnh điên nhưng cô Huôi biết dùng tâm lý để điều khiển con bệnh. Dưới mắt cô, cậu Cẩu chỉ là cái xác không hồn, quá mệt mỏi chán chường

Ông Mười Hấu đến gần, ngỏ lời khen ngợi:

– Nhờ cô chỉ dạy nó. Nó muốn nằm ngủ rồi. Ngày mai, theo ý cô, nó nên uống thuốc hay là đến gặp ông đạo Đất?

Cô Huôi cười dòn:

– Cậu ta sợ con Xí Vĩnh rồi sanh ra rối trí. Tôi giải thích cặn kẽ.

Đột nhiên, cậu Cẩu ngồi dậy:

– Nó đó!

Cô Huôi vội trấn áp ngay, giả vờ như thấy rõ con Xí Vĩnh:

– Tôi thấy rồi. Nó sợ sệt, chắp tay xá tôi?

Rồi cô lớn giọng:

– Xí Vĩnh muốn ăn thì ta cho chút muối gạo. Đứng ngoài cửa mà chờ. Rằm tháng bảy năm nay ta xây cho mi một căn nhà. Vừa ý chưa…Thôi cám ơn làm gì! Cứ lấy một chút ít gạo muối rồi về cõi âm.

Lát sau, cậu Cẩu cầm một nắm nhang, cắm trước sân. Tên hộ vệ trao cho cậu một dĩa muối, một dĩa gạo. Cậu ném gạo tứ phía rồi cười tủm tỉm như đứa bé lên năm:

– Hồi nhỏ, cúng rằm tháng bảy, má tôi làm như vầy! Má đâu rồi?

Cô Ngó đến an ủi cậu con. Ông Mười Hấu mừng rỡ vì cậu Cẩu đã chịu lên giường nằm. Nhưng cậu vẫn cự nự, muốn đốt cái giường để xua đuổi Xí Vĩnh.

Cô Huôi khuyên bảo:

– Nên gọi nó đi ngủ, cho nó nằm trên bộ ván ngoài phòng khách.

Lần đầu tiên, cô Huôi gọi cậu Cẩu bằng “nó”.

Cô quay mặt, ra về.

Bọn hộ vệ chắp tay xá. Cô đi khuất mà bọn chúng còn bàn tán:

– Cô xứng danh là bà Chúa Hòn, ma quỷ phải sợ.

Mặt trời lên cao tự bao giờ.

Rõ ràng cô Huôi không muốn xúi giục bọn hộ vệ khởi loạn. Nhưng lúc nầy uy tín cô đang lên tột độ. Dường như Mười Hấu bắt đầu lo sợ. Trong hiện tại, cô Huôi chưa làm cái gì để trả thù cái chết của Xí Vĩnh, nhưng ngày mai, ngày mốt, ai biết cô sẽ làm gì.

Cảm thấy mình không còn uy tín đối với bọn hộ vệ, ông Mười nghĩ đến biện pháp duy nhứt là quỳ lạy để xin lỗi.

Đến trưa, ông ta mặc chỉnh tề đến nhà riêng của cô Huôi. Cô mời ngồi. Ông ta quỳ xuống xin phép lạy hai lạy. Cô Huôi mỉm cười chua chát:

– Lạy lục để làm gì? Phải chi hồi tháng trước ông biết sợ tôi thì ngày nay đâu đến nỗi nầy. Bọn hộ vệ kỳ cục lắm.

Ông Mười Hấu hỏi:

– Cô dạy điều chi?

– Ông nên nhớ rằng bấy lâu bọn hộ vệ phục tùng thằng Cẩu là vì bọn nó tin rằng thằng Cậu là “Chơn mạng đế vương” hoặc ít ra cũng có số tử vi. Dè đâu thằng Cẩu lại sợ ma. Mà con ma đó do thằng Cẩu tạo nên. Nó ác độc quá!

Ông Mười Hấu cúi mặt, sợ sệt. Cô Huôi khinh rẻ cậu Cẩu, gọi bằng “thằng” tức là cô khinh rẻ ông. Ông cúi lạy trong khi cô can gián:

– Được rồi. Tôi hứa không bao giờ tranh giành quyền lợi với bất cứ ai…

Ông Mười nói:

– Cậu Cẩu còn đau yếu. Mỗi ngày, dám mong cô đến thăm vài lần..

Cô Huôi hỏi:

– Chi vậy?

– Dạ, để cho bọn hộ vệ kính nể.

Cô Huôi đáp:

– Bọn nó đâu phải là trẻ con. Nên làm cách khác. Dân chúng ở đây tin Trời Phật. Lẽ dĩ nhiên họ cho rằng cậu Cẩu nổi cơn điên chỉ vì Trời Phật muốn trừng phạt kẻ làm điều ác đức. Ngày trước ông Bá Vạn chết bất ngờ, thiên hạ bàn tán vì không thấy tận mắt đám ma của ổng. Giờ đây cậu Cẩu trấn nước con Xí Vĩnh; nó là người đầu ấp tay gối với cậu, ấy thế mà không được khoan hồng. Nếu người dân đen phạm tội, cậu còn dùng đến hình phạt dã man hơn.

Ông Mười Hấu hỏi:

– Xin vâng lời cô. Tôi hứa nói với cậu là cất ngôi chùa thật to để tạ lỗi Trời Phật.

Cánh cửa vụt mở.

Cậu Cẩu xuất hiện với nụ cười hiền hòa. Chưa chi cậu quỳ xuống để lạy cô Huôi:

– Thưa dì…

Trong phút giây, cô Huôi xúc động:

– Thôi đứng dậy đi. Nhớ lo cất chùa. Nãy giờ, cậu nghe rõ câu chuyện chớ?

Cậu Cẩu nghiêm mặt:

– Khi nào tôi nổi giận thì khác. Bây giờ tôi hết giận, hết sợ ma quỷ rồi. Tôi giết con Xí Vĩnh vì tôi ghen với ông Bá Vạn.

Cô Huôi đứng dậy:

– Nhớ cất chùa. Chuyện cũ bỏ qua đi.

Trên đường về cô Huôi hơi bực dọc. Rõ ràng là cậu Cẩu quá khôn ngoan, muốn bám víu lấy địa vị cũ. Như vậy là từ rày về sau cô vẫn đóng vai trò tượng trưng để rồi thỉnh thỏang nâng đỡ và củng cố địa vị cho cậu Cẩu. Mỗi lần cậu và ông Mười Hấu năn nỉ là mỗi lần cô mất uy tín với dân chúng.

Mặc nhiên, họ xem cô là đồng loã với kẻ làm điều ác. Hình ảnh Xí Vĩnh hiện ra với đôi mắt u buồn. Chừng nào cô rửa hận cho nó? Nó chết vì quá tin vào cô.

Làm sao bây giờ? Xúi giục Tư Thiện và bọn hộ vệ nổi loạn, giết Mười Hấu và cậu Cẩu chăng? Chuyện ấy dễ thực hiện lắm, với điều kiện thi hành nhanh chóng trong khi bọn hộ vệ đang oán ghét cậu Cẩu! Trong giây phút, cô thở dài.

Ông đạo Đất tiên đoán rằng đóa hoa có ba thời kỳ. Phải chăng đây là giai đoạn chót, khi đóa hoa héo, sắp rụng? Cô nghĩ thầm:

– Ngày mai ta về núi Đất thăm nhà, sẵn dịp thăm cha ta để hỏi ý kiến. Cầu mong ông đạo Đất bói cho ta một quẻ tốt miễn là đóa hoa đừng rụng xuống bùn nhơ.

Tư Thiện cứ áy náy, trông cho mặt trời mọc.

Trời bừng sáng, ông ta thức, rửa mặt. Công việc đầu tiên là giả vờ qua thăm cô Huôi. Hổm rày, cô đối xử tử tế, xem ông là bạn quý. Nhưng nếu biết rằng ông cố ý thông đồng với quân Lang Sa để bán đứng vùng Hòn Chông này thì chưa chắc cô tha thứ.

Từ bao lâu rồi, cô sống với cái thể diện ‘‘bà chúa Hòn’’. Quân Lang Sa đến cô chắc là người đàn bà không quyền hạn. Hoặc là cô sẽ tự tử. Hoặc là cô bị giết, nếu chống lại.

Với nhan sắc sẵn có, cô có thể là miếng mồi xác thịt khá ngon lành, dành cho tên cai, tên đội Lang Sa nào đó tha hồ hưởng thụ

Vì yêu cô Huôi, Tư Thiện muốn cho cô tránh bao nhiêu nhọc nhằn. Nhưng nói trước thì nhứt định là có sự hiểu lầm, nguy hại cho tánh mạng ông ta.

Khi ra trước sân, ông gặp đứa nữ tỳ. Nó múc nước từ ngoài suối đem về. Đúng là đứa nữ tỳ hôm qua đem cho ông gói trà, bên trong có bức thư.

Nó cúi đầu chào. Ông mỉm cười thân mật :

-       Cháu làm việc cực nhọc quá.

Nó đáp :

-       Nhưng làm như vậy sung sướng hơn ở nhà.

-       Cô có ở nhà không ?

-       Cô đi nhà ông Mười vào lúc hừng sáng.

Tư Thiện nghĩ ra một mưu kế để mua chuộc con bé. Nếu nó tiết lộ chuyện người lạ mặt tặng gói trà thì tánh mạng ông như chỉ mành treo chuông. Ông nói:

- Cứ nghỉ cho khỏe. nếu rảnh thì xách cho tôi một vài hũ nước, tôi hứa…

Đứa nữ tỳ lộ vẽ mừng rỡ :

-Bên nhà còn nước, ở không thì buồn, nên cháu tìm công việc mà làm. Để cháu múc cho ông bốn hũ nước.

Chờ khi nữ tỳ vô nhà. Tư Thiện mở tủ đem ra nửa nén bạc. Đó là số bạc mà ông ta gìn giữ kỹ lưỡng khi bị bắt tại suối Mo So. Suốt tháng qua ông không làm gì ra tiền.

Đứa nữ tỳ đổ nước vào cái lu sau nhà.

Khi nó trở ra, Tư Thiện nói :

-      Cháu cứ nhận phân nửa nén bạc này cho tôi vui. Hôm qua, cháu giúp tôi một chuyện, hôm nay thêm một chuyện nữa là hai.

Sau khi nhìn quanh quất nữ tỳ đưa tay ra nhận lãnh phân nửa gói bạc. Nó dấu vào túi áo thật nhanh.

-      Sợ quá. Ông cho cô biết thì ắt là tôi bị đuổi.

Tư Thiện đáp:

-      Tôi là người lớn. Cháu cũng vậy, đừng cho ai biết bất cứ chuyện gì. Thấy cô Xí Vĩnh không ? Bị nhốt rồi bị chấn nước, chết thê thảm. Cô thì hiền lành, nhưng còn nhiều người khác nữa.

Khi nữ tỳ ra đến sân, Tư Thiện nói với theo :

-      Được rồi. Khi nào cần tôi gọi. Hũ nước ban nãy đủ cho tôi xài đôi ba ngày.

Khi nữ tỳ đi khuất, Tư Thiện hối tiếc vô cung. Nếu có nhiều tiền bạc hơn, ông sẽ mua chuộc nó, để nó ra chợ Rạch Giá tìm người cai đồn, hỏi kỹ về kế hoạch sắp thi hành.

Cô Huôi từ nhà ông Mười Hấu trở về. Tư Thiện bèn quay mặt chỗ khác, để khỏi có sự hiểu lầm về sự tiếp xúc vừa rồi.

Buổi cơm dọn ra, do đứa nữ tỳ khác mang đến. Tư Thiện ngồi ăn chậm rãi, chờ lúc đúng ngọ. Ăn xong, ông ta ra ngoài sân đứng thẩn thơ.

Hôm nay là ngày quyết định. Quân Lang Sa sẽ đến, chắc là trong giòng mươi ngày hoặc một tháng. Trong phút giây, Tư Thiện cảm thấy buồn buồn.

Con rạch chạy cong queo trước mặt nhà, vài bầy vịt trắng phau lội nhởn nhơ, rỉa mấy giề lục bình. Sương đã tan. Bên trái ông, trên sườn đồi, bọn tiều phu lo đốn củi, vài đám khói bốc lên. Chiếc ghe thương hồ nào đó đã khuất dạng, còn bỏ lại chút ít âm hưởng điệu hò.

-      Họ đâu biết rằng sự vật đổi sao dời ! Mười Hấu và cậu Cẩu chắc là sẽ chết. Tháng sau vùng Hòn Chông đâu còn cảnh yên lặng với nét đẹp cổ kính ngư, tiều, canh, độc …Người Lang Sa đến, nhứt định là xảy ra nhiều trường hợp ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông. Ngôi nhà của Mười Hấu sẽ cháy. Mình chỉ thương cho cô Huôi.

-      Nếu sanh trong thời hòa bình, thạnh trị, cô làm được nhiều việc lớn hơn !

Bóng dáng cô Huôi hiện ra ngoài đầu ngõ. Bấy giờ Tư Thiện mới nhận ra sự vô ý của mình. Ông ta cúi đầu chào :

-      Chào cô…

Cô Huôi muốn tìm một người để nói chuyên( cho đỡ buồn. Lúc nãy sau khi giải quyết xong công việc cô thấy rẳng cậu Cẩu còn nắm quyền một thời gian nữa. Và suốt thời ấy cô chịu đựng bao nhiêu bu6c dọc khác :

-      Ông rảnh không ? Mời ông ăn cơm với tôi. Hồi sáng đến giờ tôi hơi mệt.

Nếu nhận lời dùng cơm thì làm sao ra trước mé sông để làm ám hiệu với người thay mặt cho viên cai đồn chợ Rạch Giá ? Bỏ lỡ cơ hội này, bao nhiêu phiền phức sẽ xảy ra. Quân Lang Sa kéo đến bất ngờ. Làm sao ông trở tay cho kịp.

Đó là chưa nói đến trường hợp cai đồn lên án Tư Thiện về tội phản bội nhà nước Lang Sa cố ý giúp sức cho cậu Cẩu để chống cự lại.

Tư Thiện nói lẩm bẩm :

-      Dạ tôi mới ăn cơm rồi.

Nhưng cô Huôi vẫn cương quyết :

-      Ăn rồi thì uống trà, ăn mứt hột sen. Tôi cần bàn bạc với ông.

Tư Thiện riu ríu theo sau cô Huôi. Nắng lên cao. Làm sao từ chối lời mời mọc này cho được?

 Khi vô nhà cô Huôi, Tư Thiện buồn rầu như một tử tội sắp đến giờ hành hình. Hai cánh cửa đóng lại, bên trong chỉ có thếp đèn và hai ngọn nến cháy lờ mờ.

Làm sao ông ta vừa nói chuyện, vừa liếc ra ngoài để xem chừng bóng nắng?

Mâm cơm dọn ra. Cô Huôi vào phía sau để rửa mặt. Đứa nữ tỳ đến gần ông. Đúng là con bé vừa nhận nửa nén bạc hồi sáng. Không bỏ lỡ cơ hội, ông nói khẽ:

-      Lát nữa, cháu coi chừng ngài sân. Ai đến tìm, thí dụ như người tặng gói trà hôm trước thì cháu vô đây cho tôi biết.

Đứa nữ tỳ hỏi khẽ:

-      Có cô ở đây, tôi làm sao?

-      Cháu gãi lên đầu là tôi hiểu…

Cô Huôi trở ra, nâng chén cơm lên, ăn ngon lành.

-      Tôi định vài ngày nữa là về quê

Tư Thiện sửng sốt nghĩ đến ngày ly biệt:

-      Nếu vậy, thưa cô, tôi ở đây một mình, buồn lắm.

Cô Huôi đáp:

-      Nhưng ông theo tôi thì khó coi quá. Ông chờ vài ngày chớ gì? Hồi nãy, tôi bàn cuyện như vầy: cậu Cẩu xuất tiền ra, xây cất một kiểng chùa để tạ tội với Trời Phật. Còn tôi nhơn dịp đó về quê nhà, thăm cha, thăm ngôi nhà cũ. Mệt lắm rồi. Tôi cố ý cho cậu Cẩu và Mười Hấu hiểu rằng không bao giờ tôi ham địa vị. Ông nghĩ sao?

Tư Thiện mừng thầm. Nếu chỉ một mình ông ta ở lại đây may mắn biết chừng nào? Ông ta tha hồ tiếp xúc với viên dọ thám, từ chợ Rạch Giá đến, lúc cô Huôi vắng mặt. Quân Lang Sa đến nhứt định là cô nhờ ông bảo vệ cho, ngoài ra còn ai nữa!

Hồi lâu, Tư Thiện giả vờ suy nghĩ:

-      Cậu Cẩu mà cất chùa, chuyện không ai tin được!

Cô Huôi đáp:

-      Nhưng ông nên nhớ rằng dân chúng dễ nhớ mà cũng dễ quên.

-      Chừng nào cất chùa, thưa cô? Liệu cậu đủ kiên nhẫn hay không?

Cô Huôi không trả lời ngay. Tư Thiện giựt mình vì đã trót xen vào công việc riêng của cô. Vì thấy viễn ảnh bi quan, ông cho rằng ngôi chùa không bao giờ cất xong. Tiền bạc thì có dư nhưng vài tháng nữa, cậu Cẩu sẽ hóa ra người thiên cổ.

Cô Huôi gật đầu như theo dõi ý nghĩ riêng.

-      Ngôi chùa xây cất càng lâu cáng tốt. Ít ra, trong suốt khoảng thời gian ấy, cậu không dám giết hại bất cứ người nào khác.

Bữa cơm vừa chấm dứt.

Tư Thiện nhìn phía sau bếp. Đứa nữ tỳ bước ra, gãi lên đầu. Đó là dấu hiệu có khách đến.

May thay, cô Huôi đứng dậy.

-      Để tôi rửa tay, phía sau.

Đứa nữ tỳ đến gần Tư Thiện:

-      Làm sao bây giờ? Người đó tới. Một người đàn ông.

Lúc bối rối, Tư Thiện quyết định.

-      Dẫn người đó vô nhà tôi. Bây giờ, tôi còn ở đây, đừng cho cô biết.

Đứa nữ tỳ xuống nhà bếp, sau khi giả vờ châm thêm nước vào cái ấm. Cô Huôi nói:

-      Ngày mai hoặc ngày mốt là tôi về quê, luôn dịp mời vài ông sư đến đây xem địa thế cất chùa. Ở nhà, có túng thiếu gì không?

Và muốn kiếu từ thật gấp, Tư Thiện đáp:

-      Dạ, tôi không cần dùng tiền. Cơm nước như vậy, đủ rồi…

Cô Huôi nói, giọng tình tứ

-      Tôi về nhanh. Đi xa thì nhớ ông lắm đó.

Ra khỏi nhà cô Huôi, Tư Thiện mừng quýnh. NHà ông ta và nhà cô cách nhau bằng một bức tường rào. Đứa nữ tỳ đứng lấp ló, nói với theo:

-      Người khách tới, đòi vô nhà ông.

Tư Thiện hoảng sợ. Nếu sự việc này thấu tai cô Huôi hoặc người nào khác, thí dụ như bọn hộ vệ ở nhà Mười Hấu thì tánh mạng ông ta như chỉ mành treo chuông. Tư Thiện không dám nhìn thẳng đứa nữ tỳ:

-      Được rồi. Đừng cho ai biết, họ sẽ giết cháu như con Xí Vĩnh vậy. Vài ngày nữa, tôi cho thêm bạc. đây là người bà con tới thăm.

Vào nhà, ông Tư Thiện cứ nhìn dáo dác. Phòng khách không một bóng người. Bỗng nhiên ông nghe tiếng ho trong phòng ngủ. Ông nói:

-      Ai?

Trong buồng có giọng trả lời, kéo dài như người ghiền thuốc phiện:

-      Ta là …Mười Hấu!

Tư Thiện đã yên tâm, nhớ đến một giọng quen thuộc. Đó là một giọng khôi hài, người nói có vẻ thoải mái lắm. Ông hỏi:

-      Ai vậy? Nói chơi là tối kỵ…

Khi vô phòng ngủ, ông cố gắng lắm mới khỏi la lên :

-      Mầy ! Năm Hí ! Trời ơi !

Năm Hí chính là chàng trai đã từng theo Tư Thiện lúc biểu diễn ‘‘sơn đông mãi võ’’. Anh ta còn trẻ, tuổi hơn ba mươi, cuè1 lo đánh trống và đánh phèng la mỗi khi Tư Thiện sắp nhảy vòng lửa.

Bàn tay Tư Thiện đè vai rồi bịt miệng Năm Hí :

-      Tình thế khó khăn lắm. Để tao ra ngoài khép cửa lại. Rủi bề gì, hai đứa mình bị nhốt trong cái cũi rồi bị nhận nước.

Năm Hí ngồi dậy vấn điếu thuốc.

-      Làm sao có chuyện đó được. Ngày hôm kia, tôi thấy rồi. Cậu Cẩu và Mười Hấu thật quá tàn ác. Nhưng cô Huôi đủ sức bảo vệ tánh mạng ông chớ ! Ông là người tình của cô ta mà ! Tốt phước quá, hèn gì ông không chịu trở về chợ Rạch Giá. Vài năm nữa, ông được phong chức ‘‘ông chúa Hòn’’ !

Thái độ vui vẻ, lạc quan của Năm Hí khiến Tư Thiện hết lo âu. Ông ta hỏi :

-      Chừng nào ?

-      Thì ra ngoài khép cửa he hé vậy thôi. Đáng lý thì tôi mời ông về chợ Rạch Giá để bàn tính. Làm ăn như ông có ngày chết cả bọn. Tôi giao hẹn đúng ngọ, ông ra trước bến để làm dấu hiệu. Cực chẳng đã, tôi phải lủi vô đây. Ra về mà không gặp ông thì khổ quá.

-      Đó là gặp chuyện thình lình. Cô Huôi đang ăn cơm chẳng lẽ nửa chừng tôi bỏ đi.

Câu chuyện giữa Tư Thiện và Năm Hí trở nên thân mật. Trước tiên, Năm Hí cho biết nội trong đêm nay anh ta phải về chợ Rạch Giá để gặp viên cai đồn mà báo cáo sự việc. Năm Hỉ cho biết thêm :

-      Ông quan ba ở Vĩnh Long mới tới để ra lịnh chiếm cứ tất cả vùng đồi núi Hòn Chông.

Tư Thiện hỏi

-      Chừng nào kéo binh tới đây ?

Năm Hí đáp :

-      Chiếm cứ mà không kéo binh tới, điều đó mới khó. Bởi vậy, người Lang Sa mới cần dùng tôi và ông, làm cách nào … cho dân chúng miệt này đầu hàng theo người Lang Sa.

Chưa chi,Tư Thiện cau mày :

-      Khó lắm. Đánh giặc mà không dùng súng đạn thì khó quá. Cậu Cẩu là đứa liều mạng,  hung hăng. Chỉ còn một cách là đầu độc hoặc ám sát. Nhưng con xí Vĩnh bị bắt quả tang, ai dám bắt chước nó lần thứ nhì ?

Năm Hí đáp :

-      Tôi bàn kỹ với viên cai đồn Rạch Giá. Ông không muốn giết bất cứ ai ở Hòn Chông, miễn là tất cả đều …đầu hàng rồi lãnh chức vụ mới.

Tư Thiện vẫn chưa hiểu :

-      Vậy thì chiếm vùng đồi núi này để làm gì ? Cứ để cho cậu Cẩu làm chúa. Cậu Cẩu đâu có đụng chạm gì người Lang Sa ở ngoài chợ Rạch Giá hoặc Hà Tiên !

-      Ông chưa hiểu rõ ý định người Lang Sa. Họ muốn cho vùng Hà Tiên thành đất của họ. Nếu ai chống cự với họ, cậu Cẩu truy nã ráo riết. Phía Đồng Tháp Mười, nhiều toán nghiã quân nổi dậy. Họ sợ nay mai Hòn Chông trở thành sào huyệt…

-      Tôi hiểu rồi. Nhưng chắc chắn là cậu Cẩu không đầu hàng bất cứ ai. Giết cậu Cẩu lúc này là điều khó, cô Huôi còn chịu bó tay.

Năm Hí cằn nhằn :

-      Người Lang Sa hứa ban thưởng cho ông chức cai tổng, tôi làm phó tổng. Ngoài ra, khi nào có lịnh trưng khẩn đất đai, tôi với ông sẽ trở thành đại điền chủ, mỗi người được ban thưởng vài ngàn mẫu ruộng. Trong thời loạn, bao nhiêu người chạy trốn, bỏ ruộng. Nhà nước Lang Sa không nhìn nhận những người chủ đất bối đảng cựu vì bộ sổ đã xiêu lạc.

-      Khó quá !

-      Tại sao khó ? Nếu vậy thì hổm rày ông ở đây chỉ là để giải trí, bày lễ lộc cho vui mắt cậu Cẩu. Tôi ở ngoài bờ biển thỉnh thoảng bơi xuồng vô đây, nghe ngóng tin tức.

Tu Thiện cười dòn :

-      Tôi như người ở tù, làm sao thuyết phục được cậu Cẩu và cô Huôi ? Ít ra, người Lang Sa cũng giúp tôi vài chuyện, thí dụ như biểu dương lực lượng, cho nổ vài phát súng khi xa khi gần.

Năm Hí đáp :

-      Vậy thì dễ. Tôi hứa giúp ông. Ngoài biển, bốn năm chiếc tàu sắt chạy tới lui …

-      Nhưng như vậy chưa đủ. Cậu Cẩu là người quá ngạo mạn, tin dị đoan…

-      Tôi trao ông một khẩu súng, ông dám gìn giữ không ?

Tư Thiện đáp :

-      Chưa cần. Nhưng đôi ba ngày nữa. Cô Huôi và cậu Cẩu sẽ tới Hòn Đất mà cất kiểng chùa và viếng ông Đạo Đất. Chú làm cách nào tùy ý. Miễn là đừng đụng chạm tới tánh mạng dân chúng.

« Lùi
Tiến »