Ngày cô Huôi về thăm núi Đất tuy không được tổ chức trọng thể nhưng dân chúng địa phương muốn cho cô hãnh diện. Vùng núi Đất nghèo nàn nhưng là nơi phát tích của một bà Chúa hiền lành, uy nghi, có khả năng cảm hóa kẻ hung ác như cậu Cẩu.
Ông Tư Thính và hai ba ông kỳ lão đến tận Hòn Chông để rước cô Huôi. Cậu Cẩu xin phép đi núi Đất để tìm nơi xây ngôi chùa. Cô Huôi không đồng ý cho lắm, gọi ông Mười Hấu đến mà chỉ dạy:
– Chẳng lẽ ta bỏ vùng Hòn Chông nầy trong vòng năm bảy ngày, rủi Hòn Chông làm phản thì làm sao trở tay cho kịp.
Mười Hấu lại lo âu. Hay là cô Huôi tạm rời Hòn Chông để tránh mọi trách nhiệm? Cô cố ý đi vắng, thừa cơ hội ấy, bọn hộ vệ nổi lên. Dường như mọi người đều ngao ngán, trông chờ một sự đổi thay, sau khi họ chứng kiến cái chết thê thảm của Xí Vĩnh.
Cô Huôi nói thêm:
– Vài tháng nữa, tôi về quê ở luôn. Ông Mười Hấu và cậu Ba tha hồ hành động. Đừng hỏi ý kiến tôi bất cứ chuyện gì. Tôi còn có thể diện với dân chúng. Và sau khi chết, tôi không muốn ai nguyền rủa cả dòng họ.
Mười Hấu đáp:
– Nếu không có cô, gia đình tôi đâu được sung sướng như vầy. Chúng tôi mang ơn cô và muốn đền ơn.
Cô Huôi cười lạt:
– Người đáng cho ông mang ơn là ông Bá Vạn. Bá Vạn đã sắp xếp mọi việc. Ông Chúa Hòn quá linh thiêng nên trừng phạt Bá Vạn rồi…Thôi, cứ yên tâm mà ở lại Hòn Chông, tôi đi chừng vài ngày là trở về.
Lát sau, cô Huôi cho đứa nữ tỳ gọi Tư Thiện đến. Tư Thiện hơi ngạc nhiên, hỏi nữ tỳ:
– Cô gọi ta để làm gì? Hay là…
Đứa nữ tỳ lanh miệng trả lời:
– Chắc cô gọi ông vì chuyện khác. Cô sửa soạn đi núi Đất.
Khi vào phòng khách, Tư Thiện bắt đầu yên tâm. Mấy ông kỳ lão ngồi uống rượu với một ông lão mặc áo có thêu chữ Thọ. Tư Thiện đoán đó là cha ruột cô Huôi. Sau khi chắp tay chào, Tư Thiện đứng lóng nhóng.
Cô Huôi đến góc phòng khách, ngồi xuống ghế, gọi nữ tỳ mang chiếc ghế thứ nhì cho Tư Thiện:
– Nầy ông! Tôi muốn hỏi chuyện nầy. Trước kia ông ở chợ Rạch Giá biết người Lang Sa chớ? Mấy người ở núi Đất cho tôi biết rằng dường như người Lang Sa đem chiếc tàu sắt đến bờ biển. Sau bệ tàu, có treo cờ tam sắc.
Tư Thiện muốn che giấu sự liên lạc bí mật với Năm Hí nên trả lời vu vơ:
– Dạ, trước kia tôi mua bán ở chợ Rạch Giá. Người Lang Sa từ phương Tây vượt biển đến. Họ dùng tàu sắt, súng của họ bắn nổ thật to, vách đá cũng ngã sập. Nhờ vậy mà họ chiếm cứ lần hồi các tỉnh thành.
– Thật vậy sao?
– Đó là điều mà tôi nghe nói lại. Hôm trước, tôi đã trình bày một lần cho cô và cậu Cẩu nghe. Người Lang Sa thích ăn uống, ai thuận lòng thì họ bán chức tước. Hơn một tháng rồi, tôi ở đây, không được dịp đi Rạch Giá.
Bỗng dưng cô Huôi nghiêm nét mặt, nói khẽ:
– Ông có thể về Rạch Giá một đôi ngày…
Phản ứng của Tư Thiện là từ chối thật nhanh, với giọng nói cương quyết.
- Tôi muố ở đây suốt đời.
Cô Huôi nói :
- Tôi nhờ ông, tôi ra lịnh cho ông . Ông nghĩ sao ?
Tư Thiện cau mày, chưa hiểu cô Huôi muốn dùng thủ đoạn gì. Chẳng lẽ đứa nữ tỳ lại tố cáo với cô Huôi rằng ông đã phản bội ?
- Thưa cô, tôi đi thì có sự hiểu lầm.
- Tôi hiểu rồi. Nhưng trước kia hồi ở núi Mo So, ông đứng về phe thằng Thừa chống lại cậu Cẩu.
Tư Thiện đáp :
- Đi thì dễ nhưng về thì khó. Cậu Cẩu và người Lang Sa đều ngi ngờ tôi. Nếu đi thì ắt là tôi đi luôn cho tất cả mọi người đừng nghi ngờ.
Cô Huôi vẫn chưa đoán ra ý nghioa4 những lời nói sâu xa của Tư Thiện :
- Vậy thì ông ở lại, khi nào cần thì tôi nhờ ông.
Trên đường về núi Đất, cô Huôi thấy khung cảnh thay đổi khác xưa. Ông Tư Thính không quên nhắc nhở:
– Huôi à! Con thấy gốc cây tràm đằng kia không?
Cô Huôi đáp:
– Dạ, thấy ở mé ruộng.
– Ba chục năm trước, con là đứa bé đi chưa vững. Một buổi sáng, ba đem con ra đó. Con ngủ gục, dựa đầu vô gốc cây. Một con mãng xà vương hiện ra, che chở cho con. Ông đạo Đất đoán rằng lớn lên con trở thành bà Chúa!
Cô Huôi mỉm cười:
– Chuyện ấy, cha nói con nghe nhiều lần rồi. Sự may mắn chỉ đến một lần, nhắc lại làm chi thêm buồn. Lúa trổ tốt quá, màu lúa xanh mát, mấy con cò trắng bay lướt quanh trên ngọn lúa để về núi. Thà là nghèo, làm thường dân mà sống trong khung cảnh mộc mạc.
Ông Tư Thính trả lời:
– Cha nhắc lại để con nghe rằng ông đạo Đất là người quá giỏi, biết quá khứ, vị lại. Ngày xưa, ổng nói đúng thì ngày nay chắc ổng nói không sai chạy cho lắm. Bởi vậy, cha rước con về nhà, bàn tính kỹ lưỡng.
– Chuyện người Lang Sa đến Hòn Chông. Cha nói rồi.
Ông Tư Thính đáp:
– Đến bằng trăm cách khác nha. Cha sợ rằng bọn nó đem binh hùng tướng mạnh tới bao vây rồi nã đạn. Con nên xa lánh trong mười ngày, một tháng. Thằng Cẩu là đứa ngu dại. Con ở lại Hòn Chông chỉ là để gánh chịu bao nhiêu trách nhiệm.
– Cha thương con. Con biết đền đáp cách nào bây giờ? Nhưng trước tiên, con xuống gặp ông đạo Đất, nhờ xem một quẻ. Chắc là quẻ cuối cùng.
– Con đừng nói vậy xui xẻo lắm.
– Thưa cha, con không sợ xui xẻo.
– Sao vậy?
– Bao nhiêu xui xẻo đều vượt qua rồi. Nhờ ơn đức của cha để lại nên con xử khéo léo, không tham lam quá mức.
Chiếc ghe cập trước bến nhà ông Tư Thính. Khi lên sân, cô Huôi hơi ngậm ngùi. Bụi quỳnh hoa vẫn còn đó, cành lá xum xuê.
Bên ngoài, ông Tư Thính đã làm thêm một vòng rào ngăn cấm không cho trẻ con đến gần.
Thấy đứa con gái đến gần bụi bông, ông Tư cũng ngậm ngùi mà nói:
– Nó còn đó. Hằng ngày ba tưới nước cẩn thận. Nhiều người tới đây xin để làm giống, ba không cho. Con thấy không, bụi hoa to gấp mấy lần trước. Nhờ nó mà con trở nên người sang trọng, ba cũng hưởng lây. Tiếc là má con không còn sống để thấy ngày hôm nay. Thôi, vô nhà mà nghỉ.
Nãy giờ ông Tư Thính buồn rầu. Dường như linh tính báo trước cho ông điều gì không may mắn. Ngồi trong nhà mà đôi mắt ông cứ theo dõi bóng dáng đứa con gái thân yêu, ngoài sân.
Ông sợ nhất là cô Huôi hỏi về bụi bông quỳnh hoa. Nếu hỏi thì ông trả lời cách nào cho vui vẻ?
Trước sân, cô Huôi cứ đứng tần ngần. Lát sau, cô quỳ xuống rồi day lại nói với đứa nữ tỳ:
– Vô nhà, kiếm nhang đèn đem ra đây.
Nữ tỳ vào nhà gặp ông Tư Thính. Ông Tư hỏi:
– Chuyện gì?
– Thưa ông, cô hỏi nhang đèn.
– Trên bàn thờ kia ! Cứ vô đó mà lấy.
Cô Huôi quỳ xuống thắp nhang khấn vái lâm râm. Cô đưa mấy nén nhang lên ngay trán rồi xá ba lượt. Bỗng dưng ông Tư Thính để rơi hai hàng nước mắt.
Ông kéo vạt áo mà chùi. Ông day phía sau. May quá! Mấy ông lão đã về nhà. Nếu có người chứng kiến cảnh tượng này ắt uy tín nhà ông bị suy giảm.
Cô Huôi bước chậm rãi vào nhà.
Để khỏi buồn bực, ông Tư Thính cố ý gợi một chuyện khác:
– Chiều nay, con muốn ăn cơm với món gì? Mùa nầy cá rô ngon lắm.
Cô Huôi nhìn cha. Rõ ràng bên khoé mắt cha còn vài ánh nước mắt, chùi không sạch. Cô đã hiểu. Cha cô khóc lúc cô đang thắp nhang mà khấn vái, tạ ơn Trời Phật trước bụi quỳnh hoa. Bao nhiêu năm tháng trôi qua rồi!
Ông Tư Thính hỏi:
– Con ăn cơm với cá rô?
– Dạ. Lâu rồi, con thèm ăn bất cứ món gì ở quê nhà. Ngộ thật! Lớn lên, con người cứ thèm những món mà mình ăn lần đầu tiên hồi còn nhỏ.
Ngỡ rằng câu chuyện đã trôi qua, ông Tư Thính rót trà vào chén. Cô Huôi vội đến gần cha:
– Ba để con lo. Lâu rồi, con không hầu hạ cha được.
Ông Tư đáp:
– Đó là phước đức ông bà để lại, con à. Con người sanh ra trên cõi đời nầy, ai cũng có máu tham. Nếu ba đi theo con thì có thể là ba ác độc như ông Mười Hấu. Ở nhà, ba biết rõ những gì xảy ra. Con thiệt là hiền lành, khôn ngoan. Cầu Trời Phật phò hộ con.
Cô Huôi lại rơi nước mắt:
– Ba là người hiền lành, để phước cho con nhờ. Con muốn hỏi ba một chuyện thôi. Con về đây là để hỏi kỹ…
Rồi không đợi sự đồng ý, cô Huôi ghé miệng vào tai cha mà hỏi:
– Thưa ba, bụi quỳnh hoa có nở lần nào không?
Ông Tư cười dòn:
– Từ bốn năm nay, nó chưa nở lần nào nữa cả. Nhưng biết đâu nó lại nở bất thường. Bông đó kỳ cục lắm. Khi nó trổ nụ thì dầu không săn sóc, nó cũng cứ trổ. Ngược lại thì…
Cô Huôi hiểu ý cha:
– Trổ một lần, được rồi. Nhưng thưa ba, hồi nãy con thấy điều gì kỳ lạ lắm. Mấy lá to cứ nghiêng một bên. Nếu nó không trổ, chắc chẳng ai có bùa phép gì được. Nhưng nếu nó trổ….
Ông Tư Thính lại cười dòn:
– Con nói vòng vo, ba không hiểu. Nghĩa là hồi nãy con khấn vái cho bụi quỳnh hoa trổ bông lần thứ nhì?
– Dạ, con khấn vái như vậy. Nhưng tại sao ba buồn rầu? Con thấy ba lau nước mắt.
– Trổ lần thứ nhì! Con ơi! Đừng quá tham lam. Như vậy đủ rồi. Ngoài biển, lâu lâu có tàu Lang Sa chạy tới lui. Nhiều người chài lưới ra khơi, bị xét hỏi rồi thả cho về. Họ bảo rằng Lang Sa sẽ tới Hòn Chông trước Tết năm nay.
Cô Huôi lại để rơi hai giọt nước mắt:
– Ba đừng rầy mà oan ức cho con. Con đâu có tham lam. Hồi nãy con thắp nhang khấn vái Trời Phật. Nếu lần thứ nhứt bông quỳnh nở mà con được danh vọng thì lần thứ nhì, nếu bông nở thì con đi tu.
-Trời ! Con khấn vái như vậy ?
-Xin lỗi ba. Con về đây là để khấn vái, luôn dịp nhờ ông đạo Đất xem một quẻ ? Ở Hòn Chông, nhiều chuyện xảy ra, rắc rối quá. Trong nhà mà có loạn thì người ngoài trông vào làm sao tin cậy được !
Sau bữa cơm chiều, cô Huôi ra ngoài sân dạo mát. Nhiều người trong xóm tới thăm cô, khen ngợi và chúc mừng. Cô chỉ trả lời:
– Cám ơn bà con. Đáng lý ra, hồi tháng trước tôi về đây giúp đỡ người nghèo khổ, nhưng tôi không có tiền nhiều.
Đến căn nhà mát ở dưới bến, cô ngồi thật lâu. Vài ánh sao chấp chóa trên nền trời xanh, rồi rơi xuống. Cô dụi mắt hỏi đứa nữ tỳ:
– Thấy gì trên trời không?
Nữ tỳ đáp:
– Dạ không! Nhưng mà nãy giờ dường như có ai đánh trống ở đằng kia, trên núi.
Cô Huôi lắng tai nghe rồi đứng dậy:
– Đâu có tiếng trống. Dường như có tiếng súng. Nổ to lắm như trời gầm. Có nghe không? Thôi, ta vô nhà, lạnh lắm.