(*) Trịnh Lữ dịch; NXB Tri thức 2/2009.
[1] Quỹ Giáo dục Arthur (Arthur’s Education Fund) là một lý thuyết về bất bình đẳng giới của Virginia Woolf, xuất phát của cụm từ này là cuốn tiểu thuyết Pendenis.
[2] Tiểu thuyết của tác giả Anh William Makepeace Thackeray. Bối cảnh là nước Anh thế kỷ 19, đặc biệt ở London. Nhân vật chính là Arthur Pendennis, một chàng quý tộc trẻ tuổi.
[3] King’s Counsel: một địa vị tư pháp của giới luật sư Anh.
[4] League of Nations, viết tắt là LON, một tổ chức liên chính phủ được thành lập như là một kết quả của Hội nghị Hòa bình Paris sau khi Thế chiến I kết thúc. Đây là tổ chức quốc tế thường trực đầu tiên có nhiệm vụ chủ yếu là duy trì hòa bình thế giới.
[5] Phần này được viết trong mùa đông 1936-7.
[6] Order of Merit: Huân chương công trạng, do triều đình ban tặng để ghi nhận công trạng cho những cá nhân có đóng góp nổi bật trong các lĩnh vực quân sự, khoa học, văn học, nghệ thuật và quảng bá văn hóa. Trình tự của các loại O.M. tùy thuộc vào từng quốc gia áp dụng.
[7] Order of Merits.
[8] Fellow of Royal Society.
[9] Women's Social and Political Union: tổ chức đấu tranh cho quyền bầu cử của nữ giới ở Anh, thành lập ở Manchester ngày 10-10-1903.
[10] Từ khi những dòng này được viết ra, ông Baldwin đã thôi làm Thủ tướng và trở thành một bá tước.
[11] Nguyên văn: ‘Here we go round the mulberry tree, the mulberry tree, the mulberry tree. Give it all to me, give it all to me, all to me. Three hundred millions spent upon war.’
[12] John Pierpont Morgan (1837 - 1913): tỷ phú, nhà tài chính, ngân hàng, nhà từ thiện và nhà sưu tầm mỹ thuật người Mỹ.
[13] John Davison Rockefeller (1839 - 1937): tỷ phú, nhà công nghiệp và nhà từ thiện người Mỹ.
[14] The Contagious Diseases Acts, được Quốc Hội Anh thông qua lần đầu năm 1864, đạo luật này cho phép cảnh sát bắt giữ gái mại dâm trong một số cảng và thị trấn quân đội, và những người phụ nữ này sau đó bị kiểm tra bắt buộc về bệnh hoa liễu. Nếu một người phụ nữ được tuyên bố bị nhiễm bệnh, cô bị nhốt vào một “bệnh viện kín” cho đến khiđã khỏi bệnh.
[15] Thi sĩ Hy Lạp cổ đại (khoảng 522-443 trước CN).
[16] Chỉ có nền văn hóa bất vụ lợi mới có thể ngăn thế giới khỏi sự đổ nát.
[17] Ben Jonson (Benjamin Jonson, khoảng 1572 - 1637) kịch tác gia, thi sĩ và nhà phê bình văn học Anh.
[18] Infantile fixation
• Tham khảo
[I] The Life of Mary Kingsley của Stephen Gwynn, trang 15.Khó mà có được các con số chính xác về những khoản tiền đã chi cho việc giáo dục các cô con gái của những người đàn ông trí thức. Có lẽ khoảng 20 tới 30 bảng để chi cho toàn bộ chi phí giáo dục của Mary Kingsley (1862-1900). Có thể xem khoản tiền 100 bảng là con số trung bình trong thế kỷ 19 và ngay cả sau này. Những người phụ nữ được giáo dục như vậy thường cảm thấy rất sâu sắc sự thiếu thốn của học vấn. “Tôi luôn cảm thấy những khiếm khuyết trong học vấn của tôi gây đau khổ nhất khi tôi ra khỏi nhà,” lời của Anne J. Clough, Nữ Hiệu trưởng đầu tiên của trường Newnham. (Life of Anne J. Clough của B.A. Clough, trang 60.) Elizabeth Haldane, như cô Clough, xuất thân từ một gia đình văn học thượng lưu, nhưng được giáo dục theo cách rất giống như thế, nói rằng khi cô trưởng thành, “Điều tin chắc đầu tiên của tôi là tôi không được giáo dục, và tôi đã nghĩ làm sao để có thể chỉnh đốn điều này. Lẽ ra tôi rất thích đi học ở trường cao đẳng, nhưng với các cô gái thời bấy giờ, trường cao đẳng là rất khác thường, và ý tưởng này không được khuyến khích. Nó cũng rất đắt tiền. Với một cô con gái độc nhất việc rời khỏi một bà mẹ góa phụ thật sự được xem là ngoài phạm vi cân nhắc, và không một người nào có thể khiến cho kế hoạch đó trở nên khả thi. Hồi thời ấy có một phong trào thực hiện những lớp học hàm thụ…” (From One Century to Another của Elizabeth Haldane, trang 73.) Nỗ lực để che đậy sự dốt nát của những người phụ nữ được giáo dục như thế thường rất quả quyết, nhưng không luôn luôn thành công. “Họ trò chuyện một cách thú vị về những đề tại hiện tại, cẩn thận né tránh các chủ đề gây tranh cãi. Điều gây ấn tượng cho tôi là sự dốt nát và thờ ơ của họ liên quan tới bất cứ điều gì ở bên ngoài tầng lớp của chính họ… một nhân vật có vai vế, mẹ của Phát ngôn viên của Hạ viện Anh tin rằng California thuộc về chúng ta, là một phần của Đế quốc của chúng ta!” (Distant Fields của H.A. Vachell, trang 109.) Việc sự dốt nát thường được khơi gợi ra trong thế kỷ mười chín la do niềm tin đương thời rằng những người đàn ông trí thức thích thú nó đã được chỉ ra bởi sức mạnh mà với nó Thomas Gisborne, trong tác phẩm có tính hướng dẫn On the Duties of Women (trang 278) đã khiển trách những kẻ cố tình khuyên những người phụ nữ “tự kềm chế không khám phá tới mức độ trọn vẹn về khả năng và những thành tựu của người đối ngẫu trong hôn nhân của họ.” “Đây không phải là sự tự do làm theo ý mình mà là nghệ thuật. Nó là sự che đậy, nó là sự áp đặt chủ tâm… Nó hầu như không thể được thực hành lâu mà không bị phát giác.”
Nhưng con gái của người đàn ông trí thức ở thế kỷ 19 thậm chí còn dốt nát về đời sống hơn là về những cuốn sách. Một nguyên nhân cho sự dốt nát đó được đề xuất bởi câu trích dẫn sau: “Người ta cho rằng hầu hết đàn ông đều không ‘có đạo đức tốt’, nghĩa là, hầu như tất cả đều có khả năng gạ chuyện tán tỉnh hay gây bực mình - hay còn tệ hơn - cho bất kỳ một phụ nữ trẻ tuổi không có người hộ tống nào mà họ gặp.” (‘Society and the Season’, của Mary, Nữ Bá tước xứ Lovelace, trong cuốn Fifty Years, 1882-1932, trang 37.) Do đó cô ta bị giam hãm trong một vòng tròn rất hẹp; và “sự dốt nát và thờ ơ” của cô ta đối với bất cứ thứ gì ở bên ngoài là có thể tha thứ. Mối liên kết giữa sự dốt nát đó và nhận thức của thế kỷ 19 về nam tính - bằng chứng là anh hùng thời đại Victoria - mà đã khiến cho “đạo đức” và nam tính trở nên không tương hợp là rất hiển nhiên. Trong một đoạn văn nổi tiếng của mình, Thackeray than phiền về những hạn chế nằm giữa đạo đức và nam tính đã áp đặt lên nghệ thuật của ông.
[II] Ý thức hệ của chúng ta vẫn còn tính chất lấy con người làm trung tâm một cách thâm căn cố đế đến nỗi cần thiết phải đặt ra thuật ngữ dài dòng này - các cô con gái của những người đàn ông trí thức - để mô tả tầng lớp có cha là người đã được giáo dục ở các trường tư thục và trường đại học. Rõ ràng, nếu từ “giai cấp tư sản” thích hợp với anh trai của cô ta, sẽ cực kỳ không chính xác nếu sử dụng nó cho một người khác biệt rất sâu xa ở hai đặc tính chủ yếu của giai cấp tư sản - tư bản và môi trường.
[III] Con số thú vật bị giết ở Anh cho thú vui thể thao trong suốt thế kỷ vừa qua vượt khỏi ước tính. 1212 đầu thú săn được xem là trung bình cho một ngày săn bắn ở Chatsworth vào năm 1909. (Men, Women and Things của Công tước xứ Portland, trang 251). Có ít lời nhắc tới việc săn bắn của phụ nữ trong những cuốn hồi ký thể thao, và sự xuất hiện của họ ở khu săn bắn là nguyên nhân của nhiều lời phê phán chua cay. “Skittles” [biệt danh của Catherine Walters, 1839 - 1920)], người nữ kỵ sĩ nổi tiếng ở thế kỷ 19, là một quý bà có đạo đức dễ dãi. Rất có khả năng rằng có một sự nối kết nào đó giữa thể thao và tính dâm dật ở phụ nữ của thế kỷ 19.
[IV] Francis and Riversdale Grenfell, của John Buchan, trang 189, 205.
[V] Antony (Viscount Knebworth), của Bá tước xứ Lytton, trang 355.
[VI] The Poems of Wilfred Owen, do Edmund Blunden biên tập, trang 25, 41.
[VII] Lord Hewart, đề xuất khi nâng cốc chúc mừng nước Anh trong bữa tiệc của Hội của Thánh George ở Cardiff.
[VIII] The Daily Telegraph, 5-3-1937.
[IX] The Daily Telegraph, 5-3-1937.
[X] Dĩ nhiên có một thứ chủ yếu mà một phụ nữ trí thức có thể cung cấp: trẻ con. Và một phương pháp mà nhờ đó cô ta có thể giúp ngăn ngừa chiến tranh là từ chối sinh con. Do vậy bà Helena Normanton có ý kiến rằng “Điều duy nhất phụ nữ ở bất kỳ quốc gia nào có thể làm để ngăn ngừa chiến tranh là ngưng cung cấp “bia đỡ đạn” (Báo cáo của Hội đồng thường niên cho Quyền bình đẳng công dân, Daily Telegraph ngày 5-3-1937) Những lá thư trên báo chí thường xuyên ủng hộ quan điểm này. “Tôi có thể nói với ông Harry Campbell vì sao phụ nữ khước từ việc sinh con vào những thời điểm này. Khi đàn ông đã học được cách điều hành những vùng đất họ cai trị khiến các cuộc chiến chỉ sẽ chạm tới những ai gây ra tranh chấp, thay vì tàn sát những kẻ không làm gì cả, khi đó phụ nữ có thể một lần nữa cảm thấy giống như có những đại gia đình. Vì sao phụ nữ phải sinh con trong một thế giới như thế giới ngày nay?” (Edith Maturin-Porch, trên tờ Daily Telegraph, 6-9-1937) Thực tế rằng sinh suất ở tầng lớp trí thức đang giảm đi dường như chỉ ra rằng những người phụ nữ trí thức đang làm theo lời khuyên của bà Normanton. Điều này đã được Lysistrata đưa ra trong những tình huống rất tương tự cách nay hai ngàn năm.
[XI] Dĩ nhiên có vô số loại ảnh hưởng ngoài những ảnh hưởng xác định trong văn bản. Nó khác biệt nhau từ loại đơn giản được mô tả ở đoạn văn sau: “Ba năm sau… chúng tôi phát hiện ra bà ta đang viết cho ông ta, là một Bộ trưởng, để khẩn nài sự quan tâm của ông ta đối với đồng Curon để sống với tư cách đại diện cho một mục sư được yêu thích…” (Henry Chaplin, a Memoir, của Phu nhân Londonderry, trang 57) cho tới loại rất tinh tế được áp dụng bởi phu nhân Macbeth đối với chồng của bà ta. Ở đâu đó giữa hai loại này là ảnh hưởng được mô tả bởi D. H. Lawrence: “Với tôi thật là vô vọng khi cố làm bất cứ điều gì nếu tôi không có một người phụ nữ ở sau lưng tôi… Tôi không dám ngồi trong thế giới nếu tôi không có một phụ nữ đằng sau tôi… Nhưng một người phụ nữ mà tôi yêu phần nào đó giữ tôi trong sự giao tiếp trực tiếp với điều chưa biết, trong đó nếu khác đi tôi sẽ mất mát chút ít.” (Letters of D. H. Lawrence, trang 93, 94), mà chúng ta có thể so sánh với, dù sự sắp đặt theo trật tự khá lạ lùng, định nghĩa nổi tiếng và rất tương tự do cựu vương Edward VIII đưa ra trong lễ thoái vị của mình. Các điều kiện chính trị hiện thời ở nước ngoài dường như ủng hộ cho một sự quay lại với việc sử dụng ảnh hưởng vụ lợi. Ví dụ: “Một câu chuyện minh họa cho mức độ ảnh hưởng hiện tại của phụ nữ ở Vienna. Trong mùa thu vừa rồi, nhà nước dự định đề ra một biện pháp để giảm bớt hơn nữa các cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ. Những kháng nghị, những khẩn nguyện, những lá thư, tất cả đều không có chút hiệu quả nào. Cuối cùng, trong sự tuyệt vọng, một nhóm các quý bà nổi tiếng của thành phố… tập hợp lại với nhau và lên kế hoạch. Trong nửa tháng kế tiếp, trong một số giờ cụ thể hàng ngày, nhiều người trong số các quý bà này gọi điện thoại cho các ông bộ trưởng mà họ quen biết riêng, bề ngoài là mời họ tới ăn tối ở nhà mình. Với tất cả sức quyến rũ của những phụ nữ thành Vienna, họ khơi gợi cho các ông bộ trưởng nói chuyện, hỏi han chuyện này chuyện nọ, và cuối cùng nhắc tới vấn đề khiến họ quá đỗi phiền lòng. Khi các ông bộ trưởng bị gọi điện bởi nhiều quý bà, tất cả đều là những người mà họ không muốn xúc phạm, và bị ngăn trở khỏi những công vụ khẩn cấp của nhà nước bởi chiêu thức này, họ quyết định thỏa hiệp - và thế là biện pháp đó bị hoãn lại.” (Women Must Choose của Hilary Newitt, trang 129) Cách sử dụng tầm ảnh hưởng tương tự thường được chủ tâm thực hiện trong cuộc đấu tranh cho quyền bầu cử. Nhưng người ta bảo tầm ảnh hưởng của phụ nữ đã bị làm cho suy yếu bởi sự chiếm hữu một lá phiếu. Do vậy Đô đốc von Bieberstein có ý kiến rằng “Những người phụ nữ luôn dẫn dắt những người đàn ông… nhưng ông không muốn họ đi bầu cử.” (From One Century to Another của Elizabeth Haldane, trang 258.)
[XII] Phụ nữ Anh bị chỉ trích nhiều vì sử dụng vũ lực trong đấu tranh đòi quyền bầu cử. Năm 1910, khi ông Birrell bị “đập nát mũ” và bị đá vào hai ống quyển bởi những người đòi quyền bầu cử, Sir Almeric Fitzroy nhận xét, “một sự tấn công theo tính cách này đối với một ông già vô phương tự vệ bởi một băng nhóm có tổ chức của “những tên lính Thổ Nhĩ Kỳ” sẽ, người ta hy vọng, thuyết phục nhiều người mất trí và có tinh thần vô chính phủ phát động phong trào.” (Memoirs of Sir Almeric Fitzroy, tập II, trang 425.) Những nhận xét này rõ ràng không được áp dụng cho vũ lực trong cuộc chiến châu Âu. Thật ra, quyền bầu cử được trao cho phụ nữ Anh phần lớn là vì sự trợ giúp của họ đối với đàn ông Anh trong việc sử dụng vũ lực trong cuộc chiến tranh đó. “Ngày 14 tháng 8 (1916), bản thân ông Asquith đã thôi chống đối (quyền bầu cử của nữ giới). Ông nói, ‘Đúng là (phụ nữ) không thể chiến đấu theo ý nghĩa tiến ra với súng đạn vân vân, nhưng… họ đã trợ giúp bằng cách thức hiệu quả nhất trong việc theo đuổi chiến tranh.’” (The Cause of Ray Strachey, trang 354.) Điều này làm nảy sinh câu hỏi khó trả lời là những người không trợ giúp cho việc theo đuổi chiến tranh mà đã làm những gì họ có thể để ngăn cản việc theo đuổi chiến tranh có nên sử dụng quyền bầu cử mà họ đã được trao cho chủ yếu là vì những người khác “đã trợ giúp cho việc theo đuổi chiến tranh”hay không? Việc họ là những cô con ghẻ chứ không phải là con đẻ của nước Anh được chỉ ra bởi thực tế là họ thay đổi quốc tịch khi kết hôn. Một người phụ nữ, dù có giúp đánh bại nước Đức hay không, trở thành một người Đức nếu cô ta lấy một người Đức. Các quan điểm chính trị của cô ta khi đó phải hoàn toàn đảo ngược, và lòng hiếu thảo của cô ta đã chuyển biến.
[XIII] Sir Ernest Wild, K.C. của Robert J. Blackburn, trang 174, 175.
[XIV] Việc quyền bầu cử không phải là không đáng kể được chỉ ra bởi những thực tế được xuất bản rải rác theo thời gian bởi Hiệp hội Quyền bình đẳng công dân Quốc gia. “Xuất bản phẩm này (What the Vote Has Done) ban đầu chỉ là một tờ truyền đơn một trang; hiện giờ (1927) nó đã tăng trưởng một thành một cuốn sách mỏng sáu trang, và phải thường xuyên được mở rộng thêm.” (Josephine Butler của M. G. Fawcett và E. M. Turner, chú giải, trang 101)
[XV] Không có sẵn những con số để kiểm chứng lại những thực tế mà hẳn phải có một phương diện rất quan trọng đối với tiểu sử và tâm lý của hai giới tính. Có thể thực hiện một sự bắt đầu trong bước mở đầu chủ yếu nhưng lại bị bỏ qua một cách lạ lùng này bằng đánh dùng phấn đánh dấu lên một tấm bản đồ cỡ to của tài sản nước Anh do những người đàn ông làm chủ, màu đỏ; do phụ nữ, màu xanh. Khi đó số lượng cừu và gia súc lớn được tiêu thụ bởi mỗi giới tính phải được so sánh; số thùng lớn đựng rượu vang và bia; những thùng thuốc lá; sau đó chúng ta phải cẩn thận kiểm tra những áp dụng về vật chất của chúng; người lao động nội địa; các tiện nghi cho giao tiếp giới tính, vân vân. Các nhà sử học dĩ nhiên quan tâm chủ yếu tới chiến tranh và chính trị; nhưng đôi khi cũng rọi sáng lên bản chất con người. Khi Macaulay giao dịch với những quý ông miền quê nước Anh hồi thế kỷ 17 ông đã nói như vầy: “Vợ và con gái của ông ta có những thị hiếu và tài năng dưới mức của một quản gia hay một nàng hầu trong phòng dạy kỹ năng của ngày nay. Họ may và se sợi, ủ rượu lý gai, chế thuốc chữa bệnh bằng hoa cúc vạn thọ và làm vỏ cho món thịt hươu nướng bọc bột.”
Một lần nữa, “Các bà chủ nhà mà công việc của họ thông thường là nấu ăn, rút lui để nghỉ ngơi ngay sau khi bữa ăn kết thúc, bỏ mặc các ông với cuộc chè chén bia bọt và thuốc lá của họ.” (Macaulay, History of England, Chương Ba) Nhưng các ông vẫn đang nhậu nhẹt và các bà vẫn rút lui sau đó khá lâu. “Vào thời mẹ tôi còn trẻ trước khi bà kết hôn, thói quen uống đến mềm môi lâu đời của Thời kỳ Nhiếp chính và của thế kỷ 18 vẫn còn tồn tại dai dẳng. Người quản gia già được tin cậy của gia đình ở Woburn Abbey có thói quen báo cáo hàng đêm cho bà tôi trong phòng khách. ‘Đêm nay các quý ông đã uống khá nhiều; đã tới lúc các tiểu thư nên đi nghỉ,’ hoặc “Đêm nay các ông uống rất ít,’ được thông báo theo hoàn cảnh bởi người hầu cận trung thực của gia đình này. Nếu các cô gái trẻ bị tống lên gác, họ thích đứng ở một hành lang phía trên của cầu thang để ‘quan sát đám đông đang hò hét om xòm từ dưới phòng khách.’” (The Days Before Yesterday của Lord F. Hamilton, trang 322) Việc nói cho chúng ta biết hiệu quả của tài sản và việc chè chén đối với các nhiễm sắc thể là gì phải được để lại cho các nhà khoa học trong tương lai.
[XVI] Thực tế rằng cả hai giới tính đều có một tình yêu đối với y phục rất đáng chú ý dù khác biệt nhau dường như đã thoát khỏi sự chú ý của giới tính thống trị, phần lớn là vì người ta cho rằng nó là quyền lực thôi miên của phe thống trị. Do vậy ông Justice MacCardie quá cố, khi tổng kết trường hợp của bà Frankau đã nhận xét: “Người ta không thể mong đợi những người phụ nữ từ bỏ một đặc tính chủ yếu của nữ tính hay từ bỏ một trong những niềm an ủi của bản chất vì một nhược điểm thể chất thường xuyên và không thể vượt qua… Y phục, nói cho cùng, là một trong những phương pháp chủ yếu của sự tự thể hiện của phụ nữ… Về vấn đề y phục, phụ nữ thường vẫn là trẻ con cho tới phút cuối. Người ta không được bỏ qua khía cạnh tâm lý của vấn đề này. Nhưng trong khi vẫn ghi nhớ những vấn đề bên trên, pháp luật đã quy định một cách đúng đắn rằng nguyên tắc về sự thận trọng và tính cân xứng phải được tuân thủ.” Vị quan tòa đã phát ngôn như vậy đang mặc một cái áo choàng đỏ thắm, đội một cái mũ lông chồn, và một bộ tóc xoăn giả to tướng. Dù ông ta có tận hưởng “một trong những niềm an ủi của bản chất vì một nhược điểm thể chất thường xuyên và không thể vượt qua” hay không, một lần nữa, phải hoài nghi về việc bản thân ông ta có tuân thủ “nguyên tắc về sự thận trọng và tính cân xứng” hay không. Nhưng “người ta không được bỏ qua khía cạnh tâm lý của vấn đề này”; và thực tế rằng sự lập dị của ngoại hình của chính ông ta cùng với của những ngài đô đốc, tướng lĩnh, truyền lệnh sứ, kỵ binh hoàng gia, những kẻ ngang hàng, những người canh gác tháp London, vân vân, hoàn toàn vô hình đối với ông ta thế nên ông ta mới có thể lên lớp cho quý bà đó mà không có chút ý thức nào về việc chia sẻ nhược điểm của bà ta đã gợi ra hai câu hỏi: một hành vi phải được thực hiện thường xuyên đến thế nào trước khi nó trở thành truyền thống, và do đó đáng được tôn trọng; và mức độ nào của uy tín xã hội tạo nên sự mù lòa trước bản chất nổi bật của y phục của chính một người? Sự lập dị của y phục, khi không gắn liền với chức vị, hiếm khi thoát khỏi sự nhạo báng.
[XVII] Trong Danh sách vinh danh Năm mới cho năm 1937, 147 người đàn ông đã nhận được sự vinh danh so với bảy phụ nữ. Vì những nguyên do hiển nhiên, không thể xem điều này như là một thước đo của niềm khao khát tương đối của họ đối với một sự quảng cáo như thế. Nhưng việc về mặt tâm lý, việc một phụ nữ sẽ dễ dàng khước từ những danh dự hơn một người đàn ông dường như là điều không thể tranh cãi. Bởi thực tế rằng trí tuệ (nói đại khái) là tài sản chuyên môn chủ yếu của đàn ông, và rằng những ngôi sao và những dải ruy băng là những phương tiện quảng cáo trí tuệ chủ yếu của anh ta đã đề xuất rằng những ngôi sao và những dải ruy băng đồng dạng với phấn và son môi, phương pháp chủ yếu của một người phụ nữ để quảng cáo tài sản chuyên môn chủ yếu của cô ta: vẻ đẹp. Do vậy sẽ là phi lý khi yêu cầu ông ta từ chối một tước hiệu Hiệp sĩ tương đương như khi yêu cầu cô ta từ chối một chiếc váy. Số tiền phải trả cho một tước hiệu Hiệp sĩ năm 1901 có vẻ như sẽ cung cấp được một khoản trợ cấp y phục rất hậu hĩnh; “21-4 (Chủ nhật) - Đi thăm Meynell, người thường có đầy những chuyện tầm phào. Có vẻ như những khoản nợ của nhà vua đã được thanh toán theo cách riêng tư bởi những bạn bè của ông ta, người ta bảo một trong số đó đã cho mượn 100.000 bảng, và tự hài lòng một khoản trả lại 25.000 bảng cộng thêm một tước hiệu Hiệp sĩ.” (My Diaries của Wilfrid Scawen Blunt, Phầnt II, trang 8)
[XVIII] Một kẻ ngoại cuộc khó mà biết được những con số chính xác là bao nhiêu. Nhưng việc những khoản thu nhập đó là có thật có thể ước đoán từ một nhận định vui vẻ cách nay vài năm của ông J. M. Keynes trong cuốn Nation of a history of Clare College, Cambridge. Cuốn sách “mà người ta đồn là phải tốn sáu ngàn bảng để xuất bản.” Cũng có lời đồn đại rằng một nhóm học sinh đã quay về vào lúc bình minh từ một cuộc hội hè nào đó vào khoảng thời gian đó đã nhìn thấy một đám mây trên bầu trời; mà khi họ nhìn lên trông như hình dáng của một phụ nữ; người mà khi được cầu khẩn đưa ra một dấu hiệu, đã thả xuống trong một trận mưa đá sáng lòa hai từ “Giẻ rách”. Câu chuyện này được diễn dịch để định nghĩa điều mà từ một trang khác cùng số của cuốn Nation có vẻ như là sự thật; rằng những học sinh của một trong những trường nữ trung học đã chịu đựng rất nhiều đau khổ từ “những căn phòng lạnh lẽo ảm đạm dưới tầng trệt đầy nhóc chuột”. Người ta cho là sự hiện hình này có ý nghĩa đề xuất rằng nếu các quý ông của trường Clare muốn vinh danh bà ta, một tấm chi phiếu 6.00 bảng gửi tới bà Hiệu trưởng sẽ tôn vinh bà ta hơn là một cuốn sách ngay cả khi nó “được bọc trong lớp áo giấy và vải hồ cứng màu đen tốt nhất …” Tuy nhiên, không có gì huyền hoặc về thực tế được ghi nhận trong cùng số trang của cuốn Nation rằng “Trường Somerville đã nhận với lòng biết ơn vô kể số tiền 7.000 bảng được gửi tới hồi năm ngoái từ quà mừng Lễ kỷ niệm và một khoản di sản tư nhân theo thừa kế.”
[XIX] Một sử gia lớn đã mô tả thế này về nguồn gốc và đặc điểm của các trường đại học, một trong số đó là nơi ông đã theo học: “Hai trường Oxford và Cambridge được thành lập trong một kỷ nguyên đen tối của nền khoa học giả trá và man rợ; và chúng vẫn còn mang vết nhơ của những điều xấu xa của nguồn gốc của chúng… Sự sáp nhập về mặt pháp lý của các tổ chức này bởi những hiến chương của các giáo hoàng và các vị vua đã trao cho chúng một sự độc quyền hướng dẫn công chúng; và tinh thần của những kẻ độc quyền thì hẹp hòi, lười nhát và có tính chất áp đặt: hoạt động của chúng tốn kém hơn và ít năng suất hơn hoạt động của những nghệ sĩ độc lập; và những cải cách bị tóm lấy một cách nôn nóng bởi sự cạnh tranh của tự do, được thừa nhận với sự miễn cưỡng dần dà và sưng sỉa trong các tổ chức tự hào đó, bên trên nỗi e sợ một đối thủ, và bên dưới sự tự thú về một sai lầm. Chắc chắn là chúng ta không thể hy vọng rằng bất kỳ cải cách nào sẽ là một hành động tự nguyện; và chúng cắm rễ sâu vào luật pháp và thành kiến đến mức ngay cả quyền năng tuyệt đối của Quốc hội cũng sẽ co vòi trước một cuộc thẩm tra tình trạng và những sự lạm dụng của hai trường đại học này. (Edward Gibbon, Memoirs of My Life and Writings) Tuy nhiên, “quyền năng tuyệt đối của Quốc hội” cũng đã mở một cuộc điều tra vào giữa thế kỷ 10 về “tình trạng của trường đại học (Oxford), ngành học của nó, các bộ môn nghiên cứu, và tổng thu nhập. Nhưng có nhiều cưỡng kháng tiêu cực từ các trường đến độ hạng mục cuối cùng phải bị ủy ban cho qua. Tuy nhiên, chắc chắn rằng trong số 542 khoản học bổng trong tất cả các trường của Oxford chỉ có 22 khoản thật sự mở rộng cho sự cạnh tranh mà không có những điều kiện hạn chế về sự đỡ đầu, địa điểm hay dòng họ… Các ủy viên hội đồng… phát hiện ra rằng bản cáo trạng của Gibbon là có lý…” (Herbert Warren of Magdalen của Laurie Magnus, trang 47, 49) Tuy nhiên, uy tín của một nền giáo dục đại học vẫn còn cao; và các khoản học bổng được xem là rất đáng ao ước. Khi Pusey trở thành một Ủy viên Ban giám hiệu của Oriel, “những cái chuông của nhà thờ giáo xứ ở Pusey thể hiện sự mãn nguyện của cha ông và gia đình ông.” Một lần nữa, khi Newman được chọn làm một Ủy viên “tất cả những cái chuông của ba tháp chuông đều ngân vang - với chi phí của Newman.” (Oxford Apostles của Geoffrey Faber, trang 131, 69) Thế nhưng cả Pusey lẫn Newman đều là những người đàn ông có một bản chất tinh thần riêng biệt.
[XX] The Crystal Cabinet của Mary Butts, trang 138. Nguyên văn toàn câu thế này: “Vì ngay khi người ta nói với tôi rằng niềm khát khao học hỏi ở phụ nữ chống lại ý chí của Thượng đế, có rất nhiều sự tự do ngây thơ, niềm vui ngây thơ, đã bị khước từ nhân danh cùng một điều.” - một nhận xét khiến người ta phải ao ước rằng chúng ta nên có một tiểu sử từ ngòi bút của con gái của một người đàn ông trí thức của Thượng đế mà nhân danh ngài những hành động tàn bạo như thế đã được thực thi. Ảnh hưởng của tôn giáo đối với học vấn của phụ nữ, cách này hay cách khác, chắc chắn là không bị đánh giá quá cao. Nếu, ví dụ, theo lời Thomas Gisborne, “những cách sử dụng âm nhạc được giải thích, đừng để cho hiệu quả của nó trong lòng mộ đạo được gia cố bị bỏ qua. Nếu vẽ tranh là chủ đề của nhận xét, hãy để cho các sinh viên được giáo huấn thường xuyên để chiêm nghiệm trong những tác phẩm sáng tạo sức mạnh, sự minh triết và tinh chất của tác giả của chúng.” (The Duties of the Female Sex của Thomas Gisborne, trang 85) Thực tế rằng ông Gisborne và những người giống như ông - một nhóm đông đảo - đặt các lý thuyết giáo dục của họ dựa trên nền tảng việc giảng dạy của trường St Paul dường như sẽ gợi ý rằng giới tính nữ phải được “giáo huấn thường xuyên để chiêm nghiệm trong những tác phẩm sáng tạo sức mạnh, sự minh triết và tinh chất” không phải là của Thượng đế, mà của ông Gisborne. Và từ đó chúng ta được dẫn tới kết luận rằng một tiểu sử của Thượng đế sẽ tự nó chuyển thành một Quyển từ điển về Tiểu sử Tăng lữ.
[XXI] Mary Astell của Florence M. Smith. “Thật không may, sự phản đối một ý tưởng mới mẻ đến thế (một trường cao đẳng cho phụ nữ) lại lớn hơn mối quan tâm tới nó, và xuất phát không phải từ những nhà văn châm biếm của thời đó, những kẻ, giống như những người hóm hỉnh của mọi thời, tìm ra từ người phụ nữ tiến bộ này một nguồn để chế giễu và biến Mary Astell thành chủ đề của những kho chuyện cười trong các vở hài kịch về kiểu mẫu Các Nữ học giả, mà là từ những người trong Giáo hội, những kẻ nhìn thấy trong kế hoạch đó một nỗ lực để mang lại chế độ giáo hoàng La Mã. Đối thủ mạnh nhất của ý tưởng này là một giám mục nổi tiếng, người mà, như Ballard đánh giá, đã ngăn cản không để cho một phu nhân lỗi lạc đóng góp 10.000 bảng cho kế hoạch này. Elizabeth Elstob đã cho Ballard biết tên của vị giám mục nổi tiếng này để đáp lại một yêu cầu từ ông ta: “Theo Elizabeth Elstob... chính Giám mục Burnet đã ngăn cản thiết kế tốt đẹp đó bằng cách khuyên can phu nhân đó đừng cổ vũ nó.” (đã dẫn, trang 21, 22) “Phu nhân đó” có thể là Công chúa Ann, hay Phu nhân Elizabeth Hastings; nhưng dường như có lý do để nghĩ rằng đó chính là Công chúa. Việc Giáo hội đã nuốt trọn số tiền đó là một giả thiết, nhưng có lẽ là một giả thiết được phán xét bởi lịch sử Giáo hội.
[XXII] Tụng ca cho Âm nhạc (Ode for Music), biểu diễn ở Hội trường của Cambridge ngày 1-7-1769.
[XXIII] “Tôi bảo đảm với bà tôi không phải là một kẻ thù của những người phụ nữ. Tôi rất ủng hộ việc tuyển dụng họ với tư cách là những người lao động hay trong một khả năng làm người giúp việc khác. Tuy nhiên, tôi có những ngờ vực về khả năng thành công của họ trong hoạt động kinh doanh với tư cách là những nhà tư bản. Tôi chắc chắn dây thần kinh của đa số phụ nữ sẽ đứt tung dưới sự lo âu, và rằng đa số bọn họ cực kỳ thiếu hụt tính trầm lặng có kỷ luật cần thiết cho mọi loại hợp tác. Có thể sau hai ngàn năm nữa các bà có thể thay đổi tất cả những điều này, nhưng phụ nữ hiện tại chỉ ve vãn đàn ông, và gây gỗ với nhau.” Đoạn trích từ một lá thư của Walter Bagehot gửi cho Emily Davies, người đã yêu cầu ông giúp đỡ để thành lập trường Girton.
[XXIV] Recollections and Reflections của Sir J. J. Thomson, trang 86-8, 296-7.
[XXV] “Đại học Cambridge vẫn thừa nhận toàn quyền trở thành thành viên của những người phụ nữ; nó chỉ ban cho họ những bằng cấp danh nghĩa và do đó họ không có phần chia trong Ban điều hành của trường đại học.” (Memorandum on the Position of English Women in Relation to that of English Men của Philippa Strachey, 1935, trang 26) Tuy nhiên, Chính phủ đã ban một “khoản trợ cấp hào phóng” từ tiền công cộng cho Đại học Cambridge.
[XXVI] “Tổng số sinh viên ở các học viện được công nhận cho nền giáo dục cao hơn của những người phụ nữ hiện đang được hướng dẫn ở trường đại học hay đang làm việc trong các thư viện hay viện bảo tàng của trường đại học ở bất kỳ thời điểm nào sẽ không vượt quá năm trăm.” (The Student’s Handbook to Cambridge, 1934-5, trang 616.) Whitaker thông báo với chúng ta rằng con số nam sinh viên nội trú ở Cambridge hồi tháng 10- 1935 là 5.328. Có vẻ như con số đó không có bất kỳ giới hạn nào.
[XXVII] Danh sách học bổng cho nam sinh viên ở Cambridge được in trong tờ The Times ngày 20-12-1937, đo đại khái chừng 32 in-sơ; danh sách học bổng cho nữ sinh viên ở Cambridge đo đại khái chừng 5 in-sơ. Tuy nhiên. Có 17 trường cao đẳng dành cho nam và danh sách được đo ở đây chỉ bao gồm 11 trường. Do đó độ dài 31 in-sơ phải được tăng thêm. Chỉ có hai trường cao đẳng dành cho nữ sinh viên; cả hai đều được đo ở đây.
[XXVIII] Cho tới khi Phu nhân Stanley xứ Alderley qua đời, không có nhà nguyện nào ở trường Girton. “Khi có người đề nghị xây dựng một nhà nguyện, bà đã phản đối, với lập luận rằng tất cả những nguồn quỹ đang có nên chi tiêu cho giáo dục. “Chừng nào tôi còn sống, sẽ không có nhà nguyện nào ở Girton,” tôi từng nghe bà nói thế. Ngôi nhà nguyện hiện tại được xây dựng ngay sau khi bà mất.” (The Amberley Papers của Patricia và Bertrand Russell, tập I, trang 17) Giá mà vong hồn của bà cũng có cùng ảnh hưởng như thân thể của bà! Nhưng những hồn ma, như người ta nói, không có những cuốn sổ chi phiếu.
[XXIX] Tôi cũng có một cảm giác rằng những trường nữ, nói chung, đã vui lòng chọn những phạm vi chung của nền giáo dục của chúng từ những thể chế được thiết lập lâu hơn cho chính tôi, giới tính yếu hơn. Cảm giác của riêng tôi là vấn đề nên bị tấn công bởi một thiên tài độc đáo nào đó trên những phạm vi hoàn toàn khác…” (Things Ancient and Modern của C. A. Alington, trang 216-17) Hầu như không cần phải có thiên tài hay sự độc đáo để nhìn thấy “những phạm vi”, ngay từ đầu, phải rẻ tiền hơn. Nhưng sẽ thú vị khi biết ý nghĩa nào chúng tôi đã gắn cho từ “yếu hơn” trong ngữ cảnh này. Vì từ khi Tiến sĩlà Alington một cựu Hiệu trưởng của trường Eton, ông phải nhận thức rằng giới tính của ông đã không chỉ giành được mà còn giữ lại số tổng thu nhập lớn lao của ngôi trường lâu đời đó - một chứng cứ, người ta sẽ nghĩ, không phải về sự yếu kém giới tính mà của sức mạnh giới tính. Việc Eton không hề “yếu” chí ít từ quan điểm thực dụng, được chỉ ra bởi trích dẫn sau đây từ Tiến sĩ Dr Alington: “Trong lúc theo đuổi đề nghị của một trong các Ủy ban Giáo dục của Thủ tướng, Hiệu trưởng và các ủy viên ban giám hiệu vào thời của tôi đã quyết định rằng tất cả học bổng ở Eton nên có một giá trị cố định, có thể tự do tăng lên trong trường hợp cần thiết. Sự tăng thêm này đã hào phóng đến nỗi có nhiều sinh viên Cao đẳng mà bố mẹ họ không hề chi trả gì cho việc ăn ở hay giáo dục của họ.” Một trong những nhà hảo tâm là Lord Rosebery quá cố. “Ông ấy là một nhà hảo tâm rộng rãi đối với trường,” Tiến sĩ Dr Alington thông báo với chúng tôi, “và đã cung cấp một học bổng lịch sử, liên kết với nó là một hồi kịch tiêu biểu đã diễn ra. Ông ấy hỏi tôi khoản tài trợ có thích đáng không và tôi đề nghị rằng một khoản thêm 200 bảng nữa sẽ dùng để thanh toán cho người chấm thi. Ông ấy gửi một chi phiếu cho số tiền 2000 bảng: sự chú ý của ông ấy đã hướng tới sự khác biệt, và tôi còn giữ trong cuốn sổ của tôi lá thư trả lời trong đó ông ấy nói rằng ông ấy nghĩ một khoản tiền khá lớn sẽ tốt hơn là một phần nhỏ.” (đã dẫn, trang 163, 186.) Tổng chi phí ở trường Cheltenham cho các cô gái năm 1854 về các khoản lương và thăm viếng thầy cô là 1.300 bảng, “và con số kế toán trong tháng 12 chỉ ra một khoản bội chi 400 bảng.” (Dorothea Beale of Cheltenham của Elizabeth Raikes, trang 91)
[XXX] Những từ “rỗng tuếch và không hợp cách” đòi hỏi sự định phẩm. Sẽ không ai xác nhận rằng những giảng viên và tất cả những bài giảng là “rỗng tuếch và không hợp cách”; nhiều chủ đề chỉ có thể được dạy với những biểu đồ và những chứng minh mang tính cá nhân. Những từ trong văn bản chỉ nói tới các cậu con trai và các cô con gái của những người đàn ông học thức đã giảng giải cho anh chị em của họ về văn học Anh; và vì những lý do rằng có một thực hành cổ xưa từ thời Trung cổ khi những cuốn sách còn hiếm hoi; rằng nó còn sống sót là nhờ ở những động cơ thuộc về tiền bạc; hay nhờ ở sự hiếu kỳ: rằng việc xuất bản dưới hình thức sách là chứng cứ đầy đủ về hiệu quả xấu xa của một lượng thính giả đối với một giảng viên về mặt trí tuệ; và rằng sự nổi tiếng về mặt tâm lý bên trên bục giảng khuyến khích sự phù phiếm và niềm khao khát thi thố quyền lực. Thêm nữa, sự giảm thiểu văn học Anh xuống thành một đề tài thi cử phải được xem xét với sự ngờ vực bởi tất cả những ai có kiến thức trực tiếp về độ khó của nghệ thuật này, và do đó của chính cái giá trị giả tạo của một sự chấp nhận hay không chấp nhận của một người chấm thi; và với niềm tiếc nuối sâu sắc bởi tất cả những ai mong muốn giữ gìn nghệ thuật của mình, ít ra là ngoài bàn tay của những người đàn ông giai cấp trung lưu, và tự do nằm ngoài, càng lâu càng tốt, mọi mối liên kết với sự cạnh tranh và kiếm tiền. Một lần nữa, bạo lực mà với nó hiện nay một trường phái văn học chống đối một trường phái khác, tốc độ nhanh chóng mà với nó một trường phái về thị hiếu thành công so với trường phái khác có thể bị truy nguyên một cách phi lý tới sức mạnh mà với nó một trí tuệ trưởng thành đang thuyết giảng cho những trí tuệ còn non nớt phải làm cho họ tiêm nhiễm bởi những ý kiến mạnh mẽ, nếu ngẫu nhiên, và pha màu cho các ý kiến đó với xu hướng cá nhân. Cũng không thể xác nhận rằng tiêu chuẩn của văn học sáng tạo hay phê bình đã được nâng cao. Một chứng cứ thê thảm về việc giới trẻ bị giảm thiểu thành những kẻ ngoan ngoãn về mặt tâm thần bởi các giảng viên là việc yêu cầu đối với những bài giảng về văn học Anh dần dần tăng lên (như mọi nhà văn có thể chứng kiến) và từ chính tầng lớp mà lẽ ra phải học đọc ở nhà - tầng lớp học thức. Nếu, như đôi khi cần có lý do, điều mà các tổ chức văn học trong trường cao đẳng khao khát không phải là kiến thức về văn học mà là sự quen biết với những nhà văn, có những ly cốc-tai, và có rượu nâu; cả hai tốt hơn đừng bị pha với Proust. Dĩ nhiên không điều nào trong đây áp dụng cho những kẻ mà nhà họ không có đủ sách. Nếu giai cấp lao động thấy dễ tiêu hóa văn học Anh qua truyền khẩu hơn, họ hoàn toàn có quyền yêu cầu tầng lớp học thức giúp họ làm điều đó. Nhưng đối với những cậu con trai và những cô con gái của tầng lớp đó sau tuổi mười tám, việc tiếp tục nhấm nháp văn học Anh qua một cọng rơm là một thói quen dường như xứng đáng với mấy từ rỗng tuếch và không hợp cách; các từ đó có thể được áp dụng một cách chính xác với sức mạnh lớn hơn đối với những kẻ cố thỏa mãn cho họ.
[XXXI] Khó mà kiếm được những con số chính xác về các khoản đã trợ cấp cho con gái của những người đàn ông trí thức trước hôn nhân. Sophia Jex-Blake có một khoản trợ cấp từ 30 tới 40 bảng hàng năm; cha cô là một người thuộc tầng lớp trung lưu cao hơn. Phu nhân Lascelles, có cha là một bá tước, hình như được trợ cấp khoảng 100 bảng năm 1860; ông Barrett, một thương nhân giàu có, trợ cấp cho Elizabeth con gái ông “từ 40 tới 45 bảng… mỗi ba tháng, thuế thu nhập đã bị khấu trừ từ đầu.” Nhưng đây dường như là khoản lãi suất trên 8.000 bảng, “hoặc hơn hoặc kém… khó mà hỏi về nó,” mà cô ta có “trong các khoản ngân quỹ”, “số tiền được chia thành hai tỷ lệ phần trăm khác nhau” và rõ ràng, dù thuộc về Elizabeth, vẫn nằm dưới sự kiểm soát của ông Barrett. Nhưng đây là những phụ nữ chưa kết hôn.
Những phụ nữ đã kết hôn không được trợ cấp cho tài sản riêng cho tới khi thông qua Đạo luật về tài sản của phụ nữ đã kết hôn năm 1870. Phu nhân St Helier ghi lại rằng vì các điều khoản hôn nhân của bà đã được soạn thảo theo luật cũ, “Số tiền tôi có nằm trong tài sản của chồng tôi, và không phần nào của nó được giữ lại cho việc tiêu dùng riêng của tôi… Thậm chí tôi không có một cuốn sổ chi phiếu nào, tôi cũng không thể có chút tiền nào trừ phi hỏi xin chồng tôi. Ông tốt bụng và phóng khoáng nhưng ông mặc nhận với vị trí khi ấy đang tồn tại rằng tài sản của một phụ nữ thuộc về chồng của cô ta… ông trả mọi hóa đơn của tôi, ông giữ cuốn sổ ngân hàng của tôi, và cho tôi một khoản trợ cấp nhỏ để chi tiêu những việc cá nhân. (Memories of Fifty Years của Phu nhân St Helier, trang 341) Nhưng bà không nói chính xác số tiền là bao nhiêu. Những khoản tiền trợ cấp cho các cậu con trai của những người đàn ông trí thức lớn hơn một cách đáng kể. Một khoản trợ cấp 200 bảng được xem là chỉ vừa đủ cho một sinh viên chưa tốt nghiệp ở Balliol, “vốn vẫn có những truyền thống tiết kiệm”, vào khoảng năm 1880. Trên khoản trợ cấp đó “họ không thể đi săn và chơi cờ bạc… Nhưng với sự quan tâm và với một ngôi nhà để quay về vào những kỳ nghỉ lễ, họ có thể thực hiện điều đó.” (Anthony Hope and His Books của Sir C. Mallet, trang 38)Số tiền cần tới hiện nay nhiều hơn đáng kể. Gino Watkins không bao giờ tiêu hơn 400 bảng trợ cấp mỗi năm mà với nó anh trả mọi hóa đơn cao đẳng và nghỉ lễ của mình.” (Gino Watkins của J. M. Scott, trang 59) Người này học ở Cambridge, cách đây vài năm.
[XXXII] Các độc giả tiểu thuyết đều biết những người phụ nữ đã bị nhạo báng liên miên ra sao suốt thế kỷ 19 do nỗ lực tiến vào nghề nghiệp duy nhất của họ, vì những nỗ lực đó cung cấp nửa phần kho dữ liệu cho văn học hư cấu. Nhưng tiểu sử cho thấy nó tự nhiên như thế nào, thậm chí trong thế kỷ hiện tại, vì đa số những người đàn ông có học đều quan niệm về tất cả những người phụ nữ như là những bà cô quá lứa lỡ thì, tất cả đều khao khát hôn nhân. Do vậy, có lần ông (G.L. Dickinson) đã buồn bã lẩm bẩm “Ôi chao, chuyện gì xảy ra với họ vậy?” khi một dòng lũ lượt những bà cô quá lứa đầy khao khát nhưng không gây được xúc động lượn quanh trước hoàng cung của nhà vua; “Tôi không biết và họ cũng không biết.” Và rồi với một giọng trầm hơn, như thể những kệ sách của ông có thể nghe lén ông, “Ôi Trời! Cái họ muốn là một ông chồng! (Goldsworthy Lowes Dickinson của E. M. Forster, trang 106) “Cái họ muốn” có thể là quán rượu, sàn chứng khoán hay những căn phòng trong những tòa nhà của Gibbs, nếu sự lựa chọn mở ra với họ. Nhưng nó không mở ra; và do đó nhận xét của ông Dickinson là một nhận xét rất tự nhiên.
[XXXIII] “Thi thoảng, ít nhất là trong những ngôi nhà lớn, sẽ có một đám quan khách tới dự tiệc, được chọn lọc và mời trước từ lâu, và trong những bữa tiệc đó luôn có một thần tượng nổi trội - con gà lôi. Săn bắn đã được sử dụng như một sự cám dỗ. Vào thời ấy, người cha trong gia đình có xu hướng cố gắng. Nếu ngôi nhà của ông ta tràn ngập khách, rượu vang của ông ta được uống thả dàn, và ông đã cung cấp một khu vực săn bắn tốt nhất, vậy thì ông sẽ có những tay súng tốt nhất có thể có cho cuộc săn bắn. Bà mẹ của những cô con gái sẽ thất vọng biết bao nếu nghe nói rằng một người khách, kẻ mà trong tất cả những người khác bà mong mỏi mời cho được lại là một tay súng tồi và hoàn toàn không thể chấp nhận!” (‘Society and the Season,’ của Mary, Nữ bá tước xứ Lovelace, trong Fifty Years, 1882-1932, trang 29)
[XXXIV] Một ý tưởng về điều mà những người đàn ông hy vọng rằng vợ của họ có thể nói hay thực hiện, ít ra là trong thế kỷ 19, có thể thu thập từ những gợi ý sau đây trong một lá thư “gửi cho một tiểu thư, người mà anh ta đã có một quan tâm lớn không lâu trước khi cô ta kết hôn” của John Bowdler. “Trên tất cả, tránh mọi thứ có xu hướng nhỏ nhất tỏ ra khiếm nhã hay bất lịch sự. Chỉ một ít phụ nữ biết rằng những người đàn ông ghét thậm tệ tới mức nào sự tiếp cận nhẹ nhàng nhất với những điều đó ở bất kỳ người phụ nữ nào, nhất là ở một người mà họ gắn bó. Bởi việc chăm sóc phòng dành riêng cho trẻ con hay người đang nằm trên giường bệnh, những người phụ nữ quá có khuynh hướng thụ đắc một thói quen trong việc trò chuyện về những đề tài như thế bằng thứ ngôn ngữ khiến cho những người đàn ông lịch sự phải bị sốc.” (Life of John Bowdler, trang 123)
Nhưng dù sự duyên dáng có tính chất thiết yếu, nó có thể, sau hôn nhân, bị ghét cay ghét đắng. “Trong những năm bảy mươi của thế kỷ trước, cô Jex-Blake và các bạn đồng sự đã đấu tranh sôi nổi cho sự chấp nhận phụ nữ trong nghề nghiệp y khoa, và các vị bác sĩ vẫn mạnh mẽ chống đối sự lấn sân của họ, tuyên bố rằng thật không thích hợp và đồi phong bại tục khi một phụ nữ phải nghiên cứu và xử lý những vấn đề y khoa tinh tế và sâu sắc. Vào thời điểm đó, Ernest Hart, biên tập viên của Tạp chí Y khoa Anh Quốc có nói với tôi rằng đại đa số những đóng góp được gửi tới ông ta để xuất bản trong tạp chí đều dính dáng tới những vấn đề y khoa tinh tế và sâu sắc với nét chữ viết tay của vợ những ông bác sĩ, rõ ràng là họ đã đọc để các bà ấy viết lại. Vào thời đó không có máy đánh chữ hay người viết tốc ký. (The Doctor’s Second Thoughts của Sir J. Crichton- Browne, trang 73, 74)
Tuy nhiên, tính chất nước đôi của sự duyên dáng đã được quan sát từ lâu trước chuyện này. Mandeville đã nói thế này trong The Fable of the Bees (1714):“Lẽ ra trước hết tôi phải cho rằng sự khiêm tốn của phụ nữ là kết quả của tập quán và sự giáo dục, qua đó tất cả những sự lột trần không đúng mốt và những cách diễn tả bẩn thỉu là sự thể hiện đáng sợ và kinh tởm đối với họ, và rằng dù có như thế, người phụ nữ trẻ đức hạnh đang còn sống thường thường sẽ có, bất chấp bộ răng của cô ta, những ý nghĩ và ý tưởng ngượng ngùng về những sự vật nảy sinh trong trí tưởng tượng của mình, mà cô ta sẽ không tiết lộ cho một số người nào đó vì một ngàn thế giới.”
{I} Xin trích dẫn chính xác những từ của một khẩn cầu như vậy: “Lá thư này là để yêu cầu bà giữ lại cho chúng tôi những y phục mà bà không còn dùng tới nữa… vớ dài mọi kiểu, bất kể rách tới độ nào, đều có thể chấp nhận… Ủy ban nhận thấy rằng bằng cách bánnhững quần áo này ở giá cả hợp lý… chúng đang thực hiện một dịch vụ thật sự hữu ích cho những phụ nữ mà nghề chuyên môn của họ đòi hỏi họ phải có y phục ban ngày và ban đêm chỉnh tề mà có thể họ không có đủ khả năng mua.” (Trích một lá thư nhận từ tổ chức London and National Society for Women’s Service, 1938.)
{II} Testament of Joad, by C. E. M. Joad, p. 210-11. Vì số lượng các hiệp hội do phụ nữ Anh điều hành trực tiếp hoặc gián tiếp là quá dài để trích dẫn (xem The Story of the Disarmament Declaration, p. 15, để tham khảo một danh sách các hoạt động hòa bình của phụ nữ thuộc tầng lớp lao động, kinh doanh và chuyên nghiệp) không cần thiết phải nghiêm túc chấp nhận sự chỉ trích của ông Joad, dù sao cũng soi sáng về mặt tâm lý học.
{III} Experiment in Autobiography, by H. G. Wells, p. 486. “Phong trào của nam giới để “chống lại sự xóa bỏ một cách thực chất tự do của họ bởi Đức Quốc Xã hay những người theo chủ nghĩa Phát xít có thể được nhận thức rõ hơn. Nhưng việc nó thành công hơn thì còn đáng ngờ. Hiện Đức Quốc Xã đang kiểm soát toàn bộ nước Áo.” (Báo Daily, 12/3/ 1938).
{IV} “Tôi nghĩ phụ nữ không nên ngồi cùng bàn với nam giới, sự hiện diện của họ phá hỏng cuộc đàm thoại, có xu hướng biến nó thành vặt vãnh và cầu kỳ, hoặc tốt nhất chỉ đơn giản là thông minh.” (Under the Fifth Rib, by C. E. M. Joad, p. 58.) Đây là một ý kiến được nói huỵch toẹt ra một cách đáng ngưỡng mộ, và nếu tất cả những ai chia sẻ những cảm giác của ông Joad đều tự bày tỏ một cách cởi mở, tình trạng tiến thoái lưỡng nan của nữ chủ nhân - mời ai, không mời ai - sẽ được sáng tỏ và bà ta sẽ tiết kiệm được công sức. Nếu những người vốn thích hiệp hội của giới tính riêng của họ ngồi ở bàn tuyên bố sự thật, những người đàn ông, chẳng hạn, bằng cách mặc áo đỏ, phụ nữ bằng cách đeo nơ hoa hồng bạch, trong lúc những người thích pha trộn cả hai giới cài hoa trắng và đỏ pha trộn trên khuyết áo, thì không chỉ nhiều bất tiện và hiểu lầm được ngăn chặn, mà còn có khả năng là sự trung thực của cái khuyết áo sẽ giết chết một hình thức cụ thể của sự đạo đức giả trong giao tiếp xã hội hiện đang quá thịnh hành. Đồng thời, sự bộc trực của ông Joad xứng đáng lời ca tụng cao nhất, và những mong ước của ông ta đáng được tuân thủ tuyệt đối.
{V} Theo bà H. M. Swanwick, W.S.P.U. có “một thu nhập từ những quà tặng trong năm 1912 trị giá £42,000.” (I Have Been Young, by H. M. Swanwick, p. 189.) Tổng thu của tổ chức Women’s Freedom League trong năm 1912 là £26,772 12s. 9d. (The Cause, by Ray Strachey, p. 311.) Như vậy tổng thu của hai tổ chức này là £68,772 12s. 9d. Nhưng, tất nhiên hai hiệp hội này phản đối.
{VI} “Nhưng, trừ những ngoại lệ, tổng thu nhập nói chung của phụ nữ là thấp, và 250 bảng một năm hoàn toàn là một thành tựu, ngay cả đối với một phụ nữ có khả năng cao với nhiều năm kinh nghiệm.” (Careers and Openings for Women, by Ray Strachey, p. 70.) Tuy nhiên, “Con số phụ nữ đang làm các công việc chuyên môn đã tăng rất nhanh trong hai mươi năm qua, và vào khoảng 400.000 trong năm 1931, cộng thêm những người làm nghề thư ký hay làm việc trong ngành công chức.” (op. cit, p. 44.)
{VII} Thu nhập của Đảng Lao động năm 1936 là £50,153. (Daily Telegraph, 9/1937.)
{VII} The British Civil Service. The Public Service, by William A. Robson, p. 16.
Giáo sư Ernest Barker đề xuất rằng nên có một cuộc thi tùy chọn cho “nam giới và phụ nữ ở lứa tuổi cao hơn”, những người đã làm công việc xã hội và dịch vụ xã hội trong một số năm. “Nói riêng, ứng viên nữ có thể có lợi. Đây chỉ là một phần rất nhỏ của các nữ sinh viên thành công trong cuộc thi mở rộng hiện nay: thật sự có rất ít người ứng thí. Ở hệ thống tùy chọn đề nghị ở đây, có thể, và thật sự có khả năng là một tỷ lệ phụ nữ lớn hơn nhiều sẽ là những ứng viên. Phụ nữ có khả năng và tài năng bẩm sinh đối với công việc và dịch vụ xã hội. Hình thức thi tuyển chọn lựa sẽ cho họ một cơ hội để biểu lộ khả năng và tài năng bẩm sinh đó. Nó có thể cho họ một sự khích lệ mới để thi tuyển vào dịch vụ quản lý của quốc gia, trong đó tài năng và sự hiện diện của họ là cần thiết.”(The British Civil Servant. ‘The Home Civil Service,’ by Professor Ernest Barker, p. 41.) Nhưng trong khi sự phục vụ gia đình vẫn tồn tại chính xác như nó đang hiện hữu trong hiện tại, khó mà thấy một sự khích lệ có thể làm cho phụ nữ tự do để trao tặng “khả năng và tài năng bẩm sinh của họ” cho dịch vụ nhà nước, trừ phi quốc gia thực hiện việc chăm nom các bố mẹ lớn tuổi; hay quy định rằng những người già dù thuộc giới tính nào đòi hỏi sự phục vụ của các con gái ở nhà là vi phạm luật hình.
{IX} Ông Baldwin, phát biểu ở Downing Street, trong một cuộc mít tinh với tư cách đại diện cho Quỹ Newnham College Building, 31/3/1936.
{X} Ảnh hưởng của một phụ nữ trong giới tăng lữ được xác định như sau trong cuốn Women and the Ministry, Some Considerations on the Report of the Archbishops’ Commission on the Ministry of Women (1936), p. 24. “Nhưng chúng tôi bảo lưu rằng sự chăm sóc của phụ nữ… sẽ có xu hướng tạo nên một sự hạ thấp tinh thần tín ngưỡng Công giáo, điều đó không nảy sinh bởi sự chăm sóc của nam giới trước khi những giáo đoàn mở rộng hay ưu tiên cho phụ nữ. Đó là một sự bày tỏ lòng tôn kính đối với phẩm chất của nữ tín đồ Công giáo nếu có thể đưa ra phát biểu này; nhưng nó sẽ có vẻ như một thực tế đơn giản rằng trong những ý nghĩ và mong muốn của giới tính đó tính tự nhiên dễ trở nên thấp kém hơn tính siêu nhiên, xác thịt thấp hơn tinh thần là trường hợp với nam giới; và rằng sự chăm sóc của một nam tu sĩ thông thường không khơi dậy khía cạnh đó của bản chất nữ giới vốn sẽ im lìm trong những thời gian của tình yêu mến Chúa. Mặt khác, chúng ta tin rằng các thành viên nam giới của giáo đoàn thuộc Giáo phái Anh không thể hiện diện ở một dịch vụ mà ở đó một phụ nữ được chăm sóc mà không trở nên ý thức một cách quá mức tới giới tính của mình.”
Do đó, theo ý của các Ủy viên Hội đồng Tổng Giám mục, nữ tín đồ Công giáo có đầu óc nghiêng về tinh thần hơn nam tín đồ - một nguyên do đáng chú ý, nhưng chắc chắn là thích đáng, để loại trừ họ khỏi giáo giới.
{XI} Daily Telegraph, 20/1/1936.
{XII} Daily Telegraph, 1936.
{XIII} Daily Telegraph, 22/1/1936.
{XIV} “Theo tôi biết, đến nay không có quy luật phổ quát nào về chủ đề này [chẳng hạn các quan hệ tính dục giữa những công chức]; nhưng những công chức và các quan chức đô thị ở cả hai giới hẳn nhiên được mong đợi được tuân thủ những quy định theo truyền thống và tránh thứ tư cách đạo đức có thể tự nó tìm đường đến những tờ nhật báo và bị mô tả là “đáng hổ thẹn” ở đó. Cho tới gần đây, các quan hệ giới tính giữa nam và nữ quan chức của Bưu điện có thể bị trừng phạt bằng cách sa thải ngay lập tức cả hai bên… Việc tránh sự công khai trên báo chí là một vấn đề khá dễ giải quyết miễn là có liên quan tới các vụ kiện tại tòa án: nhưng sự hạn chế ở giới văn phòng cần mở rộng hơn để ngăn các nữ công chức (thường là những người phải từ chức khi kết hôn) khỏi một quan hệ công khai ăn ở như vợ chồng với đàn ông nếu họ muốn làm như thế. Do đó, vấn đề này khoác một màu sắc mới.” (The British Civil Servant. The Public Service, by William A. Robson, pp. 14, 15.)
{XV} Phần lớn các câu lạc bộ của nam giới giam lỏng những người phụ nữ trong một phòng đặc biệt hoặc nhà phụ, và loại trừ họ khỏi các căn hộ khác, dù theo nguyên tắc được tuân thủ ở St Sofia rằng họ ô uế hoặc theo nguyên tắc được tuân thủ ở Pompeii rằng họ quá thuần khiết chỉ là một vấn đề để suy đoán.
{XVI} Quyền lực của báo giới trong việc ỉm đi sự thảo luận về bất kỳ chủ đề không mong muốn nào đã từng, và hiện vẫn còn kinh khủng. Nó là một trong những “chướng ngại vật đặc biệt” mà Josephine Bulter đã đấu tranh chống trả trong chiến dịch chống Đạo luật về các bệnh truyền nhiễm. “Đầu năm 1870, báo giới London bắt đầu áp dụng chính sách im lặng đối với vấn đề này, và điều này kéo dài nhiều năm, và khuấy lên từ Hiệp hội Các quý bà “Văn bản phản đối chống lại âm mưu giữ im lặng”, ký bởi Harriet Martineau và Josephine E. Butler, trong đó có những từ sau: “Chắc chắn, trong khi một âm mưu giữ im lặng kiểu đó là khả dĩ và được thực hành ở các nhà báo hàng đầu, người Anh chúng ta cường điệu các đặc quyền của chúng ta với tư cách những người tự do khi chúng ta tuyên bố để động viên một nền báo chí tự do, và để nắm giữ quyền được nghe cả hai phía trong một vấn đề trọng đại về đạo đức và pháp chế.” (Personal Reminiscences of a Great Crusade, by Josephine E. Butler, p. 49.) Một lần nữa, trong trận chiến đòi quyền bầu cử, báo giới đã sử dụng sự tẩy chay một cách vô cùng hiệu quả. Và gần đây, hồi tháng 7/1937, trong một lá thư tựa đề “Một âm mưu giữ im lặng”, được in (xin vinh danh nó) bởi tờ Spectator, Cô Philippa Stratchey hầu như lặp lại những từ của bà Butler: “Nhiều trăm và nhiều ngàn đàn ông và phụ nữ đã tham gia vào một nỗ lực để thuyết phục Chính phủ xóa bỏ điều khoản trong Dự luật bổ sung lương hưu mới cho những công nhân áo đen vốn lần đầu tiên giới thiệu một giới hạn thu nhập phân biệt đối với những ứng viên nam và nữ… Trong tháng vừa qua, Dự luật này đã được trình ra Thượng viện, ở đó, điều khoản này đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ và dứt khoát từ mọi phía trong Tòa… Đây là những sự kiện mà hẳn người ta phải cho là đủ thú vị để được tường thuật trên báo chí hàng ngày. Nhưng chúng đã được thông qua trong im lặng tuyệt đối bởi những tờ báo, từ The Times cho tới Daily Herald...Sự đối xử phân biệt với nữ giới trong Dự luật này đã gợi lên trong họ một cảm giác căm giận vì đã không được chứng kiến từ khi ban bố quyền bầu cử… Người ta giải thích thế nào cho việc che đậy hoàn toàn này của báo giới?”
{XVII} Những vết thương da thịt dĩ nhiên đã bị gây ra trong trận chiến ở Westminster. Thật sự, cuộc đấu tranh giành quyền bầu cử dường như nghiêm trọng hơn được thừa nhận hiện nay. Do vậy Flora Drummond nói rằng: “Dù chúng ta đạt được quyền bầu cử nhờ sự tích cực vận động của chúng ta, như tôi tin tưởng, hoặc chúng ta giành được nó vì những nguyên do khác, như một số người nói, tôi nghĩ nhiều người trong thế hệ trẻ hơn sẽ thấy khó mà tin rằng sự phẫn nộ và tàn bạo đã được khuấy động lên bởi sự đòi hỏi quyền bầu cử cho phụ nữ của chúng ta hồi gần ba mươi năm trước.” (Flora Drummond, in the Listener, 25 August 1937.) Có thể đoán là thế hệ trẻ hơn đã quá quen với sự phẫn nộ và tàn bạo để đòi tự do đến nỗi họ không có sẵn cảm xúc cho trường hợp cụ thể này. Ngoài ra, cuộc chiến cụ thể này không diễn ra trong những cuộc chiến đã biến nước Anh thành ngôi nhà, và biến người Anh thành những chiến sĩ, của tự do. Nhìn chung, cuộc chiến đòi quyền bầu cử vẫn được nhắc tới trong những từ ngữ phản kháng chua chát: “…và những người phụ nữ… đã không bắt đầu cái chiến dịch, quật bằng gậy và cắt xé tranh mà cuối cùng đã chứng minh cho cả hai nghị viện khả năng của họ đối với quyền bầu cử.” (Reflections and Memories, by Sir John Squire, p. 10.) Do đó, có thể tha thứ cho thế hệ trẻ hơn nếu họ tin rằng không có gì hào hùng trong một chiến dịch mà trong đó chỉ có vài cánh cửa sổ bị đập nát, vài ống quyển bị vỡ, và chân dung Henry James của Sargent bị phá hỏng, nhưng không thể sửa chữa, với một con dao. Đốt phá, quất gậy hay roi và rạch nát tranh dường như chỉ mang tính hào hùng khi được thực hiện trên một diện rộng bởi những người đàn ông mang súng.
{XVIII} The Life of Sophia Jex-Blake, by Margaret Todd, M.D., p. 72.
{XIX} “Mới đây, người ta đã nói và viết nhiều về những thành tựu và thực hiện của Sir Stanley Baldwin trong nhiệm kỳ thủ tướng của ông và quá nhiều là điều không thể có. Tôi có được phép kêu gọi sự chú ý tới những gì phu nhân Baldwin đã làm chăng? Khi tôi tham gia ủy ban của bệnh viện này lần đầu hồi năm 1929, những thứ thuốc giảm đau cho những ca sinh sản thông thường trong các khu sản phụ hầu như chưa được biết tới, hiện nay chúng được sử dụng hàng ngày và có sẵn cho 100% các ca, và điều gì đúng ở bệnh viện này cũng hầu như đúng đối với mọi bệnh viện tương tự. Thay đổi đáng chú ý trong một thời gian rất ngắn này là nhờ ở cảm hứng và những nỗ lực không mệt mỏi và sự cổ động của phu nhân Stanley Baldwin, như hồi ấy bà đã thực hiện…” (Letter to The Times from C. S. Wentworth Stanley, Chairman House Committee, the City of London Maternity Hospital, 1937.) Từ khi thuốc gây mê được áp dụng lần đầu cho Nữ hoàng Victoria khi sinh hạ Hoàng tử Leopold hồi tháng 4/1853 “những ca sinh sản ở các khu sản phụ” đã phải chờ đợi suốt 76 năm và sự ủng hộ tích cực của một thủ tướng phu nhân để đạt được sự giải phóng này.
{XX} Theo Debrett những Hiệp Sĩ and Phu nhân của Dames của Phẩm cấp Cao quý nhất của đế quốc Anh (The Most Excellent Order) đeo một huy hiệu bao gồm: “một chữ thập patonce, ngọc trai phủ men màu, ngoài phủ lông hay được phủ lên bởi một mề đai vàng với một đại diện của nước Anh ngồi bên trong một vòng trònđỏ khắc khẩu hiệu ‘Vì Thượng đế và Đế chế”. Đây là một trong vài phẩm cấp mở rộng cho phụ nữ, nhưng sự thấp kém của họ được đánh dấu bởi thực tế rằng dải ruy băng ở trường hợp của họ chỉ rộng hai và ¼ in-sơ, trong khi dải ruy băng của các Hiệp sĩ rộng 3 và ¾ in-sơ. Những ngôi sao cũng khác về kích cỡ. Tuy nhiên, câu khẩu hiệu thì giống nhau ở cả hai giới tính, và phải được duy trì để ngụ ý rằng những người đeo huy hiệu như thế nhìn thấy một sự kết nối giữa Thượng đế và Đế chế, và luôn sẵn sàng bảo vệ hai điều đó. Điều gì xảy ra nếu vị đại diện nước Anh ngồi trong một vòng tròn đỏ chống đối với (như có thể hình dung) một nhân vật quyền lực khác mà chỗ ngồi không xác định trên tấm huy chương, Debrett không nói, và các Hiệp sĩ và Phu nhân phải tự quyết định.
{XXI} Life of Sir Ernest Wild, K.C., by R. J. Rackham, p. 91.
{XXII} Lord Baldwin, speech reported in The Times, 20 April 1936.
{XXIII} Life of Charles Gore, by G. L. Prestige, D.D., pp. 240-41.
{XXIV} Life of Sir William Broadbent, K.C.V.O., F.R.S., edited by his daughter, M. E. Broadbent, p. 242.
{XXV} The Lost Historian, a Memoir of Sir Sidney Low, by Desmond Chapman-Huston, p. 198.
{XXVI} Thoughts and Adventures, by the Rt Hon. Winston Churchill, p. 57.
{XXVII} Speech at Belfast by Lord Londonderry, reported in The Times, 11 July 1936.
{XXVIII} Thoughts and Adventures, by the Rt Hon. Winston Churchill, p. 279.
{XXIX} Daily Herald, 13 February 1935.
{XXX} Goethe’s Faust, translated by Melian Stawell and G. L. Dickinson.
{XXXI} The Life of Charles Tomlinson, by his niece, Mary Tomlinson, p. 30.
{XXXII} Miss Weeton, Journal of a Governess, 1807-1811, edited by Edward Hall, pp. 14, xvii.
{XXXIII} A Memoir of Anne Jemima Clough, by B. A. Clough, p. 32.
{XXXIV} Personal Reminiscences of a Great Crusade, by Josephine Butler, p. 189.
{XXXV} “Bạn và tôi biết rằng không quan trọng mấy nếu chúng ta phải là những móng cầunằm ngoài tầm nhìn và đâm sâu xuống đầm lầy mà trên đó những chân cầu có thể nhìn thấy chống đỡ cho chiếc cầu. Chúng ta không bận tâm nếu, sau đó, mọi người quên rằng, không có gì ở thấp bên dưới; nếu ai đó phải bị sử dụng để thử một thí nghiệm, trước khi cách tốt nhất để dựng một chiếc cầu được tìm ra. Chúng ta hoàn toàn sẵn lòng nằm trong số đó. Chiếc cầu là thứ chúng ta quan tâm, chứ không phải vị trí của chúng ta bên trong nó, và chúng ta tin rằng, tới lúc kết thúc, mọi người sẽ lưu giữ trong ký ức rằng chỉ mỗi một điều này mới là đối tượng của chúng ta.” (Letter from Octavia Hill to Mrs N. Senior, 20 September 1874. The Life of Octavia Hill, by C. Edmund Maurice, pp. 307-8.)
Octavia Hill (1838-1912) đã khởi xướng phong trào “để bảo đảm có những ngôi nhà tốt hơn cho người nghèo và không gian mở cho công chúng…” “Hệ thống Octavia Hill đã được áp dụng cho quy hoạch mở rộng của [Amsterdam]. Vào tháng 1, 1928 có tới 28,648 nhà ở đã được xây dựng’ (Octavia Hill, from letters edited by Emily S. Maurice, pp. 10-11.)
{XXXVI} Hầu gái đóng một vai trò quan trọng trong đời sống giai cấp thượng lưu Anh từ những thời kỳ sớm nhất cho tới năm 1914 khi bà Monica Grenfell tới chăm sóc thương binh được hộ tống bởi một người hầu gái [Bright Armour, by Monica Salmond, p. 20] đến độ dường như phải kêu gọi một sự công nhận nào đó về những phục vụ của cô ta. Các bổn phận của cô ta rất lạ thường. Như cô ta phải hộ tống bà chủ của mình đi xuôi theo phố Piccadilly “nơi một vài quý ông trong câu lạc bộ có thể nhìn bà ta từ một cửa sổ,” nhưng không cần thiết ở Whitechapel, ‘nơi những gã bất lương lẩn lút quanh từng góc phố”. Nhưng không ngờ gì nữa, công việc văn phòng của cô ta rất đỗi gay go. Vai trò của Wilson trong cuộc sống riêng tư của Elizabeth Barrettrất phổ biến với những độc giả của những lá thư nổi tiếng. Muộn hơn trong thế kỷ đó (khoảng 1889-92) Gertrude Bell ‘đi cùng với Lizzie, hầu gái của bà, tới các cuộc triễn lãm tranh;bà được Lizzie đưa về từ những bữa dạ tiệc; bà đi với Lizzie để xem Việc cư trú ở Whitechapel nơi Mary Talbot đang làm việc...’ (Early Letters of Gertrude Bell, edited by Lady Richmond.) Chúng ta chỉ cần xét tới những giờ cô ta chờ ở phòng giữ mũ áo, những mẫu Anh cô ta quần quật đi qua trong những phòng trưng bày tranh, những dặm cô ta lê bước dọc theo vỉa hè West End để kết luận rằng nếu hiện giờ ngày làm việc của Lizzie đã kết thúc, trong thời của nó đó là một ngày dài. Chúng ta hãy hy vọng rằng ý nghĩ rằng cô ta đang thực hiện những mệnh lệnh đặt ra bởi Thánh Paul trong những lá thư của người gửi cho Titus và những người thành Corin, là một sự ủng hộ; và hiểu biết rằng cô ta đang làm hết sức mình để giao trả nguyên vẹn thân thể của bà chủ cho ông chủ là một niềm an ủi. Ngay cả như vậy, với sự yếu đuối của xác thân và bóng tối của tầng hầm lúc nhúc bọ cánh cứng, hẳn đôi lúc cô ta đã cay đắng phiền trách, một mặt là Thánh Paul vì sự trong trắng của người, và mặt khác là những quý ông ở phố Piccadilly vì sự dâm ô của họ. Chúng ta phải lấy làm tiếc rằng không có cuộc đời hầu gái nào, mà từ đó chúng ta có thể xây dựng một lý giải với tư liệu đầy đủ, được tìm thấy trong Từ điển tiểu sử quốc gia.
{XXXVII} The Earlier Letters of Gertrude Bell, tuyển chọn và biên soạn bởi Elsa Richmond, pp. 217-18.
{XXXVIII} Vấn đề trong trắng, cả ở tâm trí lẫn cơ thể, là mối quan tâm và sự phức tạp lớn lao nhất. Khái niệm về sự trong trắng của thời đại Victoria, Edward và phần đông ở thời Đệ ngũ Georgia dựa trên, để không đi ngược lại xa hơn, những lời của Thánh Paul. Để hiểu ý nghĩa của chúng, chúng ta phải hiểu tâm lý và môi trường của ông - không phải một công việc nhẹ nhàng khi xét tới thân thế thường xuyên mù mịt và sự thiếu chất liệu về tiểu sử của ông. Từ chứng cứ nội bộ, có vẻ như rõ ràng rằng ông là một nhà thơ và nhà tiên tri, nhưng thiếu năng lực luận lý, và thiếu một sự đào tạo về tâm lý vốn buộc ngay cả kẻ ít thơ mộng hay khả năng thấu thị nhất hiện nay phải đưa những cảm xúc cá nhân của họ ra thâm cứu. Như vậy tuyên bố nổi tiếng của ông về vấn đề mạng che mặt, mà hình như lý thuyết về sự trong trắng của phụ nữ đã dựa vào, rất dễ bị đả phá bởi những phê bình từ nhiều góc cạnh. Trong Thư gửi những người Thành Corin, lập luận của ông rằng một phụ nữ phải che mặt khi cầu nguyện hay tiên tri dựa vào giả thuyết rằng không che mặt “là một và cùng một nghĩa như thể cô ta đã bị cạo trọc đầu”. Cứ cho là giả thuyết đó đúng, kế tiếp chúng ta phải hỏi: Có gì đáng xấu hổ trong việc cạo trọc đầu? Thay vì trả lời, Thánh Paul tiếp tục khẳng định, “Bởi một người nam thật sự không nên trùm vải lên đầu, vì anh ta là hình ảnh và vinh quanh của Thượng đế’: từ đó có vẻ như không phải bản thân việc bị cạo trọc đầu là sai; mà chính việc là một phụ nữ và bị cạo trọc đầu thì sai. Có vẻ như nó sai đối với người phụ nữ vì “người phụ nữ là niềm vinh quang của đàn ông.” Nếu Thánh Paul nói công khai rằng ông thích mái tóc dài nhiều người trong số chúng ta hẳn sẽ đồng ý với ông, và nghĩ tốt hơn ông nên nói như vậy. Nhưng đối với ông những nguyên cơ khác có vẻ thích đáng hơn, như nhận xét kế tiếp của ông: “Vì đàn ông không phải là của phụ nữ, mà phụ nữ là của đàn ông; bởi không phải đàn ông được tạo ra cho phụ nữ; mà phụ nữ được tạo ra cho đàn ông: vì lý do này, phụ nữ nên có một dấu hiệu của quyền lực trên đầu mình, vì những thiên thần.’ Chúng ta không có cách gì để biết các thiên thần đánh giá mái tóc dài như thế nào; và bản thân Thánh Paul dường như nghi ngờ sự ủng hộ của họ hoặc có thể ông không nghĩ cần phải viện tới bản chất đồng lõa quen thuộc đó. “Phải chăng ngay cả bản thân tự nhiên dạy các người rằng, nếu một gã đàn ông có tóc dài, đó là một nỗi ô nhục của anh ta? Nhưng nếu một phụ nữ có tóc dài, đó là một vinh quang đối với cô ta: vì tóc cô ta che phủ cho cô ta. Nhưng nếu bất kỳ người đàn ông nào muốn tranh cãi, chúng ta không có tập quán đó, các giáo đường của Thượng đế cũng không.” Đối với chúng ta có vẻ như lập luận từ tự nhiên có thể bổ sung; tự nhiên khi liên kết với thuận lợi tài chính, hiếm khi có nguồn gốc thiêng liêng; nhưng nếu nền tảng của lập luận này không đáng tin, kết luận lại vững chắc. “Hãy để những người phụ nữ giữ im lặng trong những giáo đường: bởi họ không được phép phát ngôn; nhưng hãy để họ trong trạng thái khuất phục, như luật pháp cũng nói vậy.” Sau khi viện tới tam vị nhất thể đồng lõa quen thuộc nhưng luôn đáng ngờ là Các thiên thần, tự nhiên và luật pháp để củng cố cho quan điểm riêng của ông, Thánh Paul đi tới kết luận lù lù hiện ra trước mắt chúng ta:
“Và nếu họ muốn biết bất kỳ điều gì, hãy để họ hỏi chồng của họ ở nhà: vì việc một phụ nữ cất tiếng nói trong nhà thờ là điều đáng xấu hổ.” Bản chất của “sự xấu hổ” vốn nối kết chặt chẽ với sự trong trắng, như lá thư cho thấy, đã bị giảm giá trị đáng kể. Bởi rõ ràng nó kết hợp cả những thành kiến về giới tính và cá nhân. Rõ ràng Thánh Paul không chỉ là một người độc thân (về những quan hệ của ông với Lydia, xin đọc Renan, Saint Paul, p. 149. ‘Est-il cependant absolument impossible que Paul ait contracté avec cette soeur une union plus intime? On ne saurait l’affirmer’); và như nhiều gã độc thân khác, ngờ vực về giới tính khác; mà còn là một thi sĩ và như nhiều thi sĩ khác thích tiên tri về chính mình hơn là lắng nghe những lời tiên tri của người khác. Ông cũng là kiểu người cường tráng hay vượt trội, rất quen thuộc với ở Đức hiện nay, những người mà một đề tài về chủng tộc hay giới tính là chủ yếu để đem tới sự hài lòng. Sự trong trắng theo định nghĩa của Thánh Paul được xem như một khái niệm phức hợp, dựa trên tình yêu đối với mái tóc dài; tình yêu đối với sự chinh phục, tình yêu của một khan giả; tình yêu đối với việc đặt ra luật pháp, và, trong tiềm thức, dựa trên một khát khao mạnh mẽ và tự nhiên rằng tâm trí và thân thể của một phụ nữ phải được bảo lưu cho việc sử dụng của một người đàn ông và chỉ một mà thôi. Một khái niệm như thế khi được củng cố bởi các thánh thần, tự nhiên, pháp luật, tập quán và giáo hội, và được thực thi bởi một giới tính với một thích thú cá nhân mạnh mẽ muốn thực thi nó, và các phương tiện kinh tế, chắc chắn là phải đầy quyền lực. Có thể thấu hiểu điều đó trên bất kỳ trang sử nào chúng ta mở ra từ Thánh Paul cho tới Gertrude Bell. Sự trong trắng được viện dẫn để ngăn cản không cho bà học ngành y, không được vẽ tranh lõa thể; không được đọc Shakespeare; không được chơi trong các ban nhạc; không được đi bộ xuôi phố Bond một mình. Vào năm 1848, việc những cô con gái của một người làm vườn ngồi trong một cỗ xe ngựa hai bánh xuôi xuống Phố Regent là một “hành động xúc phạm không thể tha thứ. (Paxton and the Bachelor Duke, by Violet Markham, p. 288); hành động xúc phạm ấy trở thành một tội ác, các nhà thần học phải quyết định tầm trọng đại của tội ác đó, nếu những vạt áo bị để mở. Vào đầu thế kỷ hiện tại con gái của một người sản xuất gang (chúng ta đừng miệt thị những phân biệt được nói tới ngày nay là hệ trọng), Sir Hugh Bell, “đã tới tuổi 27 và kết hôn mà chưa bao giờ đi bộ một mình dọc phố Piccadilly... Gertrude, dĩ nhiên, chưa từng mơ tới việc thực hiện điều đó…” Phố Wesr End là khu vực ô uế. “Nó thuộc về một tầng lớp cấm kỵ;..” (The Earlier Letters of Gertrude Bell, collected and edited by Elsa Richmond, pp. 217-18.) Nhưng những rắc rối và mâu thuẫn của sự trong trắng là cùng một cô gái vốn đã mang mạng che mặt, chẳng hạn, được hộ tống bởi một người đàn ông hay một người hầu gái, ở phố Piccadilly có thể đến thăm Whitechapel, hay Seven Dials, thời đó là những nơi chốn của sự đồi bại và bệnh hoạn, với sự chấp thuận của cha mẹ. Sự dị thường này không hoàn toàn thoát khỏi lời bình phẩm. Charles Kingsley hồi còn trẻ đã thốt lên: “… và những cô gái nhồi vào họ đầy những trường học, việc tới chơi ở quận, tả lót và các câu lạc bộ rẻ tiền. Quỷ tha ma bắt!!! và đi loanh quanh trong những cảnh tượng rác rưởi khốn khổ đáng tởm nhất, và tới thăm những người nghèo và đọc kinh Thánh cho họ nghe một cách không hợp khuôn phép. Mẹ tôi nói rằng những nơi họ đi vào không thích hợp để tới đối với bất kỳ cô gái nào, và rằng họ không nên biết những thứ như thế tồn tại.” (Charles Kingsley, by Margaret Farrand Thorp, p. 12.) Tuy nhiên, bà Kingsley là ngoại lệ. Hầu hết các cô con gái của những người đàn ông trí thức xem đó là những “cảnh tượng ghê tởm”, và biết rằng những thứ như thế tồn tại. Việc họ che đậy hiểu biết của họ là điều khả dĩ; sự che đậy đó có tác động thế nào về mặt tâm lý là không thể thắc mắc ở đây. Nhưng sự trong trắng đó, dù có thật hay áp đặt, là một thế lực to lớn, dù tốt dù xấu, không thể nghi ngờ điều đó. Thậm chí ngày nay cũng có khả năng rằng một phụ nữ phải tham gia một trận chiến tâm lý khá khốc liệt với hồn ma của Thánh Paul, trước khi cô ta có thể có quan hệ tình dục với một người đàn ông khác ngoài chồng mình. Không chỉ sự ô nhục xã hội được áp dụng với tư cách sự trong trắng, mà cả đạo luật Bastardy cũng cố hết sức áp đặt sự trong trắng bằng áp lực tài chính. Cho tới khi phụ nữ có quyền bầu cử vào năm 1918, đạo luật Bastardy năm 1872 ấn định tổng số 5s một tuần là số tối đa mà một ông bố, dù giàu có cỡ nào, có thể chi tiêu cho việc nuôi dưỡng con mình (Josephine Butler, by M. G. Fawcett and E. M. Turner, note, p. 101.) Hiện giờ Thánh Paul và các tông đồ của ông đã tự vén mạng che mặt của họ bởi khoa học hiện đại về sự trong trắng đã thực hiện một cải cách đáng kể. Thế nhưng thiên hạ nói có một phản ứng ủng hộ tới mức độ nào đó về sự trong trắng của cả hai giới tính. Điều này một phần là do các nguyên nhân kinh tế; sự bảo vệ trong trắng của những nàng hầu là một mục tốn kém trong ngân sách của nhà tư sản. Lập luận tâm lý ủng hộ cho sự trong trắng được thể hiện rõ bởi ông Upton Sinclair: “Ngày nay chúng ta nghe nói khá nhiều về những rắc rối tâm thần do sự kềm chế tình dục gây ra; đó là trạng thái của khoảnh khắc. Chúng ta không nghe bất kỳ điều gì về những phức cảm có thể bị gây ra bởi đam mê tình dục. Nhưng quan sát của tôi là những ai tự cho phép bản thân theo đuổi mọi thôi thúc tình dục là hoàn toàn khốn khổ không kém những ai đè nén mọi thôi thúc tình dục. Tôi nhớ một bạn học ở trường cao đẳng; tôi bảo với anh ta: ‘Anh có bao giờ nảy ra ý nghĩ dừng lại và nhìn vào tâm trí của mình không? Mọi thứ đến với anh đều biến thành tình dục.” Trông anh ta có vẻ ngạc nhiên, và tôi thấy rằng đó là một ý tưởng mới đối với anh ta; anh ta ngẫm nghĩ rồi nói: ‘Tôi đoán là anh đúng.’” (Candid Reminiscences, by Upton Sinclair, p. 63.) Một minh họa bổ sung được cung cấp bởi giai thoại sau: “ Trong thư viện tuyệt vời của Đại học Columbia có những kho tàng chứa cái đẹp, những bản in khắc đắt tiền, và theo kiểu tham lam thường ngày của tôi, tôi tới những thứ này, dự dịnh tìm hiểu mọi điều cần biết về mỹ thuật thời Phục hưng trong một hoặc hai tuần. Nhưng tôi phát hiện ra mình đang bị chôn vùi bời cái khối trần truồng này; các tri giác của rối bù; và tôi phải ngưng lại. (op. cit., pp. 62-3.)
{XXXIX} Bản dịch ở đây được sử dụng bởi Sir Richard Jebb (Sophocles, the Plays and Fragments, với những chú giải quan trọng, bình phẩm và dịch ra văn xuôi tiếng Anh). Không thể phán xét bất kỳ quyển sách nào từ một bản dịch, thế nhưng dù là đọc bản dịch, Antigone rõ ràng là một trong những tuyệt phẩm của kịch bản văn học. Dù sao, chắc chắn nó có thểđược biến thành một tuyên truyền chống Phát xít, nếu cần. Bản thân vở kịch Antigone có thể chuyển hóa thành bà Pankhurst, kẻ đã đập vỡ một cửa sổ và bị giam ở Holloway; hay thành Frau Pommer, vợ của một quan chức khai mỏ người Phổ ở Essen, người đã nói: “Cái gai của sự căm ghét đã đâm đủ sâu vào mọi người bởi các xung đột tôn giáo, và đây là cao điểm để những người đàn ông hiện nay biến mất…” Bà đã bị bắt và cố gán cho tội sỉ nhục và vu khống Nhà nước và phong trào Đức Quốc Xã.(The Times, 12 August 1935.) Tội ác của Antigone có bản chất rất giống thế và đã bị trừng phạt rất giống thế. Những lời của cô, “Hãy xem những gì tôi gánh chịu và từ ai, vì tôi sợ phải vất bỏ nỗi sợ hãi trời cao!... Và luật trời nào tôi đã vi phạm? Vì sao, là kẻ không may, tôi có nên nhìn lên các thần thánh nữa không? Tôi nên cầu khẩn đồng minh nào - khi nhờ lòng mộ đạo tôi đã kiếm được cái tên nghịch đạo?” có thể được phát ngôn bởi bà Pankhurst, hay bà Frau Pommer; và tất nhiên có tính thời sự. Một lần nữa, Creon, kẻ đã “đẩy những đứa con của ánh thái dương vào bóng tối, và nhẫn tâm nhốt một linh hồn sống trong hầm mộ’”; kẻ khăng khăng rằng “sự bất tuân là tội ác xấu xa nhất,” và rằng “bất cứ ai thành phố có thể bổ nhiệm, kẻ đó phải tuân phục, cả những điều nhỏ lẫn điều lớn, cả những điều công bình và bất công…” là một điển hình của những chính khách cụ thể trong quá khứ và của Herr Hitler và Signor Mussolini hiện tại. Nhưng dù dễ ép những nhân vật này vào tấm áo đã cập nhật, không thể giữ họ ở đó được. Họ đề xuất quá nhiều; và khi tấm màn hạ xuống chúng ta thông cảm, có thể ghi chú thế, ngay cả với chính Creon. Kết quả này, với tuyên truyền viên không mong muốn, dường như do thực tế rằng Sophocles (ngay cả ở một bản dịch) sử dụng tự do tất cả mọi khả năng có thể thủ đắc của một nhà văn; và do đó, đề nghị rằng nếu chúng ta sử dụng nghệ thuật để tuyên truyền những quan điểm chính trị, chúng ta phải ép nhà nghệ sĩ phải cắt xén và cầm tù tài năng của mình để trao một sự phục vụ rẻ tiền và ngắn ngủi. Văn chương sẽ gánh chịu cùng sự cắt xèo mà con la đã gánh chịu; và sẽ không còn con ngựa nào nữa.
{XXXX} Năm từ của Antigone are: [văn bản Hy Lạp]‘Bản chất của tôi không phải là căm ghét mà là yêu thương.” (Antigone, dòng 523, Jebb.) Creon đáp lại: “Vậy thì hãy đi tới thế giới của người chết, và nếu ngươi cần tình yêu, hãy yêu họ. Trong lúc ta còn sống, không mụ đàn bà nào có thể thống trị ta.”
{XXXXI} Ngay cả ở thời đại của áp lực chính trị lớn như hiện tại, rất đáng chú ý là có rất nhiều chỉ trích vẫn còn hướng tới những người phụ nữ. Lời thông báo: “Một nghiên cứu sắc sảo, thông minh và khiêu khích về phụ nữ hiện đại” xuất hiện bình quân ba lần mỗi năm trong bản danh sách của các nhà xuất bản. Tác giả, thường là một tiến sĩ ngữ văn, luôn luôn là nam giới, “với người đàn ông đơn giản” theo lời quảng cáo (xem Times Lit. Sup., 12 March 1938), “quyển sách này sẽ là một lời cảnh tỉnh.”
(I) Có thể hy vọng rằng một người làm việc có phương pháp nào đó đã lập được một bộ sưu tập các bản tuyên ngôn và các bản câu hỏi thăm dò phổ biến truyền qua đài phát thanh trong hai năm 1936-7. Những tư nhân không có trình độ chính trị được mời ký những đơn thỉnh nguyện yêu cầu chính phủ nước họ và các nước ngoài thay đổi chính sách; các nghệ sĩ được yêu cầu điền những mẫu đơn phát biểu các quan hệ thích đánh của họ với Nhà nước, tôn giáo, đạo đức; những bản cam kết yêu cầu nhà văn nên dùng tiếng Anh đúng ngữ pháp và tránh những thể hiện thô tục; và những người nằm mơ được mời tới để phân tích các giấc mơ của họ. Bằng cách khích lệ, nhìn chung công chúng nhận được các kết quả trong báo chí hàng ngày hay hàng tuần. Việc nói ra tác động của cuộc điều tra này đối với các chính phủ thuộc về nhà chính khách. Với văn học, vì sản lượng những cuốn sách dồi dào, và dường như ngữ pháp không tốt hơn cũng không tệ hơn, tác động khá mơ hồ. Nhưng cuộc điều tra có lợi ích lớn về mặt tâm lý và xã hội. Có thể đoán nó bắt nguồn từ trạng thái tinh thần do linh mục Inge đề xuất (The Rickman Godlee Lecture, tường thuật trong tờ The Times, 23/11/), “trong những lợi ích của chính chúng ta, chúng ta có đang di chuyển theo đúng hướng hay không. Nếu chúng ta tiếp tục như đang làm hiện nay, con người ở tương lai có siêu việt hơn chúng ta hay không?... Những người có suy nghĩ cân nhắc đang bắt đầu nhận ra rằng trước khi tự chúc mừng chúng ta về việc tiến nhanh, chúng ta nên biết chúng ta đang tiến tới đâu”: một sự tự bất mãn chung và ao ước “sống khác biệt”. Nó cũng chỉ ra một cách gián tiếp cái chết của người đàn bà quyến rũ, vị phu nhân khá lố lăng và thường là thuộc về tầng lớp thượng lưu đó, kẻ mà bằng cách giữ cho cửa ngôi nhà mở ra với giới quý tộc, giới tài phiệt, giới trí thức, giới dốt nát, vân vân, đã cố cung cấp cho mọi giai tầng một sân chơi để trò chuyện hay một điểm hỗn tạp nơi họ có thể làm tươi mới lại tâm hồn, thái độ và đạo đức một cách riêng tư hơn, và có lẽ hữu ích hơn. Vai trò mà người phụ nữ quyến rũ đóng trong việc nâng cao văn hóa và tự do trí tuệ trong thế kỷ 18 được lưu giữ lại bởi những sử gia có ý nghĩa khá quan trọng. Thậm chí ngay trong thời đại của chúng ta nàng ta vẫn có những giá trị hữu ích. Nhân chứng là W. B. Yeats - “Tôi thường ước rằng ông ta [Synge] có thể sống đủ lâu để tận hưởng sự đồng cảm với những người phụ nữ nhàn rỗi, quyến rũ, có học thức mà Balzac trong một trong những lời đề tặng của mình gọi là ‘niềm an ủi chính của thiên tài’!” (Dramatis Personae, W. B. Yeats, t. 127.) Tuy nhiên, phu nhân St Helier, người mà, giống như phu nhân Jeune, đã bảo tồn truyền thống của thế kỷ 18, thông báo với chúng ta rằng “trứng chim choi choi giá 2 shiling 6 hào một trứng, nước ép quả dâu tây, gà con… giờ hầu như được xem là một sự cần thiết cho bất kỳ một ai nổi hứng muốn làm một bữa ăn ngon.” (1909); và nhận xét của bà ta rằng “ngày tiếp khách rất nhọc mệt… tôi cảm thấy mệt nhoài khi bảy giờ rưỡi tới, và vui mừng biết bao khi lúc tám giờ tôi ngồi xuống và có một bữa ăn mặt đối mặt an bình với chồng tôi!” (Memories of Fifty Years của Phu nhân St Helier, t. 3, 5, 182) có thể lý giải vì sao những ngôi nhà như thế lại đóng kín cửa, vì sao những nữ chủ nhân như thế chết, và do đó vì sao giới trí thức, giớidốt nát, giới quý tộc, giới quan lại, giới tư sản, vân vân, bị thôi thúc (trừ phi một ai đó sẽ làm sống lại xã hội đó trên một nền tảng kinh tế) phải trò chuyện trước công chúng. Nhưng theo quan điểm của vô số những bản tuyên ngôn và bản câu hỏi thăm dò đang lưu hành hiện giờ, sẽ là ngu xuẩn khi đề nghị một kẻ khác thâm nhập vào tâm trí và động cơ của những nhà điều tra.
(II) “Tuy nhiên ông ta đã bắt đầu thuyết giảng hàng tuần từ ngày 13/5 (1844) ở trường cao đẳng Queen’s mà Maurice và các giáo sư khác ở trường King’s đã thành lập một năm trước, cơ bản là để kiểm tra và đào tạo các nữ gia sư. Kingsley sẵn sàng chia sẻ công việc ít phổ biến này vì ông tin vào nền giáo dục cao hơn của phụ nữ.” (Charles Kingsley của Margaret Farrand Thorp, t. 65.)
(III) Tiếng Pháp, như trích dẫn bên trên cho thấy, cũng tích cực như tiếng Anh trong việc lưu hành các bản tuyên ngôn. Việc người Pháp - kẻ từ chối cho phép phụ nữ Pháp bầu cử, và vẫn áp đặt lên họ những đạo luật hầu như khắc nghiệt không kém chi thời trung cổ mà có thể nghiên cứu trong cuốn The Position of Women in Contemporary France của Frances Clark - khẩn khoản yêu cầu phụ nữ Anh giúp họ bảo vệ tự do và văn hóa hẳn phải gây kinh ngạc.
(IV) Độ chính xác nghiêm ngặt, ở đây hơi xung đột với nhịp điệu và luật hài âm, đòi hỏi từ “rượu pooctô”. Một tấm ảnh trong nhật báo chụp “Những quý ông Tây Ban Nha trong một Phòng họp của những bậc cao niên sau bữa ăn (1937) cho thấy “một chiếc xe dọn thức ăn trong đó có cái bình cổ cong đựng rượu pooctô băng qua một khoảng trống giữa những bữa ăn ở lò sưởi, và cứ thế tiếp tục vòng tròn của nó mà không ngang qua mặt trời.” Một bức ảnh khác cho thấy chiếc cốc “có đế” được sử dụng. Tập quán cổ của Oxford này quy định rằng kẻ đề cập tới những chủ đề cụ thể ở Hall có thể bị phạt uống ba panh (0,5 lít) bia liền một hơi…” Những ví dụ đó tự thân chúng đã đủ để chứng minh cây bút của một phụ nữ không thể nào mô tả được cuộc sống ở một trường nam cao đẳng nếu không phạm phải những thiếu sót không thể tha thứ trong phép xã giao. Nhưng các quý ông mà các tập quán của họ thông thường là bắt chước, e là như vậy, sẽ mở rộng sự dộ lượng của họ khi họ phản ánh rằng người nữ tiểu thuyết gia, bất kể có ý định tôn kính thế nào, làm việc bên dưới những trở ngại vật chất nghiêm trọng. Nếu cô ta muốn, ví dụ, mô tả một bữa đại tiệc ở Trinity, Cambridge, cô ta phải “lắng nghe qua cái lỗ nhỏ để nhìn qua tường của bà Butler (vợ của ông Hiệu trưởng) những phát biểu diễn ra ở bữa tiệc được tổ chức ở trường Trinity College”. Nhận xét này được cô Haldane đưa ra vào năm khi cô phản ánh rằng “Toàn bộ khung cảnh hầu như giống với thời trung cổ.” (From One Century to Another của E. Haldane, t. 235.)
(V) Theo Whitaker có một Hội văn học Hoàng gia và cũng có một Viện Hàn lâm Anh Quốc, cả hai đều là giả đoán, vì chúng có văn phòng và quan chức, các cơ quan văn phòng, nhưng không thể nói những khả năng của chúng là gì, vì nếu Whitaker không xác nhận sự tồn tại của chúng, chắc chắn là sẽ không ai ngờ tới điều đó.
(VI) Rõ ràng phụ nữ đã bị trục xuất khỏi Phòng đọc của Viện bảo tàng Anh Quốc hồi thế kỷ 18. Thế này: “Cô Chudleigh khẩn nài được phép vào phòng đọc. Người nữ sinh viên duy nhất đã vinh danh chúng ta là bà Macaulay; và quý ngài có thể nhớ lại một sự kiện khiếm nhã thế nào đã xúc phạm tới sự tinh tế của bà.” (Daniel Wray to Lord Harwicke, 22/10/ 1768. Nichols, Literary Anecdotes of the Eighteenth Century, quyển I, t. 137.) Biên tập viên nói thêm ở phần chú thích: “Câu này ám chỉ sự khiếm nhã của một quý ông ở đó, với sự hiện diện của bà Macaulay; những người tham sự sẽ không chịu đựng được sự lặp lại điều đó.”
(VII) The Autobiography and Letters of Mrs M. O. W. Oliphant, sắp xếp và biên tập bởi bà Harry Coghill. Bà Oliphant (1825-97) “sống trong sự bối rối liên tục do việc giáo dục và chăm nom các con của người anh trai góa vợ của mình, cộng thêm hai con trai của chính bà….” (Dictionary of National Biography.)
(VIII) History of England của Macaulay, quyển III, t. 278 (bản tiêu chuẩn).
(IX) Ông Littlewood, cho tới gần đây là nhà phê bình gây ấn tượng của tờ Morning Post, đã mô tả điều kiện của báo chị hiện thời ở một bữa ăn do ông tổ chức hôm 6/12/ 1937. Ông Littlewood nói: “Ông ta đã đấu tranh trong mùa hoạt động và mùa nghỉ để có thêm nhiều không gian cho sân khấu trong các chuyên mục của các tờ nhật báo London. Chính phố Fleet, nơi mà giữa mười một giờ và mười hai giờ rưỡi, không kể trước và sau đó, hàng ngàn ngôn từ và tư tưởng đẹp đẽ đã bị tàn sát một cách có hệ thống. Số phận của ông ta trong ít nhất hai trong bốn thập kỷ là quay trở lại cái lò sát sinh đó hàng đêm với viễn cảnh chắc chắn là người ta sẽ nói với ông rằng tờ báo đã đầy những tin tức quan trọng và không còn chỗ cho bất kỳ thứ đẫm máu nào về sân khấu. Điều may mắn của ông là thức giấc vào sáng hôm sau và nhận ra mình có thể giải đáp cho những mảnh sứt sẹo còn lại của cái từng là một bài điểm kịch hay… Đó không phải là lỗi của các ông trong văn phòng. Một số trong bọn họ gạch bỏ bài với cây bút chì xanh trong lúc mắt rưng rưng. Thủ phạm thật sự là cái công chúng to lớn không biết gì về sân khấu và người ta không thể mong chờ sự quan tâm của nó.” The Times, 6/12/1937.
Ông Douglas Jerrold đã mô tả cách xử sự của hoạt động chính trị trong báo giới: “Trong vài năm ngắn ngủi đó (giữa 1928-33] sự thật đã rời bỏ phố Fleet. Bạn không bao giờ có thể nói hết sự thật vào mọi lúc. Bạn không bao giờ có thể làm như thế. Nhưng bạn đã từng có thể ít nhất là nói lên sự thật về các quốc gia khác. Trước 1933, bạn đã làm điều đó với những nguy cơ. Hồi năm 1928 không có sức ép chính trị trực tiếp từ những người quảng cáo. Ngày nay nó không chỉ trực tiếp mà còn đầy hiệu quả.”
Phê bình văn học dường như cũng nằm trong cùng trường hợp và vì cùng một nguyên do: “Không có nhà phê bình nào khiến công chúng có thêm bất kỳ niềm tin nào vào họ. Họ tin tưởng, nếu có, vào những hội đọc sách khác nhau, và những tuyển chọn của các tờ báo cá nhân, và nhìn chung họ khôn ngoan… Hội đọc sách là những người bán sách thẳng thắn, và những tờ báo quốc gia lớn không đủ sức làm rối trí đọc giả của họ. Tất cả bọn họ phải chọn những cuốn sách có, ở mức độ thị hiếu thịnh hành của công chúng, một doanh số tiềm năng lớn.” (Georgian Adventure của Douglas Jerrold, t. 282, 283, 298.)
(X) Trong khi rõ ràng rằng dưới những điều kiện của báo chí hiện tại, phê bình văn học phải là chưa thỏa đáng, cũng rõ ràng rằng người ta không thể tạo ra một thay đổi nào nếu không có sự thay đổi của cấu trúc kinh tế của xã hội và cấu trúc tâm lý của nhà nghệ sĩ. Về mặt kinh tế, người điểm sách cần loan truyền về việc xuất bản một cuốn sách với tiếng hét của một anh mõ của thị trấn: Ồ, vâng, ồ vâng, ồ vâng, một cuốn sách thế đó thế đó đã được xuất bản, chủ đề của nó là cái này, cái nọ, cái kia.” Về mặt tâm lý, sự phù phiếm và khát khao “được công nhận” vẫn còn mạnh mẽ ở các nghệ sĩ đến độ khiến họ chết đói vì quảng cáo và bị khước từ thường xuyên đọc nếu những chấn động của lời ca ngợi và khiển trách cũng nhanh chóng lan rộng như việc đưa thỏ vào Úc: sự cân bằng của tự nhiên sẽ bị phá hỏng và những hậu quả có thể rất nguy hiểm. Sự đề xuất trong văn bản là không đánh bóng sự phê bình công cộng; mà bổ sung nó bằng một dịch vụ mới dựa trên ví dụ củanghề nghiệp y khoa. Một nhóm nhà phê bình được tuyển dụng từ những người điểm sách (nhiều người trong số đó là những nhà phê bình tiềm năng có thị hiếu và hiểu biết sâu sắc) sẽ thực hành như những bác sĩ và trong sự riêng tư nghiêm ngặt. Khi sự quảng bá bị từ bỏ, theo sau đó là phần lớn những thứ gây rối trí và những thứ đồi bại sẽ không thể tránh khỏi khiến cho sự phê bình đương thời trở nên vô giá trị đối với nhà văn sẽ được đánh bóng; mọi khích lệ để ca tụng hay chê trách vì những lý do cá nhân sẽ bị tiêu diệt; doanh số hay sự phù hoa sẽ không bị ảnh hưởng; tác giả có thể tham gia phê bình mà không cần quan tâm tới tác động lên công chúng hay bằng hữu; nhà phê bình có thể phê bình mà không cần quan tâm tới cây bút chì xanh của biên tập viên hay thị hiếu của công chúng. Vì sự phê bình được khao khát nhiều ở người đang sống, như nhu cầu thường xuyên đối với nó chứng minh, và vì những cuốn sách mới ra lò cũng cần thiết cho tâm trí của nhà phê bình như thịt tươi cần thiết cho cơ thể của anh ta, mỗi thứ đều sẽ đạt được; văn học có thể hưởng lợi. Những thuận lợi của hệ thống phê bình công cộng hiện tại chủ yếu là về kinh tế; các tác động xấu về mặt tâm lý được chỉ ra bởi hai điểm sách hàng quý nổi tiếng về Keats và Tennyson. Keats bị chấn thương nghiêm trọng; và “tác động lên chính bản thân Tennyson đang thâm nhập và kéo dài. Hành động đầu tiên của ông là ngay lập tức rút lui khỏi tờ báo The Lover’s Tale... Chúng ta sẽ phát hiện ra ông đang nghĩ tới việc hoàn toàn lìa bỏ nước Anh để sống ở nước ngoài.” (Tennyson của Harold Nicolson, t. 118.) Ảnh hưởng của ông Churton Collins lên Sir Edmund Gosse cũng khá giống như thế: “Sự tự tin của ông đã bị xói mòn, nhân cách của ông bị giảm thiểu… không phải mọi người đang quan sát cuộc đấu tranh của ông xem như ông đã tận số hay sao? Lý giải của chính ông về những cảm giác của mình là ông đang có cảm giác rằng ông đã bị lột da trong khi còn sống.” (The Life and Letters of Sir Edmund Gosse của Evan Charteris, t. 196.)
(XI) “Một kẻ giật chuông rồi bỏ chạy.” Cụm từ này đã được bịa đặt ra nhằm định nghĩa những kẻ lợi dụng ngôn từ với mong muốn gây tổn thương nhưng đồng thời thoát khỏi sự phát hiện. Trong một thời đại biến chuyển, khi nhiều phẩm chất đang thay đổi giá trị của chúng, những từ mới để diễn tả các giá trị mới rất đáng ao ước. Sự phù hoa, ví dụ, mà dường như sẽ dẫn tới những biến chứng nghiêm trọng của sự độc ác và sự chuyên chế, xét từ chứng cứ được cung cấp ở nước ngoài, vẫn còn được che đậy bởi một cái tên với nhiều liên tưởng tầm thường. Một bổ sung cho từ điển tiếng Anh Oxford là chỉ dấu.
(XII) Memoir of Anne J. Clough của B. A. Clough, t. 38, 67.
‘The Sparrow’s Nest’ của William Wordsworth.
(XIII) Hồi thế kỷ 19, nhiều công trình giá trị đã được thực hiện cho tầng lớp lao động bởi con gái của những người đàn ông bằng phương tiện duy nhất mở ra cho họ lúc đó. Nhưng hiện nay, khi một số trong số họ ít nhất cũng nhận được một nền giáo dục tốn kém, có thể lập luận rằng họ có thể hoạt động hiệu quả hơn nhiều bằng cách ở lại trong tầng lớp của mình và sử dụng những phương pháp của giai tầng đó để cải thiện một giai tầng hiện đang rất cần được cải thiện. Mặt khác nếu những người trí thức (như rất thường xảy ra) từ bỏ chính những phẩm chất mà giáo dục có thể mang đến - lý trí, sự độ lượng, kiến thức - và đóng vai trò phụ thuộc vào tầng lớp lao động và đi theo chính nghĩa của nó, họ chỉ phơi trần chính nghĩa đó ra trước sự chế giễu của tầng lớp trí thức, và không làm gì để cải thiện tầng lớp của chính họ. Nhưng số lượng sách được viết bởi những người trí thức vè tầng lớp lao động dường như chỉ ra rằng sự quyến rũ của tầng lớp lao động và sự khuây khỏa về mặt cảm xúc có được từ việc đi theo chính nghĩa của nó ngày nay là bất khả cưỡng kháng đối với tầng lớp trung lưu giống như sự quyến rũ của giới quý tộc hồi hai mươi năm trước. (xem A La Recherche du Temps Perdu.) Đồng thời, sẽ rất thú vị khi biết người đàn ông hay phụ nữ thật sự xuất thân từ giai tầng lao động nghĩ gì về những cậu con trái và cô con gái ăn chơi của tầng lớp trí thức, những kẻ đi theo chính nghĩa của tầng lớp lao động mà không hy sinh tư bản của tầng lớp trung lưu hay chia sẻ kinh nghiệm của tầng lớp lao động. “Người phụ nữ nội trợ bình thường,” theo bà Murphy, Giám đốc dịch vụ gia đình của Hiệp hội kinh doanh khí đốt Anh, “rửa một mẫu Anh chén đĩa dơ, một dặm ly tách và ba dặm quần áo và cọ rửa năm dặm sàn nhà mỗi năm.” (Daily Telegraph, 29 /12/ 1937.) Để biết thêm lý giải chi tiết về tầng lớp lao động, mới xem “Life as We Have Known It by Cooperative working women”, do Margaret Llewelyn Davies biên tập. Quyển The Life of Joseph Wright cũng đưa ra một giải thích trực tiếp đáng chú ý về đời sống của tầng lớp lao động không thông qua lăng kính vô sản.
(XIV) “Hôm qua đã có phát biểu ở Bộ chiến tranh rằng Hội đồng quân sự không có ý định tuyển mộ bất kỳ binh đoàn nữ nào.” (The Times, 22/10/1937.) Điều này đánh dấu một khác biệt chủ yếu giữa hai giới tính. Chủ nghĩa hòa bình bị áp đặt lên phụ nữ. Đàn ông vẫn được phép tự do chọn lựa.
(XV) Tuy nhiên, trích dẫn sau đây chỉ ra rằng nếu được ủng hộ, bản năng chiến đấu dễ dàng phát triển. “Đôi mắt chìm sâu trong hai hốc mắc, nét mặt tinh nhanh, người nữ chiến binh giữ thân người thật thẳng trên bàn đạp ở phía trước quân đoàn kỵ binh của mình… Năm vị Pháp quan Tối cao nhìn người phụ nữ với sự ngưỡng mộ đầy tôn kính và có chút bồn chồn mà người ta cảm thấy đối với một “con dã thú” thuộc một loài chưa được biết tới…
— Hãy tới gần hơn, Amalia - vị nữ chỉ huy ra lệnh. Cô ta thúc ngựa về phía chúng tôi và vung gươm chào chỉ huy của mình.
— Trung sĩ Amalia Bonilla - vị nữ chỉ huy đoàn kỵ binh nói tiếp - cô bao nhiêu tuổi? - Ba mươi sáu - Cô sinh ở đâu? - Ở Granada - Vì sao cô gia nhập quân đội? - Hai con gái của tôi là nữ dân quân. Đứa trẻ hơn đã bị giết ở Alto de Leon. Tôi nghĩ tôi phải thế chỗ cho nó và trả thù cho nó - Thế cô đã giết được bao nhiêu kẻ thù để trả thù cho nó? - Bà biết điều đó, thưa chỉ huy, năm. Tên thứ sáu thì không chắc - Không, nhưng cô đã cướp được ngựa của hắn. Thật sự nữ chiến binh Amalia đang cưỡi một con ngựa đốm xám tuyệt vời, với bộ lông bóng loáng, trông cứ như một con ngựa để duyệt binh… Người phụ nữ đã giết năm tên nhưng không chắc chắn về tên thứ sáu này, đối với các công sứ của Thượng viên là một người giới thiệu xuất sắc cho cuộc chiến Tây Ban Nha.” (The Martyrdom of Madrid, Inedited Witnesses của Louis Delaprée, t. 34, 5, 6. Madrid, 1937)
(XVI) Bằng phương tiện chứng cứ, có thể thực hiện một nỗ lực để lý giải những lý do được đưa ra bởi nhiều bộ trưởng của các Quốc hội khác nhau từ khoảng 1870 tới 1918 nhằm phản đối Dự luật về quyền bầu cử. Một nỗ lực khả dĩ đã được thực hiện bởi bà Oliver Strachey (xem chương ‘Sự lừa dối của chính trị” trong cuốn The Cause của bà ta.)
(XVII) “Chúng ta chỉ mới có địa vị pháp lý về dân sự và chính trị trước Liên Hiệp từ năm 1935. Từ những báo cáo được trình lên về vị trí của phụ nữ với tư cách người vợ, người mẹ và người nội trợ, ‘người ta đã phát hiện một thực tế đáng buồn rằng vị trí kinh tế của bà ta ở nhiều nước (bao gồm Anh) rất mất ổn định. Bà ta không có quyền hưởng lương hay tiền công và có vô số bổn phận phải làm. Ở Anh, dù bà ta có thể cống hiến cả đời mình cho chồng con, ông chồng của bà ta, bất kể giàu có tới đâu, có thể để mặc bà ta trong tình trạng nghèo túng khi ông ta chết và bà ta không có một đền bù pháp lý nào. Chúng ta phải thay đổi điều này - bằng pháp chế.” (Linda P. Littlejohn, thuật lại trong The Listener, 10/11//1937)
(XVIII) Định nghĩa đặc thù này về công việc của phụ nữ không phải xuất phát từ một nguồn của Ý mà là của Đức. Có rất nhiều phiên bản và tất cả đều giống nhau đến độ dường như không cần thiết phải xác minh riêng rẻ từng phiên bản. Nhưng rất kỳ lạ khi thấy rằng việc trích dẫn nó từ những nguồn ở Anh thật dễ dàng. Ví du ông Gerhardi viết rằng: “Tôi chưa từng phạm sai lầm ở việc xem những nữ văn sĩ là những nghệ sĩ nghiêm túc. Đúng hơn, tôi thưởng thức họ như những người trợ giúp tinh thần, do được phú cho một khả năng nhạy cảm đối với sự đánh giá, họ có thể giúp vài người trong số chúng ta, những kẻ đau khổ với thiên tài, để vác cây thập giá của chúng ta với thái độ đàng hoàng. Vai trò thật sự của họ, do đó, đúng hơn là trao cho chúng ta miếng bọt biển, làm trán chúng ta mát lại, trong lúc chúng ta đổ máu. Nếu sự hiểu biết đồng cảm của họ thật sự có thể áp dụng cho một công dụng lãng mạn hơn, chúng ta sẽ yêu quý họ biết bao vì điều đó!” (Memoirs of a Polyglot của William Gerhardi, t. 320, 321.) Ý niệm này về vai trò của phụ nữ phù hợp gần như chính xác với câu đã trích dẫn bên trên.
(XIX) Nói một cách chính xác, “một tấm thẻ bằng bạc lớn dưới hình thức một con chim ưng của đế chế Đức… do Tổng thống Hindenburg chế tạo cho các nhà khoa học và những công dân nổi bật khác… Nó không thể bị rách. Nó thường được đặt trên bàn viết của người nhận.” (báo Daily, 21/4/1936)
(XX) “Việc nhìn thấy một cô gái tự thỏa mãn mình với một cái bánh bao nhân nho hay một ổ bánh mì kẹp thay cho bữa ăn trưa là chuyện thường tình và dù có nhiều lý thuyết rằng đây là do sự chọn lựa… sự thật là họ thường không có đủ tiền để ăn cho đúng cách.” (Careers and Openings for Women của Ray Strachey, t. 74.) Cô E. Turner cũng so sánh: “... nhiều quan chức từng tự hỏi vì sao họ không hoàn thành công việc của họ êm xuôi như trước. Người ta phát hiện ra rằng những nhân viên đánh máy sơ cấp bị đuối sức vào buổi chiều vì họ chỉ có đủ tiền mua một quả táo và một cái bánh mì kẹp cho bữa trưa. Những người tuyển dụng nên đáp ứng với giá cả tăng vọt bằng cách tăng lương.” (The Times, 28/3/)
(XXI) Thị trưởng phu nhân của thành phố Woolwich (bà Kathleen Rance) phát biểu tại một cuộc hội chợ, tờ Evening Standard tường thuật, 20/12/1937.
(XXII) Cô E. R. Clarke, tường thuật trong The Times, 24/12/1937.
(XXIII) Tường thuật trong Daily Herald, 15/8/1936.
(XXIV) Canon F. R. Barry, phát biểu tại một hội thảo do nhóm Giáo phái Anh tổ chức ở Oxford, tường thuật trong The Times, 10/1/1933.
(XXV) Nữ giáo đoàn, Báo cáo của Hội đồng Tổng Giám mục. VII. Secondary Schools and Universities, t. 65.
(XXVI) “Cô D. Carruthers, nữ hiệu trưởng trường trung học Green, Isleworth, nói rằng có một ‘sự bất mãn rất nghiêm trọng” trong các nữ sinh lớn tuổi về cách thức thực hiện tôn giáo có tổ chức. ‘Dường như theo cách nào đó các giáo đường đã thất bại trong việc cung cấp các nhu cầu tinh thần của những người trẻ tuổi.’ Cô nói: ‘Đó là một sai lầm dường như khá phổ biến ở tất cả các giáo đường.’” (Sunday Times, 21/11/1937)
(XXVII) Life of Charles Gore của G. L. Prestige, D.D., t. 353.
(XXVIII) Nữ giáo đoàn, Báo cáo của Hội đồng Tổng Giám mục.
(XXIX) Dù tài năng thiên phú về tiên tri và về thi ca có cùng nguồn gốc hay không, đã có một khác biệt hình thành giữa các tài năng và nghề nghiệp đó suốt nhiều thế kỷ. Nhưng thực tế rằng Bài ca của những bài ca, tác phẩm của một thi nhân được đưa vào những cuốn sách thiêng liêng, và những bài thơ và tiểu thuyết tuyên truyền, tác phẩm của những nhà tiên tri nằm trong những cuốn sách thế tục, chỉ tới một kết luận. Những người yêu mến văn học Anh chắc chắn cũng phải biết ơn vì Shakespeare sống quá muộn để được Giáo hội phong thánh. Giá như những vở kịch được xếp vào hàng những cuốn sách thiêng, chúng ắt phải nhận cùng một cách đối đãi như Kinh Cựu ước và Tân ước; chúng ta hẳn sẽ nhận chúng một cách nhỏ giọt từng đoạn ngắn vào những ngày Chủ nhật từmiệng của những vị mục sư; khi thì một đoạn độc thoại của Hamlet; khi thì một đoạn đồi bại từ ngòi bút của một nhà báo ngái ngủ nào đó; khi thì một khúc ca tục tĩu; khi thì một nửa trang từ vở Antony và Cleopatra, như Kinh Cựu ước và Tân ước đã bị xén thành từng lát và đặt xen lẫn với những bài thánh ca trong dịch vụ của Giáo hội Anh; và hẳn Shakespeare cũng sẽ khó đọc như Kinh Thánh. Thế nhưng những ai từng bị ép buộc nghe những phần bị chia cắt như thế từ thời thơ ấu hàng tuần khẳng định rằng Kinh Thánh là một tác phẩm cực kỳ thú vị, cực kỳ đẹp đẻ và có ý nghĩa sâu sa.
(XXX) Nữ Giáo đoàn, Phụ lục I. ‘Những quan tâm tâm lý và sinh lý cụ thể’ của Professor Grensted, D.D., t. 79- 87.
(XXX I) ‘”Hiện tại, một mục sư đã kết hôn có thể hoàn thành những yêu cầu của lễ thụ phong, ‘để từ bỏ và gạt sang bên mọi quan tâm thế tục và nghiên cứu,’ phần lớn là vì vợ ông ta có thể thực hiện việc chăm nom nhà cửa và gia đình…” (Nữ giáo đoàn, t.32)
Ở đây các Ủy viên Hội đồng phát biểu và chuẩn y một nguyên tắc vốn thường xuyên được phát biểu và chuẩn y bởi những tên độc tài. Cả Herr Hitler lẫn Signor Mussolini vẫn thường diễn tả với những từ rất giống thế rằng “Có hai thế giới trong đời sống của một quốc gia, thế giới của đàn ông và thế giới của đàn bà”; và đi đến một định nghĩa rất giống về những bổn phận. Tác động của sự phân biệt này đối với phụ nữ; bản chất nhỏ nhen và cá nhân của những quan tâm của cô ta; sự say mê của cô ta đối với thực hành; sự thiểu năng hiển nhiên của cô ta đối với thi ca và mạo hiểm - tất cả những thứ này đã bị biến thành nguyên vật liệu của rất nhiều cuốn tiểu thuyết, mục tiêu cho rất nhiều lời châm biếm; đã khẳng định với rất nhiều lý thuyết gia với lý thuyết rằng do quy luật tự nhiên, phụ nữ ít có tính chất tâm linh hơn đàn ông, rằng không cần nói gì thêm để chứng minh rằng cô tađã thực hiện, dù sẵn lòng hay không sẵn lòng, phần chia của mình trong bản hợp đồng. Nhưng có rất ít chú ý hướng tới tác động trí tuệ và tâm linh của sự phân chia các bổn phận này đối với những kẻ có thể thông qua nó ““từ bỏ và gạt sang bên mọi quan tâm thế tục và nghiên cứu.” Thế nhưng không thể ngờ gì rằng nhờ sự chia tách này chúng ta có một lượng rất lớn những thiết bị và phương pháp của chiến tranh, những phức tạp ghê gớm của thần học; lượng trầm tích mênh mông của những chú thích ở dưới những văn bản tiếng Hy Lạp, Latin và thậm chí tiếng Anh; vô số những hình chạm khắc, những ron ren và các thứ trang trí không cần thiết của đồ nội thất và bát đĩa phổ biến của chúng ta ; những khác biệt vô số giữa Debrett và Burke; và tất cả những vòng vèo lắt léo vô nghĩa nhưng cực kỳ khéo léo mà trí tuệ tự cột nó vào đó khi dứt bỏ được “những quan tâm tới việc nhà và gia đình”. Sự nhấn mạnh của cả những giáo sĩ lẫn những tên độc tài lên sự cần thiết đối với hai thế giới đã đủ để chứng minh rằng nó có tính chất thiết yếu đối với sự thống trị.
(XXXII) Chứng cứ của bản chất phức tạp của niềm thỏa mãn từ sự thống trị được cung cấp bởi trích dẫn sau: “Chồng tôi khăng khăng rằng tôi phải gọi ông ta là ‘Ngài’”, một phụ nữ nói ở Sở Cảnh sát Bristol vào hôm qua, khi bà ta xin một lệnh cấp dưỡng. “Để giữ hòa bình, tôi phải thực hiện yêu cầu của ông ta,” bà ta nói thêm. “Tôi còn phải lau ủng của ông ta, đi lấy dao cạo cho ông ta khi ông ta cạo râu, và phải trả lời ngay lập tức khi ông ta đặt ra cho tôi những câu hỏi.” Trong cùng trang báo của cùng tờ báo, nó thuật lại rằng Sir E. F. Fletcher đã “hối thúc Hạ viện đứng lên chống lại những gã độc tài.” (Daily Herald, 1/8/1926) Dường như điều này chỉ ra rằng lương tâm chung bao gồm người chồng, người vợ và Hạ viện đang cảm thấy vào cùng một thời điểm một nỗi khát khao được thống trị, một nhu cầu cần thực hiện để giữ hòa bình, và sự cần thiết của việc chế ngự niềm khao khát thống trị - một xung đột tâm lý giúp lý giải nhiều thứ có vẻ như mâu thuẫn và hỗn loạn trong quan điểm đương thời. Tất nhiên lạc thú của sự thống trị còn trở nên phức tạp hơn bởi thực tế rằng nó vẫn, ở tầng lớp trí thức, liên kết chặt chẽ với những lạc thú về tài sản, uy tín xã hội và nghề nghiệp. Sự khác biệt giữa nó và những lạc thú tương đối đơn giản - như lạc thú đi tản bộ ở miền quê - được chứng minh bởi nỗi sợ bị chế giễu mà các tâm lý gia lỗi lạc, như Sophocles, đã phát hiện ở kẻ thống trị; vốn cũng là kẻ đặc biệt nhạy cảm đối với sự chế nhạo hay thách thức của kẻ ngang quyền lực ở giới nữ. Do đó, một nguyên tố chủ chốt của lạc thú này dường như không phát sinh từ bản thân cảm giác mà từ sự phản ánh của cảm giác của những người khác, và từ đó nó có thể bị tác động bởi một thay đổi trong các cảm giác đó. Tiếng cười với ý nghĩa một thứ thuốc giải độc đối với sự thống trị có lẽ đã được chỉ ra.
(XXXIII) The Life of Charlotte Brontë của Mrs Gaskell.
(XXXIV) The Life of Sophia Jex-Blake của Margaret Todd, t. 67-9, 70- 71, 72.
(XXXV) Quan sát bên ngoài đề xuất rằng một người đàn ông vẫn cảm thấy bị một phụ nữ nhiếc mắng là đồ hèn nhát là một sự sỉ nhục đặc biệt theo cùng một cách với khi một phụ nữ cảm thấy bị một người đàn ông mắng nhiếc là đồ dâm ô. Trích dẫn sau ủng hộ cho quan điểm này. Ông Bernard Shaw viết: “Tôi sẽ không quên sự hài lòng mà chiến tranh mang tới cho bản năng thích gây gỗ và sự ngưỡng mộ lòng dũng cảm vốn rất mạnh mẽ ở phụ nữ… Ở Anh, khi chiến tranh sắp bùng nổ, những phụ nữ trẻ văn minh chạy quanh để trao những chiếc lông chim trắng cho tất cả những thanh niên không mặc quân phục. Điều này,” ông viết tiếp, “giống như việc những kẻ sống sót khỏi sự tàn bạo khác là hoàn toàn tự nhiên,” và ông chỉ ra rằng “ngày xưa cuộc đời của một phụ nữ và của con cái cô ta phụ thuộc vào lòng dũng cảm và khả năng giết chóc của bạn đời của cô ta.” Vì những số lượng lớn thanh niên đã làm công việc của họ trong suốt cuộc chiến trong những văn phòng không có bất kỳ thứ trang hoàng nào, và số lượng “những thanh nữ văn minh” gắn lông chim lên áo khoác phải là vô cùng nhỏ so với những người không làm điều gì tương tự như thế, sự cường điệu của ông Shaw là chứng cứ đầy đủ về ấn tượng tâm lý to lớn mà năm mươi hay sáu mươi cái lông chim (không có sẵn số liệu thống kê thực tế nào) vẫn có thể tạo ra. Dường như điều này chỉ ra rằng giống đực vẫn còn duy trì một sự nhạy cảm bất thường với những lời nhiếc mắng như vậy. Do đó lòng dũng cảm và tính thích đánh nhau vẫn còn nằm trong số những thuộc tính chủ yếu của nam tính; do đó anh ta vẫn mong muốn được ngưỡng mộ vì sở hữu chúng; do đó bất kỳ sự nhạo báng nào đối với những phẩm chất đó sẽ có một tác động tương ứng. Dường như có khả năng “cảm xúc nam nhi chi chí” cũng nối kết với sự phụ thuộc về kinh tế. “Chúng tôi chưa từng biết một người đàn ông nào mà không, một cách công khai hay kín đáo, tự hào về việc có khả năng hỗ trợ cho những người phụ nữ; dù họ là chị em gái hay cô giáo của anh ta. Chúng tôi chưa từng biết một người phụ nữ nào mà không xem sự thay đổi từ độc lập về kinh tế vào một người tuyển dụng sang sự phụ thuộc về kinh tế vào một người đàn ông là một bước tiến đầy binh hạnh. Người đàn ông và phụ nữ tốt lừa dối nhau điều gì về những điều này? Chúng ta không phải là người tạo ra chúng.” - (A. H. Orage của Philip Mairet, vii) - một phát biểu thú vị, G. K. Chesterton gán cho A. H. Orage.
(XXXVI) Theo cô Haldane, em gái của R. B. Haldane, cho tới đầu thập niên 80, không quý bà nào có thể làm việc. “Dĩ nhiên tôi thích đi học để có một nghề nghiệp, nhưng đó là một ý tưởng bất khả trừ phi người ta ở một vị trí đáng buồn là không có việc làm để tự kiếm bánh mì cho mình,” và đó hẳn phải là một tình trạng kinh khủng. Thậm chí một người anh em trai đã viết về một sự kiện buồn sau khi anh ta nhìn thấy hành động của bà Langtry: “Bà ấy là một phu nhân và đã hành động như một phu nhân, nhưng thật đáng buồn vì bà phải làm như thế!” (From One Century to Another của Elizabeth Haldane, t. 73-4.) Hồi đầu thế kỷ này, Harriet Martineau rất vui mừng khi gia đình cô ta phá sản, vì nhờ đó cô ta mất đi “dòng dõi trâm anh” của mình và được phép làm việc.
(XXXVII) Life of Sophia Jex-Blake của Margaret Todd, t. 69, 70.
(XXXVIII) Để biết lý giải về ông Leigh Smith, xem The Life of Emily Davies của Barbara Stephen. Barbara Leigh Smith trở thành Madame Bodichon.
(XXXIX) Sự mở ra đó chỉ có trên danh nghĩa ra sao được chỉ ra bởi lý giải sau về những điều kiện thực tế mà dưới đó phụ nữ làm việc trong các trường học R.A vào khoảng năm 1900. “Vì sao giống cái của loài không bao giờ nên được trao tặng cùng những thuận lợi như giống đực là điều khó mà hiểu được. Ở những trường học R.A., phụ nữ chúng tôi phải cạnh tranh với đàn ông để chiếm mọi giải thưởng và huy chương được trao tặng hàng năm, và chúng tôi chỉ được phép nhận phân nửa số giờ dạy và chỉ có phân nửa cơ hội nghiên cứu so với họ… Không người mẫu khỏa thân nào được phép ở phòng vẽ của phụ nữ ở các trường học R.A…. Các nam sinh viên không chỉ làm việc từ những người mẫu khỏa thân, cả nam lẫn nữ, trong ngày học, mà học còn được cho một lớp tối, nhờ đó họ có thể thực hiện những công trình nghiên cứu từ nhân vật.” Đối với các nữ sinh viên, điều này có vẻ “thật sự không công bằng”. Cô Collyer có đủ can đảm và địa vị xã hội cần thiết để đương đầu với trước tiên là ông Franklin Dicksee, người lập luận rằng vì nhiều cô con gái lấy chồng, tiền chi cho việc học của họ là tiền lãng phí; kế tiếp là ngài Leighton; và cuối cùng cái rìa mỏng của cái nêm, nghĩa là thân hình lõa thể, được cho phép. Nhưng, “chúng tôi không bao giờ đạt được những thuận lợi của lớp học đêm…” Do đó các nữ sinh viên cùng thành lập các câu lạc bộ và thuê phòng làm việc của một nhiếp ảnh gia ở phố Baker. “Số tiền mà chúng tôi, với tư cách ủy ban, phải tìm ra, đã giảm thiểu những bữa ăn của chúng tôi tới mức độ khẩu phần gần chết đói.” (Life of an Artist của Margaret Collyer, t. 19-81, 82.) Nguyên tắc tương tự được áp dụng ở Trường mỹ thuật Nottingham trong thế kỷ 20. ‘Phụ nữ không được vẽ từ người lõa thể. Nếu bọn đàn ông làm việc từ mẫu sống, tôi phải đi sang phòng tranh cổ… nỗi căm ghét những nhân vật bằng thạch cao đó ở lại với tôi cho tới hôm nay. Tôi chưa được lợi lộc gì từ sự nghiên cứu của họ.” (Oil Paint and Grease Paint của Dame Laura Knight, t. 47.) Nhưng mỹ thuật không phải là nghề nghiệp duy nhất chỉ mở ra trên danh nghĩa. Nghề y khoa mở ra, nhưng “hầu như tất cả các trường gắn liền với các bệnh viện London đều cấm cửa nữ sinh viên, việc đào tạo họ ở London chỉ chủ yếu thực hiện ở trường Y khoa London.” (Memorandum on the Position of English Women in Relation to that of English Men, by Philippa Strachey, 1935, p. 26.) “Một số nữ sinh viên y ở Đại học Cambridge đã tự thành lập một nhóm để khai thông mối bất bình.” (Evening News, 25/3/1937) Năm 1922, nữ sinh viên được phép vào học tại Trường Cao đẳng Thú y Hoàng gia, Camden Town. “...từ đó nghề này đã thu hút nhiều phụ nữ đến độ gần đây con số đã bị giới hạn ở mức 50.” (Daily Telegraph, 1/10/1937)
(XL) The Life of Mary Kingsley, của Stephen Gwyn, t. 18, 26. Trong một phần của một lá thư Mary Kingsley viết: “Thi thoảng tôi cũng có ích, nhưng chỉ thế thôi - mấy tháng trước rất có ích khi ghé thăm một người bạn cô ta yêu cầu tôi lên phòng ngủ của cô ta và nhìn qua chiếc mũ của cô ta - một đề nghị khiến tôi lảo đảo, tôi biết ý kiến của cô ta về tôi trong những vấn đề như thế.” Ông Gwyn nói: “Lá thư không kể hết về cuộc phiêu lưu này của một vị hôn phu trái phép, nhưng tôi chắc chắn cô ta đã giúp anh ta rời khỏi mái nhà và tận hưởng trải nghiệm này một cách ồn ào.”
(XLI) The Life of Mary Kingsley, của Stephen Gwyn, t. 18, 26. Trong một phần của một lá thư Mary Kingsley viết: “Thi thoảng tôi cũng có ích, nhưng chỉ thế thôi - mấy tháng trước rất có ích khi ghé thăm một người bạn cô ta yêu cầu tôi lên phòng ngủ của cô ta và nhìn qua chiếc mũ của cô ta - một đề nghị khiến tôi lảo đảo, tôi biết ý kiến của cô ta về tôi trong những vấn đề như thế.” Ông Gwyn nói: “Lá thư không kể hết về cuộc phiêu lưu này của một vị hôn phu trái phép, nhưng tôi chắc chắn cô ta đã giúp anh ta rời khỏi mái nhà và tận hưởng trải nghiệm này một cách ồn ào.”
(XLII) Theo Antigone có hai loại luật pháp, luật pháp thành văn và luật pháp bất thành văn, và bà Drummond quả quyết rằng đôi khi cần phải cải thiện luật pháp thành văn bằng cách vi phạm nó. Nhưng những hoạt động đa dạng của con gái của người đàn ông trí thức hồi thế kỷ 19 rõ ràng không chỉ đơn giản hay chủ yếu hướng tới việc vi phạm pháp luật. Trái lại, họ cố gắng thử một dạng thực nghiệm để khám phá những luật pháp bất thành văn là gì; đó là những luật pháp riêng quy định về những bản năng, những đam mê, các khao khát tinh thần và vật chất. Việc những thứ luật như thế tồn tại và được quan sát bởi những người văn minh, nhìn chung là được cho phép một cách khá công bằng, nhưng người ta bắt đầu đồng ý rằng chúng không được đặt ra bởi “Thượng đế”, kẻ mà hiện nay được xem là một khái niệm về nguồn gốc của chế độ gia trưởng, chỉ có hiệu lực đối với những chủng tộc nhất định, ở những giai đoạn và thời điểm nhất định; cũng không phải bởi tự nhiên, kẻ mà hiện nay được biết rất đa dạng trong những mệnh lệnh của nàng và đã nằm trong vòng kiểm soát phần lớn; mà phải được khám phá lại lần nữa bởi những thế hệ nối tiếp nhau, phần lớn bởi những nỗ lực về lý trí và trí tưởng tượng của chính họ. Tuy nhiên, vì lý trí và trí tưởng tượng ở một mức độ nhất định là sản phẩm của cơ thể chúng ta, và có hai loại cơ thể, giống đực và giống cái, và vì hai cơ thể này đã dược chứng minh trong vòng vài năm qua là khác nhau một cách cơ bản, rõ ràng rằng những luật pháp mà họ nắm được và tôn trọng phải được diễn dịch một cách khác nhau. Do vậy Giáo s Julian Huxley nói: “từ thời điểm thụ thai trở đi, nam và nữ khác nhau ở từng tế bào trong cơ thể họ theo số lượng nhiễm sắc thể của họ - những cơ thể mà, với mọi xa lạ của trần gian, đã được chỉ ra bởi công trình của thập kỷ qua là những kẻ mang theo tính di truyền, những kẻ quyết định tính cách và phẩm chất của chúng ta.” Do đó, bất chấp thực tế rằng “siêu cấu trúc của đời sống trí tuệ và thực hành có tiềm năng là như nhau ở cả hai giới tính” và rằng “Bản báo cáo của Ủy ban giáo dục về sự khác biệt của chương trình giảng dạy cho các em trai và em gái ở các trường phổ thông cơ sở ((London, 1923), đã nhận định rằng những khác biệt về trí tuệ giữa hai giới tính là rất không đáng kể so với niềm tin phổ biến cho phép. (Essays in Popular Science của Julian Huxley, t. 62-3), rõ ràng là hai giới tính hiện khác nhau và sẽ luôn luôn khác nhau. Nếu có khả năng không chỉ để cho mỗi giới tính xác định những luật nào là tốt trong trường hợp riêng của nó, và để tôn trọng các luật của nhau; mà còn để chia sẻ những kết quả của các khám phá đó, có khả năng là mỗi giới tính có thể phát triển toàn vẹn và cải thiện phẩm chất mà không cần từ bỏ những tính cách đặc biệt của mình. Khái niệm cũ rằng một giới tính phải “thống trị” giới tính kia khi đó sẽ không chỉ trở thành lỗi thời, mà còn đáng ghét đến độ nếu vì các mục đích thực hành, một lực lượng thống trị cần phải quyết đinh những vấn đề cụ thể, công việc áp bức và thống trị kinh tởm sẽ được giao cho một hiệp hội thấp kém và bí mật, cũng như việc tra tấn và hành hình tội phạm hiện đang được thực hiện bởi những người đeo mặt nạ và và hoàn toàn vô danh tính. Nhưng đây chỉ là dự đoán.
(XLIII) Từ thông báo về ngày giỗ của H. W. Greene, giảng viên của Magdalen College, Oxford, thường gọi là ‘Grugger’, (The Time 6/2/1933)
(XLIV) “Vào năm 1747, cuộc họp hàng quý (của bệnh viện Middlesex) đã quyết định đặt riêng một số giường trong những trường hợp nằm dưới những quy định ngăn ngừa bất kỳ phụ nữ nào hành động với tư cách bà mụ. Việc loại bỏ phụ nữ đã bảo tồn thái độ theo truyền thống. Năm 1861, cô Garrett, sau đó là bác sĩ Garrett Anderson, đã đạt được sự cho phép tham dự các lớp học… và được phép tới thăm các phân khoa với những quan chức nội trú, nhưng các sinh viên phản đối và các quan chức y khoa nhượng bộ. Ủy ban đã khước từ một đề nghịcung cấp một quỹ học bổng cho các nữ sinh viên từ bà ta.” (The Times, 17/5//1935)
(XLV) “Trong thế giới hiện đại, có một con người vĩ đại đạt được trình độ kiến thức cao… nhưng ngay khi bất kỳ đam mê mạnh mẽ nào xen vào làm thiên lệch trí phán đoán của chuyên gia này, ông ta trở nên không thể tin cậy được, bất kể ông ta có loại thiết bị khoa học nào.” (The Scientific Outlook của Bertrand Russell, t. 17)
(XLVI) Tuy nhiên, một trong những kẻ đập vỡ đĩa hát đã đưa ra một lý do cho việc đập vỡ đĩa hát đầy khả kính: “Khi đó, niềm tin của tôi rằng thỉnh thoảng phụ nữ nên làm cho chính họ những gì đàn ông đã thực hiện - và thỉnh thoảng những gì đàn ông chưa thực hiện - từ đó xác lập bản thân họ với tư cách những cá nhân, và có lẽ khuyến khích những phụ nữ khác hướng tới sự độc lập to lớn hơn về tư tưởng và hành động… Khi họ thất bại, thất bại của họ phải là một thách thức đối với những người khác.” (The Last Flight của Amelia Earhart, t. 21, 65.)
(XLV II) “Trên thực tế, quá trình này (sinh con) thật sự chỉ khiến phụ nữ trở nên bất lực trong một phần rất nhỏ trong hầu hết cuộc đời họ - thậm chí một phụ nữ có sáu đứa con chỉ cần nằm giường 12 tháng trong toàn bộ cuộc đời của họ.” (Careers and Openings for Women của Ray Strachey, t. 47-8.) Tuy nhiên, trong hiện tại, cô ta cần nghỉ ngơi lâu hơn. Một đề xuất mạnh dạn đã được đưa ra rằng công việc này không chỉ là đặc quyền của người mẹ, mà có thể được chia sẻ bởi cả hai bố mẹ vì lợi ích chung.
(XLVIII) Bản chất của nam tính và bản chất của nữ tính thường xuyên được định nghĩa bởi cả những tên độc tài Ý lẫn Đức. Cả hai đều nhiều lần khăng khăng rằng bản chất của đàn ông và thật sự ra yếu tính của đàn ông là chiến đấu. Ví dụ, Hitler vạch ra một khác biệt giữa “một quốc gia của những người theo chủ nghĩa hòa bình và một quốc gia của những người đàn ông”. Cả hai đều nhiều lần khăng khăng rằng bản chất của phụ nữ là chữa trị những vết thương của kẻ chiến binh. Tuy nhiên một phong trào rất mạnh đang tiến tới việc giải phóng đàn ông khỏi “quy luật tự nhiên và vĩnh viễn” rằng đàn ông nhất thiết phải là một chiến binh, chứng nhân là sự tăng trưởng của chủ nghĩa hòa bình trong giới tính nam hiện nay. Xa hơn, hãy so sánh phát biểu của ngài Knebworth rằng “nếu đạt được hòa bình thường xuyên và những quân đội và lực lượng hải quân thôi tồn tại, sẽ không có lối thoát cho những phẩm chất đàn ông mà việc chiến đấu phát triển,” vớiphát biểu sau của một thanh niên trẻ khác cùng giai tầng xã hội cách nay vài tháng: “…không đúng khi nói rằng từ đáy tim mọi cậu con trai đều khao khát chiến tranh. Đó chỉ là những người khác, kẻ dạy điều đó cho chúng ta bằng cách đưa cho chúng ta những thanh kiếm và những khẩu súng, những người lính và những bộ đồng phục để chơi đùa.” (Conquest of the Past của Hoàng tử Hubertus Loewenstein, t. 215.) Có khả năng rằng các nước phát xít bằng cách hé lộ cho thế hệ trẻ hơn ít nhất là nhu cầu được giải phóng khỏi khái niệm cũ về nam tính đang thực hiện cho giới tính nam điều mà các cuộc chiến Crime và châu Âu đã làm cho các chị em gái của họ. Tuy nhiên, Giáo sư Huxley cảnh báo chúng ta rằng “bất kỳ thay đổi đáng kể nào của thiết chế cha truyền con nối là một vấn đề của thiên niên kỷ chứ không phải vài thập kỷ.” Mặt khác, như khoa học cũng đã trấn an chúng ta rằng cuộc sống trên đời của chúng ta “là một vấn đề của thiên niên kỷ chứ không phải vài thập kỷ”, một thay đổi nào đó trong thiết chế cha truyền con nối có thể đáng để nỗ lực.
(XLIX) Tuy nhiên Coleridge diễn tả những quan điểm và mục đích của những kẻ ngoại cuộc với một mức độ chính xác nào đó trong đoạn sau đây: “Con người phải TỰ DO hay vì mục đích nào mà anh ta biến thành một Linh hồn của Lý trí, chứ không phải một Cỗ máy của Bản năng? Con người phải TUÂN PHỤC; Hoặc vì sao hắn có một lương tâm? Những quyền lực tạo ra khó khăn này cũng hàm chứa giải pháp của nó tương tự như vậy; vì sự phục vụ CỦA HỌ là hoàn toàn tự do. Và bất cứ luật pháp hay hệ thống pháp luật nào mà áp đặt bất kỳ sự phục vụ nào khác, sẽ hèn hạ hóa bản chất của chúng ta, tự kết bầy với con thú chống lại bản chất thần thánh, giết chết trong chúng ta chính cái nguyên tắc vui vẻ làm điều tốt và chống lại nhân tính. Nếu từ đó xã hội đặt dưới một thể chế chính phủ ĐÚNG, và một thể chế có thể đặt ra cho Con người lý trí một nghĩa vụ thật sự và có tính đạo đức để tuân theo, nó phải được lồng trong những nguyên tắc rằng mỗi cá thể tuân theo Lý trí của chính mình, trong lúc anh ta tuân theo các lề luật của thể chế, và thực hiện ý chí của Nhà nước trong lúc tuân theo những mệnh lệnh của Lý trí của chính mình.” Điều này đã được xác định rõ ràng bởi Rousseau, kẻ phát biểu về vấn đề của một thể chế chính phủ hoàn hảo bằng những lời sau: “Tìm ra một hình thức xã hội mà theo đó mỗi người hợp nhất với toàn thể sẽ không chỉ tuân thủ mà còn duy trì sự tự do như trước đó. (The Friend của S. T. Coleridge, quyển I, t. 333, 334, 335; bản in năm 1818) Có thể bổ sung thêm một trích dẫn của Walt Whitman:
‘Về Bình đẳng - như thể nó làm hại tôi, khi trao cho những kẻ khác cùng những cơ hội và quyền như của chính tôi - như thể nó không thể đền bù cho những quyền lợi riêng của tôi nếu những người khác cũng có quyền tương tự.”
Và cuối cùng là lời của một tiểu thuyết gia đã bị quên lãng nửa phần, George Sand, cũng đáng để xem xét:
“Mọi sự hiện hữu đều tương trợ lẫn nhau, và mỗi con người khi thể hiện chính hắn mà không có kết nối nào với các cá thể khác, sẽ đưa ra một câu đố để lần dò… Bản thân cá thể này không có ý nghĩa gì và cũng không chút gì quan trọng. Hãy chọn lấy bất kỳ hướng nào bằng cách trở thành một mảnh của cuộc hiện tồn chung, trên nền tảng cá tính của mỗi một đồng bào của ta, và đây là nơi nó trở thành lịch sử.” (Histoire de ma Vie của George Sand, t. 240-41).