Bà Tổng Thống Trước Họng Súng

Lượt đọc: 2313 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 7

Sáng Chủ Nhật, ngày 5 tháng Ba

6 giờ 32 phút

Mark đã thức giấc nhưng anh vẫn còn ngái ngủ. Những đoạn ký ức mờ ảo, rời rạc trôi bồng bềnh trong đầu anh. Hình ảnh đầu tiên xuất hiện chớp nhoáng trong trí nhớ của anh là Elizabeth; anh bất giác mỉm cười. Tiếp theo là hình ảnh của Nick Stames; anh nhăn mặt, cảm thấy hơi khó chịu trong người. Và người thứ ba xuất hiện là vị Giám đốc Cục Halt Tyson. Mark tỉnh hẳn, anh bắt đầu ngồi dậy và nhìn chăm chú vào đồng hồ đeo tay. Đập vào mắt anh là cái kim giây đang nhích dần đến mốc 6 giờ 35 phút sáng. Chết tôi rồi. Mark bật dậy khỏi cái ghế như một cái lò xo, cảm thấy đau bởi cổ và lưng anh vẫn còn cứng đờ, mỏi nhừ. Anh vẫn mặc nguyên bộ đồ tối hôm qua. Mark nhanh chóng lột bỏ bộ đồ và lao vào phòng tắm, bật vòi hoa sen, quên cả điều chỉnh nhiệt độ nước. Lạnh chết khiếp, đúng là đồ mắc dịch. Ít nhất thì dòng nước lạnh cũng giúp anh tỉnh ngủ hẳn và tạm quên đi hình bóng của Elizabeth. Mark nhảy ra khỏi phòng tắm, với tay chụp lấy cái khăn bông. Đã 6 giờ 40 phút. Phun bọt đầy mặt, anh cạo râu vô cùng khẩn trương, đường cạo dài chạm tới cả cái dây chuyền. Khỉ thật, cắt vào da ba vết rồi; nước thơm cân bằng sau khi cạo râu khiến anh xót đến tận ruột. 6 giờ 43 phút. Mark mặc quần áo: áo sơ mi sạch sẽ có cùng một kiểu khuy măng sét, tất sạch, vẫn đôi giày đã đi, bộ vét sạch, vẫn cà vạt cũ hôm qua. Mark liếc nhanh hình ảnh của mình trong gương. Hai vết cắt hơi rướm máu, chết tiệt. Anh vơ vội lấy đống giấy tờ trên bàn nhét vào cặp tài liệu và phi thẳng vào thang máy. May mắn đầu tiên mỉm cười, thang máy đang ở trên tầng cao nhất. Khi Mark xuống đến tầng dưới, đã 6 giờ 46 phút.

“Chào cậu, Simon.”

Anh chàng da đen trẻ tuổi trông coi bãi đậu xe vẫn không động đậy. Anh ta đang ngủ gà ngủ gật trong cái bốt gác nhỏ xíu giữa lối vào bãi để xe.

“Chào anh Mark. Quái lạ nhỉ, đã tám giờ rồi sao?”

“Không, mới có 7 giờ kém 13 phút thôi.”

“Anh định đi đâu thế? Làm đêm ngoài giờ nữa à?” Simon hỏi, vừa dụi mắt vừa đưa chìa khóa xe cho Mark. Mark mỉm cười nhưng không còn đủ thời gian để đáp lời Simon nữa. Cậu ta lại ngủ gật gù trở lại.

Xe nổ máy sau lần đề đầu tiên. Một chiếc Mercedes đáng tiền. Chiếc xe bắt đầu lên đến đường thì đã 6 giờ 48 phút. Phải duy trì tốc độ trong giới hạn cho phép. Nguyên tắc vẫn là: không bao giờ được hủy hoại danh tiếng của Cục. Đến cột đèn giao thông ở đường Số 6: 6 giờ 50 phút. Mark chạy cắt ngang đường G, lên đến đường Số 7, lại nhiều đèn giao thông hơn nữa. Tiếp tục chạy cắt qua Đại lộ Độc Lập. 6 giờ 53 phút. Góc giao giữa đường Số 7 và Đại lộ Pennsylvania. Đã nhìn thấy tòa nhà FBI ở phía trước: 6 giờ 55 phút. Xuống dốc, qua công viên, trình phù hiệu FBI cho bảo vệ bãi đậu xe, chạy lên thang máy: 6 giờ 57 phút; thang máy lên đến tầng bảy: 6 giờ 58 phút. Đi dọc theo hành lang, rẽ phải, tấm biển Phòng 7074 trước mặt, tiến thẳng vào, đi qua chỗ bà McGregor như được chỉ dẫn. Bà McGregor đưa mắt liếc nhìn lên, im lặng. Mark gõ cửa; không có hồi đáp; anh đi thẳng vào bên trong như được chỉ dẫn. Giám đốc không ở đó. 6 giờ 59 phút. Mark ngồi sụp xuống một chiếc ghế tiện nghi. Giám đốc đã đến trễ. Mark mỉm cười mừng thầm. Còn 30 giây nữa là đến 7 giờ. Anh liếc nhìn xung quanh căn phòng, như thường lệ, như thể anh đã phải chờ đợi lâu tới hàng giờ. Đôi mắt của Mark dừng lại nơi chiếc đồng hồ cổ. Tiếng chuông đồng hồ bắt đầu điểm: một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy tiếng.

Cửa mở và vị Giám đốc tiến vào. “Chào buổi sáng, Andrews.” Ông ấy không nhìn Mark mà nhìn vào cái đồng hồ treo trên tường. “Cái đồng hồ này luôn chạy hơi nhanh hơn chút xíu.” Một giây yên lặng. Đồng hồ trên tháp toà nhà Bưu Điện Cũ điểm bảy giờ đúng.

Giám đốc ngồi yên vị trên ghế của mình và một lần nữa, hai bàn tay to lớn của ông úp lên mặt bàn một cách chắc chắn.

“Chúng ta sẽ bắt đầu với các tin tức của tôi trước nhé, Andrews. Chúng ta đã tìm thấy một số giấy tờ tùy thân của cái người chết trong chiếc Lincoln vớt lên từ lòng sông Potomac cùng với Stames và Calvert.”

Giám đốc mở một bìa hồ sơ làm từ giấy manilla được đánh dấu ‘Tuyệt mật’ và liếc nhìn qua nội dung trong đó. Trong tập hồ sơ mật đó có những thông tin nào mà Mark không biết hay nên biết?

“Không có thông tin nào có sơ sở để tiếp tục khai thác. Hans – Dieter Gerbach, người Đức. Bonn đã báo cáo rằng anh ta là một vận động viên quần vợt nhỏ ở Munich, Đức cho đến năm năm trước, họ không thể theo dấu anh ta nữa. Một số bằng chứng cho thấy có vẻ như anh ta đã ở Rhodesia và thậm chí đã từng làm việc cho CIA trong một khoảng thời gian. Lữ đoàn Sét Trắng. Việc anh ta từng gia nhập CIA không hữu ích gì. Tôi không thể thu thập được nhiều thông tin đến từ phía họ trước thứ Năm. Đôi khi tôi cũng tự hỏi CIA đứng về phía ai. Năm 1980, Gerbach xuất hiện ở New York, nhưng chẳng có gì ngoại trừ những tin đồn và vài câu chuyện ngồi lê đôi mách qua đường, không có hồ sơ để tiếp tục tìm hiểu. Giá như hắn còn sống thì có lẽ sẽ hữu dụng hơn cho chúng ta.”

Mark hình dung ra những cái cổ họng bị cắt đứt ở Trung tâm Y tế Woodrow Wilson, trong lòng băn khoăn. “Một sự thật thú vị được tìm thấy trong vụ tai nạn đâm xe đó là cả hai lốp sau của chiếc xe Stames và Calvert đi đều có những lỗ nhỏ trên đó. Chúng có thể là hậu quả để lại khi chiếc xe rơi xuống sông từ đỉnh dốc nhưng các nhân viên phòng thí nghiệm của chúng ta cho rằng đó chính là vết đạn bắn. Nếu đúng là như vậy, chúng chính là kẻ đã nổ súng khiến cảnh sát trưởng dày dặn kinh nghiệm Wyatt Earp 53* không kịp trở tay và trông như một hướng đạo sinh ngây thơ dễ dàng bị hạ gục.”

Vị Giám đốc gọi điện thoại liên lạc nội bộ. “Bà McGregor, gọi giúp tôi Roger đến ngay nhé.”

“Vâng, thưa ông.”

“Người của Rogers đã tìm thấy cái chỗ mà Casefikis làm phục vụ bàn, để nhận lấy một cái giá không đáng phải nhận.”

Trợ lý Giám đốc gõ cửa và bước vào phòng. Giám đốc chỉ vào một cái ghế. Rogers mỉm cười chào Mark và ngồi xuống.

“Báo cáo chi tiết cho tôi đi, Matt.”

“Vâng, thưa sếp, chủ sở hữu nhà hàng Golden Duck không thực sự hợp tác lắm. Dường như anh ta nghĩ rằng tôi đang cố gắng bới móc để tìm bằng chứng về việc anh ta vi phạm quy định sử dụng lao động. Tôi đã đe dọa sẽ đóng cửa nhà hàng nếu anh ta không chịu thành khẩn khai báo. Cuối cùng, anh ta thừa nhận đã thuê một người khớp với mô tả nhân dạng của Casefikis vào ngày 24 tháng Hai. Anh ta đã cử Casefikis tới phục vụ tại một bữa tiệc trưa riêng tư ở một trong những căn phòng thuộc một Khách sạn nhỏ tại Georgetown bên Đại lộ Wisconsin. Người đàn ông đứng ra sắp xếp là Lorenzo Rossi. Anh ta khăng khăng tìm một phục vụ bàn không biết tiếng Anh. Thanh toán tiền mặt. Chúng tôi đã thử tìm kiếm thông tin về Rossi qua máy tính – nhưng không phát hiện được gì. Rõ ràng là anh ta dùng tên giả rồi. Câu chuyện tương tự diễn ra ở khách sạn chỗ Georgetown. Người chủ khách sạn nói căn phòng đã được thuê trong ngày 24 tháng Hai dưới tên một ông Rossi nào đó. Họ yêu cầu thức ăn nhưng không cần phục vụ bất cứ dịch vụ nào, và họ trả trước mọi chi phí bằng tiền mặt. Gã Rossi đó cao khoảng một mét tám, da tối màu tự nhiên, tóc sẫm, đeo kính mát và không có đặc điểm nhận diện khác biệt nào. Người chủ khách sạn cho rằng ‘ Có vẻ như anh ta là người Ý’ . Không một ai trong khách sạn đó biết hay bận tâm xem gã quái nào lại thuê phòng để ăn trưa vào ngày hôm đó. Tôi e rằng, thông tin ở đây không giúp chúng ta tiến triển trong điều tra.”

“Tôi đồng ý. Tôi giả sử rằng chúng ta có thể tìm ra hắn trong số những người Ý đang đi trên đường có nhân dạng khớp với mô tả đó,” Giám đốc nói. “Nếu chúng ta có năm năm chứ không phải năm ngày. Anh có thêm phát hiện gì khác tại bệnh viện đó không, Matt?”

“Đó thật sự là một mớ hỗn độn, thưa sếp. Người đến, người đi liên tục cả ngày và gần như suốt đêm.

Nhân viên đều chia ca làm việc. Họ thậm chí còn không biết cả đồng nghiệp của chính mình chứ đừng nói gì đến người ngoài. Anh có thể cầm một ngọn đuốc đi lang thang vòng quanh đó cả ngày trời mà không ai buồn chặn anh lại trừ khi họ muốn xin chút lửa.”

“Điều đó cũng dễ hiểu mà,” Sếp Tyson nói. “Phải rồi, Andrews, anh đã tìm được gì trong hai mươi bốn giờ qua?”

Mark mở cặp đựng hồ sơ nhựa màu xanh tiêu chuẩn của mình. Anh báo cáo rằng có sáu mươi hai Thượng Nghị sĩ nằm trong danh sách tình nghi, trong khi ba mươi tám người khác đều có lí do để loại ra khỏi danh sách vì họ đã ở đâu đó cách xa Washington trong ngày 24 tháng Hai. Anh chuyển danh sách lại cho Giám đốc. Ông ấy xem qua bản danh sách đó.

“Một vài con cá khá lớn vẫn còn đang quẫy đuôi trong cái ao bùn. Andrews, anh báo cáo tiếp đi.”

Mark tiếp tục nói sơ qua về cuộc chạm trán của mình với vị linh mục dòng Chính thống Hy Lạp. Anh chờ đợi một lời khiển trách nghiêm khắc vì đã không nhớ ra chi tiết về bộ râu quai nón của họ ngay lập tức. Anh đã không thất vọng. Bị uốn nắn xong, anh lại tiếp tục trình bày: “Tôi sẽ gặp Cha Gregory vào lúc tám giờ sáng nay và tôi nghĩ sau đó tôi sẽ tìm gặp bà vợ góa của Casefikis. Tôi không nghĩ hai người đó sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin, nhưng tôi hình dung ra rằng sếp muốn tạo tình huống để những kẻ tình nghi này phải ra mặt và bám theo. Sau đó, tôi định sẽ quay lại Thư viện Quốc hội và cố gắng tìm ra lí do tại sao có ai đó trong số sáu mươi hai Thượng Nghị sĩ này lại có thể mong muốn Tổng thống Kane chết đi.”

“Chà, để bắt đầu công việc này, cậu hãy phân loại và xếp họ vào các nhóm khác nhau,” Giám đốc nói. “Đầu tiên, theo đảng phái chính trị, sau đó theo ủy ban rồi các mối lợi ích bên ngoài, tiếp đó định kiến cá nhân của họ đối với Tổng thống Kane. Đừng quên, Andrews, chúng ta đều biết rất rõ rằng đối tượng của chúng ta đã ăn trưa tại Georgetown vào ngày 24 tháng Hai và điều đó có thể loại trừ bớt số lượng tên trong danh sách của anh xuống.”

“Nhưng, thưa sếp, giả sử có nhiều người cùng ăn trưa tại đó trong ngày 24 tháng Hai thì sao?”

“Chính xác là thế, Andrews. Nhưng không phải ai cũng sắp xếp một bữa ăn trưa riêng tư, kín đáo. Rất nhiều người có lẽ muốn xuất hiện ở một nơi công khai, hoặc ăn trưa chính thức với các cử tri, các nhân viên liên bang hay những người vận động hành lang. Cậu phải điều tra xem từng người một đã làm gì mà không khiến họ sinh nghi.”

“Sếp có thể gợi ý cho tôi vài cách thức để thực hiện nhiệm vụ đó không?”

“Đơn giản mà,” vị Giám đốc trả lời. “Anh gọi đến cho thư ký của từng Thượng Nghị sĩ và hỏi xem liệu Sếp của họ có thời gian để tham dự bữa tiệc trưa về…” ông dừng lại một chút “‘Các vấn đề môi trường đô thị’. Đúng, tôi thích cái cớ đó. Cho họ một cái ngày cụ thể nào đó, chẳng hạn mùng 5 tháng Năm và hỏi xem liệu họ có tham dự một bữa tiệc trưa khác vào ngày…” Giám đốc nhìn lịch của ông ấy “17 tháng Một hoặc 24 tháng Hai không, bởi vì có một, hai Thượng Nghị sĩ buộc phải từ chối không tham dự được và một, hai người gì đó xuất hiện mà không được mời trước. Rồi nói tiếp với họ rằng một thư mời bằng văn bản sẽ được gửi đến sau cuộc gọi này. Tất cả các thư ký đều sẽ xóa bỏ thông tin lời mời của anh nếu họ không nhận được một lời mời bằng văn bản và nếu có bất kỳ ai trong số họ vẫn nhớ đến cái ngày 5 tháng Năm đó thì chúng ta cũng chẳng còn thời gian mà quan tâm đến việc đó nữa. Có một điều tôi chắc chắn rằng: không có Thượng Nghị sĩ nào lại cho thư ký của họ biết ông ta đang lập mưu thủ tiêu Tổng thống.”

Trợ lý Giám đốc khẽ nhăn mặt. “Nếu ông ta bị tóm, chi tiết mánh điều tra này sẽ bị phanh phui. Chúng ta sẽ mang tiếng là bộ phận chuyên chơi bẩn mất.”

“Không đâu, Matt, nếu tôi nói với Tổng thống rằng một trong số những người anh em bằng hữu của bà ấy sắp đâm lén sau lưng bà ấy, bà ấy sẽ không thấy thủ đoạn tiểu nhân, bỉ ổi đó có gì hay ho đâu.”

“Chúng ta vẫn chưa có bất kỳ bằng chứng xác thực nào, thưa sếp,” Mark nói.

“Vậy nên tốt nhất là cậu phải tìm ra bằng chứng đó, Andrews, hoặc là tất cả chúng ta đều phải lo tìm việc mới đi. Hãy tin tưởng vào phán đoán của tôi.”

Hãy tin tưởng vào phán đoán của tôi, Mark cứ nghĩ đến câu nói đó mãi.

“Tất cả những gì mà chúng ta có là một đối tượng tình nghi quan trọng,” Giám đốc tiếp tục. “Đó chính là một Thượng Nghị sĩ – một người có thể dính dáng tới âm mưu này, nhưng chúng ta chỉ còn có năm ngày để tìm ra ông ta là ai. Nếu chúng ta thất bại vào thứ Năm tới, chúng ta sẽ có đủ thời gian trong hai mươi năm tới để nghiên cứu vụ điều tra và cậu, Andrews, có thể kiếm được cả một gia tài khi viết một cuốn sách về vụ này đấy.”

Mark tỏ vẻ e dè.

“Andrews, đừng quá lo lắng. Tôi đã thông báo ngắn gọn cho Giám đốc Sở Mật vụ. Tôi đã cho ông ta biết câu chuyện đúng như cậu đã viết trong báo cáo, không hơn không kém những gì chúng ta đã thống nhất ngày hôm qua, cốt để chúng ta hoàn toàn không bị cản trở gì cho đến ngày 10 tháng Ba. Tôi đang lên kế hoạch dự phòng, khi chúng ta không tìm ra gã chủ mưu Cassius trước ngày đó. Nhưng tôi sẽ không làm cậu nản lòng với kế hoạch đó bây giờ. Tôi cũng đã nói chuyện với các nhân viên Đội Trọng án; họ đã cung cấp cho chút ít thông tin nhưng có thể giúp chúng ta. Thông tin này có thể sẽ khiến cậu quan tâm, họ đã gặp vợ của Casefikis rồi. Họ nhanh hơn cậu một bước, Andrews ạ.”

“Có lẽ đơn giản là họ không biết gì nhiều đâu,” Trợ lý Giám đốc nói.

“Có lẽ là không. Được rồi, cậu cứ đi gặp cô ấy nếu cho rằng điều đó có thể giúp ích cho việc điều tra. Biết đâu đấy, cậu lại phát hiện ra điều gì đó mà họ đã bỏ lỡ. Phấn chấn lên nào, cậu nắm giữ rất nhiều thông tin căn bản. Có lẽ, cuộc điều tra sáng nay sẽ mang lại cho chúng ta vài đầu mối khác để khai thác. Tôi nghĩ rằng vậy là đủ thông tin cần trao đổi cho đến thời điểm này rồi. Được rồi, Andrews, đừng vì tôi mà lãng phí thêm thời gian của cậu nữa.”

“Không đâu, thưa sếp.”

Mark đứng dậy.

“Tôi xin lỗi, tôi quên không mời cậu cà phê rồi, Andrews.”

Tôi đã không thể uống cà phê ở đây lần trước, Mark đã muốn nói thế với ông ấy. Anh rời đi khi vị Giám đốc gọi cà phê cho ông ấy và Trợ lý. Anh đã quyết định, anh cũng có thể uống cà phê trong lúc ăn sáng và dành thời gian tập trung để suy xét lại các nhận định của mình. Anh đi tìm khu nhà ăn của Cục.

Vị Giám đốc thưởng thức tách cà phê của ông ấy và yêu cầu bà McGregor báo cho trợ lý riêng của ông vào phòng. Anh chàng nhân viên không rõ tên tuổi đó xuất hiện gần như ngay lập tức, mang theo một tập hồ sơ màu xám. Anh ta không cần hỏi vị Giám đốc cần gì. Anh ấy đặt tập hồ sơ lên bàn trước mặt ông ấy và rời đi mà không nói một lời nào cả.

“Cảm ơn cậu,” vị Giám đốc nói với theo khi cảnh cửa ra vào còn chưa khép lại hẳn.

Ông ấy lật bìa tập hồ sơ và đọc lướt qua trong khoảng hai mươi phút. Có tiếng cười thầm trong cổ họng, rồi lại có tiếng càu nhàu đâu đó, những lời nhận xét kỳ lạ với Matthew Rogers. Trong tệp hồ sơ có những sự thật về Mark Andrews mà có thể chính anh cũng không để ý đến. Giám đốc đã uống xong tách cà phê thứ hai, ông đóng tập tài liệu và để nó trong ngăn kéo chiếc bàn làm việc riêng theo phong cách thời Nữ hoàng Anne rồi khóa lại. Ngay cả Nữ hoàng Anne chắc cũng không nắm trong tay nhiều bí mật bằng chiếc bàn này.

Mark đã ăn xong một bữa sáng ngon hơn mong đợi so với ở Văn phòng Khu vực FBI Washington. Từ văn phòng, anh phải đi bộ sang đường để đến quán ăn có tên Lunch Connection, vì quán ăn nhanh ở tầng dưới quả thật kinh khủng, nhiều phần tương xứng với phần còn lại của tòa nhà. Bây giờ có lẽ anh ấy lại muốn quay trở lại đó thay vì phải đi xuống tầng hầm để lấy xe của mình. Anh ấy đã không chú ý đến người đàn ông bên kia đường đang nhìn anh rời đi, nhưng anh đã rất băn khoăn tự hỏi liệu chiếc xe mui kín Ford màu xanh mà anh có thể thấy qua kính chiếu hậu, đã đậu quá lâu ở phía sau có phải chỉ là tình cờ. Nếu không thì là ai đang theo dõi anh ấy? Ai đang cố gắng bảo vệ ai?

Anh đi đến nhà thờ của Cha Gregory vào lúc gần đúng tám giờ sáng và họ đi bộ cùng nhau về nhà của vị linh mục. Cặp kính nửa vành của vị linh mục đậu chênh vênh nơi đầu chiếc mũi ngắn và mập của ông ấy. Đôi gò má rộng, đỏ hồng và thậm chí cái bụng còn to hơn, lồi lên như quả bóng rổ của ông khiến người khác không khó khăn gì để kết luận rằng Cha Gregory đã tìm thấy nhiều nguồn an ủi, động viên trên cõi trần tục trong khi ông chờ đợi đến ngày được lên vương quốc vĩnh cửu trên thiên đàng. Mark đã nói với Cha xứ rằng anh đã ăn sáng rồi nhưng ông vẫn rán hai quả trứng và thịt xông khói, bánh mỳ nướng, mứt cam cùng một tách cà phê. Cha Gregory không nói thêm gì nhiều so với những gì ông nói với Mark đêm qua và ông thở dài khi Mark nhắc về hai nạn nhân trong bệnh viện.

“Vâng, tôi có đọc chi tiết trên tờ Bưu Điện .” Khi họ nói về Nick Stames, đôi mắt buồn thảm của ông ấy lóe lên một tia sáng. Vị linh mục và viên cảnh sát rõ ràng đã từng chia sẻ một số bí mật, chứ không chỉ là đức tin vào Chúa Jesus của những con chiên ngoan đạo lâu năm.

“Liệu cái chết của Nick Stames có liên quan gì đến vụ án mạng trong bệnh viện không?” Cha Gregory bất thình lình hỏi.

Câu hỏi của ông ấy khiến Mark ngạc nhiên và bối rối. Phía sau cặp kính nửa tròng kia là một bộ óc sắc sảo, nhạy bén. Nói dối một vị linh mục dòng Chính thống Hy Lạp, hay dù là linh mục nào đi nữa, thì cũng tệ hơn rất nhiều so với những lời nói dối thông thường với chủ ý bảo vệ Cục khỏi con mắt tò mò của công chúng.

“Hoàn toàn không có,” Mark nói. “Đó chỉ là một trong số những vụ tai nạn xe hơi kinh hoàng vẫn xảy ra.”

“Chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ lạ của định mệnh sao?” Cha Gregory hỏi vặn lại một cách mỉa mai, ánh mắt như nhìn xuyên thấu tim gan Mark qua cặp kính nửa vành. “Đúng thế chứ?” Giọng ông cho thấy ông hầu như không bị thuyết phục giống như Grant Nanna. Ông tiếp tục nói: “Có một điều mà tôi phải nói với anh, đó là, mặc dù tôi không nhớ chính xác người đàn ông kia nói những gì khi anh ta gọi cho tôi để báo là tôi không cần quan tâm đến chuyện đi tới bệnh viện nữa, nhưng tôi khá chắc chắn rằng hắn ta là một kẻ có học, có trình độ cao. Tôi cảm thấy chắc chắn về điều đó qua cái cách mà anh ta bộc lộ chính anh ta cũng là dân chuyên nghiệp. Và có một điều khác, tôi nghĩ thế nhưng không dám chắc, đó là một cảm giác kỳ lạ mách bảo tôi rằng, anh ta chắc hẳn đã phải thực hiện những cuộc gọi như thế trước đây rồi. Cung cách thể hiện của người đàn ông này quá ư là chuyên nghiệp.”

Cha Gregory lẩm nhẩm một mình cái cụm từ ‘Có gì đó rất chuyên nghiệp về người đó’. Mark cũng vậy, những cụm từ đó đang lởn vởn trong đầu anh khi anh vào xe để tới nhà của góa phụ Casefikis. Nơi cô ta ở chính là nhà người bạn đã cưu mang anh chồng bị thương của cô ấy.

Mark đi xuôi Đại lộ Connecticut, vượt qua khách sạn Washington Hilton và Vườn thú Quốc gia, rồi tiến vào Maryland. Các mảng màu vàng, sáng của những tán cây đầu xuân đã bắt đầu xuất hiện dọc theo con đường. Đại lộ Connecticut rẽ vào Đại lộ University, Mark nhận ra mình đang ở Wheaton - khu ngoại ô vệ tinh bao gồm các cửa hàng, nhà hàng, trạm xăng và một vài tòa nhà chung cư. Dừng lại chờ đèn đỏ ở gần Wheaton Plaza, Mark xem lại dòng ghi chú: 11501 Đường Elkin. Anh sẽ phải tìm khu căn hộ mang tên Blue Ridge Manor. Một cái tên đáng yêu cho một khu nhà ở chiếm dụng bất hợp pháp, gồm những tòa nhà ba tầng xây bằng gạch cũ, xỉn màu, thẳng hàng với đường Blue Ridge và đường Elkin. Khi gần đến địa chỉ 11501, Mark tìm chỗ đậu xe. Thật xui xẻo. Anh lái xe lòng vòng một lúc rồi quyết định đậu xe gần họng nước cứu hỏa. Anh khéo léo đặt chiếc mi-cro điện đàm vào vị trí, sao cho bất kỳ một nữ nhân viên giám sát tốc độ hay một cảnh sát viên nào đó có thể nhìn thấy nó từ kính chiếu hậu của xe và biết rằng đây là xe công đang thi hành nhiệm vụ.

Ariana Casefikis bật khóc gần như ngay khi Mark giơ phù hiệu FBI ra. Cô ấy trông yếu ớt, mệt mỏi, mới chỉ khoảng hai mươi chín tuổi, quần áo nhếch nháng, dáng vẻ lôi thôi, tóc tai rối bù. Đôi mắt màu xám của cô vẫn ầng ậc nước mắt. Trên khuôn mặt cô vẫn còn dấu vết đã khô của hai hàng nước mắt đã chảy suốt hai ngày qua. Cô ấy trạc tuổi Mark. Cô ấy không có quốc tịch và giờ đây cô ấy chỉ còn lại một mình sau khi mất đi người thân duy nhất là chồng cô ấy. Sẽ còn có chuyện gì có thể xảy ra với cô ấy nữa đây? Nếu Mark có cảm thấy đơn độc, thì tình trạng của anh vẫn còn tốt gấp vạn lần so với người phụ nữ tội nghiệp này.

Cô vợ góa của Casefikis hóa ra lại nói tiếng Anh sõi hơn chồng cô ấy. Cô ấy đã gặp hai viên cảnh sát. Cô ấy đã nói với họ là cô không biết gì hết. Đầu tiên là một viên cảnh sát tốt bụng đến từ Sở Cảnh sát Thủ Đô, người đó đến để báo tin và chia buồn với cô ây. Anh ấy tỏ ra rất thông cảm với cô ấy. Sau đó là một Đại úy của Đội Trọng án, anh ta đến sau một chút, nhưng kiên quyết hơn khi bày tỏ nguyện vọng muốn tìm hiểu một số chuyện mà cô ấy không biết một tí gì. Và giờ lại một đặc vụ FBI. Chồng cô ấy chưa từng phạm bất cứ tội trạng gì dù là lớn hay nhỏ trước đây, và cô ấy không biết ai đã bắn anh ấy, hay lí do gì mà người ta lại muốn làm vậy. Anh ấy là một người đàn ông tử tế và hòa nhã. Mark tin những gì cô ấy nói.

Anh cũng đảm bảo với cô ấy rằng cô không cần phải lo lắng gì ngay lúc này và anh sẽ tự mình làm việc với Phòng Nhập cư và Phòng Phúc lợi để xin hỗ trợ chính sách tạo thu nhập cho cô. Điều đó dường như khiến cô ấy lên tinh thần và trở nên hoạt bát hơn một chút.

“Nào, giờ thì cô hãy nghĩ thật kỹ nhé, cô Casefikis. Cô có biết bất cứ điều gì về cái nơi mà chồng cô đã làm việc trong ngày 23, 24 tháng Hai gì đó, khoảng thứ Tư hay thứ Năm tuần trước, và chồng cô có nói gì với cô về công việc của anh ấy không?”

Cô ấy không biết chút gì cả. Angelo chưa bao giờ nói với cô ấy về những chuyện mà anh ta làm, phân nửa các công việc đó đều bình thường và chỉ làm ban ngày, bởi vì anh ấy không thể mạo hiểm khi anh ấy là một người nhập cư bất hợp pháp ở đây và không có giấy phép lao động. Câu chuyện của cô ấy chẳng đưa việc điều tra của Mark đi đến đâu nhưng đó không phải là lỗi của cô ấy.

“Tôi sẽ có thể được ở lại nước Mỹ chứ?”

“Tôi sẽ cố gắng hết sức có thể để giúp đỡ cô, cô Casefikis. Đó là điều mà tôi có thể hứa với cô. Tôi sẽ nói chuyện với một linh mục dòng Chính thống Hy Lạp mà tôi quen biết để nhờ ông ấy quyên một ít tiền giúp đỡ cô vượt qua cơn khó khăn này cho đến khi tôi tìm gặp được nhân viên bên Phòng Phúc lợi.”

Mark mở cửa, trong lòng cảm thấy nản chí vì chẳng tìm được bất cứ thông tin nào có giá trị cả từ Cha Gregory lẫn Ariana Casefikis.

“Vị linh mục đã cho tôi tiền rồi.”

Mark suýt hẫng bước chân vì sửng sốt, anh từ từ quay lại, nhìn thẳng vào mặt Ariana Casefikis, cố gắng tỏ ra tự nhiên như không có gì lạ xảy ra:

“Là linh mục nào vậy?” anh hỏi một cách bình thường.

“Ông ấy nói ông ấy muốn giúp đỡ tôi. Người đó đến hôm qua. Một người đàn ông tốt bụng, rất tử tế, rất tốt. Ông ta cho tôi 50 đô-la.”

Mark lạnh hết cả người. Thêm một lần nữa, gã lại đi trước anh một bước. Cha Gregory đã nói đúng, hắn quả là chuyên nghiệp.

“Cô có thể mô tả ông ta đôi chút được không, cô Casefikis?”

“Ý anh là sao cơ?”

“Người đó trông như thế nào?”

“Ồ, ông ta là một người đàn ông cao to, vạm vỡ, da sẫm màu, tôi nghĩ thế,” cô ấy bắt đầu mô tả.

Mark đã cố gắng để tỏ ra thật bình thường nhất. Đó chắc chắn là người đàn ông đã bước qua anh trong thang máy bệnh viện, người đã kìm chân Cha Gregory để Cha không đến bệnh việ. Và nếu như cô Casefikis mảy may biết chút gì về âm mưu đó thì chắc chắn hắn đã tiễn cô ta về với chồng mình rồi.

“Ông ta có để râu quai nón không, cô Casefikis?”

“Tất nhiên, ông ta phải có chứ.” Cô ấy ngập ngừng.

“Nhưng tôi không nhớ rằng ông ta có cái đó đâu.”

Mark yêu cầu cô ấy chỉ được ở trong nhà và không được ra ngoài trong bất cứ trường hợp nào. Anh viện cớ rằng anh ấy sẽ đi tìm hiểu điều kiện hưởng phúc lợi và nói chuyện này với nhân viên Phòng Quản lý Người nhập cư. Anh đang học cách nói dối. Gã linh mục mày râu nhẵn nhụi dòng Chính thống Hy Lạp kia đã dạy anh làm thế.

Anh ấy nhảy vào xe hơi và lái tới bốt điện thoại gần nhất cách đó khoảng vài trăm mét trên Đại lộ Georgia. Anh gọi vào số máy riêng của Giám đốc Cục. Giám đốc nhấc máy.

“Julius.”

“Đọc số điện thoại chỗ anh cho tôi.” Giám đốc nói.

Ba mươi giây sau điện thoại reo. Mark kể lại câu chuyện một cách thận trọng.

“Tôi sẽ ngay lập tức cử đến chỗ anh một người trong bộ phận vẽ nhân dạng theo mô tả nhân chứng. Anh hãy quay lại đó và động viên cô ấy. Và này, Andrews, hãy thử động não đi. Tôi muốn có tờ 50 đô-la kia. Đó là một tờ 50 đô hay vài tờ cộng lại trị giá 50 đô-la. Có thể sẽ có dấu vân tay còn lại trên đó.” Có tiếng gác máy. Mark nhăn trán. Có ai đó luôn luôn đi trước anh hai bước, nếu không phải là tên linh mục giả dạng cha xứ dòng Chính thống Hy Lạp kia, thì người đó là chính là ông Giám đốc Cục.

Mark trở lại chỗ cô Casefikis và nói rằng cô ấy đủ điều kiện để hưởng trợ cấp mức cao nhất; anh ấy phải nhớ để nói lại điều này với Giám đốc vào cuộc họp tới. Anh ghi chú điều đó vào sổ tay ghi nhớ. Và lấy lại giọng nói bình thường.

“Cô có chắc đó là 50 đô-la không, cô Casefikis?”

“Có chứ, tôi không có nhiều dịp để nhìn thấy tờ 50 đô-la và tôi đã rất biết ơn vào lúc đó.”

“Cô có nhớ cô đã dùng tờ tiền đó vào việc gì không?”

“Vâng, tôi đã đi mua thức ăn trong siêu thị chỉ ngay trước khi họ đóng cửa.”

“Cô mua ở siêu thị nào, cô Casefikis?”

“Siêu thị Wheaton. Ở phía trên kia con phố.”

“Vào khoảng thời gian nào vậy?”

“Khoảng 6 giờ tối qua.”

Mark nhận ra ngay rằng, không còn một khắc nào để chần chừ nữa. Nếu không sẽ là quá muộn để thu được tờ tiền đó.

“Cô Casefikis, có một người chỗ chúng tôi đang trên đường đến đây. Anh ta là đồng nghiệp của tôi, một nhân viên FBI, một người bạn, và anh ta sẽ yêu cầu cô miêu tả lại vị Cha xứ tốt bụng đã cho cô tiền. Điều đó sẽ giúp ích cho chúng tôi rất nhiều nếu cô có thể nhớ càng nhiều càng tốt về ông ta. Cô không cần phải lo lắng gì hết bởi vì chúng tôi đang làm mọi thứ có thể để giúp đỡ cô.”

Mark ngập ngừng, rút ví ra và đưa cô ấy 50 đô-la. Lần đầu tiên, cô mỉm cười với anh ấy.

“Giờ thì cô Casefikis ạ, tôi muốn nhờ cô giúp tôi một việc cuối cùng nữa thôi. Nếu vị linh mục Hy Lạp kia lại đến tìm cô, đừng nói với ông ta bất cứ điều gì liên quan đến cuộc trò chuyện của chúng ta hôm nay, chỉ cần gọi cho tôi theo số điện thoại này.”

Mark đưa cho cô ấy một tấm danh thiếp. Ariana Casefikis gật đầu nhưng đôi mắt xám lờ đờ của cô ấy dõi theo Mark cho tới tận lúc anh ra đến xe của mình. Cô ấy không hiểu, hoặc không rõ cô ấy phải tin tưởng ai. Không phải mỗi người bọn họ đều cho cô một tờ 50 đô-la sao?

Mark lùi xe vào một bãi đỗ xe trước siêu thị Wheaton. Một biển hiệu bên trong cửa sổ chỉ dẫn rằng bên trong có bán bia lạnh theo thùng. Bên trên cửa sổ là các tấm giấy bìa cứng màu xanh và trắng kết hợp mô phỏng mái vòm Điện Capitol. Chỉ còn năm ngày, Mark nghĩ. Anh ấy bước vào bên trong cửa hàng. Đó là một doanh nghiệp gia đình nhỏ, thuộc sở hữu tư nhân, chứ không phải là một cửa hàng thuộc một chuỗi thương mại lớn. Một bên tường của cửa hàng xếp toàn bia và bên kia trưng bày toàn rượu. Chính giữa cửa hàng là bốn dãy kệ kê theo hàng ngang, chất đầy đồ hộp và đồ đông lạnh. Quầy bán thịt kéo dài ra tận bức tường phía sau. Người bán thịt dường như đang một mình trông coi cả cửa hàng. Mark vội vã đi tới chỗ anh ta và bắt đầu hỏi trước cả khi đi đến quầy bán thịt.

“Tôi có thể tìm gặp người quản lý cửa hàng không?”

Người bán thịt nhìn anh ấy một cách nghi ngờ.

“Có việc gì không?”

Mark trình phù hiệu của mình.

Người bán thịt nhún vai và gọi to tiếng với vào trong. “Này, Flavio. FBI tới. Họ muốn gặp anh.”

Vài giây sau, người quản lý, một người Ý có khuôn mặt to và đỏ như gấc xuất hiện ngay ở lối vào bên trái quầy bán thịt. “Vâng. Tôi giúp gì được cho anh, anh…uhm…”

“Andrews, dặc vụ FBI.” Mark lại trình phù hiệu của anh thêm lần nữa.

“Vâng, được rồi. Anh muốn chúng tôi làm gì, anh Andrews? Tôi tên là Flavio Guida. Đây là cửa hàng của tôi. Tôi kinh doanh tử tế và trung thực.”

“Đúng, tất nhiên rồi, anh Guida. Tôi chỉ hi vọng anh có thể giúp tôi một việc. Tôi đang điều tra một vụ trộm tiền và chúng tôi có bằng chứng để tin rằng một tờ 50 đô-la bị mất đã được tiêu dùng ở cửa hàng của anh hôm qua. Giờ chúng tôi đang băn khoăn liệu có cách nào để tìm ra đồng 50 đô-la đó không.”

“Ồ, tất cả tiền của tôi đều được gom lại mỗi tối.” người quản lý nói. “Số tiền đó được bỏ vào két sắt và gửi ngân hàng ngay đầu giờ buổi sáng hôm sau. Có lẽ số tiền đó đã được gửi đến ngân hàng khoảng một tiếng rồi và tôi nghĩ…”

“Nhưng hôm nay là thứ Bảy,” Mark nói.

“Không sao, vì ngân hàng của tôi mở cửa cho đến trưa thứ Bảy. Chỉ có một số ít các ngân hàng đóng cửa từ sáng thứ Bảy.”

Mark nghĩ và quyết ngay lập tức.

“Anh có thể đi cùng tôi đến ngân hàng ngay lập tức không, anh Guida.?”

Guida hết nhìn đồng hồ đeo tay và rồi lại nhìn Mark Andrews.

“Được. Chờ tôi nửa phút thôi.”

Anh ta gọi với thật to ra phía sau và bảo một người phụ nữ mà Mark không nhìn thấy để ý trông coi quầy tính tiền. Anh ta và Mark cùng nhau đi tới góc giao nhau giữa đường Georgia và Hickers. Guida rõ ràng tỏ ra phấn khích với những gì đang xảy đến.

Đến ngân hàng, Mark đi ngay đến ngay chỗ trưởng quầy thu ngân. Số tiền đã được chuyển cho một cô nhân viên thu ngân cách đây hơn ba mươi phút, một cô Townsend nào đó. Cô ấy vẫn để nguyên cọc tiền và chưa hề đụng đến để phân loại các tờ tiền theo mệnh giá. Đó là khoản tiền tiếp theo trong danh mục kiểm kê của cô ấy. Cô vẫn chưa có đủ thời gian để làm điều đó và khá lấy làm tiếc vì sự chậm trễ. Không cần xin lỗi hay lấy làm tiếc đâu, Mark nghĩ. Số tiền của siêu thị này gửi mỗi ngày chỉ khoảng năm nghìn đô-la. Có tất cả khoảng hai mươi tám tờ năm mươi đô-la. Lạy Chúa Toàn Năng. Giám đốc sẽ xé xác anh ra thành từng mảnh mất, hoặc nói chính xác hơn là các chuyên viên phân tích dấu vân tay sẽ muốn làm việc đó. Mark đeo găng tay mà cô Townsend đưa cho rồi đếm những tờ năm mươi đô-la và để riêng chúng sang một bên. Đúng chuẩn là hai mươi tám tờ tất cả. Anh ký xác nhận, đưa lại tờ biên lai cho Trưởng quầy thu ngân và đảm bảo rằng anh ấy sẽ trả lại chúng sớm nhất có thể. Vị quản lý ngân hàng đến chỗ họ, xem xét tờ biên nhận và cân nhắc tình huống.

“Không phải là các đặc vụ FBI hay hoạt động theo cặp hay sao nhỉ?”

Mark đỏ bừng mặt. “Vâng, thưa ông, nhưng đây là trường hợp đặc biệt.”

“Tôi cần xác nhận lại một chút,” người quản lý nói với Mark. “Anh đang yêu cầu tôi trao cho anh một ngàn bốn trăm đô-la chỉ căn cứ trên những lời nói của anh.”

“Tất nhiên rồi, xin ông cứ tự nhiên xác nhận.” Mark phải nghĩ thật nhanh. Anh ấy không thể bảo người quản lý ngân hàng địa phương đó gọi về chỗ Giám đốc Cục FBI được. Anh không thể đổ trách nhiệm của mình sang vai vị Giám đốc được, việc đó không khác gì bơm xăng trong bình của mình vào bình xăng của ông vua chế tạo xe hơi Henry Ford.

“Sao ông không gọi về Văn phòng Khu vực FBI Washington nhỉ? Và hãy gặp người đứng đầu Bộ phận Hình Sự, ông Grant Nanna để xác nhận việc này.”

“Tôi sẽ gọi đây.”

Mark đưa số điện thoại cho ông ấy nhưng ông ta phớt lờ và tự tìm số của Văn phòng trong cuốn Danh bạ điện thoại Thành phố Washington. Đường dây kết nối trực tiếp ngay tới điện thoại của Grant Nanna. Cảm ơn Chúa, ông ấy đang có ở đó.

“Có một viên đặc vụ trẻ đến từ Văn phòng của ông đang ở chỗ tôi. Tên anh ta là Mark Andrews. Anh ta nói với tôi rằng anh ta được ủy quyền để mang đi hai mươi tám tờ năm mươi đô-la của tôi nhằm phục vụ công tác điều tra một vụ đánh cắp tiền nào đó.”

Nanna cũng phải suy nghĩ thật nhanh chóng. Đừng phủ nhận một cái cớ để biện minh cho hành động nếu không muốn đánh thức con quái vật nham hiểm của sự nghi ngờ. Một câu khẩu hiệu cũ của Nick Stames.

Mark, trong lúc đó, thì thầm một lời cầu nguyện nhỏ trong đầu.

“Đúng thế, thưa ông,” Nanna trả lời. “Tôi đã chỉ thị cho anh ấy thu thập những tờ tiền đó. Tôi hi vọng ông có thể giải ngân ngay lập tức. Chúng tôi sẽ hoàn lại trong thời gian sớm nhất có thể cho ông.”

“Cảm ơn, ông Nanna. Xin lỗi đã làm phiền ông. Tôi chỉ cảm thấy tôi nên xác nhận lại tình huống. Ngày nay, chẳng có chuyện gì là không thể xảy ra.”

“Không phiền gì đâu thưa ông. Tôi đánh giá cao biện pháp xác thực thận trọng và khôn ngoan của ông. Tôi rất mong mỏi từng người một trong chúng ta thận trọng tới từng chi tiết như vậy trong cuộc sống.” Sự thật đầu tiên mà Nanna nảy ra trong đầu mình.

Người quản lý ngân hàng thu lại tờ biên nhận và bỏ xấp tiền toàn tờ 50 đô-la vào trong một cái phong bì màu nâu thay cho người nhân viên tiếp nhận, rồi ông ấy bắt tay Mark để xin thứ lỗi.

“Anh thông cảm giúp cho, tôi buộc phải kiểm tra xác nhận.”

“Đương nhiên rồi,” Mark nói. “Tôi cũng sẽ làm thế nếu tôi ở vị trí của ông.”

Anh cảm ơn anh Guida và người quản lý ngân hàng, không quên dặn cả hai đừng kể lại chuyện này với bất kỳ ai khác. Họ gật đầu, không nói gì, ngầm hiểu bổn phận và những gì họ nên làm.

Mark quay về Tòa nhà Cục FBI ngay lập tức và đi thẳng đến văn phòng của Giám đốc. Bà McGrego gật đầu chào anh ấy. Mark bước vào phòng sau khi gõ cửa nhẹ nhàng.

“Xin lỗi đã làm gián đoạn công việc của sếp, thưa sếp.”

“Không sao đâu, Andrews. Cậu ngồi đi. Chúng tôi vừa mới xong việc rồi.”

Matthew Rogers đứng dậy, anh quan sát Andrews một cách cẩn thận và mỉm cười.

“Tôi sẽ cố gắng tìm ra câu trả lời cho sếp vào khoảng trưa nay.” Anh ấy nói và rời đi.

“Chà, chàng trai trẻ, cậu đã gô cổ được gã Thượng nghĩ sĩ mà chúng ta đang tìm và nhốt trong xe dưới tầng rồi chứ.”

“Chưa, thưa sếp, nhưng tôi có thứ này.”

Mark mở cái phong bì màu nâu và đặt hai mươi tám tờ năm mươi đô-la lên bàn.

“Anh vừa cướp ngân hàng hay sao thế? Tội phạm xét xử theo khung hình phạt liên bang đấy, Andrews.”

“Cũng gần như vậy, thưa sếp. Một trong những tờ tiền này, như sếp đã biết, là tờ tiền mà kẻ tình nghi đóng giả thầy tu dòng Chính thống Hy Lạp kia đã đưa cho cô vợ góa của Casefikis.”

“Chà một nhiệm vụ hóc búa vừa xinh dành cho các anh chàng phân tích dấu vấn tay của Cục chúng ta. Năm mươi sáu bề mặt với hàng trăm, có lẽ hàng nghìn dấu vân tay bên trên đó. Thật đúng là một công việc cần nhiều nỗ lực, tuy ít cơ hội thành công, nhưng vẫn có hi vọng. Công việc này sẽ khá tốn thời gian, nhưng đáng để thử.” Ông ấy cẩn thận để không chạm lên bất cứ tờ tiền nào. “Tôi sẽ cử Sommerton xử lí những tờ tiền này ngay lập tức. Chúng ta cũng cần lấy dấu vân tay của cô Casefikis nữa. Tôi cũng sẽ cắt cử các đặc vụ bảo vệ cô ấy, phòng trừ trường hợp người đàn ông cao to kia quay lại.” Vị Giám đốc vừa viết vừa nói. “Cứ như tôi được trở về ngày xưa, khi tôi điều hành Văn phòng Khu vực thành phố vậy. Tôi vẫn tin rằng tôi cảm thấy rất yêu thích công việc đó, nếu không gọi là nói quá.”

“Tôi có thể đề cập thêm một điều nữa khi tôi còn ở đây, được không sếp?”

“Được chứ, cậu cứ nói những gì cậu muốn, Andrews.” Ông Tyson không nhìn lên mà vẫn tiếp tục viết.

“Cô Casefikis rất lo lắng không biết cô ấy có tiếp tục được ở lại Mỹ hay không. Cô ấy không có tiền, không có việc làm, và giờ thì mất chồng. Cô ấy đã mang đến cho chúng ta một đầu mối quan trọng và cô ấy chắc chắn đã cố gắng hợp tác hết sức. Tôi nghĩ rằng, chúng có lẽ nên giúp đỡ cô ấy.”

Vị Giám đốc nhấn một cái nút.

“Gọi Sommerton ở bộ phận nghiệp vụ phân tích dấu vân tay đến phòng tôi ngay nhé và cả Elliott nữa.”

À, Mark nghĩ, cuối cùng thì mình cũng đã biết tên anh chàng nhân viên kia.

“Tôi sẽ cố gắng hết sức có thể. Chúng ta gặp lại nhau vào sáng thứ Hai nhé, bảy giờ như thường lệ. Tôi ở nhà cả ngày vào cuối tuần, nên nếu cần, cậu gọi cho tôi số nhà riêng ấy. Hãy tiếp tục điều tra, đừng dừng lại.”

“Vâng thưa sếp.”

Mark rời đi. Anh dừng lại ở Ngân hàng Riggs và đổi 15 đô-la sang toàn đồng xu 25 xen 54* . Người nhân viên giao dịch nhìn anh một cách tò mò.

“Chắc hẳn anh phải có một cái máy trò chơi bắn đạn riêng ở nhà, nhỉ?”

Mark mỉm cười.

Anh ấy dành phần còn lại của buổi sáng và hầu như cả buổi chiều để tiêu dần cho hết cái đồng tiền 25 xu kia, bằng việc gọi điện cho các thư ký trực cuối tuần của tất cả sáu mươi hai Thượng Nghị sĩ – những người có mặt tại thành phố trong ngày 24 tháng Hai. Tất cả bọn họ đều tỏ ra hài lòng vì Thượng Nghị sĩ của họ được mời tới một Hội nghị về Môi trường. Giám đốc quả thật khôn ngoan vô cùng. Sau khi kết thúc sáu mươi hai cuộc gọi, tai Mark ù đi, gần như không nghe thấy gì nữa. Mark nghiên cứu kết quả anh thu được. Ba mươi Thượng Nghị sĩ đã ăn trưa tại văn phòng hoặc ăn trưa với các cử tri của họ. Mười lăm người không cho thư ký biết họ đã ăn trưa ở đâu hoặc có nói về một cuộc hẹn mơ hồ nào đó. Mười bảy Thượng Nghị sĩ đã tham dự các bữa tiệc trưa theo nhóm tại các nhà hàng lớn như National Press Club, Commom Cause và NAACP. Một thư ký thậm chí còn cho rằng sếp của mình đã tham dự một bữa tiệc trưa về Môi trường trong ngày 24 tháng Hai. Mark chẳng thể nào hiểu được sao người ta có thể trả lời như thế.

Với sự giúp đỡ của Giám đốc, danh sách tình nghi của Mark đã giảm xuống còn mười lăm người.

Anh trở lại Thư viên Quốc hội, một lần nữa tiến tới phòng đọc tài liệu tham khảo yên tĩnh. Cô thủ thư dường như không mảy may nghi ngờ chút nào đối với tất cả những câu hỏi về các Thượng Nghị sĩ cụ thể hoặc các ủy ban và các thủ tục trong Thượng viện. Cô đã quá quen thuộc với các sinh viên mới tốt nghiệp đến tìm hiểu tại đây, họ thường đòi hỏi khắt khe và không nhã nhặn cho lắm.

Mark lại tới chỗ cái kệ để Báo cáo Quốc hội. Không khó khăn gì để tìm thấy cái tập báo cáo ngày 24 tháng Hai: đó là tài liệu bị nhàu nát trong số các báo cáo về các vấn đề gần đây nhất, mới được buộc tạm vào tập hồ sơ. Anh lướt qua để tìm ra mười lăm cái tên còn lại trong danh sách. Vào ngày đó đã có một Ủy ban tổ chức họp, chính là Ủy ban Đối ngoại. Ba trong số mười lăm Thượng Nghị sĩ thuộc danh sách đã tham gia cuộc họp này và đều phát biểu trong cuộc họp sáng ngày hôm đó, theo những gì đã được ghi lại trong Hồ sơ. Thượng viện cũng tổ chức hai cuộc tranh luận trong ngày hôm đó: Vấn đề phân bổ nguồn vốn của Bộ Năng lượng cho nghiên cứu năng lượng mặt trời và Dự thảo luật Kiểm soát súng. Mười hai Thượng Nghị sĩ còn lại trên danh sách đều tham gia một hoặc hai cuộc tranh luận đã diễn ra tại Thượng viện. Không có cách nào để loại bớt ai trong số mười lăm người, khốn khiếp thật. Anh liệt kê mười lăm cái tên trên mười lăm tờ giấy và đọc tất cả các báo cáo lưu trong Hồ sơ Quốc Hội về tất cả các ngày từ ngày 24 tháng Hai đến ngày 4 tháng Ba. Sau đó anh ghi chú sự có mặt hoặc vắng mặt tại Thượng viện của từng người trên trang ghi tên họ, trong từng ngày. Anh ấy đã tái hiện lịch trình làm việc của từng Thượng Nghị sĩ một cách chi tiết; có rất nhiều khoảng trống trong đó. Đó là bằng chứng cho thấy, các Thượng Nghị sĩ không phải lúc nào cũng ở trong Thượng viện.

Cô thủ thư trẻ đứng ngay sau anh ấy. Mark liếc nhìn đồng hồ : 7 giờ 30 phút tối. Gạt bỏ vấn đề thời gian cấp bách sang một bên. Đã đến lúc quên các vị Thượng Nghị sĩ rồi. Và giờ là lúc để gặp Elizabeth. Anh ấy gọi điện đến nhà cô.

“Xin chào, quý cô đáng yêu. Có lẽ giờ chúng ta lại đi ăn cùng nhau nữa nhỉ. Tôi chưa có gì bỏ vào bụng kể từ bữa sáng nay. Cô có chút thương hại nào đối với tình trạng suy nhược cơ thể của tôi không, bác sĩ, ăn tối với tôi nhé?”

“Và làm gì với anh nữa, Mark? Tôi vừa mới gội đầu. Có khi tai tôi vẫn còn dính bọt xà bông đây này.”

“Ăn tối với tôi, tôi nói rồi mà. Hợp lý trong lúc này mà. Tôi chỉ có thể nghĩ thêm về những điều khác sau đó thôi.”

“Tôi chỉ có thể nói không sau đó mà thôi.” Cô ấy đáp lời một cách ngọt ngào. “Nhịp thở của anh sao rồi?”

“Khá nhịp nhàng, cảm ơn cô, nhưng nếu tôi tiếp tục nghĩ về những gì tôi đang nghĩ tới bây giờ, thì có thể mụn nhọt sắp đột ngột sưng lên trên người tôi.”

“Anh muốn tôi làm gì bây giờ, đổ nước lạnh vào ống nghe điện thoại à?”

“Không cần đâu. Chỉ cần cô chịu ăn tối cùng tôi thôi. Tôi sẽ đón cô trong nửa giờ nữa nhé, dù là tóc cô có còn ướt đi chăng nữa.”

Họ tìm thấy một nhà hàng nhỏ có tên Ngài Smith trong khu Georgetown. Mark đã quen thuộc với nơi này hơn vào mùa hè, khi mà thực khách có thể ngồi bên một chiếc bàn trong khu vườn ở phía sau. Một nơi hoàn hảo để trò chuyện thân mật hàng giờ và thường có rất đông khách hàng ở lứa tuổi hai mươi.

“Chúa ơi,” Elizabeth nói. “Giống như đang trở về thời sinh viên vậy. Tôi cứ nghĩ rằng, chúng ta đã trưởng thành từ nơi đó rồi chứ.”

“Tôi rất vui vì cô thấy thích nơi này,” Mark mỉm cười.

“Tất cả đều rất dễ đoán. Sàn gỗ bình dân, bàn gỗ cứng, cây cối. Những bản sô-nát dành cho sáo của Bach. Lần tới chúng ta sẽ thử ăn ở McDonald xem sao.”

Mark chưa kịp nghĩ ra câu trả lời và đành để lại sau khi thực đơn được mang tới.

“Anh có thể tưởng tượng nổi không, bốn năm học tại Yale và tôi vẫn không biết món súp rau hầm miền Nam nước Pháp có mùi vị ra sao,” Elizabeth nói.

“Tôi đã từng nếm thử, nhưng tôi không biết phải diễn tả như thế nào về mùi vị của nó.”

Cả hai đều gọi thịt gà, khoai tây nướng và sa-lát.

“Nhìn kìa Mark, Thượng Nghị sĩ Thornton mặt tái và một cô gái đáng tuổi con ông ta.”

“Có lẽ đó là con gái của ông ấy.”

“Không có người cha văn minh nào lại đi cùng con gái mình đến đây cả.” Cô mìm cười với anh.

“Ông ấy là bằng hữu với cha cô thì phải?”

“Đúng rồi, sao anh biết điều đó?” Elizabeth hỏi. “Thường thức xã hội thôi mà.” Mark lập tức hối tiếc vì trót hỏi cô ấy câu đó.

“Chà, có thể nói ông ấy là một đối tác kinh doanh với cha tôi thì đúng hơn. Ông ta kiếm tiền bằng việc sản xuất và chế tạo súng. Không phải là một nghề nghiệp hấp dẫn hàng đầu.”

“Nhưng, cha cô cũng sở hữu một phần của một công ty sản xuất súng mà.”

“Cha tôi ư? Vâng, thì đúng là như vậy, tôi cũng không tán thành công việc kinh doanh đó, nhưng ông đổ lỗi cho ông nội tôi, người đã thành lập ra công ty. Tôi thường hay cãi nhau với ông về công ty đó khi tôi còn đi học. Tôi đã nói ông ấy bán cổ phần công ty đó đi và đầu tư vào một công việc kinh doanh nào đó có ích cho xã hội và tự coi mình như thể là một Thiếu tá Barbara 55* ngoài đời vậy.”

“Anh chị hài lòng với bữa tối chứ ạ?” Một người phục vụ đi quanh đó, hỏi.

“Ừm, rất ngon, cảm ơn,” Elizabeth nhìn lên và trả lời.

“Anh biết không Mark, có lần tôi đã gọi cha tôi là một tội phạm chiến tranh.”

“Nhưng tôi tưởng ông ấy chống chiến tranh cơ mà.”

“Dường như anh biết khá nhiều về cha tôi,” Elizabeth nhìn anh một cách dò xét.

Vẫn chưa biết đủ nhiều, Mark nghĩ và cô có thể nói thêm cho tôi biết bao nhiêu sự thực nữa đây? Nếu Elizabeth có nhận thấy dấu hiệu lo lắng của anh đi chăng nữa, cô ấy cũng không lưu tâm lắm, mà vẫn tiếp tục kể chuyện một cách đơn giản.

“Ông ấy đã bỏ phiếu phê duyệt dự án về tên lửa MX và tôi đã không ngồi chung bàn với ông ấy trong gần một tháng. Tôi không biết là cha tôi thậm chí có buồn để ý chút nào đến điều đó không nữa.”

“Mẹ cô thì sao?” Mark hỏi.

“Bà ấy mất khi tôi mười bốn tuổi, đó là lí do tại sao tôi vô cùng gần gũi với cha tôi,” Elizabeth nói. Cô ấy nhìn xuống đôi bàn tay đặt trên vạt váy cô ấy, rõ ràng gần như sắp thả rơi món đồ đang cầm trên tay. Những lọn tóc sẫm lấp lóa đung đưa ngang trán cô ấy.

“Tóc cô đẹp quá.” Mark nói một cách dịu dàng, trìu mến. “Tôi muốn chạm vào tóc cô ngay từ khi tôi mới gặp cô lần đầu tiên. Giờ tôi vẫn ước ao như thế.”

Cô ấy mỉm cười. “Tôi thích tóc xoăn hơn.” Cô ấy tựa cằm vào hai lòng bàn tay khum khum, mắt nhìn Mark một cách tinh quái. “Trông anh vẫn sẽ rất tuyệt khi anh bốn mươi tuổi với cái đầu bạc thời thượng đến tận thái dương. Miễn là anh không để tóc bay mất trước đó. Anh có biết rằng những người đàn ông bị hói ở vùng chóp đầu rất gợi tình, cả những người bị hói ở vùng thái dương, hãy nghĩ xem và những người trọc đầu hoàn toàn nữa, anh có nghĩ rằng họ rất quyến rũ không?”

“Giả sử tôi đang bị hói ở vùng chóp đầu, cô sẽ coi đó là một tuyên bố có ý đồ không chứ?”

“Tôi sẵn sàng chờ đợi nhưng miễn là đừng lâu quá.”

Trên đường trở về nhà Elizabeth, anh dừng lại, vòng tay khoác eo cô và hôn cô, ngập ngừng vào lúc đầu, không chắc chắn về phản ứng của cô.

“Em biết không, hai đầu gối tôi đang trở nên yếu ớt rồi đây, Elizabeth,” Anh thì thầm với mái tóc mềm mại và ấm áp của cô ấy. “Em định làm gì với nạn nhân mới nhất của mình đây?”

Cô bước tiếp mà không nói lời nào.

“Kiếm lấy hai miếng đệm đầu gối cho mình đi thôi,” rồi cô chợt nói.

Họ tay trong tay, bước đi, im lặng, hạnh phúc, chậm rãi. Ba người đàn ông không được lãng mạn lắm đang bám sát họ.

Trong phòng khách xinh xắn, trên chiếc so-fa màu kem, anh lại hôn cô lần nữa.

Ba người đàn ông thiếu lãng mạn kia vẫn đợi bên ngoài trong bóng đêm.

Bà Tổng thống ngồi một mình trong Phòng Bầu dục, xem đi xem lại các điều khoản trong dự thảo luật, từng cái một, tìm kiếm từng dòng có khả năng ngáng chân bà khi dự thảo luật sắp được mang ra bỏ phiếu ngày mai.

Bà ngước nhìn lên, giật mình khi thấy chồng mình đang đứng trước mặt với một cốc ca cao nóng hổi trong tay.

“Một đêm đi ngủ sớm sẽ không phương hại đến cơ hội gây ảnh hưởng của em nhiều đến vậy đâu,” ông nói, trong khi chỉ tay về phía Điện Capitol.

Bà mỉm cười. “Edward, em băn khoăn tự hỏi không biết mình sẽ ở đâu nếu không có các tư duy theo lẽ thường của anh.”

53* Một huyền thoại của cao bồi miền Tây nước Mỹ, có tài bắn súng thiện xạ, đã từng phạm tội và sau đó trở thành người thực thi pháp luật, rồi cảnh sát trưởng. Một người dạn dày trong chiến đấu, truy đuổi và bắt giữ tội phạm.

54* 1 đô la = 100 xen.

55* Major Barbara là một vở kịch của George Bernard Shaw. Câu chuyện liên quan đến một phụ nữ trẻ lý tưởng, Barbara Undershaft, người tham gia giúp đỡ người nghèo trong vai trò Thiếu tá của Quân đội Cứu quốc tại Luân Đôn. Trong nhiều năm, Barbara và anh chị em của cô đã bị ghẻ lạnh bởi cha của họ - Andrew Undershaft, hiện đang là một nhà sản xuất đạn dược giàu có và thành công. Undershaft cha chi tiền cho Đội quân Cứu Quốc, xúc phạm Thiếu tá Barbara, người không muốn liên quan gì đến tài sản giàu có “nhuốm máu” của mình. Tuy nhiên, người cha lập luận rằng nghèo đói là một vấn đề tồi tệ hơn đạn dược và tuyên bố rằng ông đang giúp đỡ xã hội nhiều hơn bằng cách tạo việc làm cho công nhân của mình và đảm bảo thu nhập ổn định hơn cho họ, thay vì giúp họ bằng cách từ thiện bánh mỳ và súp như Thiếu tá Barbara đang làm.

« Lùi
Tiến »