
Vào một buổi tối nọ, tôi và Kennedy dùng bữa khá muộn tại Luigi, một nhà hàng Ý nho nhỏ ở phía tây hạ Manhattan. Hồi còn là sinh viên, cứ mỗi tháng một lần, chúng tôi lại ghé qua đây để tập tành bộ môn nghệ thuật “ăn spaghetti”. Vì vậy, không lấy làm lạ khi ông chủ nhà hàng đã ghé qua bàn của chúng tôi để chuyện trò đôi câu. Sau vài lần kín đáo liếc nhìn những thực khách xung quanh, đa phần đều là người Ý, ông ấy đột nhiên nghiêng người về phía Kennedy và nói khẽ: “Tôi đã được nghe kể về tài thám tử tuyệt vời của anh, thưa giáo sư. Anh có thể cho tôi một lời khuyên nho nhỏ liên quan tới vụ việc của một người bạn mà tôi quen biết được không?”
“Chắc chắn rồi, Luigi. Vụ gì vậy?” Craig ngả người tựa vào ghế và hỏi.
Luigi lo lắng nhìn quanh một lần nữa, hạ giọng nói. “Xin đừng lớn tiếng như vậy, quý ngài của tôi ơi. Sau khi thanh toán xong hóa đơn, các anh hãy ra ngoài, đi dạo loanh quanh Quảng trường Washington rồi vào lại bằng lối đi riêng nhé. Tôi sẽ đợi các anh ở lối ra vào. Người bạn đó của tôi đang dùng bữa tối ở phòng riêng phía trên lầu.”
Chúng tôi nán lại thêm ít phút để nhâm nhi vài ly rượu vang Chianti, sau đó lặng lẽ thanh toán hóa đơn và rời đi.
Đúng như lời Luigi nói, ông ấy đang đứng đợi chúng tôi ở ngay lối ra vào. Sau khi ra hiệu giữ im lặng, ông ấy liền dẫn chúng tôi lên tầng hai và nhanh nhẹn mở cánh cửa vào một căn phòng, có vẻ là phòng ăn riêng cỡ vừa phải. Một người đàn ông với vẻ mặt bồn chồn, lo lắng đang đi qua đi lại trong phòng. Trên bàn có vài món ăn vẫn chưa được động đến. Khi cánh cửa được mở ra, tôi nghĩ ông ta đã bị giật mình thảng thốt, nhưng nhiều hơn là nỗi sợ hãi. Tôi dám chắc gương mặt đen sạm của ông ta đã tái mét không còn chút máu, dù chỉ trong chốc lát. Và làm sao có thể diễn tả được sự kinh ngạc của chúng tôi khi tận mắt thấy Gennaro bằng xương bằng thịt cơ chứ. Là một giọng nam cao tài năng thứ thiệt, chỉ cần có một người quen khá thân với ông ta đã đủ khiến bạn cảm thấy mình nổi tiếng lây rồi.
“Ồ, anh đây rồi, Luigi!” Phát âm tiếng Anh của ông ta khá chuẩn, hòa cùng chất giọng trầm ấm và êm dịu. “Còn những quý ông này là ai vậy?”
Luigi đơn giản đáp “Họ là bạn của tôi” cũng bằng tiếng Anh, rồi chuyển qua một tràng giải thích lưu loát với tông giọng trầm thấp bằng tiếng Ý.
Trong lúc chờ đợi họ, ý nghĩ về một vụ việc xảy ra gần đây đã lóe lên trong đầu tôi và tôi cho là Kennedy cũng có suy nghĩ tương tự. Tính đến thời điểm này, đã ba hay bốn ngày trôi qua kể từ khi báo chí đưa tin về vụ bắt cóc kỳ quái liên quan đến bé gái năm tuổi tên Adelina - đứa con duy nhất của Gennaro. Ông ta đã nhận được một lá thư với nội dung yêu cầu giao nộp số tiền chuộc mười ngàn đô la, trên đó có chữ ký của tổ chức thần bí Bàn Tay Đen - một cái tên khiến người ta liên tưởng ngay đến sự hăm họa cùng tống tiền.
Sau cuộc trò chuyện ngắn ngủi với Luigi, ông Gennaro tiến về phía chúng tôi. Gần như trước khi màn giới thiệu kịp kết thúc, Kennedy đã đoán được ý của ông ta và nói rằng: “Tôi hiểu, thưa ông, trước khi ông hỏi tôi bất cứ điều gì. Tôi đã đọc tất cả thông tin liên quan đến vụ đó trên báo. Ông muốn tìm một người giúp ông tóm được những tên tội phạm đang giam giữ cô con gái nhỏ của ông có phải không?”
“Không, không!” Gennaro kích động nói. “Không phải vậy. Tôi thực tình muốn cứu con gái của mình trước, sau đó hãy tóm chúng nếu như anh có thể. Đúng vậy, tôi đang tìm một ai đó giúp tôi giải quyết vụ này. Nhưng xin hãy đọc cái này trước và cho tôi biết ý kiến của anh. Tôi nên hành động như thế nào để cứu được Adelina bé bỏng mà không tổn hại đến một sợi tóc của con bé đây?” Ca sĩ nổi tiếng rút ra từ chiếc ví tiền to kềnh một bức thư bẩn thỉu và nhàu nát, chữ viết thì nguệch ngoạc trên loại giấy rẻ tiền.
Kennedy rất nhanh đã dịch xong nội dung của bức thư. Nó viết rằng:
Chào ông,
Con gái ông hiện tại vẫn toàn mạng đấy. Nhưng lạy các thánh thần, nếu ông đưa lá thư này cho bọn chó săn giống như đã làm với lá thư kia, thì không chỉ con bé đó, mà cả gia đình ông, tất cả những người liên quan đến ông, từng người từng người một đều sẽ phải nếm mùi đau khổ đến tột cùng. Bọn này sẽ không chịu thất bại như hôm thứ Tư đâu. Nếu còn muốn con gái ông lành lặn trở về, hãy đích thân tới quán Enrico Albano, đi một mình và tuyệt đối không được tiết lộ cho kẻ nào. Thời gian vào lúc mười hai giờ đêm thứ Bảy. Ông phải mang theo mười ngàn đô la tiền mặt và giấu trong báo II Progresso Italiano số ra ngày thứ Bảy. Trong căn phòng phía sau, ông sẽ thấy một người đàn ông đang ngồi ở một bàn nào đó. Trên áo anh ta cài một bông hoa màu đỏ. ông phải nói câu “I Pagliacci* là một vở opera tuyệt vời”. Nếu anh ta trả lời “Nó sẽ không tuyệt đến vậy nếu không có Gennaro”, thì ông hãy bỏ tờ báo xuống mặt bàn. Anh ta sẽ cầm nó lên và bỏ lại tờ báo của anh ta - tờ Bolletino. Ở trang thứ ba của tờ báo đó, ông sẽ tìm được địa chỉ nơi con gái của ông đang bị giam giữ. Hãy tới đón con bé ngay lập tức. Và lạy Chúa, chỉ cần có bất kì tên chó săn nào lảng vảng gần quán Enrico, đứa con gái bé bỏng của ông sẽ được gửi trả về trong một chiếc hòm ngay đêm đó. Đừng sợ tới đó. Bọn này cam kết sẽ thực hiện đúng những gì đã giao dịch, miễn sao ông cũng vậy. Đây chính là lời cảnh cáo cuối cùng của bọn này dành cho ông. Để ông không quên mất chuyện phải làm, bọn này sẽ cho ông thấy một dấu hiệu khác nhằm chứng minh thế lực của bọn này vào ngày mai.
BÀN TAY ĐEN.
Phần cuối của bức thư đe dọa này được trang trí theo phong cách kinh dị bằng đầu lâu xương chéo, một hình vẽ đơn giản về con dao găm đâm xuyên qua một trái tim đang rỉ máu, một chiếc quan tài và dưới cùng là một bàn tay đen khổng lồ. Chẳng phải nghi ngờ gì việc nó thuộc loại thư đó nữa. Nó giống hệt những lá thư tống tiền đang ngày càng trở nên phổ biến tại tất cả các thành phố lớn của chúng tôi, đặc biệt trong mấy năm trở lại đây. Các thám tử tài ba nhất cũng bị chúng quay mòng không ít lần.
“Tôi đoán ông chưa đưa thứ này cho cảnh sát xem đúng không?” Kennedy hỏi.
“Dĩ nhiên là chưa rồi.”
“Ông sẽ tới đó vào đêm thứ Bảy chứ?”
“Tôi sợ phải tới đó, nhưng cũng sợ không tới” là câu trả lời của Gennaro. Chất giọng nam cao trị giá năm mươi ngàn đô la một mùa vé kia giờ đây cũng chẳng khác nào giọng của một người cha kiếm được năm đô la một tuần. Bởi khi đã rơi vào đường cùng, tất cả đàn ông trên thế giới, dù kiếm được nhiều tiền hay ít tiền, cũng đều giống nhau mà thôi.
”Bọn này sẽ không chịu thất bại như hôm thứ Tư đâu.” Craig đọc lại câu đó. “Điều này có ý nghĩa gì?”
Gennaro lại lần mò trong ví của mình thêm lần nữa. Cuối cùng, ông ta rút ra một lá thư được đánh máy có tiêu đề thư của tập đoàn Leslie Laboratories.
“Sau khi nhận được lời đe dọa đầu tiên...” Gennaro giải thích. “Vợ chồng tôi đã tới ở nhờ nhà của cha vợ - chủ ngân hàng Cesare, ông biết đấy, cha vợ tôi sống ở Đại lộ số 5. Tôi đã đưa lá thư cho Đơn vị Ý của cảnh sát. Sáng hôm sau, người quản gia của cha vợ tôi bỗng nhận ra sữa có vấn đề. Ông ấy chỉ nhấp đúng một ít sữa trên đầu lưỡi mà bị ốm liệt giường từ lúc đó. Tôi ngay lập tức gửi mẫu sữa kia tới phòng thí nghiệm của bạn tôi - bác sĩ Leslie, để nhờ anh ấy phân tích. Bức thư này ám chỉ tới kiếp nạn mà nhà cha vợ tôi đã may mắn thoát được.”
“Gennaro thân mến...” Kennedy đọc tờ kết quả. “Mẫu sữa được gửi cho chúng tôi để kiểm tra vào ngày mùng Mười tháng này đã được phân tích rất kĩ lưỡng, tôi xin trân trọng gửi anh J kết quả kèm theo đây:
Trọng lượng riêng 1,036 ở 15 độ C.
Nước.................. 84,60 phần trăm.
Casein.............. 3,49 ” ”
Albumin.......... ,56. ” ”
Globulin ...... _ ,32. ” ”
Lactose........ 5,08 ” ”
Tro.............................. ,72 ” ”
Chất béo................. 3,42 ” ”
Ricin...................... 2,19 ” ”
Ricin là một chất độc mới và chưa được nhiều người biết đến, có nguồn gốc từ vỏ hạt thầu dầu. Giáo sư Ehrlich tuyên bố rằng một gram chất độc nguyên chất loại này sẽ giết chết 1.500.000 con chuột lang. Gần đây, ricin đã được giáo sư Robert ở Rostock tiến hành tinh chế, nhưng hiếm khi thu được nó ở dạng hoàn toàn tinh khiết. Dẫu vậy, nó vẫn có nguy cơ gây tử vong cao. Nó còn mạnh hơn cả strychnine*, axit citric và các loại thuốc độc phổ biến khác. Tôi xin chúc mừng anh cùng gia đình vì đã thoát được kiếp nạn này. Và dĩ nhiên, tôi hoàn toàn tôn trọng các mong muốn của anh về việc giữ bí mật liên quan tới âm mưu hãm hại gia đình anh này. Hãy cứ tin tưởng ở tôi.
Vô cùng trân trọng,
C. W. LESLIE”
Khi Kennedy trả lại bức thư, anh đã nhận xét môt câu đầy ẩn ý: “Tôi dễ dàng hiểu được lý do vì sao ông không muốn cảnh sát nhúng tay vào vụ việc này. Nó vượt xa cả những phương pháp nghiệp vụ thông thường của cảnh sát.”
“Và ngày mai, chúng sẽ lại đưa ra thêm một dấu hiệu khác để chứng minh thế lực của mình.” Gennaro rên rỉ, ngồi phịch xuống ghế trước mấy món ăn mà ông ta còn chưa động đũa.👁️
“Ông nói rằng ông đã rời khỏi khách sạn của mình ư?” Kennedy hỏi.
“Đúng vậy. Vợ tôi khăng khăng chúng tôi sẽ được bảo vệ an toàn hơn khi ở nhà ngoại, cha cô ấy là chủ ngân hàng cơ mà. Nhưng chúng tôi bắt đầu cảm thấy nơi đó cũng không còn an toàn kể từ sau vụ cố ý đầu độc kia. Vậy nên, tôi đã bí mật đến đây tìm Luigi, người bạn cũ Luigi của tôi. Ông ấy đang chuẩn bị thức ăn cho tôi và vợ. Trong vài phút nữa, một trong những chiếc xe hơi của Cesare sẽ tới đây, tôi sẽ mang đồ ăn cho cô ấy - không ngại tốn kém hay phiền hà. Vợ tôi đang vô cùng đau lòng. Cô ấy sẽ chết mất, giáo sư Kennedy ạ, nếu có bất cứ chuyện gì xảy đến với Adelina bé nhỏ của chúng tôi.
“À, thưa giáo sư, bản thân tôi không túng thiếu gì cả. Một tháng lương ở nhà hát opera, đó là những gì chúng đang đòi hỏi ở tôi. Tôi rất sẵn lòng đưa cho chúng mười ngàn đô la, thậm chí là tất cả tiền công trong hợp đồng của tôi với giám đốc Herr Schleppencour, nếu như chúng yêu cầu. Nhưng cảnh sát... Hừ!... Họ chỉ chăm chăm bắt kẻ ác thôi. Làm thế thì có ích gì cho tôi chứ, nếu họ bắt được chúng nhưng Adelina bé bỏng lại được trả về với thân xác không còn hơi ấm thì sao? Dù có chấp nhận được việc người Anglo-Saxon* nói chuyện công lý hay luật pháp, nhưng tôi là... Các ông hay gọi chúng tôi là gì nhỉ? Người Latinh* giàu cảm xúc cơ đấy. Tôi muốn con gái bé bỏng của mình quay về bằng bất cứ giá nào. Đúng vậy, hãy tóm những kẻ ác đó sau. Tôi sẽ trả công gấp đôi để bắt chúng, sao cho chúng không thể tống tiền tôi thêm một lần nào nữa. Còn trước hết, tôi chỉ muốn con gái của tôi quay trở về thôi.”
“Còn cha vợ ông thì sao?”
“Cha vợ tôi ấy à, ông ấy đã sống ở đây đủ lâu để trở thành một người dân giống như các ông trên đất nước này rồi. Ông ấy đã đấu lại với chúng. Ông ấy đã treo một tấm biển trong ngân hàng của mình: Không trả tiền cho những lời đe dọa. Nhưng tôi lại thấy điều đó thật không sáng suốt. Tôi không hiểu rõ nước Mỹ như ông ấy, nhưng tôi biết điều này: cảnh sát chẳng bao giờ thành công trong việc phá án, vì tiền chuộc luôn được trả mà họ không hay biết và họ luôn luôn nhận hết mọi công trạng về mình. Tôi nói rồi, trả tiền chuộc trước, sau đó tôi xin thề sẽ trả mối thù này theo một cách chính đáng và minh bạch. Tôi sẽ đưa lũ chó má đó ra trước vành móng ngựa cùng với số tiền mà chúng ôm theo. Chỉ có điều hãy chỉ cho tôi biết phải làm như thế nào, làm ơn hãy chỉ cho tôi biết phải làm như thế nào?”
“Trước hết...” Kennedy đáp. “Tôi muốn ông trả lời một câu hỏi, đúng sự thật, không do dự, với tư cách là một người bạn. Tôi là bạn của bạn ông, hãy tin tôi. Có bất kì người nào, họ hàng hay người quen, vợ hay cha vợ của ông, một người mà ông nghi ngờ có khả năng dùng cách này để moi tiền của ông hay không? Chắc tôi không cần phải nói, đó là kinh nghiệm xương máu của văn phòng công tố quận đã rút ra, từ hàng đống vụ án với cái danh “Bàn Tay Đen” như thế này đâu nhỉ?”
“Không.” Giọng nam cao trả lời không một chút do dự. “Tôi biết điều đó mà, tôi cũng đã suy nghĩ về nó rồi. Không, tôi chẳng thể nào nghĩ ra được ai cả. Tôi biết người Mỹ các ông thường nhắc tới Bàn Tay Đen như một câu chuyện ngớ ngẩn do một tay nhà báo nào đó bịa lên. Có lẽ nó không phải là một tổ chức gì hết. Nhưng, thưa giáo sư Kennedy, với tôi nó không phải là chuyện hoang đường. Nếu thực sự một băng đảng tội phạm nào đó đang mượn danh nghĩa của Bàn Tay Đen để tống tiền tôi thì sao? Liệu nó có thể thay đổi được thực tế không? Con gái tôi giờ đang mất tích rồi!”
“Chính xác.” Kennedy đồng tình. “Thứ đang đe dọa ông không phải một giả thuyết hão huyền. Mà đó là một sự thật lạnh lùng và phũ phàng. Tôi hoàn toàn hiểu được điều đó. Hãy cho tôi biết địa chỉ của quán Albano này ở đâu?”
Luigi tiếp lời, đề cập đến một số nhà trên phố Mulberry. Kennedy đã ghi chú lại con số đó.
“Đó là một quán rượu chuyên tổ chức đánh bạc.” Luigi giải thích. “Albano quê ở Naples, một tay Camorra*, cũng là một trong những người đồng hương khiến tôi thấy xấu hổ vô cùng, thưa giáo sư Kennedy.”
“Ông có nghĩ gã Albano này có liên quan gì đó tới lá thư kia hay không?”
Luigi nhún vai.
Đúng lúc đó, một chiếc limousine* rất lớn đậu phía bên ngoài khách sạn, tiếng xe vang vọng thu hút sự chú ý của chúng tôi. Luigi đi đến cầm một cái giỏ to đùng được đặt ở một góc trong phòng rồi vội vã xuống dưới, theo sát gót là ông Gennaro. Trước khi giọng nam cao rời khỏi, ông ta liền đưa hai tay ra nắm lấy đôi bàn tay của từng người chúng tôi.
“Tôi có ý tưởng này.” Craig nói thẳng. “Tối nay tôi sẽ cố suy xét kĩ càng hơn về nó. Ngày mai tôi có thể tìm ông ở đâu nhỉ?”
“Hãy đến gặp tôi tại nhà hát opera vào buổi chiều, hoặc nếu muốn sớm hơn, hãy tới dinh thự của ông Cesare - cha vợ tôi nhé. Chúc ngủ ngon. Tôi thực sự cảm ơn ông, giáo sư Kennedy ạ, cả ông nữa, ông Jameson. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở các ông bởi Luigi cũng tin tưởng hai người.”
Chúng tôi ngồi trong phòng ăn nho nhỏ đó cho tới khi nghe thấy tiếng cửa xe limousine đóng sầm lại và chiếc xe lao vút đi cùng những tiếng lạch cạch lúc xe được sang số.
“Thêm một câu hỏi nữa, Luigi.” Craig nói khi cánh cửa được mở ra lần nữa. “Tôi chưa bao giờ tới tòa nhà đó ở phố Mulberry, chỗ sòng bạc của Albano ấy. Ông có quen biết bất cứ chủ cửa hàng nào ở đó hoặc gần đó hay không?”
“Tôi có một người em họ mở hiệu thuốc ở góc phố bên dưới sòng bạc Albano, nằm cùng một bên đường.”
“Tốt! Ông có nghĩ ông ta sẽ cho tôi sử dụng cửa hàng đó ít phút vào tối thứ Bảy hay không, dĩ nhiên là sẽ không có bất cứ rủi ro nào đối với ông ta cả!”
“Tôi nghĩ là mình có thể sắp xếp được.”
“Rất tốt. Vậy thì ngày mai, cụ thể là lúc chín giờ sáng, tôi sẽ ghé qua đây, tất cả chúng ta sẽ tới gặp ông ta nhé. Chúc ngủ ngon, Luigi. Rất cảm ơn ông vì đã nhớ đến tôi trong vụ này. Tôi vô cùng thưởng thức tiếng hát của ông Gennaro tại nhà hát opera tới mức muốn được giúp đỡ ông ấy. Và tôi cũng rất vui khi có thể giúp đỡ được những người Ý lương thiện, nhưng chỉ khi tôi thực hiện thành công kế hoạch mà tôi đang ấp ủ mà thôi.”
Ngày hôm sau, trước chín giờ vài phút, tôi và Kennedy đã ghé qua nhà hàng của Luigi lần nữa. Kennedy xách theo một chiếc va li mà anh đã mang về từ phòng thí nghiệm của mình đêm hôm trước. Luigi đang đợi chúng tôi. Không lãng phí một phút giây nào, chúng tôi khởi hành ngay lập tức.
Sau khi đi qua những con đường quanh co của ngôi làng Greenwich cổ kính, cuối cùng chúng tôi cũng đến được phố Bleecker. Tiếp đó, bắt đầu đi bộ về phía đông và hòa vào dòng người hối hả của vùng hạ New York. Chưa xuống hẳn tới phố Mulberry, chúng tôi bất chợt bị thu hút bởi đám đông lớn túm tụm tại một trong những góc ầm ĩ nhất. Họ bị chặn lại bởi một hàng cảnh sát. Người cảnh sát gốc Ireland vạm vỡ cao một mét tám đang cố gắng hành xử tử tế để ngăn những người nghèo khổ thấp bé, chỉ cao chừng một mét năm. Những người thấp bé này vốn là dân di cư từ miền Nam và miền Đông châu Âu tập trung về New York, trên vai luôn mang gánh nặng cơm áo gạo tiền.
Khi lách mình lên phía trước đám đông, chúng tôi nhận ra đây là một tòa nhà mà toàn bộ mặt tiền của nó đều đã bị xé toạc và đổ nát theo đúng nghĩa đen. Những tấm kính dày trên các ô cửa sổ tầng thấp đều đã bị đập bể, khiến cho vô số mảnh vụn màu xanh lục rơi tung tóe xuống vỉa hè. Cửa sổ của các tầng trên và một số ngôi nhà cùng dãy quanh đó cũng bị vỡ tan tành giống vậy. Chẳng những thế, các thanh sắt dày để bảo vệ những ô cửa sổ ấy giờ đã bị bẻ cong và xoắn tít lại. Ngó vào cửa chính, chúng tôi còn thấy một lỗ hổng lớn trên sàn nhà, bàn ghế bên trong cũng bị chất thành một đống lộn xộn.
“Có chuyện gì vậy?” Tôi hỏi một viên cảnh sát đứng gần mình, giơ ra thẻ nhà báo cho phép vượt qua hàng rào phong tỏa khu vực hỏa hoạn. Chủ yếu vì tác dụng tinh thần của tấm thẻ, chứ không hy vọng nhận được bất cứ thông tin xác thực nào trong những ngày báo chí bắt buộc phải im hơi lặng tiếng này.
“Bom của lũ Bàn Tay Đen đấy.” Một câu trả lời rất súc tích.
“Ối!” Tôi hô lên. “Có ai bị thương không?”
“Chúng thường không giết hại ai cả, đúng không nào?” Viên cảnh sát hỏi ngược lại để kiểm tra xem mức độ hiểu biết của tôi đối với những chuyện này ra sao.
“Đúng vậy.” Tôi thừa nhận. “Chúng thích phá hủy tài sản vật chất hơn là tước đi sinh mạng. Nhưng lần này, chúng có làm ai bị thương không? Hẳn đây là một quả bom có sức công phá cực kì lớn, tôi sẽ đánh giá là như vậy khi chứng kiến cảnh tượng này.”
“Cũng khá chính xác đấy. Ngân hàng chưa tới giờ mở cửa thì... Bùm! Cái thứ có ống dẫn khí đốt và thuốc nổ kia bỗng nhiên bùm một cái. Đám đông ùa đến tụ tập ngay cả khi cột khói còn chưa tan hết. Ông chủ ngân hàng này đã bị thương, nhưng không nặng lắm. Giờ nếu anh muốn tìm hiểu thêm thông tin khác thì hãy đến tòa soạn của nhà báo các anh đi nhé. Nó được in trên những tờ giấy màu hồng Danh sách thông tin do quần chúng cung cấp lúc này đấy. Tôi không được phép nói gì cả.” Anh ta nói thêm cùng một nụ cười hiền hậu, sau đó tiếp tục hướng về phía đám đông thúc giục: “Di chuyển tiếp đi nào! Các vị đang gây cản trở giao thông đó! Di chuyển tiếp đi nào!”
Tôi quay sang Craig và Luigi. Ánh mắt của họ đang dán chặt vào tấm biển lớn được mạ vàng phía trên cao và giờ đã bị gẫy làm đôi. Hai nửa của nó đều đang treo lủng lẳng giữa không trung. Dòng chữ trên đó ghi:
NGÂN HÀNG CIRO DI CESARE & CO.
NEW YORK, GENOA, NAPLES, ROME, PALERMO
“Đây chính là lời nhắc nhở để Gennaro và cha vợ ông ấy không quên chuyện đó.” Tôi há hốc miệng kinh ngạc.
“Đúng vậy.” Craig bổ sung, kéo chúng tôi đi. “Và chính ông Cesare cũng đang bị thương. Có lẽ đó là vì ông ta đã cho dán tờ thông cáo từ chối trả tiền kia. Nhưng có lẽ cũng không phải như thế. Đây là một vụ rất kỳ quái, thường chúng sẽ cho nổ bom vào ban đêm, khi không một ai ở xung quanh. Chắc chắn phải có nhiều hàm ẩn phía sau chuyện này, hơn là chỉ để dọa dẫm Gennaro. Với tôi thì có vẻ chúng đang nhắm cả vào Casare nữa, đầu tiên dùng thuốc độc, sau đó là thuốc nổ.”
Chúng tôi len lỏi qua đám đông và đi tiếp cho tói khi đến được phố Mulberry, nơi đang tất bật với những nhịp đập của cuộc sống. Xuôi xuống phố, chúng tôi bước ngang qua rất nhiều cửa hàng buôn bán nhỏ. Rồi cứ chốc chốc lại lách mình để tránh va vào lũ trẻ đang mải miết nô đùa. Hay thi thoảng nhường đường cho những người phụ nữ tần tảo, đang di chuyển với những bọc quần áo gia công to đùng được đội chênh vênh trên đầu, hoặc kẹp nách bên dưới những chiếc áo choàng không tay rộng thùng thình. Đây chỉ là một khu dân cư nhỏ bé trong số hàng trăm ngàn khu dân cư của người Ý trên đất nước này. Thậm chí, tổng số dân của các khu này còn lớn hơn hẳn dân số người Ý ở thành phố Rome. Người dân New York đều thừa biết cuộc sống của họ khốn khổ đến như thế nào, nhưng lại chẳng màng để tâm.
Cuối cùng, chúng tôi đã tới được quán rượu nhỏ của Albano. Đây là một nơi tối tăm, xấu xa và bốc mùi hôi thối, nằm ngay mặt đường của một cư xá năm tầng - cư xá được cho là áp dụng kiểu “luật mới”. Kennedy bước vào trong không một chút do dự, chúng tôi cũng theo sát phía sau, vào vai một nhóm dân cư khu ổ chuột. Trong quán chỉ có một vài vị khách vào giờ sớm sủa này, những gã đàn ông không có nghề nghiệp và một nhóm người trông có vẻ vô hại, dù dĩ nhiên họ đang giương ánh mắt sắc lẹm nhìn chúng tôi. Bản thân Albano là một gã béo ú, trán thấp, trông có vẻ gian xảo. Tôi hoàn toàn có thể hình dung được một gã như vậy sẽ gieo rắc nỗi kinh hoàng vào tâm trí của những người dân chất phác đến nhường nào. Chỉ thông qua cách hắn nhấn hai ngón tay cái vào hai bên thái dương, rồi lướt ngón tay trỏ mập ú xuống dưới cổ họng gã - một cử chỉ được xem là ám hiệu của lũ Bàn Tay Đen. Và nó đã từng khiến nhiều nhân chứng phải im bặt khi đứng ra tố cáo gã, ngay cả trong những phiên tòa đang diễn ra công khai.
Chúng tôi lách qua căn phòng có trần thấp phía sau, bên trong không một bóng người. Sau khi chọn một chiếc bàn và gọi một chai “rượu vang đỏ rẻ tiền” California nổi tiếng của quán Albano, chúng tôi ngồi im lặng. Kennedy đang thầm ghi nhớ lại kiến trúc nơi này trong tâm trí. Ở chính giữa trần nhà là một đèn măng xông dùng khí đốt, có mũ chụp đèn rất lớn che ở phía trên và sát với trần nhà. Trên bức tường đối diện với lối ra vào là một ô cửa sổ hình chữ nhật nằm ngang, hướng ra sân sau của cư xá. Cửa có chấn song cùng khung cửa sổ hất hai ngăn, ngăn trên bé hơn đang được mở ra. Những chiếc bàn bẩn thỉu, bám đầy thức ăn đã khô két từ lâu, nằm ngổn ngang khắp phòng. Ghế ngồi thì tồi tàn, chân ghế lung lay như sắp đổ. Tường nhà vẫn chưa hoàn thiện với những thanh dầm hoàn toàn không được trang trí gì cả. Nhìn chung, thật là một nơi khiến con người ta khó có cảm tình mà.
Sau màn xem xét kĩ lưỡng kia, Kennedy có vẻ khá hài lòng, trước khi ra về còn khen ngợi rượu của ông chủ quán. Tôi chắc mẩm Kennedy đã phác thảo xong đường đi nước bước một cách hoàn hảo cho hành động kế tiếp rồi.
“Tội ác thật dơ dáy làm sao!” Anh nhận xét khi chúng tôi bước đi trên phố. “Hãy ‘chiêm ngưỡng’ quán của tay Albano kia mà xem. Tôi thách đố mấy ông phóng viên đưa tin của thời báo Star tìm ra được bất kì nét quyến rũ nào ở nơi đó đấy, thật là!”
Điểm dừng tiếp theo của chúng tôi là ở một hiệu thuốc nho nhỏ do em họ Luigi mở, nằm tại tầng trệt của một cư xá cách quán Albano mấy căn. Ông ta đã dẫn chúng tôi ra sau tấm vách ngăn, nơi các đơn thuốc được pha chế và tìm cho chúng tôi mấy chiếc ghế ngồi.
Một lời giải thích ngắn gọn từ Luigi đã khiến gương mặt cởi mở của người bán thuốc sa sầm lại, tựa hồ ông ta đang lo sợ bản thân và việc buôn bán của hiệu thuốc sẽ dính dáng tới những kẻ tống tiền kia vậy. Kennedy đã nhận ra điều đó và chen ngang.
“Tất cả những gì tôi muốn làm...” Anh nói. “Chỉ là đặt một dụng cụ nhỏ ở đây và sử dụng nó trong vòng vài phút vào buổi tối hôm nay mà thôi. Thực sự sẽ không có bất cứ rủi ro nào xảy đến với ông đâu, Vincenzo. Mọi chuyện sẽ hoàn toàn kín kẽ, đó cũng là điều mà tôi mong muốn và sẽ không ai hay biết về điều này cả.”
Cuối cùng, Vincenzo cũng bị thuyết phục và Craig mở chiếc va li của mình ra. Chẳng có gì nhiều, ngoại trừ vài cuộn dây cách điện, vài món dụng cụ, mấy gói đồ đã được đóng gói lại cùng vài bộ quần áo bảo hộ lao động. Trong khoảnh khắc, Kennedy đã mặc xong bộ đồ bảo hộ kia và đang bôi ít đất bẩn cùng dầu mỡ lên gương mặt lẫn hai bàn tay mình. Dưới sự chỉ đạo của anh, tôi cũng làm tương tự.
Mang theo túi đồ nghề, cuộn dây điện cùng một trong những gói nhỏ kia, tôi và Kennedy ra khỏi hiệu thuốc. Chúng tôi loanh quanh ngoài phố một lát, sau đó vòng lại hành lang vừa tăm tối vừa thông gió kém, rồi nhẹ bước lên cầu thang của cư xá chỗ hiệu thuốc. Đi được nửa đường, một người phụ nữ bỗng ngăn chúng tôi lại với vẻ nghi ngờ.
“Công ty điện thoại.” Craig nói cộc lốc. “Đây là giấy phép ra vào của chủ cư xá này, cho mục đích căng dây điện trên mái nhà.”
Anh rút trong túi ra một lá thư cũ, nhưng vì trời quá tối nên dù người phụ nữ ấy có muốn đọc thì cũng không thể nào đọc nổi. Chúng tôi tiếp tục đi lên trên như anh đã mong đợi, không bị quấy rầy gì thêm nữa. Cuối cùng chúng tôi đã lên được tới mái nhà, có mấy đứa trẻ đang chơi đùa cách chúng tôi vài căn.
Kennedy bắt đầu bằng cách thả hai sợi dây điện xuống nền đất phía sân sau hiệu thuốc của Vincenzo. Sau đó, anh tiến hành đặt hai sợi dây dọc theo mép mái nhà. Chúng tôi mới làm được một lúc thì lũ trẻ bắt đầu chạy lại xem. Nhưng Kennedy vẫn tiếp tục nhiệm vụ cho đến khi chúng tôi sang được cư xá bên cạnh quán của Albano.
“Walter.” Anh thì thầm. “Giờ hãy bảo bọn trẻ đi chỗ khác đi, chỉ một ít phút thôi.”
“Nghe nào, mấy nhóc.” Tôi hét lên. “Sẽ có đứa nào đó trong bọn cháu rơi xuống nếu đến quá gần mép mái nhà như vậy đấy. Lùi lại đi nào.”
Song không có tác dụng. Có vẻ chúng chẳng hề biết sợ trước một đống dây phơi quần áo nhiều tới chóng mặt ở bên dưới một chút nào.
“Này, có cửa hàng bán kẹo nào trong khu nhà này không?” Tôi hỏi trong tuyệt vọng.
“Có ạ, thưa ngài.” Chúng đồng thanh đáp lời.
“Ai sẽ xuống mua cho ta một chai rượu gừng đây?” Tôi hỏi.
Một bản đồng thanh những giọng nói cùng đôi mắt lấp lánh chính là câu trả lời. Tất cả bọn chúng đều muốn đi. Tôi móc trong túi ra đồng năm mươi xu* và đưa cho đứa lớn tuổi nhất trong số chúng.
“Được rồi, đi đi và chia tiền thừa cho nhau nhé.”
Bóng dáng bọn trẻ khuất dần sau vô số tiếng bước chân nhốn nháo, còn chúng tôi rốt cuộc cũng được ở một mình. Kennedy lúc này đã sang được tới mái của quán Albano. Ngay khi cái bóng cuối cùng của bọn nhóc biến mất dưới lỗ thông mái nhà, anh liền thả hai sợi dây dài xuống sân sau chỗ đó, như anh đã từng làm ở cư xá của hiệu thuốc Vincenzo.
Tôi đang định quay về chỗ mái cư xá của hiệu thuốc, nhưng anh đã ngăn tôi làm thế.
“Ồ, làm vậy không ổn đâu.” Anh nói. “Bọn trẻ sẽ nhận ra đống dây kia dẫn tới đây. Tôi phải mang chúng qua một vài ngôi nhà xa hơn nữa để tung hỏa mù, cũng như để tin vào vận may rằng chúng sẽ không nhận ra các sợi dây điện đang được thả xuống dưới.”
Chúng tôi đã xuôi xuống thêm vài ngôi nhà, vẫn đang giăng dây điện khi đám nhóc kia reo hò quay trở lại. Mặt mày chúng dính đầy loại kẹo rẻ tiền được sản xuất bởi các xí nghiệp liên hợp lẫn sô cô la đen của miền Đông. Chúng tôi khui chai rượu gừng và ép mình phải uống để không gây nghi ngờ. Vài phút sau, chúng tôi quay lại mái nhà của cư xá chỗ quán Albano và xuống tầng trệt bằng cầu thang, rồi đứng nép vào góc tối gần đó để quan sát.
Tôi đang tự hỏi làm thế nào Kennedy vào được quán của Albano lần nữa mà không gây nghi ngờ. Thế nhưng, anh đã giải quyết rất gọn ghẽ.
“Giờ thì, Walter, anh có nghĩ mình có thể chịu đựng thêm một chầu rượu vang đỏ rẻ tiền nữa của quán Albano không?”
Tôi đáp rằng mình có thể làm được vì lợi ích của khoa học và công lý, chứ không phải vì bất cứ điều gì khác.
“Chà, mặt anh cũng đủ lem nhem rồi đó.” Anh nhận xét. “Vậy nên với bộ quần áo bảo hộ này, trông anh chẳng còn giống lần đầu bước chân vào trong đó nữa đâu. Tôi không nghĩ họ sẽ nhận ra anh. Trông tôi cũng khá ổn chứ nhỉ?”
“Trông anh như một tay khuân vác thất nghiệp ấy.” Tôi nói. “Chắc chắn là tôi không thể kiềm chế được sự thán phục của mình rồi.”
“Được. Vậy thì hãy cầm cái chai thủy tinh nho nhỏ này. Đi vào phòng sau và gọi một thứ gì đó rẻ tiền, phù hợp với diện mạo của anh nhé. Sau đó, khi chỉ còn một mình, hãy đập vỡ cái chai. Bên trong chứa đầy khí đốt đấy. Mũi của anh sẽ quyết định xem nên làm gì tiếp theo. Chỉ cần nói với ông chủ quán rằng anh đã nhìn thấy chiếc xe goòng của công ty khí đốt ở dãy nhà kế bên, rồi lên đây thông báo lại cho tôi là được.”
Tôi bước vào đó. Có một gã đàn ông với dáng vẻ sát khí đằng đằng cùng một kiểu khôn lỏi vô liêm sỉ nào đấy đang ngồi hí hoáy viết gì đó trên một chiếc bàn. Trong lúc gã ta vừa viết vừa phì phèo điếu xì gà của mình, tôi để ý thấy một vết sẹo hằn trên gương mặt gã. Vết sẹo ấy kéo một đường rãnh sâu hoắm, chạy từ dái tai đến tận miệng. Tôi biết đó là dấu sắt nung mà băng đảng Camorra đã để lại trên mặt gã. Tôi ngồi hút thuốc và chầm chậm nhấm nháp ly rượu trong vài phút, thầm nguyền rủa trong lòng vì sự hiện diện của gã ta hơn là vì cái diện mạo “mala vital*” kia. Cuối cùng, gã ta cũng chịu ra phòng ngoài để xin ông chủ quán một chiếc tem thư.
Tôi mau chóng nhón chân qua một góc khác của căn phòng, đặt cái chai nhỏ xuống dưới sàn và dùng gót chân giẫm vỡ nó. Rồi tôi quay trở lại chỗ ngồi. Cái mùi đang tỏa khắp căn phòng kia thật sự rất kinh tởm.
Người đàn ông với dáng vẻ sát khí cùng vết sẹo đó lại bước vào và khịt mũi hít ngửi. Tôi khịt khịt theo. Sau đó, ông chủ quán bước vào rồi cũng hít lấy hít để.👁️
“Này.” Tôi nói bằng giọng cứng rắn nhất có thể. “Ông bị rò ga rồi. Mà khoan. Tôi đã nhìn thấy xe goòng của công ty khí đốt ở dãy nhà kế bên lúc bước vào đây đấy. Để tôi đi kiếm gã đó cho.”
Rồi tôi lao ra ngoài và vội vã bước lên phố để tới chỗ Kennedy đang sốt sắng đợi mình. Lạch cạch gom vội mớ dụng cụ, anh đi theo tôi với vẻ rất miễn cưỡng.
Lúc bước vào quán rượu, anh liền khịt mũi hít ngửi, theo kiểu mấy gã chuyên kiểm tra dụng cụ đo khí. “Rò rỉ ở đâu nhỉ?”
“Anh phải là người ờ... tìm ra chỗ rò chứ.” Albano càu nhàu. “Không phải đó ờ... là phần việc ờ... giúp anh được trả công hay sao? Hay chẳng lẽ anh muốn ờ... tôi làm hộ công việc cho anh?”
“Vậy thì, tám người Ý các ông biến ra khỏi tây ngay, tất cả chỉ vậy thôi. Hay tám các ông muốn bị thổi bay tành từng mảnh cùng tống tẩu tiếc và thuốc lá ấy hả? Biến ngay!” Kennedy gầm gừ.
Họ hấp tấp ra ngoài và Craig vội vàng mở túi đồ nghề của mình ra.
“Nhanh lên, Walter, đóng cửa lại rồi giữ yên như thế nhé.” Craig kêu lên, thao tác rất nhanh chóng. Anh mở một gói nhỏ, lấy ra thứ gì đó trông giống như một chiếc đĩa tròn và phẳng dẹt bằng cao su lưu hóa màu đen. Nhảy lên một cái bàn, anh cố định nó vào đỉnh chóp của mũ chụp đèn măng xông.
“Ở dưới đó nhìn lên anh có nhìn thấy nó không, Walter?” Anh thì thầm hỏi.
“Không.” Tôi đáp. “Ngay cả khi tôi biết là nó đang ở đấy đi nữa.”
Sau đó, anh gắn thêm vài sợi dây điện vào chiếc đĩa và luồn chúng qua trần nhà về phía cửa sổ, rồi giấu thật kĩ bằng cách dán chúng vào chỗ khuất của một thanh dầm. Ở cửa sổ, anh nhanh chóng gắn các dây điện kia vào hai sợi đang rủ xuống từ trên mái nhà rồi gạt chúng ra khỏi tầm mắt.
“Chúng ta sẽ buộc phải tin tưởng là sẽ không một ai phát hiện ra chúng.” Anh nói. “Đó là điều tốt nhất tôi có thể làm được trong thời gian ngắn ngủi như vậy. Dù sao, tôi cũng chưa bao giờ thấy căn phòng nào trống trải như thế này. Chẳng còn bất kì chỗ nào khác để tôi có thể đặt thứ đó mà không bị phát hiện ra cả.”
Chúng tôi nhặt nhạnh những mảnh thủy tinh vỡ của cái chai đựng khí đốt, sau đó tôi ra mở cửa.
“Giờ thì ổn thỏa hết rồi đấy.” Craig nói, thong thả bước ra trước quán rượu. “Chỉ có tiều lần tới ông gặp phải bất kì vấn tề gì thì hãy gọi tẳng cho công ty. Tôi không tược phép làm tê này mà khôn có chỉ tị, hiểu chứ?”
Một lát sau, tôi ra theo, mừng rỡ khi đã thoát ra khỏi bầu không khí ngột ngạt kia và gặp lại anh ở sân sau hiệu thuốc của Vincenzo. Tới nơi, tôi thấy anh vẫn đang miệt mài làm gì đó. Vì hiệu thuốc không có cửa sổ hướng ra sân sau, cho nên việc vòng dây điện từ trên mái vào cửa sổ khác của hiệu thuốc quả là một nhiệm vụ khó nhọc. Thế nhưng, mọi chuyện cuối cùng cũng xong xuôi mà không gây ra bất cứ một sự nghi ngờ nào. Kennedy đã luồn chúng vào trong một chiếc hộp hình chữ nhật bằng gỗ sồi khá tàn tạ và nối các đầu dây điện vào một cặp pin khô được chế tạo đặc biệt.
“Giờ thì...” Craig nói khi chúng tôi lau những vết bẩn lem nhem trên mặt do trước đó bôi lên, rồi cất hai bộ đồ bảo hộ lao động trở lại trong va li. “Mọi việc đã xong xuôi theo đúng như ý tôi. Tôi có thể bảo Gennaro cứ yên tâm tới gặp đám Bàn Tay Đen đó rồi.”
Từ hiệu thuốc của Vincenzo, chúng tôi đi bộ về phía khu phố trung tâm, nơi Kennedy và tôi đã từng bỏ Luigi lại để ông ấy quay trở về nhà hàng của mình. Kennedy cũng đã dặn Luigi một vài điều cần được tiến hành tại hiệu thuốc của Vincenzo vào lúc mười một giờ rưỡi đêm hôm đó.
Chúng tôi rẽ vào trụ sở cảnh sát mới và đi dọc theo hành lang dài dằng dặc dẫn tới Đơn vị Ý. Kennedy gửi thẻ của mình cho Trung úy phụ trách Giuseppe, vậy là chúng tôi nhanh chóng được mời vào. Viên trung úy là một người Ý với dáng người thấp bé, khuôn mặt đầy đặn và mập mạp, vói mái tóc hơi sáng màu cùng đôi mắt trông có vẻ đờ đẫn. Nhưng nếu tiếp xúc đủ lâu, thì một lúc nào đó người ta sẽ phát hiện ra rằng đó chỉ là vỏ bọc ẩn giấu sự suy xét thâm sâu của ông ta mà thôi.
Kiểu người này sẽ ghim chặt từng chi tiết sự việc liên quan vào tâm trí, tựa như một tấm kính ảnh nhạy sáng vậy.
“Tôi muốn thảo luận về vụ Gennaro.” Craig mở lời. “Đồng thời, tôi có thể bổ sung thêm rằng mình đã hợp tác khá chặt chẽ với thanh tra O’Connor của Văn phòng Trung tâm trong một số vụ án. Vì vậy, tôi nghĩ chúng ta có thể tin tưởng ở nhau. Ông có thể vui lòng cho tôi biết những thông tin ông đã nắm được về vụ này hay không, nếu tôi hứa tôi cũng sẵn sàng tiết lộ vài điều?”
Viên trung úy ngả người ra phía sau và ngấm ngầm quan sát Kennedy thật kĩ, nhưng điệu bộ vẫn tỏ ra như bình thường. “Hồi tôi ở Ý năm ngoái...” Cuối cùng ông ta cũng đáp lời. “Tôi thành công lần ra tung tích của vài kẻ tình nghi thuộc băng đảng Camorra. Tôi đã có được nguồn tin tiết lộ về thân phận của vài kẻ trong số chúng để tra cứu hồ sơ - tôi không muốn đề cập nguồn tin này từ đâu mà có, nhưng đó thật sự là một lời mách nước rất hữu ích. Phần lớn bằng chứng phạm tội của một số tên đang bị xét xử ở thành phố Viterbo, nước Ý được lực lượng Carabinieri* thu thập, đều là nhờ vào những manh mối mà tôi đã gợi ý cho họ. Tất nhiên, những gợi ý đó là do nguồn tin mà tôi vừa nhắc đến cung cấp và nó đến từ chính nước Mỹ này. Nhưng dù sao, tôi cho là thực sự không cần phải che giấu chuyện đó. Nguồn tin ban đầu tới từ một chủ ngân hàng nào đó ở New York.”
“Tôi có thể đoán ra đấy là ai.” Craig gật đầu.
“Vậy thì, như anh hẳn đã biết, ông chủ ngân hàng này đúng là một chiến thần. Ông ta chính là người đã sáng lập ra Bàn Tay Trắng - một tổ chức đang cố gắng giải thoát cho những người dân Ý khỏi lũ Bàn Tay Đen. Tổ chức của ông ta có rất nhiều bằng chứng liên quan tới các cựu thành viên của cả băng đảng Camorra ở Naples và băng đảng Mafia ở Sicily, cũng như các băng đảng Bàn Tay Đen ở New York, Chicago và các thành phố khác. Chà, chắc anh cũng đoán được rồi, là Cesare, cha vợ của Gennaro.”
“Khi đang ở Naples tra cứu hồ sơ của một tên tội phạm, tôi đã được nghe tin về một vụ giết người kỳ quái từng xảy ra cách đây vài năm. Có một bậc thầy âm nhạc già cả và lương thiện, một người dường như đã sống cả một đời yên lặng và không làm hại bất kì ai trên đời. Nhưng mọi chuyện dần dần sáng tỏ rằng ông ta đã được Cesare hậu thuẫn và đã nhận được những món quà hậu hĩ từ ông ta. Hẳn anh đã đoán được, ông già đó là thầy dạy nhạc đầu tiên của Gennaro, người đã phát hiện ra tài năng của anh ta. Có thể người khác không hiểu được tại sao ông ta lại có kẻ thù, nhưng vẫn có rất nhiều kẻ thèm khát gia tài nhỏ bé của ông ta. Một hôm, ông ta bị đâm và bị cướp. Kẻ sát hại ông ta đã chạy ra ngoài đường, la lên rằng người đàn ông tội nghiệp đó đã bị giết. Hiển nhiên, cả một đám người đã lập tức ùa tới, vì lúc ấy đang là giữa ban ngày ban mặt. Trước khi ông ta kịp nhận ra ai là kẻ đã tấn công mình, tên ám sát đó đã đi xuôi xuống phố và lạc vào mê cung của thành phố cổ Naples.
Có lẽ hắn đã lẩn trốn đâu đó ở nhà của người quen. Nghi phạm được cho là Francesco Paoli, đã trốn đến New York. Hiện tại, chúng tôi vẫn đang tìm kiếm hắn ta. Hắn ta là một kẻ thông minh vượt xa mức bình thường. Là con trai của một vị bác sĩ, sinh sống tại một thị trấn cách Naples vài cây số, từng học đại học, nhưng sau đó bị đuổi vì một trò chơi khăm điên rồ nào đó. Tóm lại, hắn ta chính là một con “cừu đen*” trong gia đình. Dĩ nhiên, xuất thân cao quý của hắn ta sao có thể làm mấy việc chân tay ngoài đường sắt hay trong các hầm hào, song lại không đủ trình độ văn hóa để làm được bất cứ việc gì khác. Thế nên, hắn ta đã dùng cách tống tiền những người đồng hương chăm chỉ làm việc hơn của mình - một cách điển hình của những kẻ sống khôn lỏi, không làm mà đòi có ăn.” Kennedy nói.
“Giờ thì, tôi không ngại tiết lộ với anh một điều hoàn toàn tuyệt mật rằng...” Viên trung úy tiếp tục. “Theo giả thuyết của tôi, lão Cesare kia đã từng thấy Paoli ở đây, biết hắn ta bị truy nã vì tội sát hại người thầy dạy nhạc già cả và đã mách nước cho tôi tra cứu hồ sơ của hắn ta. Nhưng Paoli đã biến mất ngay sau khi tôi quay trở về từ nước Ý. Và kể từ lúc đó, chúng tôi chẳng thể xác định được hành tung của hắn ta thêm một lần nào nữa. Chắc hẳn, hắn ta đã đánh hơi được rằng nguồn tin khiến hắn bị truy đuổi là do Bàn Tay Trắng cung cấp. Hắn ta từng là một tay Camorra ở Ý và có vô số cách để moi móc thông tin trên đất Mỹ này”
Ông ta dừng lại trong chốc lát, rồi cầm lên một mảnh bìa cứng trong tay.
“Giả thuyết của tôi về vụ này là nếu có thể xác định được vị trí của tay Paoli đó, chúng ta sẽ có khả năng giải quyết rất nhanh chóng vụ bắt cóc cô bé Adelina Gennaro. Đây là chân dung của hắn ta.”
Khi tôi và Kennedy cúi xuống xem bức hình, tôi đã giật mình kinh ngạc. Đó chính là anh bạn trông có vẻ sát khí với vết sẹo dài trên má của tôi.
“Chà.” Craig nói, lặng lẽ trả lại tấm ảnh. “Dù hắn ta có phải là kẻ đó hay không, tôi biết tối nay chúng ta có thể tóm bọn bắt cóc này ở đâu đấy, trung úy.”
Giờ thì tới lượt Giuseppe tỏ vẻ rất ngạc nhiên.
“Nếu như có được sự giúp đỡ của ông, tôi sẽ bắt được tên này và toàn bộ băng nhóm của hắn ta tối nay.” Craig giải thích, nhanh chóng phác thảo kế hoạch của mình và giấu giếm vừa đủ để đảm bảo rằng, dù viên trung úy kia có đang nóng lòng lập công tới mức nào, ông ta cũng sẽ không thể làm hỏng việc bằng cách can thiệp sớm hơn so với kế hoạch được.
Chuyện cuối cùng cần phải sắp xếp là bốn người trong số những viên cảnh sát tinh nhuệ nhất của đơn vị sẽ ẩn mình trong một cửa hàng trống, ở đối diện với hiệu thuốc của Vincenzo khi trời vừa sẩm tối, trước khi có ai đó kịp để mắt tới. Tín hiệu để họ ló mặt ra chính là khi ánh đèn trên khung cửa sổ của cửa hàng thuốc vụt tắt. Cùng lúc đó, một chiếc taxi chở ba viên cảnh sát lão luyện khác đã được bố trí xong và họ đang chờ đợi hiệu lệnh qua điện thoại để đi tới một địa chỉ cho sẵn.
Chúng tôi nhận ra Gennaro đang đợi mình với một vẻ lo lắng tột độ tại nhà hát opera. Quả bom ở ngân hàng Cesare chỉ là giọt nước tràn ly mà thôi. Gennaro đã đi rút từ ngân hàng của mình mười cọc tiền một ngàn đô la* mới cóng và đã cầm sẵn một tờ II Progresso, để giấu những tờ tiền vào giữa các trang báo.
“Ông Kennedy này...” Ông ta nói. “Tôi sẽ đi gặp họ đêm nay. Họ có thể giết tôi. Ông thấy chứ, tôi đã chuẩn bị sẵn cho mình một khẩu súng lục - tôi cũng sẽ chiến đấu trong trường hợp bắt buộc, vì Adelina bé bỏng của tôi. Nhưng nếu chúng chỉ muốn có tiền, tôi sẽ cho chúng hết.”
“Một điều tôi muốn nói...” Kennedy mở lời.
“Không, không, không!” Giọng nam cao nức nở. “Tôi sẽ đi... ông sẽ không thể ngăn cản được tôi đâu.”
“Tôi không muốn ngăn cản ông.” Craig trấn an ông ta. “Nhưng có một điều là hãy làm chính xác những gì tôi đã nói với ông. Tôi thề rằng cô bé sẽ không bị tổn hại một sợi tóc nào và chúng ta thậm chí còn bắt được cả những tên tống tiền kia nữa.”
“Làm thế nào cơ?” Gennaro háo hức trở lại và hỏi. “Ông muốn tôi làm gì?”
“Tất cả những gì tôi muốn ông làm là hãy đến quán của Albano vào thời gian đã định. Ngồi ở phòng phía sau, nói chuyện với chúng. Và trên hết, thưa ông, ngay khi ông lấy được tờ Bolletino, hãy lật nó sang trang thứ ba, giả vờ không thể đọc được địa chỉ trên đó. Rồi yêu cầu gã kia đọc nó cho mình. Sau đó nhắc lại lời gã ta. Giả vờ vui mừng khôn xiết. Đề nghị đãi rượu cho cả đám người ấy. Chỉ mất vài phút. Đây là tất cả những gì tôi yêu cầu, và tôi đảm bảo rằng ngày mai, ông sẽ là người đàn ông hạnh phúc nhất New York này.”
Gennaro rơm rớm nước mắt khi ông ta nắm lấy bàn tay Kennedy. “Như thế còn tốt hơn là để toàn bộ lực lượng cảnh sát hỗ trợ tôi.” Ông ta nói. “Tôi sẽ không bao giờ quên, không bao giờ quên đâu.”
Khi tôi và Kennedy ra khỏi nhà hát, Kennedy nhận xét: “Anh không thể nào trách cứ họ vì cứ khăng khăng muốn tự giải quyết rắc rối và không cần sự giúp đỡ của cảnh sát được. Để tôi phân tích nhé. Chúng ta từng đề nghị một sĩ quan cảnh sát qua nước Ý để tra cứu hồ sơ của vài tay nghi phạm gian manh nhất. Anh ta đã hy sinh. Một người khác thay thế vị trí của anh ta. Rồi sau khi từ Ý trở về, anh ta bắt tay ngay vào vòng lặp nhàm chán mỗi ngày của công việc bàn giấy là dịch thuật giấy tờ. Một trong các cộng sự của anh ta bị hạ bậc. Và rồi, còn chuyện gì xảy ra nữa đây? Hàng trăm hồ sơ chỉ còn là một mớ giấy lộn, bởi vì trong vòng ba năm mà chẳng có bất cứ động thái nào được thực hiện. Trong khi đó, những tên tội phạm kia có khả năng đã trốn ra nước ngoài. Rất gian manh, phải không? Tôi tin chúng ta đã xác minh được danh tính của bảy trăm nghi phạm người Ý tất thảy, ngoại trừ khoảng năm mươi người trong số đó vẫn còn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật và đang tập trung hầu hết ở thành phố này. Vậy mà, phần còn lại của cộng đồng dân cư người Ý đang được bảo vệ khỏi chúng bởi một đội cảnh sát, có số lượng chỉ bằng một phần ba mươi tổng số những tên tội phạm đã xác định kia. Không, đó chính là lỗi của chúng ta nếu để Bàn Tay Đen ngày càng thêm lớn mạnh.”
Chúng tôi đang đứng ở góc đường Broadway, đợi xe tới.
“Nào, Walter, đừng quên nhé. Gặp tôi ở ga tàu điện ngầm trên phố Bleecker vào lúc mười một giờ rưỡi. Tôi phải tới trường đại học đây. Tôi có vài thí nghiệm rất quan trọng với muối phát quang cần phải hoàn thành ngay hôm nay.”
“Chuyện đó có liên quan gì tới vụ án cơ chứ?” Tôi hỏi, cảm thấy hơi khó hiểu.
“Không liên quan gì hết.” Craig đáp. “Tôi đâu có nói là có đâu. Lúc mười một giờ rưỡi nhé, đừng quên đấy. Mặc dù, lạy Chúa, gã Paoli đó chắc chắn phải là một tay rất gian xảo - cứ nghĩ tới sự hiểu biết của hắn ta về ricin mà xem. Bản thân tôi mới chỉ được nghe nhắc về nó gần đây thôi đấy. Chà, xe của tôi tới rồi. Tạm biệt.”
Craig nhảy lên một chiếc xe hơi trên Đại lộ Amsterdam, bỏ mặc tôi tự giết thời gian suốt tám tiếng đồng hồ với tâm trạng tràn đầy lo lắng. Tôi rảnh lâu như vậy bởi lẽ hôm nay là ngày nghỉ hằng tuần, theo chế độ của tòa soạn thời báo Star, nơi tôi làm việc.
Cuối cùng thì tám tiếng địa ngục cũng trôi qua, đúng thời điểm đã định, tôi và Kennedy lại tụ họp. Với sự phấn khích bị kìm nén, chí ít là với tôi, chúng tôi đi bộ tới hiệu thuốc của Vincenzo. Vào ban đêm, khu vực này của thành phố quả là một nơi bí ẩn và đầy tăm tối. Đèn đóm trong các cửa hàng bán dầu ô liu, bán hoa quả hay bán những thứ khác đều lần lượt vụt tắt. Đâu đó quanh đây vọng lại những điệu nhạc phát ra từ các cửa hàng rượu vang, hòa cùng tiếng trò chuyện sôi nổi của những tốp người đang nán lại bên các góc phố. Chúng tôi đi ngang qua quán Albano ở phía bên kia đường, cẩn thận không nhìn nó quá chăm chú. Bởi có mấy gã đàn ông vẫn đang lảng vảng gần đấy, chắc hẳn là đám lính canh. Và bằng ám hiệu nào đó, chúng sẽ lập tức báo tin cho nhau nếu thấy bất kì động thái đáng ngờ nào.
Ở góc phố, chúng tôi chầm chậm dạo bước và nhìn vào cửa sổ của hiệu thuốc Vincenzo một lúc. Thi thoảng lại len lén liếc nhìn sang phía bên kia đường, tới chỗ cửa hàng trống trải và tối tăm mà mấy viên cảnh sát hiện đang ẩn náu. Sau đó, chúng tôi thản nhiên đi vào hiệu thuốc và thong thả tiến tới đằng sau vách ngăn. Luigi đã đứng sẵn ở đấy rồi. Tuy nhiên, vẫn còn vài ba vị khách ở đây, chúng tôi đành ngồi im lặng trong khi Vincenzo mau chóng hoàn thành xong đơn thuốc và phục vụ nốt vị khách cuối cùng.
Cuối cùng, những cánh cửa cũng đã được khóa lại và đèn đóm được vặn nhỏ xuống, trừ ngọn đèn trên cửa sổ được dùng làm tín hiệu.
“Mười hai giờ kém mười.” Kennedy nói, đặt chiếc hộp hình chữ nhật lên bàn. “Gennaro sẽ sớm vào quán thôi. Chúng ta hãy thử chiếc máy ngay bây giờ và xem nó có hoạt động không nhé. Nếu dây điện bị cắt kể từ lúc chúng ta lắp chúng vào sáng nay, Gennaro sẽ buộc phải mạo hiểm một mình.”
Kennedy với tay qua và bằng một cử chỉ rất nhẹ nhàng của ngón tay trỏ, anh chạm vào một chiếc công tắc.
Ngay lập tức, một loạt giọng nói vang vọng trong cửa hàng, tất cả đều đồng loạt lên tiếng, rất nhanh và rất lớn. Đâu đó chúng tôi có thể phân biệt được một đoạn hội thoại ngắn, một từ, một cụm từ, đôi khi thậm chí cả một câu hoàn chỉnh trên nền những thanh âm hỗn loạn. Có tiếng lanh canh của ly cốc. Tôi có thể nghe được tiếng lạch cạch của xúc xắc trên chiếc bàn trống trải cùng một lời chửi thề. Một tiếng bật nút chai. Ai đó quẹt một que diêm.
Chúng tôi ngồi ngơ ngác, rồi quay sang nhìn chằm chằm Kennedy đợi chờ một lời giải thích.
“Hãy thử hình dung các vị đang ngồi ở một chiếc bàn trong phòng phía sau của quán Albano.” Là tất cả những gì anh nói. “Đây chính là những gì các vị sẽ nghe thấy. Nó là “đôi tai điện tử” của tôi. Nói cách khác, nó là máy truyền thanh đã từng được sử dụng bởi Cơ quan Mật vụ Hoa Kỳ, theo tôi được biết thì là thế. Chờ chút, chỉ ít phút nữa thôi, các vị sẽ nghe được tiếng Gennaro bước vào. Luigi và Vincenzo, hãy dịch lại những gì các ông đã nghe được. Kiến thức về tiếng Ý của tôi khá cùn rồi.”
“Họ có nghe được chúng ta không?” Luigi thì thầm trong khiếp sợ.
Craig bật cười. “Không, vẫn chưa. Nhưng, chỉ cần chạm vào cái công tắc còn lại, tôi sẽ có thể tạo ra một hiệu ứng trong căn phòng kia, thứ sẽ sánh ngang được với dòng chữ nổi tiếng trên bức tường của triều đại Belshazzar*. Chỉ có điều, đó sẽ là giọng nói vọng ra từ bức tường, thay vì dưới dạng chữ viết.”
“Có vẻ chúng đang đợi ai đó.” Vincenzo nói. “Tôi nghe có người nói: Ông ta sẽ có mặt ở đây trong vòng vài phút nữa. Giờ hãy ra ngoài đi.”
Những tiếng ồn ào bát nháo dường như đã lắng xuống khi mấy gã đàn ông rút lui khỏi phòng. Chỉ còn lại khoảng một, hai người.
“Một trong số bọn chúng đang bảo rằng đứa trẻ không hề hấn gì cả. Nó đã bị bỏ lại ở sân sau.” Luigi dịch.
“Sân nào cơ? Hắn có nhắc tới chỗ nào không?” Kennedy hỏi.
“Không, họ chỉ gọi nó là sân thôi.” Luigi trả lời.
“Jameson, anh đi ra bốt điện thoại ngoài cửa hàng và gọi lên trụ sở đi. Hỏi họ xem xe cộ đã sẵn sàng hay chưa, cả những người trên xe nữa.”
Tôi gọi điện và một lúc sau, trung tâm cảnh sát trả lời rằng mọi thứ đều đã được sắp xếp ổn thỏa.
“Vậy thì, hãy bảo trung tâm giữ vững đường dây liên lạc - chúng ta không được để lỡ một giây phút nào đâu. Jameson, anh hãy ở yên trong bốt nhé. Vincenzo, ông hãy giả vờ như đang mải làm việc quanh ô cửa sổ, nhưng không phải theo cách thu hút sự chú ý nhất, vì chúng có người canh gác đường phố rất cẩn thận đấy. Có chuyện gì vậy, Luigi?”
“Gennaro đang đến. Tôi vừa nghe thấy một trong bọn chúng nói: Ông ta tới đây rồi”
Ngay cả từ bốt điện thoại, tôi vẫn có thể nghe được tiếng chiếc máy truyền thanh kia phát lại cuộc trò chuyện trong căn phòng nhỏ xíu và bẩn thỉu phía sau của quán Albano ở cuối con phố.
“Ông ấy đang gọi một chai rượu vang đỏ.” Luigi thì thầm, nhảy cẫng lên vì phấn khích.
Vincenzo lo lắng tới mức làm đổ cả một cái chai trên cửa sổ. Còn tôi thì tin rằng nhịp tim của mình gần như có thể nghe thấy rõ qua chiếc điện thoại tôi đang cầm trên tay, vì người trực tổng đài của cảnh sát đã gọi cho tôi rất nhiều lần để hỏi xem mọi thứ đã sẵn sàng hay chưa.
“Đây rồi - tín hiệu.” Craig kêu lên. ”I Pagliacci là một vở opera tuyệt vời. Giờ hãy lắng nghe câu trả lời đi nào.”
Một khoảnh khắc trôi qua, rồi: “Nó sẽ không tuyệt đến vậy nếu không có Gennaro.” Một giọng nói cộc cằn bằng tiếng Ý vang lên từ chiếc máy truyền thanh.
Một sự im lặng kéo dài ngay sau đó. Thật là căng thẳng.
“Đợi đã, đợi đã.” Một giọng nói mà tôi có thể nhận ra ngay lập tức là của Gennaro. ”Tôi không thể đọc được từ này. Cái gì đây, số 23 phố Prince hả?”
”Số 33. Con bé đang bị bỏ lại ở sân sau.” Giọng nói kia trả lời.
“Jameson.” Craig gọi. “Bảo họ lái thẳng đến số 33 phố Prince, họ sẽ tìm thấy cô bé ở sân sau. Nhanh lên, trước khi đám Bàn Tay Đen kia có cơ hội nuốt lời!”
Tôi gần như hét lên các chỉ thị của mình với trụ sở cảnh sát. “Họ xuất phát rồi” là câu trả lời đáp lại và tôi cúp máy.
“Chuyện gì vậy?” Craig đang hỏi Luigi. “Tôi không nghe được. Họ đã nói gì?”
“Giọng nói kia vừa bảo Gennaro: Hãy ngồi xuống trong khi tôi đếm cái này.
“Suỵt! Hắn ta lại đang nói nữa rồi.
”Nếu đống tiền này có giá trị nhỏ hơn mười ngàn đô la hoặc tôi phát hiện ra bất cứ dấu vết nào trên các tờ tiền đó, tôi sẽ gọi cho Enrico và ông đừng hòng nhìn thấy con gái của mình nữa.” Luigi dịch.
“Giờ thì, Gennaro đang nói.” Craig nói. “Tốt... ông ấy đang tranh thủ thời gian, ông ấy đúng là một con át chủ bài trong ván cược này. Tôi có thể nhận ra là mọi chuyện vẫn ổn. Ông ấy đang hỏi gã có giọng nói cộc cằn kia xem gã ta có muốn uống thêm một chai rượu nữa không. Hắn ta bảo có. Tốt. Giờ thì chắc họ đã tới phố Prince rồi, chúng ta sẽ cho họ thêm một vài phút nữa, không quá nhiều. Bởi tin tức sẽ lan trở lại quán Albano nhanh như cháy rừng vậy và cuối cùng chúng sẽ bắt được Gennaro. À, họ lại đang uống rồi. Có chuyện gì vậy, Luigi? Chỗ tiền kia ổn cả, hắn ta vừa nói thế phải không? Giờ thì, Vincenzo, tắt đèn đi!”
Một cánh cửa mở sầm phía bên kia đường, rồi bốn bóng đen khổng lồ lao vút ra và tiến về quán Albano.
Bằng một ngón tay, Kennedy kéo công tắc còn lại và hét lên: “Gennaro, là Kennedy đây! Ra đường ngay! Polizia! Polizia*”
Một cuộc hỗn chiến cùng một tiếng kêu đầy kinh ngạc kéo theo ngay sau đó. Một giọng nói thứ hai, có vẻ đang được phát ra từ quầy bar, hét lên: ”Tắt đèn, tắt đèn đi!”
Pằng! Một tiếng nổ vang lên từ một khẩu súng lục, rồi thêm một tiếng khác.
Chiếc máy truyền thanh vừa mới phát ra âm thanh ồn ã một giây trước, giờ đây đã lặng thinh như một hộp xì gà.
“Có chuyện gì vậy?” Tôi hỏi Kennedy, khi anh lao vụt qua người tôi.
“Chúng tắt hết đèn rồi. Thiết bị truyền thanh của tôi đã bị hủy. Đi nào, Jameson! Vincenzo, ở lại đi, nếu ông không muốn lộ diện trong vụ này.”
Một dáng người thấp bé lao vụt qua người tôi, nhanh hơn cả tốc độ mà tôi có khả năng đạt tới. Đó là Luigi trung thành!
Trước mặt tiền của quán Albano, một cuộc chiến thú vị đang diễn ra. Những phát súng đang được bắn loạn xạ trong bóng tối và những cái đầu ló ra khỏi các ô cửa sổ của cư xá từ bốn phương tám hướng. Khi Kennedy và tôi lao mình vào đám đông, chúng tôi thoáng trông thấy Gennaro, trên vai ông ấy có một vết cắt đang ứa máu. Ông ấy đang vật lộn với một anh cảnh sát, trong khi Luigi đang cố chen mình vào giữa hai người bọn họ, một cách đầy vô vọng. Một người đàn ông bị giữ chặt bởi một viên sĩ quan khác đang cố giục giã anh cảnh sát kia. “Chính là gã đó.” Anh ta đang gào lên. “Hắn chính là kẻ bắt cóc. Tôi tóm được hắn rồi.”👁️
Trong khoảnh khắc, Kennedy đã ở phía sau anh ta. “Paoli, ông nói dối! Ông mới chính là kẻ bắt cóc. Bắt lấy hắn - hắn đang giữ tiền trên người đây! Người kia chính là Gennaro.”
Anh cảnh sát thả giọng nam cao ra và cả hai người họ đều xông vào bắt giữ Paoli. Những người khác đang đập liên tục vào cánh cửa, nó đang bị chặn lại từ bên trong.
Đúng lúc đó, một chiếc taxi loạng choạng phóng tới chỗ họ. Ba người đàn ông nhảy ra, tiếp thêm sức mạnh cho những người đang cố gắng đạp đổ hàng rào chống cự của đám người trong quán Albano.
Gennaro chợt hốt hoảng kêu lên và nhanh chân nhảy lên taxi. Qua vai của ông ấy, tôi có thể nhìn ra một mớ tóc xoăn màu nâu sẫm rối bù cùng một giọng nói trẻ con ngọng nghịu. “Sao cha không tới đón con, hả cha? Người xấu bảo con rằng nếu con đợi ngoài sân, cha sẽ đến đón con. Nhưng nếu con la lên, ông ta bảo ông ta sẽ bắn con. Và con đã đợi, rồi lại đợi...”
“Nào, nào, Una! Cha sẽ đưa con về nhà với mẹ nhé.”
Một tiếng đổ sầm chợt vang lên khi cánh cửa cuối cùng cũng chịu thua, băng đảng Paoli khét tiếng đã nằm gọn trong bàn tay của pháp luật.