Bàn Tay Đen

Lượt đọc: 493 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2. CÂY BÚT CÓ ĐỘC
part2

Sau khi trở về từ chuyến đi vội vã lên thành phố để giải quyết một vài công việc ở tòa soạn thời báo Star, bỗng tôi nhận được một tin nhắn khẩn cấp từ Kennedy. Bước chân đến cửa phòng anh, đập vào mắt tôi là chiếc va li đang mở toang trên giường, còn anh thì đang lấy đồ ra khỏi tủ com mốt và ném bừa vào ngăn đựng của va li.

“Lại đây nào, Walter.” Anh giục giã, vội vàng nhét vào một gói đồ giặt sạch mà chưa thèm tháo bỏ lớp giấy bọc. “Tôi lấy va li của anh ra rồi đấy. Hãy gói ghém bất cứ thứ gì anh có thể trong vòng năm phút nhé. Chúng ta phải bắt chuyến tàu sáu giờ tới Danbridge.”

Tôi không chần chừ thêm gì nữa. Chỉ cần nghe tới tên của thị trấn Connecticut nho nhỏ, cổ kính và yên tĩnh kia là đủ rồi. Bởi cái tên Danbridge thời điểm ấy đang trở thành chủ đề được bàn tán xôn xao của tất cả mọi người. Đấy chính là hiện trường xảy ra một vụ án đầu độc đang vô cùng nổi tiếng tại Danbridge - một vụ án tàn ác, mà nạn nhân là một nữ diễn viên xinh đẹp, nhỏ nhắn tên Vera Lytton.

“Tôi đã được thượng nghị sĩ Adrian Willard thuê...” Anh nói vọng ra từ phòng của mình, trong lúc tôi đang bận thu xếp đồ đạc ở phòng riêng. “Gia đình Willard cho rằng bác sĩ Dixon trẻ tuổi đó chính là nạn nhân của một âm mưu, hay chí ít Alma Willard cũng tin là như vậy. Thượng nghị sĩ đã gọi điện đường dài tới và tỏ ý muốn tôi nhận vụ này, dù phải trả bất cứ giá nào. Anh đã xong chưa vậy? Nào, đi thôi. Tuyệt đối chúng ta phải bắt được chuyến tàu đó đấy nhé.”

Khi đã yên vị trong khoang hút thuốc của tàu Pullman, dù bởi bất kì lý do gì mà chúng tôi có mặt tại đây, Kennedy mới lên tiếng. Đúng ra là câu đầu tiên anh cất lời, kể từ lúc chúng tôi điên cuồng lao xuyên qua thành phố để bắt kịp chuyến tàu.

“Nào, chúng ta hãy xem xem, Walter ạ.” Anh bắt đầu. “Cả hai chúng ta đều đã đọc được rất nhiều tin tức liên quan tới vụ án này trên báo chí. Hãy cố sắp xếp lại những gì chúng ta biết một cách có trật tự nhé, trước khi chúng ta bắt tay vào giải quyết vụ án này.”

“Anh đã từng tới Danbridge chưa?” Tôi hỏi.

“Chưa bao giờ.” Anh đáp. “Đó là nơi thế nào nhỉ?”

“Cực kì thú vị.” Tôi trả lời. “Một sự kết hợp giữa New England cũ và mới, giữa hình thức sơ khai và các nhà máy xí nghiệp, giữa sự giàu có và bần hàn. Trên tất thảy, nó là cộng đồng của người New York - tôi nên gọi nó là gì nhỉ? - một sự kết hợp giữa văn học, nghệ thuật và âm nhạc chăng, tôi đoán là vậy.”

“Phải.” Anh tiếp tục. “Tôi cũng nghĩ vậy. Vera Lytton cũng thuộc cộng đồng đó. Lại còn là một cô gái thật sự tài năng nữa. Anh có nhớ cô ấy từng đóng trong Sự thuần phục của người phụ nữ kiểu mới* mùa trước không? Chà, giờ thì quay trở lại với các tình tiết mà chúng ta đã biết nào.”

“Một cô gái với tương lai rực rỡ trên sân khấu đã được người bạn là bà Boncour phát hiện trong tình trạng co giật - thực tế đã bất tỉnh - với một lọ thuốc trị đau đầu dạng bột cùng một lọ amoniac* trên mặt bàn trang điểm. Bà Boncour đã kêu người giúp việc đi cầu cứu bác sĩ gần đấy nhất và tình cờ lại chính là bác sĩ Waterworth. Trong lúc đó, bà ấy đã cố gắng hồi sức cho cô Lytton, nhưng không có kết quả. Bà ấy đã ngửi thử mùi amoniac, rồi còn nếm thứ bột trị đau đầu kia nữa. Đúng là một việc làm rất kém khôn. Để rồi khi vị bác sĩ Waterworth tới nơi, ông ta đã có hai bệnh nhân.”

“Không.” Tôi đính chính. “Chỉ có một người thôi, vì cô Lytton đã chết khi ông ta đến, theo như lời khai mới nhất của ông ta.”

“Tốt lắm, vậy thì... chỉ một thôi. Khi ông ta tới, bà Boncour đã ngấm độc, người hầu gái hoàn toàn không biết gì về chuyện này, Vera Lytton thì đã chết. Ông ta cũng ngửi thử mùi amoniac, nếm thử thuốc bột trị đau đầu - dù chỉ một tí xíu - sau đó ông ta đã có hai bệnh nhân, một trong số đấy chính là bản thân ông ta. Chúng ta phải đi gặp ông ta, vì những gì ông ta đã trải qua chắc hẳn rất kinh khủng. Nhưng ông ta đã tự cứu chính mình và cả bà Boncour khỏi bị ngộ độc... _xyanua*, theo báo chí tung tin. Còn bằng cách nào ông ta làm được vậy thì tôi chưa thể hình dung nổi. Song dĩ nhiên chúng ta không thể chấp nhận được điều đó cho tới khi nào chúng ta được tận mắt chứng kiến. Walter ạ, tôi nhận thấy, có vẻ gần đây báo chí đang tự huyễn hoặc ra quy tắc trong các vụ án giết người rằng: Bất cứ khi nào có vụ án ngộ độc, cứ gọi nó là xyanua?

Không hứng thú với Kennedy ở cái tính thích bày tỏ những quan điểm thực sự của anh về báo chí, tôi vội vàng chuyển hướng cuộc trò chuyện quay lại chủ đề chính bằng cách hỏi: “Vậy còn mẩu ghi chú của bác sĩ Dixon thì sao?”

“À, đó chính là nút thắt của toàn bộ vụ án này - mẩu ghi chú của Dixon ấy. Để xem nào. Nếu thông tin mà tôi biết là chính xác thì bác sĩ Dixon thuộc một gia đình gia giáo và có dòng dõi quý tộc, mặc dù không giàu có cho lắm. Người ta đã xác minh rằng trong thời gian thực tập nội trú tại một bệnh viện trong thành phố, anh ta đã quen với Vera Lytton, sau khi cô ấy ly dị với họa sĩ Thurston. Sau đó là chuyện anh ta chuyển chỗ ở đến Danbridge, rồi cuộc gặp gỡ của anh ta với cô Willard, tiếp đấy là lễ đính hôn của hai người bọn họ. Nói chung, Walter ạ, xét từ những bức ảnh trên báo chí, Alma Willard khá ngang ngửa với Vera Lytton so về mặt ngoại hình, chỉ là mỗi người có một vẻ đẹp riêng biệt mà thôi. Ôi, chà chà, để rồi xem. Vera đã quyết định dành trọn cả mùa xuân và mùa hè tại Danbridge trong căn nhà gỗ một tầng của bạn cô ấy, bà Boncour, một tiểu thuyết gia. Đó là khi mọi chuyện bắt đầu.”👁️

“Phải.” Tôi chen vào. “Khi nào anh tìm hiểu về Danbridge giống như tôi đã từng, sau mùa hè năm đó - lúc anh ra nước ngoài ấy, anh cũng sẽ biết được thôi mà. Tất cả mọi người đều tỏ tường chuyện của nhau. Đó là chuyên môn của một giới nào đó và ‘sản lượng’ tin đồn bình quân đầu người sẽ là một kỷ lục có thể làm chao đảo cả Cục Điều tra Dân số đấy. Thế nhưng, anh không thể bỏ qua mẩu ghi chú đó được, Craig ạ. Nó đây này, được viết bằng nét chữ viết tay của chính Dixon, ngay cả khi anh ta có phủ nhận điều đó đi chăng nữa: Thứ này sẽ chữa được chứng đau đầu của cô. BÁC Sĩ DIXON. Đó quả là một bằng chứng buộc tội không thể chối cãi.”

“Hoàn toàn đúng.” Anh vội vàng đồng ý. “Tuy nhiên, mẩu ghi chú đó thật kỳ lạ, phải không? Người ta đã tìm thấy nó bị vò nát trong lọ amoniac. Ồ, có rất nhiều vấn đề mà cánh báo chí vẫn chưa thể hiểu được tầm quan trọng của chúng đấy, chứ đừng nói tới việc cố gắng theo sát được vụ án.”

Chuyến thăm hỏi đầu tiên của chúng tôi ở Danbridge là tới gặp ủy viên công tố quận. Văn phòng của anh ta nằm không xa nhà ga trên phố chính là mấy. Craig đã đánh điện trước cho anh ta và anh ta sẵn lòng chờ đợi để gặp chúng tôi. Bởi rõ ràng anh ta rất tôn kính thượng nghị sĩ Willard cũng như tất cả những ai có mối liên hệ với ông ấy.

“Có quá đáng lắm không nếu tôi muốn xem qua mẩu ghi chú được tìm thấy trong ngôi nhà gỗ một tầng của bà Boncour?” Craig hỏi.

Ủy viên công tố quận là một chàng trai trẻ tràn đầy năng lượng, rút ra từ trong chiếc cặp đựng tài liệu một tờ giấy nhàu nát đã được ép phẳng lại. Trên đó là những câu từ được viết bằng nét chữ đen đậm và rõ ràng, như đã được đăng trên báo chí:

_Thứ này sẽ chữa được chứng đau đầu của cô.

BÁC Sĩ DIXON._

“Còn chữ viết tay thì sao?” Kennedy hỏi.

Ủy viên công tố quận rút ra vài lá thư. “Tôi e là họ sẽ phải thừa nhận điều đó.” Anh ta nói với vẻ miễn cưỡng, như thể sâu thẳm trong thâm tâm, anh ta rất ghét phải truy tố Dixon. “Chúng tôi có rất nhiều bức thư thế này và không một chuyên gia phân tích chữ viết nào có thể thành công phủ nhận được sự đồng nhất của các mẫu chữ ấy.”

Anh ta lại cất gọn ghẽ những bức thư kia đi, không để cho Kennedy biết được một chút thông tin gì về nội dung của chúng. Kennedy đang xem xét mẩu ghi chú thật cẩn thận.

“Liệu tôi có thể trông mong việc được xem lại mẩu ghi chú này để điều tra thêm không, dĩ nhiên là vào bất cứ thời điểm nào và trong những điều kiện mà anh cho phép?”

Ủy viên công tố quận gật đầu. “Tôi hoàn toàn sẵn lòng làm bất cứ điều gì không vi phạm pháp luật để giúp đỡ ngài thượng nghị sĩ.” Anh ta nói. “Nhưng, mặt khác, tôi cũng đang ở đây để thực hiện nghĩa vụ của mình đối với bang, bất kể những người liên quan là ai đi chăng nữa.”

Ngôi nhà của gia đình Willard hiện đang ở trong tình trạng bị bao vây. Các phóng viên báo chí từ Boston và New York thực sự đang cắm trại ở mọi cổng ra vào, khủng khiếp y như một đội quân, được trang bị máy ảnh đầy đủ và luôn trong trạng thái sẵn sàng. Quả là có chút khó khăn để chúng tôi vào được bên trong, mặc dù chủ nhà rất nóng lòng chờ đợi chúng tôi tới. Do trước đó, vài kẻ trong số những người cả gan này đã lừa đảo gia đình họ bằng cách giả làm nhân viên pháp lý cũng như người đưa tin của bác sĩ Dixon.

Ngôi nhà là một dinh thự kiểu thuộc địa chính hiệu và cổ kính, với những cột nhà màu trắng cao ngất ngưởng cùng một cánh cửa có búa gõ bằng đồng thau sáng lấp lánh. Khi tiến lại gần, cánh cửa sẽ phản chiếu những tia sáng chói lóa qua một hàng rào hoàng dương được cắt tỉa hoàn hảo.

Thượng nghị sĩ hay nói đúng hơn là cựu thượng nghị sĩ Willard đã gặp chúng tôi trong thư viện. Một lúc sau, con gái Alma của ông ấy bước vào. Cô có dáng người cao ráo, giống như cha mình vậy, một cô gái tự chủ và chín chắn. Vậy mà, ngay cả hai mươi hai năm học hành dưới kỷ luật hà khắc ở New England cũng chẳng thể nào che giấu được vẻ xanh xao trên gương mặt của cô, sau chuỗi ngày lo lắng và đêm đêm mất ngủ, kể từ khi đống rắc rối này ập tới. Dẫu vậy, sự tài trí và quả quyết hiển hiện trên gương mặt ấy thật mê đắm lòng người. Tôi chợt cảm thấy nếu như gã đàn ông nào đó đang có ý định đùa giỡn với cô gái này, thì hắn ta quả thật rất độc ác, giống như ác quỷ đang gặm nhấm từng chút ánh sáng soi rọi cuộc đời cô vậy. Tôi suy nghĩ một chút rồi nói với Kennedy rằng: “Nếu tay bác sĩ Dixon kia có tội, anh không có quyền che giấu sự thật với cô gái đó đâu nhé. Dù sự dối lừa đó xuất phát từ ý tốt đi chăng nữa, thì cũng chỉ bôi đen thêm sự ghê tởm của tội ác mà hắn đã gây ra mà thôi.”

Ngài thượng nghị sĩ chào đón chúng tôi bằng vẻ rất nghiêm trọng. Và tôi không thể coi đó là điềm lành khi một gia đình có niềm kiêu hãnh về mức độ giàu có, dòng tộc và cả truyền thống như ông ấy lại đang phải bóc trần mọi chuyện cho chúng tôi nghe, vì thanh danh của Alma Willard. Rõ ràng là trong gia đình này, có một điều đứng trên tất cả: “Bổn phận”.

Khi chúng tôi đang chuẩn bị rời đi sau cuộc chuyện trò riêng tư mà chẳng hề thu hoạch được tình tiết gì mới, người hầu trong nhà bất chợt vào thông báo về sự viếng thăm của một chàng trai trẻ, anh Halsey Post. Anh ta lịch sự cúi đầu chào chúng tôi, nhưng lý do vì sao anh ta ghé qua đây thì đã rõ ràng rồi, bởi ánh mắt anh ta chỉ chăm chú dõi theo Alma từ khi bước vào căn phòng.

“Con trai của Halsey Post quá cố, công ty Post & Vance, làm nghề thợ bạc và cũng là chủ của một nhà máy lớn trong thị trấn này đấy, chắc hẳn các vị có thể đã nhận ra.” Thượng nghị sĩ giải thích. “Con gái tôi và cậu ấy là thanh mai trúc mã. Thật là một chàng trai trẻ rất tài ba.”

Sau đó, chúng tôi được cho biết thêm rằng ngài thượng nghị sĩ đã nỗ lực hết sức để có thể đảm bảo Halsey Post trở thành con rể mình, nhưng con gái ông ấy lại có quan điểm riêng về chuyện này.

Post đã đợi đến khi Alma ra khỏi phòng rồi mới bắt đẩu tiết lộ mục đích thực sự của chuyến thăm này. Với một giọng thì thầm để cô ấy không thể nghe thấy được, cậu ta nói: “Có một câu chuyện liên quan tới thị trấn này rằng chồng cũ của Vera Lytton - một họa sĩ tên là Thurston - đã có mặt tại đây ngay trước khi cô ấy qua đời.”

Thượng nghị sĩ Willard rướn người về phía trước, như thể đang mong được nghe chuyện Dixon sẽ được tuyên bố trắng án ngay lập tức. Nhưng chẳng một ai trong chúng tôi kịp chuẩn bị tinh thần cho lời nói tiếp theo của cậu ta.

“Và theo câu chuyện ấy, hắn đã đe dọa sẽ làm ầm ĩ mọi chuyện vì những nỗi sỉ nhục mà hắn phải gánh chịu từ Dixon. Tôi không biết thêm bất cứ điều gì về chuyện đó và tôi chỉ muốn kể cho các vị nghe thôi. Bởi lẽ, tôi cho rằng các vị nên được biết những gì Danbridge đang truyền tai nhau ở ngoài kia mà thôi.”

Cuối cùng, chúng tôi cũng đã cắt đuôi được những tay phóng viên kia, và lúc này, Kennedy đang ghé qua ngôi nhà gỗ nhỏ một tầng để gặp bà Boncour. Bà ấy đã khá hơn nhiều rồi, mặc dù bà ấy đã phải chịu đựng rất nhiều chuyện. Dù chỉ nếm một lượng rất nhỏ thuốc độc thôi, nhưng nó đã suýt khiến bà ấy mất mạng.

“Liệu cô Lytton có bất kì kẻ thù nào mà bà có thể nghĩ tới không, những người ganh ghét với cô ấy trong đời sống cá nhân hoặc công việc?” Craig hỏi.

“Tôi thậm chí cho rằng mình không nên coi bác sĩ Dixon là một trong những kẻ đó.” Bà ấy trả lời vẻ lảng tránh.

“Nhưng ông Thurston này...” Kennedy nhanh chóng chen vào. “Bình thường, một người chồng đã ly hôn rồi sẽ không ghé thăm vợ cũ dưới danh nghĩa là bạn bè nữa đâu nhỉ?”

Bà ấy nhìn anh chăm chú một lúc. “Halsey Post đã kể cho ông điều đó hả?” Bà ấy nói. “Làm gì còn ai khác biết chuyện ông ấy đã từng xuất hiện ở đây chứ. Nhưng Halsey Post chính là bạn cũ của cả Vera và ông Thurston trước khi họ chia tay. Tình cờ thế nào, cậu ta lại ghé qua vào đúng ngày ông Thurston tới đây, cả cái ngày mà tôi đã đưa anh ta một lá thư để chuyển cho ông Thurston nữa, nó đã được gửi đi sau khi người họa sĩ rời khỏi. Tôi chắc rằng không một ai khác quen biết họa sĩ này. Ông ấy đã ở đây vào buổi sáng hôm cô ấy qua đời, và... và... đó là tất cả những gì tôi có thể nói cho các ông nghe về ông ấy. Tôi không biết tại sao ông ấy lại tới đây hay đã đi những đâu đâu.”

“Đó là điều chúng tôi phải điều tra sau đây.” Kennedy nhận xét khi chúng tôi chào từ biệt bà ấy. “Còn ngay bây giờ, tôi chỉ muốn nắm rõ các tình tiết mà thôi. Nhiệm vụ tiếp theo trong lịch trình của tôi chính là đi gặp ông bác sĩ Waterworth này.”

Chúng tôi tìm được ông bác sĩ vẫn đang phải nằm trên giường bệnh, thực tế là đã bị tàn phế sau cuộc phiêu lưu trở về từ cõi chết của ông ta. Trong số những tình tiết vụ án đã được công khai cho tới thời điểm này, chẳng có mấy điều cần ông ta phải đính chính thêm nữa. Dẫu vậy, ông ta cũng rất sẵn lòng thẳng thắn thảo luận các chi tiết khác liên quan tới vụ đầu độc.

“Thông tin về lọ amoniac kia chính xác chứ, thưa ông?” Kennedy hỏi.

“Vâng.” Ông ta trả lời. “Nó nằm trên bàn trang điểm của cô ấy với mẩu ghi chú bị nhàu nát nhét bên trong, đúng như cánh báo chí đã viết.”

“Ông không biết tại sao nó lại ở đó ư?”

“Tôi không hề nói thế. Nhưng tôi có thể đoán được phần nào lý do. Bởi khí amoniac chính là một trong những loại thuốc giải cho kiểu đầu độc này mà.”

“Nhưng Vera Lytton khó có khả năng biết được điều đó.” Kennedy phản đối.

“Đúng, dĩ nhiên là cô ấy không biết rồi. Nhưng có lẽ cô ấy biết amonỉac sẽ áp chế được cơn chóng mặt hay tác dụng phụ khác sau khi cô ấy uống loại thuốc bột kia. Hoặc có thể cô ấy nghĩ rằng trong chiếc lọ đó chứa thứ tương tự như muối ngửi*. Tất cả đều chỉ là suy đoán của tôi. Nhưng hầu hết mọi người đều biết amoniac _ ở một dạng nào đó sẽ rất có lợi cho chứng choáng váng kiểu này, ngay cả khi họ không biết gì về _xyanua đi nữa và...”

“Vậy đó là xỵanua ư?” Craig ngắt lời.

“Đúng thế.” Ông ta chậm rãi đáp. Rõ ràng ông ta đang phải chịu đựng một nỗi đau đớn khủng khiếp, về cả thể chất lẫn thần kinh, do đã biết quá rõ về tác hại của những chất độc đó. “Tôi sẽ nói cho ông biết chính xác mọi chuyện diễn ra như thế nào, giáo sư Kennedy ạ. Khi tôi được gọi tới khám cho cô Lytton, tôi nhận ra cô ấy đang nằm trên giường. Tôi đã cạy hàm cô ấy ra và ngửi thấy mùi ngòn ngọt của khí xyanua. Vì vậy, tôi đã xác định được cô ấy bị làm sao và lúc đó, cô ấy đã tử vong. Rồi tôi nghe thấy tiếng rên rỉ đau đớn của ai đó phát ra từ phòng bên cạnh. Người giúp việc nói cho tôi biết đấy là bà Boncour và bà ấy đang bị ốm rất nặng, nghe vậy tôi liền chạy sang. Mặc dù đang vô cùng đau đớn, nhưng bà ấy vẫn cố vùng vẫy trong tuyệt vọng để chống trả lại tôi. Và rất may, tôi đã kịp thời trấn an được, rồi vội vàng đưa bà ấy tới phòng tắm, có đi ngang qua phòng của cô Lytton. Chuyện gì xảy ra vậy? Tôi vừa bế bà ấy vừa hỏi. Tôi đã nếm thử một ít thứ đó. Bà ấy trả lời, chỉ vào cái chai đặt trên bàn trang điểm.”

“Sau đó, tôi thử nếm một lượng rất nhỏ thứ bột trong suốt như pha lê kia. Và rồi, tôi đã nhận ra đó là điều bi thảm nhất trong cuộc đời của mình. Tôi đã nếm phải một trong những chất độc chết người nhất trên thế gian. Mùi của khí xyanogen*_tỏa ra rất nồng nặc. Nhưng hơn cả thế, vị kim loại cùng cảm giác bỏng rát kinh khủng cũng đã cho thấy sự hiện diện của một dạng thủy ngân nào đó. Vào đúng khoảnh khắc khủng khiếp ấy, bộ não của tôi đã hoạt động với tốc độ phi thường của ánh sáng. Trong nháy mắt, tôi nhận ra rằng nếu thêm _axit malic* vào thủy ngân - trên mỗi thủy ngân(II) clorua* hay còn gọi là chất thăng hoa ăn mòn - tôi sẽ thu được calomel, với tên khác là thủy ngân(I) clorua*. Đó chính là thứ duy nhất có thể đào thải chất độc ra khỏi hệ thống cơ thể của tôi và của bà Boncour ngay lúc ấy.”

“Tôi vội vã dìu bà ấy vào phòng ăn. Trên chiếc tủ đựng bát đĩa có một đĩa trái cây, tôi với tay lấy hai quả táo. Tôi thúc ép bà ấy ăn một quả, kể cả lõi và không chừa lại chút nào. Còn tôi ăn quả còn lại, rồi cũng làm y như vậy. Loại quả này có chứa loại axit malic mà tôi đang cần để điều chế calomel và tôi đã làm vậy ngay trong chính phòng thí nghiệm của tự nhiên. Nhưng không có thời gian mà ngơi nghỉ, tôi còn phải hành động thật nhanh chóng để trung hòa được chất xyanua đó nữa. Nhớ đến amoniac kia, tôi liền vội vã cùng bà Boncour quay trở lại phòng cô Vera và cố hít thật mạnh để đưa khí đó vào cơ thể. Tiếp đến, tôi tìm thấy một chai hydro peroxide*. Tôi đã dùng nó để rửa dạ dày cho bà ấy, tiếp đến là của tôi. Sau đấy, tôi tiêm một ít peroxide vào các bộ phận khác nhau trên cơ thể bà ấy. Ông biết đấy, hydro peroxide axit hydrocyanic* sẽ tạo ra oxamide* - một hợp chất vô hại.”👁️

“Sau khi người giúp việc đã đưa bà Boncour được cứu sống trở lại giường, tôi cũng trở về nhà, người ngợm tàn phế. Kể từ hôm đó, tôi chưa từng rời khỏi chiếc giường này. Tôi đang nằm đây, với đôi chân bị liệt, chờ đợi từng thời khắc cuối cùng của đời mình.”

“Liệu ông có còn muốn thử nếm lại một loại thuốc chưa xác định, để khám phá ra đặc tính của một loại chất độc có thật nữa hay không?” Craig hỏi.

“Tôi cũng không biết nữa.” Ông ta chậm rãi trả lời. “Nhưng nếu quay trở lại khi ấy, tôi cho là mình vẫn sẽ làm thế. Trong trường hợp đó, một bác sĩ tận tâm sẽ chẳng màng tới tính mạng của bản thân nữa đâu. Họ sẽ cố hết sức, làm tất cả mọi thứ mà họ cho là tốt nhất để cứu bệnh nhân. Bất chấp thực tế rằng, bản thân chưa từng có được một tiếng đồng hồ ngon giấc kể từ cái ngày chết chóc ấy. Tôi cho rằng, mình sẽ vẫn làm như vậy thôi.”

Khi chúng tôi rời đi, tôi nhận xét: “Đó là một người dám quyết tử cho khoa học. Liệu còn bất cứ điều gì có thể xúc động hơn việc ông ấy luôn sẵn lòng trả giá cho sự dâng hiến hết lòng của mình đối với y học chứ?”

Chúng tôi bước đi trong im lặng. “Walter này, anh có để ý thấy ông ấy chẳng hề thốt ra một lời nào lên án Dixon hay không, bất chấp mẩu ghi chú đã chình ình ngay trước mắt ông ấy? Chắc chắn Dixon đã nhận được sự tin tưởng và ủng hộ rất mạnh mẽ từ một số người ở Danbridge này, nhưng theo đó cũng chuốc oán với không ít kẻ thù.”

Sáng hôm sau, chúng tôi tiếp tục cuộc điều tra. Chúng tôi đã tìm thấy luật sư của Dixon, Leland, đang hội ý với khách hàng của ông ta trong một phòng giam trống trải của nhà tù quận. Dixon được đánh giá là một chàng trai trẻ có đôi mắt tinh anh và phong cách ăn mặc gọn gàng. Điều khiến tôi cảm thấy ấn tượng nhất về anh ta, ngoài sự thiên vị và biệt đãi mà anh ta nhận được đến từ sự tin tưởng của cô nàng Alma Willard, chính là khí phách mà anh ta đang thể hiện ra ngoài, dù cho anh ta có tội hay vô tội. Bởi bất chấp thế lực hậu thuẫn của anh ta hùng hậu ra sao, ngay cả một người đàn ông vô tội cũng có thể bị chao đảo, trước những bằng chứng gián tiếp chống lại mình cùng làn sóng cảm xúc mạnh mẽ của công chúng như thế. Theo chúng tôi được biết, Leland đã vô cùng “tích cực” trong vụ này. Từ lúc chàng bác sĩ trẻ kia bị bắt, với tốc độ khiến người khác không kịp trở tay, ông ta đã có thể bảo mật được phần lớn các bức thư cá nhân của bác sĩ Dixon. Và mặc dù ủy viên công tố quận đã lấy được một vài trong số đó, nhưng nội dung của chúng chưa từng được tiết lộ.

Kennedy dành phần lớn thời gian ngày hôm đó để lần theo dấu vết của Thurston, nhưng chẳng điều gì có vẻ là quan trọng xuất hiện. Ngay cả những chuyến viếng thăm đến các thị trấn lân cận cũng không tra được bất cứ hoạt động mua bán trái phép xyanua hay chất thăng hoa nào. Trong khi đó, khi lật lại những câu chuyện phiếm của thị trấn, một tay nhà báo đã tình cờ phát hiện ra một thực tế, rằng ngôi nhà gỗ một tầng mà bà Boncour ở, thuộc sở hữu của gia đình Post và cụ thể là Halsey Post đời con. Với tư cách là chủ khu đất ấy, Halsey Post lại chính là vị khách ghé thăm thường xuyên hơn cả số lần được cho là xác đáng, nếu chỉ đơn thuần đến để thu tiền nhà. Bà Boncour đã nhất quyết dửng dưng, không hé răng nửa lời nhằm che đậy cơn giận đang sục sôi trong lòng, khi tay phóng viên kể trên ám chỉ chủ nhà và người thuê nhà đang có mối quan hệ “trên mức bình thường”.

Sau một ngày tìm kiếm mà không gặt hái được kết quả, chúng tôi đang ngồi trong phòng đọc sách của khách sạn Fairfield. Leland bước vào. Khuôn mặt ông ta trắng bệch. Không nói một lời, ông ta nắm lấy cánh tay của chúng tôi và dẫn chúng tôi đi băng qua phố chính, lên cầu thang dẫn tới văn phòng của ông ta. Rồi ông ta khóa cửa lại.

“Có chuyện gì vậy?” Kennedy hỏi.

“Lúc nhận vụ án này...” Ông ta nói. “Sâu thẳm trong thâm tâm tôi đã tin rằng Dixon vô tội. Trước đó vẫn vậy, nhưng niềm tin của tôi hiện đang bị lung lay dữ dội. Tôi cảm thấy anh nên được biết về những gì tôi vừa phát hiện ra. Như tôi đã từng nói với anh, chúng tôi đã bảo mật được gần như tất cả số thư từ của bác sĩ Dixon. Lúc đó, tôi chưa đọc hết chúng. Nhưng tôi đã xem xét rất kĩ chúng tối nay. Đây là bức thư của chính cô Vera Lytton. Ông sẽ nhận thấy nó được đề ngày viết đúng ngày cô ấy đã qua đời.”

Ông ta đặt bức thư xuống trước mặt chúng tôi. Nó được viết bằng một loại mực màu xám đen kỳ lạ từ bàn tay của một người phụ nữ và có nội dung:

Harris thương yêu,

Vì hai ta đã chấp thuận tôn trọng ý kiến của nhau, thì chí ít anh và em vẫn có thể làm bạn tốt, nếu không còn là một đôi nữa. Em đây chẳng viết lá thư này trong nỗi niềm oán giận hay trách móc anh cùng tình yêu mới của anh, dù chuyện này xảy ra quá chóng vánh sau mối tình đã cũ. Em cho rằng quý cô Alma Willard thích hợp làm vợ của anh hơn một cô diễn viên nhỏ bé và tội nghiệp - đúng hơn là kẻ bị coi khinh trong xã hội Thanh giáo* này. Nhưng có một điều em muốn cảnh báo anh, vì nó liên quan mật thiết đến cả hai chúng ta!

Chúng ta sẽ có nguy cơ bị cuốn vào một vụ bê bối khủng khiếp nếu không đề phòng đấy. Ông Thurston - em đã suýt nói là chồng em, mặc dù em không biết cái danh ấy có còn hay không - người vừa mới trở về từ New York, đã nói với em rằng có vài nghi vấn liên quan tới hiệu lực trong vụ ly hôn của chúng em. Hẳn anh vẫn còn nhớ chuyện vào thời điểm em kiện ông ta, ông ta vẫn đang ở miền Nam và văn bản tố tụng đã được tống đạt tới Georgia cho ông ta chứ. Giờ ông ta lại nói bằng chứng tống đạt kia là gian lận và rằng ông ta có thể bãi bỏ vụ ly hôn. Nếu đó là sự thật, anh có thể bị hầu tòa trong một vụ kiện xét xử em vì tội ngoại tình đấy!

Em không viết lá thư này cho anh với ác ý gì cả, chỉ đơn thuần là để thông báo cho anh biết mọi thứ đang diễn tiến như thế nào mà thôi. Nếu chúng ta đã từng cưới nhau thật, em cho rằng mình sẽ mắc tội song hôn mất. Dù thế nào đi nữa, ông ta có thể tạo ra một vụ bê bối khủng khiếp nếu muốn.

Chao ôi, Harris, chẳng lẽ anh không thể dàn xếp với ông ta, mặc cho bất kì yêu cầu nào sao? Đừng vội quên mất, rằng chúng ta cũng đã từng nghĩ mình sẽ trở thành những con người hạnh phúc nhất thế gian - chí ít là em đã từng cảm thấy như vậy. Đừng bỏ rơi em, nếu không cả thế giới này sẽ cùng kêu gào chống lại anh đấy! Em sắp phát điên rồi và gần như chẳng biết mình đang viết gì đâu. Đầu em đau lắm, nhưng trái tim em mới chính là thứ đang vỡ vụn. Harris à, em vẫn là của anh, sâu thẳm trong lòng em, nhưng không phải là để bị vứt bỏ như một bộ đồ đã cũ để anh thay bằng một bộ đồ mới đâu! Anh biết câu người xưa vẫn nói về người phụ nữ bị coi khinh rồi đấy. Em nài xin anh đừng bội ước.

VERA nhỏ bé tội nghiệp bị bỏ rơi của anh.

Khi chúng tôi đọc xong, Leland liền thốt lên: “Chắc chắn lá thư này sẽ không bao giờ được trình ra trước mặt bồi thẩm đoàn.”

Kennedy đang xem xét bức thư rất cẩn thận. “Kỳ lạ thật.” , Anh lẩm bẩm. “Hãy nhìn cách nó được gấp lại mà xem. Nó được viết ở mặt trái của tờ giấy, hay đúng hơn là được gấp lại với phần chữ viết nằm bên ngoài. Những lá thư này đã được cất giữ ở đâu vậy?”

“Một khoảng thời gian trong két sắt của tôi và khoảng thời gian còn lại là chiều nay trên bàn làm việc bên cửa sổ của tôi.”

“Tôi cho là văn phòng đã được khóa, đúng chứ?” Kennedy hỏi. “Không có cách nào để tuồn lá thư này vào giữa những lá thư khác kể từ khi ông nhận được chúng chứ?”

“Không hề. Văn phòng đã được khóa và không có bằng chứng nào cho thấy có ai đó đã vào phòng hay làm xáo trộn bất cứ thứ gì cả.”

Ông ta vội vàng chạy qua chỗ chồng thư như thể đang muốn kiểm tra xem chúng có còn đó không. Đột nhiên, ông ta khựng lại.

“Phải gió!” Ông ta kích động kêu lên. “Một trong số chúng đã biến mất!” Với vẻ đầy lo lắng, ông ta lục lọi kĩ chúng lần nữa. “Có một lá thư đã biến mất!” Ông ta nhắc lại, nhìn chúng tôi, giật mình thảng thốt.

“Lá thư đó viết gì thế?” Craig hỏi.

“Đó là một bức thư ngắn từ một người họa sĩ, Thurston, người đã cho biết địa chỉ ngôi nhà gỗ của bà Boncour - à, tôi nhận ra là anh đã được nghe nhắc tới ông ta rồi. Ông ta đã viết thư hỏi ý kiến của Dixon về một loại thuốc đau đầu đã được cấp bằng sáng chế nào đó. Tôi nghĩ điều đó có thể được coi là bằng chứng và tôi đã hỏi Dixon về thư trả lời. Anh ta giải thích rằng anh ta không lưu lại bản sao thư trả lời của mình, nhưng anh ta vẫn nhớ rất rõ nội dung. Anh ta đã viết rằng: Hợp chất này sẽ không chữa được chứng đau đầu, còn chưa kể nó có thể gây ra tác hại làm giảm hoạt động của tim rất nguy hiểm. Anh ấy nói mình đã gửi thư trả lời nhưng không hề kèm theo đơn thuốc. Thực ra, anh ấy còn nghĩ đó là một âm mưu hòng moi được thông tin tư vấn mà không cần phải trả phí, thay vì một cuộc gọi đến văn phòng. Và anh ta hồi âm nó, chỉ vì anh ta nghĩ rằng Vera đã hòa giải với Thurston lần nữa. Tôi không thể tìm thấy bức thư đó của Thurston. Nó đã biến mất rồi!”

Chúng tôi nhìn nhau đầy kinh ngạc.

“Nếu Dixon đang suy tính bất cứ điều gì hòng chống lại cô Lytton, tại sao anh ta lại giữ bức thư này của cô ấy?” Kennedy trầm ngâm. “Tại sao anh ta không tiêu hủy nó nhỉ?”

“Đó là điều khiến tôi cảm thấy khó hiểu.” Leland nhận xét. “Ông có cho rằng ai đó đã đột nhập vào đây và tráo đổi bức thư này của Lytton với bức thư của Thurston hay không?”

Kennedy đang xem xét kĩ bức thư, không nói gì cả. “Liệu tôi có thể giữ nó không?” Cuối cùng anh cũng hỏi. Leland rất sẵn lòng và thậm chí còn đánh bạo lấy cho anh vài mẫu chữ viết tay của Vera Lytton. Cùng với những mẫu chữ viết tay này và bức thư, Kennedy đã làm việc suốt đêm. Trong khi đó, tôi phải nằm vật lộn với vô số giấc mơ hoang đường về các loại chất độc chết người và những âm mưu bí hiểm của cánh nghệ sĩ.

Sáng hôm sau, một tin nhắn từ người bạn cũ của chúng tôi, Phó Cảnh sát trưởng O’Connor ở New York, đã thông báo ngắn gọn về việc đã xác định được vị trí của một họa sĩ tên là Thurston. Hắn đang ngụ tại một trong những căn hộ studio ở một cư xá. Thurston đã không về đó vài ngày rồi và ông ta được cho là đã tới Maine để vẽ phác thảo. Ông ta từng có vài khoản nợ, nhưng trước khi ông ta lên đường, tất cả số nợ đó đều đã được thanh toán - mà ngạc nhiên là bởi một công ty luật sư khét tiếng là vô lương tâm, Kerr & Kimmel. Kennedy đã đánh điện lại để yêu cầu tìm hiểu thêm chi tiết sự việc từ công ty Kerr & Kimmel và xác định vị trí của Thurston bằng bất cứ giá nào.

Ngay cả việc phát hiện ra một bức thư mới cũng chẳng thể làm lung lay sự điềm tĩnh phi thường của bác sĩ Dixon. Anh ta phủ nhận việc mình từng nhận được nó, rồi lần nữa kể lại câu chuyện về lá thư từ Thurston mà anh ta đã hồi âm và nhờ bà Boncour chuyển thư giúp, như đã được yêu cầu. Anh ta khăng khăng rằng hôn ước giữa cô Lytton và anh ta đã bị hủy, trước khi anh ta tuyên bố đính hôn với cô Willard. Về phần Thurston, anh ta nói người đàn ông này thật chẳng là gì với anh ta, ngoài một cái tên. Anh ta biết rõ mọi tình tiết liên quan tới vụ ly hôn đó, nhưng chưa từng có bất cứ giao thiệp gì với Thurston và không sợ ông ta. Hết lần này tới lần khác, anh ta phủ nhận việc mình từng nhận được bức thư từ cô Vera Lytton.

Kennedy vẫn chưa kể cho cha con Willard biết về lá thư mới. Căng thẳng bắt đầu ảnh hưởng bất lợi đến Alma và cha cô đã lặng lẽ đưa cô tới một trang trại của ông ở vùng nông thôn. Để thoát khỏi con mắt tò mò của các phóng viên, một đêm nọ, Halsey Post đã bất ngờ lái chiếc xe hơi được che chắn cẩn thận của mình đến. Cô ấy mau chóng bước lên đó cùng với cha mình. Trong khi Halsey Post lặng lẽ đánh xe ra ngoại ô thị trấn, một chiếc xe hơi khác đã chờ sẵn ở đâu đó để đưa anh ta quay trở lại. Rõ ràng là gia đình Willard hoàn toàn tin tưởng vào Halsey và sự giúp đỡ anh ta dành cho họ cũng cực kì chu đáo. Chẳng bao giờ thu hút sự chú ý, song anh ta lúc nào cũng theo sát diễn biến của vụ án. Và giờ khi Alma vắng mặt, mức độ theo sát sự việc của anh ta cũng gia tăng theo tỷ lệ tương ứng. Cứ hai lần một ngày, anh ta lại viết một bản báo cáo dài để gửi cho cô ấy.

Kennedy lúc này đang dồn hết mọi nỗ lực để xác định được vị trí của tay họa sĩ đang mất tích kia. Từ khi rời khỏi Danbridge, ông ta dường như đã hoàn toàn biến mất. Tuy nhiên, với sự giúp đỡ của O’Connor, cảnh sát trên khắp New England đều đang để mắt tìm kiếm ông ta.

Gia đình Thurston từng là bạn bè của Halsey trước khi Vera Lytton quen bác sĩ Dixon, chúng tôi đã phát hiện ra điều đó từ những câu chuyện phiếm ở Danbridge. Và tôi đi đến kết luận rằng Halsey đang che đậy cho tay họa sĩ này, có lẽ là vì tình nghĩa bạn bè, khi anh ta phát hiện ra Kennedy đang quan tâm đến từng nhất cử nhất động của Thurston. Tôi phải nói là mình thích Halsey hơn, vì anh ta có vẻ rất quan tâm đến gia đình Willard. Bất cứ lúc nào, anh ta cũng có thể dành thời gian một tiếng đồng hồ hoặc lâu hơn, để làm những chuyện kín đáo do gia đình đó nhờ vả.

Hai ngày đã trôi qua mà không có tin tức gì từ Thurston. Kennedy rõ ràng đang mất dần kiên nhẫn. Một ngày nọ, người ta đồn rằng ông ta đang ở thị trấn Bar Harbor, tiếp theo đó là một thông tin trình báo từ Nova Scotia. Thế nhưng, cuối cùng cũng có tin mừng rằng ông ta đã được tìm thấy ở New Hampshire, bị bắt và có thể được đưa về đây ngay hôm sau.

Ngay lập tức, Kennedy lại tràn đầy năng lượng. Anh đã sắp đặt một cuộc họp bí mật tại nhà của thượng nghị sĩ Willard, ngay khi tay họa sĩ kia được áp giải tới nơi. Thượng nghị sĩ và con gái của ông ấy đã bắt một chuyến bay quay trở lại thị trấn. Mọi chuyện về Thurston vẫn được giấu kín, Kennedy đã lặng lẽ thu xếp với anh chàng ủy viên công tố quận để anh ta có mặt tại cuộc họp cùng với mẩu ghi chú và lọ amoniac vẫn đang được bảo quản cẩn thận. Leland dĩ nhiên cũng xuất hiện, mặc dù khách hàng của ông ta thì không thể. Halsey Post trông có vẻ rất vui mừng khi được ở bên cô Willard, mặc dù anh ta dường như đã mất hứng thú với vụ án ngay khi gia đình Willard quay trở về để tự mình giải quyết. Bà Boncour đã đủ sức khỏe để tham dự. Ngay cả bác sĩ Waterworth cũng nhất quyết đòi được chở tới bằng xe cứu thương tư nhân, từ một thành phố gần đó lái qua, chỉ để phục vụ riêng cho ông. Thời gian đã được ấn định ngay trước khi chuyến tàu chở Thurston đến ga.

Đó là một cuộc tụ họp đầy lo lắng của cả đồng minh lẫn kẻ thù của bác sĩ Dixon, những người đang sốt sắng chờ đợi Kennedy bắt đầu màn bóc trần quan trọng này. Tất cả nhằm xác định tội lỗi hay sự vô tội của vị bác sĩ trẻ điềm tĩnh, đang ngồi trong nhà giam cách căn phòng này chưa đầy một cây số, nơi mà sự sống và cái chết của anh ta đang được cân nhắc.

“Xét trên nhiều phương diện, đây chính là vụ án đáng chú ý nhất mà tôi từng được số phận định đoạt phải xử lý.” Kennedy mở lời. “Chưa bao giờ tôi cảm thấy rõ ràng ý thức trách nhiệm của bản thân đến vậy. Vì thế, mặc dù đây là một thủ tục hơi sai quy tắc, nhưng hãy để tôi bắt đầu bằng cách trình bày các tình tiết mà tôi đã nắm được.”

“Đầu tiên, chúng ta hãy cùng xem xét về người phụ nữ đã bỏ mạng kia. Câu hỏi đặt ra ở đây là, cô ấy đã bị sát hại hay cô ấy tự sát? Tôi nghĩ các vị sẽ khám phá ra được câu trả lời khi nghe tôi tiếp tục giải thích. Cô Lytton, như các vị đã biết, hai năm trước vẫn là bà Burgess Thurston. Vợ chồng ông bà Thurston rất nóng tính và nóng tính thường là con đường nhanh nhất dẫn lối đến tòa án ly hôn. Trong trường hợp này thì là như thế. Bà Thurston đã phát hiện ra chồng mình đang dành rất nhiều sự chú ý tới những người phụ nữ khác. Cô ấy đã đệ đơn xin ly hôn ở New York và ông ta đã nhận được văn bản tố tụng ở miền Nam, nơi ông ta tình cờ đang có mặt tại đấy. Chí ít, điều đó đã được luật sư của bà Thurston làm chứng.”

“Giờ sẽ tới điểm đáng chú ý của vụ án. Theo tôi tìm hiểu được, công ty luật Kerr & Kimmel cách đây không lâu đã bắt đầu điều tra về tính hợp pháp của vụ ly hôn này. Trước sự chứng kiến của một công chứng viên, Thurston đã lập một bản khai có tuyên thệ rằng ông ta chưa bao giờ nhận được văn bản tố tụng từ luật sư đại diện cho cô Lytton, theo như danh tính được biết đến hiện giờ của cô ấy. Sau đó, vị luật sư này của Lytton đã chết, nhưng luật sư khác của cô Lytton ở miền Nam - người đã tống đạt các văn bản tố tụng tới tay Thurston - vẫn còn sống. Ông ấy đã được đưa tới New York và khẳng định dứt khoát rằng ông ấy đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy trình.”

“Đây chính là lúc sự gian manh của Mose Kimmel, một tay luật sư vô lương tâm, được phát huy tác dụng. Hắn ta đã cố tình mời vị luật sư miền Nam kia đến văn phòng để nhận dạng người đàn ông mà ông ấy đã tống đạt văn bản tố tụng. Nhưng mục đích thật sự là hắn ta sẽ cho tay thư ký của mình đóng giả Thurston và gặp mặt vị luật sư đó. Khi ông ấy đến, Kimmel vờ như có vẻ rất bối rối, tựa hồ hắn ta vừa bị bắt quả tang đang ngủ gật vậy. Vị luật sư miền Nam ấy, người chỉ mới gặp Thurston đúng một lần, đã bị rơi thẳng vào cái bẫy và nhận dạng tay thư ký chính là Thurston. Có rất nhiều nhân chứng cho việc này và đó là điểm lợi thứ hai cho Mose Kimmel giảo hoạt. Các văn bản giấy tờ đã được soạn thảo để bãi bỏ phán quyết ly hôn kia.”

“Trong khi đó, cô Lytton, hay bà Thurston, đã quen biết với một bác sĩ trẻ tại một bệnh viện ở New York và đã đính hôn với anh ta. Việc hôn ước của họ bị hủy bỏ sau đó không phải là vấn đề. Quan trọng là, nếu đơn xin ly hôn của bà Thurston bị bãi bỏ, thì khi đó việc khởi kiện bác sĩ Dixon vì đã dụ dỗ bà Thurston ngoại tình được cho là hợp lệ, kéo theo hệ lụy là một vụ bê bối rất nghiêm trọng. Tôi không cần phải nói thêm rằng, ở thị trấn Danbridge nhỏ bé yên tĩnh này, một vụ kiện giống vậy có thể gây ra những tai tiếng nghiêm trọng đến nhường nào.”

Kennedy mở một mảnh giấy ra. Khi anh đặt nó xuống, người ngồi bên cạnh tôi, luật sư Leland, liền khẽ thốt lên đầy hoảng hốt:

“Chúa ơi, ông ấy sẽ cho ủy viên công tố quận biết về lá thư đó ư. Ông không thể ngăn cản ông ấy được hay sao?”

Nhưng đã quá muộn rồi. Kennedy đã bắt đầu đọc lá thư của Vera. Nó có thể buộc tội Dixon, cộng thêm mẩu ghi chú được tìm thấy trong lọ amoniac kia nữa.

Khi anh đọc xong, tôi gần như có thể nghe thấy cả tiếng tim đập thình thịch trong căn phòng, vẻ cau có bao trùm trên gương mặt của ngài thượng nghị sĩ Willard. Alma Willard với khuôn mặt tái nhợt đang trừng mắt nhìn Kennedy. Halsey Post, người lúc nào cũng quan tâm đến cô, liền đưa cho cô một cốc nước trên bàn. Bác sĩ Waterworth tập trung cao độ đến nỗi quên mất cơn đau của chính mình và bà Boncour dường như đang chết sững vì kinh ngạc, ủy viên công tố quận thì háo hức ghi chép.

“Bằng cách nào đó...” Kennedy tiếp tục bằng chất giọng đều đều. “Hoặc bức thư này đã bị bỏ sót trong đống thư ban đầu của bác sĩ Dixon, hoặc nó đã được thêm vào sau đó. Tôi sẽ quay lại vấn đề ấy ngay thôi. Tình tiết tiếp theo của tôi là bác sĩ Dixon nói anh ta đã nhận được một lá thư từ Thurston vào ngày ông họa sĩ này tới thăm ngôi nhà gỗ của bà Boncour. Nội dung của nó hỏi về một hợp chất trị đau đầu nào đó và câu trả lời của anh ta rất ngắn gọn, theo như tôi tìm hiểu được gần như chính xác là: Hợp chất này sẽ không chữa được chứng đau đầu, còn chưa kể nó có thể gây ra tác hại làm giảm hoạt động của tim rất nguy hiểm.”

“Tiếp theo là tới bi kịch kia. Vào buổi tối ngày Thurston rời đi, có lẽ là sau khi nói với cô Lytton về những gì công ty Kerr & Kimmel đã làm, cô Lytton đã được phát hiện trong tình trạng hấp hối với một lọ chứa xyanua và chất thăng hoa bên cạnh, cũng như mẩu ghi chú được phát hiện trong lọ amoniac. Chắc hẳn các vị đều đã nắm rõ được các tình tiết trên của sự việc rồi. Giờ thì, nếu ủy viên công tố quận vui lòng cho tôi xem lại mẩu ghi chú đó - cảm ơn, thưa ông. Đây chính là mẩu ghi chú gốc. Tất cả các vị đều đã nghe được rất nhiều những giả thuyết khác nhau liên quan tới cái lọ và cũng đã đọc được mẩu ghi chú ấy. Nội dung của nó rất đơn giản, nhạt nhẽo và rõ ràng - được viết bằng chính nét chữ viết tay của bác sĩ Dixon, như các vị đã biết, đó là: Thứ này sẽ chữa được chứng đau đầu của cô. BÁC Sĩ DIXON.”

Alma Willard dường như chết sững. Có phải Kennedy, người đã được cha cô thuê để bảo vệ vị hôn phu của cô, giờ đây lại đang chuẩn bị kết tội anh ấy ư?

“Trước khi chúng ta đưa ra được kết luận cuối cùng...” Kennedy tiếp tục nói với vẻ nghiêm trang. “Có một, hai điểm tôi muốn làm rõ hơn. Walter, anh có thể đi mở cánh cửa dẫn vào sảnh chính kia chứ?”

Tôi làm theo lời anh và hai viên cảnh sát bước vào cùng với một tù nhân. Đó chính là Thurston, nhưng diện mạo ông ta đã thay đổi tới mức gần như không thể nhận ra được. Quần áo sờn rách, râu ria đã được cạo sạch sẽ cùng dáng vẻ chật vật.

Thurston lộ rõ vẻ lo lắng. Rõ ràng ông ta đã nghe được tất cả những gì Kennedy vừa nói, cũng như chủ đích là để ông ta nghe được. Ngay khi bước vào, ông ta gần như đã vùng thoát khỏi hai viên cảnh sát trong niềm tha thiết được lên tiếng.

“Lạy Chúa!” Ông ta kêu lên đầy thảng thốt. “Tôi vô tội như ông trong tội ác này vậy, giáo sư Kennedy ạ.”👁️

“Ông đang định thề trước mặt tôi hay sao?” Kennedy gần như hét lên, mắt anh rực lửa. “Rằng ông chưa bao giờ nhận được văn bản tố tụng từ các luật sư của vợ ông trong vụ kiện kia ư?”

Người đàn ông liền co rúm cả lại, như thể vừa bị giáng một cú đấm chát chúa vào giữa hai mắt mình. Khi ông ta bắt gặp cái lườm trừng trừng của Craig, ông ta hiểu ra mình chẳng còn hy vọng gì nữa. Chậm rãi, như thể từng từ từng chữ đang được vắt kiệt ra từ tâm can của mình, ông ta nói với giọng nghèn nghẹn:

“Không, chính tôi đã khai man. Tôi đã nhận được các văn bản tố tụng trong vụ kiện đó. Nhưng...”

“Và ông đã thề gian thề dối trước mặt Kimmel rằng ông không hề nhận được ư?” Kennedy gặng hỏi.

“Đúng vậy.” Ông ta lầm bầm. “Thế nhưng...”

“Và giờ, ông đã sẵn sàng lập một bản khai có tuyên thệ khác cho chuyện đó hay chưa?”

“Rồi.” Ông ta đáp. “Nếu như...”

“Không có nhưng nhị gì hết, Thurston ạ!” Kennedy kêu lên một cách đầy mỉa mai. “Mục đích của ông khi lập bản khai có tuyên thệ đó là gì? Thứ ông muốn là gì?”

“Kimmel đã bảo tôi làm vậy. Tôi không chủ đích tới tìm gặp hắn ta. Hắn ta đã đề nghị trả hết mọi nợ nần cho tôi nếu tôi chịu thề thốt trước lời tuyên bố đó. Tôi không hỏi lý do vì sao hay vì ai. Tôi đã thề theo lời hắn ta bảo và đưa cho hắn ta danh sách các chủ nợ của tôi. Tôi đã đợi đến khi họ được thanh toán nợ xong xuôi. Sau đó, lương tâm của tôi...” Tôi không thể không cảm thấy ghê tởm trước ý nghĩ về lương tâm của một kẻ khốn nạn như vậy. Chính từ ngữ đó dường như cũng đang bị mắc lại trong cổ họng ông ta khi ông ta định nói tiếp. Hoặc có lẽ ông ta cũng nhận ra bản thân đang khiến chúng tôi cảm thấy ông ta yếu đuối đến nhường nào. “Lương tâm của tôi đã bắt đầu cắn rứt. Tôi quyết định tới gặp Vera, kể cho cô ấy nghe mọi chuyện và tìm hiểu xem liệu có phải chính cô ấy là người muốn tuyên bố này hay không. Tôi đã tới gặp cô ấy. Khi tôi cuối cùng cũng đã nói ra được với cô ấy, cô ấy liền tỏ vẻ khinh miệt tôi. Tôi có thể xác nhận điều đó. Và khi tôi rời đi, một người đàn ông đã bước vào. Giờ thì tôi đã biết mình đã phạm phải tội lỗi khủng khiếp như thế nào, khi nghe lời của Mose Kimmel. Tôi đã chạy trốn. Tôi đã ẩn nấp ở Maine. Tôi đi tới chỗ này chỗ nọ. Mỗi ngày qua đi, tiền bạc của tôi càng vơi dần. Cuối cùng, tôi đã bị bắt kịp, bị tóm và dẫn trở về đây.”

Ông ta dừng lời rồi ngồi phịch xuống ghế với vẻ đầy thảm hại, đưa hai tay che mặt.

“Một câu chuyện có vẻ hợp lý đấy.” Leland thì thầm vào tai tôi.

Kennedy hành sự rất nhanh chóng. Sau khi ra hiệu cho các viên cảnh sát tới ngồi cạnh Thurston, anh mở một cái lọ mà mình đã đặt sẵn trên bàn. Sắc hồng giờ đây đã xuất hiện trở lại trên đôi má Alma, tựa hồ niềm hy vọng đang lần nữa trỗi dậy trong trái tim của cô. Và tôi cho rằng Halsey Post đã nhận ra sự ưu ái mà cô dành cho anh ta theo đó cũng đang dần vơi đi.

“Tôi muốn các vị kiểm tra những bức thư trong vụ án này cùng với tôi.” Kennedy tiếp tục. “Bắt đầu từ lá thư tôi đã đọc và viết bởi cô Lytton, nó được phát hiện ra sau khi bức thư ngắn của Thurston biến mất một cách thần kỳ.”

Anh lấy ra một chiếc bút, nhúng đầu bút vào một cái lọ nhỏ và viết lên một tờ giấy:

Xin hỏi anh cảm thấy phương pháp chữa bệnh đau đầu đã được cấp bằng sáng chế kia, có thực sự hữu dụng không? Liệu anh có thể cho tôi phương thuốc điều trị chứng đau đầu liên quan tới hệ thần kinh hay không?

BURGESS THURSTON,

hãy nhờ bà S. BONCOUR chuyển thư giúp nhé.

Craig giơ cao tờ giấy lên để tất cả chúng tôi có thể thấy từng dòng chữ mà anh đã viết. Đây chính là những gì mà Dixon từng tuyên bố rằng Thurston đã đề cập trong bức thư ngắn bị biến mất kia. Sau đó, anh nhúng một cây bút khác vào chiếc lọ thứ hai và nguệch ngoạc hồi lâu trên một tờ giấy khác. Nhưng khi anh giơ nó lên, nó hoàn toàn trống trơn.

“Giờ thì...” Anh nói thêm. “Tôi sẽ biểu diễn một chút điều mà tôi đang cho là chỉ mới thành công được ở mức độ nào đó. Ở đây, dưới ánh nắng mặt trời để ngỏ bên ô cửa sổ này, tôi sẽ đặt hai tờ giấy cạnh nhau. Sẽ mất nhiều thời gian hơn tôi dự kiến để hoàn thành phần trình diễn của mình, nhưng tôi có thể thực hiện được vừa đủ để thuyết phục các vị.”

Trong vòng mười lăm phút sau đó, chúng tôi ngồi im lặng, tự hỏi anh sẽ làm gì tiếp theo. Cuối cùng anh ra hiệu cho chúng tôi bước tới bên cửa sổ. Khi chúng tôi đến gần, anh nói: “Ở tờ giấy số một, tôi đã viết bằng quinoline* . Ở tờ giấy số hai, tôi đã viết bằng dung dịch bạc nitrat*”

Chúng tôi cúi xuống nhìn. Lá thư được ký tên “Thurston” trên tờ đầu tiên giờ đang rất mờ nhạt, gần như không thể nhận ra được. Nhưng trên tờ thứ hai, lại xuất hiện các dòng chữ màu đen mà Kennedy đã viết:

Harris thương yêu,

Vì hai ta đã chấp thuận tôn trọng ý kiến của nhau, thì chí ít anh và em vẫn có thể làm bạn tốt, nếu không còn là một đôi nữa.

“Nó giống hệt phần đầu của bức thư đã được thay thế kia và lá thư còn lại giống hệt như bức thư ngắn đã biến mất.” Leland há hốc miệng bàng hoàng.

“Đúng vậy.” Kennedy nhanh chóng đáp lại. “Leland, chẳng có bất cứ ai đột nhập vào văn phòng ông cả. Không ai lấy trộm mất bức thư ngắn kia của Thurston. Cũng chẳng ai thay thế bức thư của Lytton. Dựa theo câu chuyện mà ông đã kể cho chúng tôi, ông đã lấy chúng ra khỏi két sắt và để chúng dưới ánh sáng mặt trời suốt cả ngày. Quá trình đã được bắt đầu trước đó trong điều kiện ánh sáng bình thường và dần dần biến đổi như thí nghiệm trên. Nói cách khác, có phần chữ viết sẽ nhanh chóng biến mất trên mặt giấy này và có phần chữ viết vốn không thể nhìn thấy lại chẳng mấy chốc mà xuất hiện ở trên mặt giấy kia.”

“Chẳng hạn, quinoline đã biến mất nhanh chóng dưới ánh sáng mặt trời. Tinh bột với một chút i-ôt* sẽ viết ra được màu xanh lam nhạt và sẽ mất hút trong không khí. Nó giống với loại mực được sử dụng trong bức thư của Thurston. Sau đó, bạc nitrat hòa tan trong amoniac sẽ từ từ chuyển sang màu đen, khi nó bị tác động bởi ánh sáng và không khí. Hoặc màu đỏ tía, được xử lý bằng chất tẩy trắng với một lượng vừa đủ để làm mất màu khi được dùng để viết chữ. Tuy nhiên, màu gốc sẽ xuất hiện trở lại khi oxy trong không khí tác động lên sắc tố của nó. Tôi tin rằng những phân tích của tôi về các loại mực này là hoàn toàn chính xác, rằng một mặt giấy được dùng quinoline, còn mặt giấy kia sử dụng bạc nitrat. Điều này đã lý giải cho sự biến mất khó hiểu của bằng chứng buộc tội một người - Thurston và sự xuất hiện đột ngột của bằng chứng buộc tội một người khác - bác sĩ Dixon. Đồng thời, mực hóa học cũng sẽ lý giải cho một chi tiết kỳ quái là bức thư của cô Lytton đã được gấp lại với phần chữ viết ở mặt bên ngoài. Nó đã nằm ở đó, không thể được nhìn thấy, cho tới khi ánh sáng mặt trời khiến nó hiện nguyên hình và phá hủy bức thư ở mặt bên trong kia. Tôi nghi ngờ mục đích của sự thay đổi này là để cảnh sát phát hiện ra sau khi nó đã hoàn tất quá trình biến đổi, chứ không phải để luật sư bên bị cáo chứng kiến lúc nó đang xảy ra.”

Chúng tôi nhìn nhau vẻ kinh hoàng. Thurston đang lo lắng mấp máy rồi lại mím chặt môi và liếm ướt chúng, như thể ông ta đang muốn nói gì đó, song chẳng thể nào tìm thấy được ngôn từ.

“Cuối cùng...” Craig tiếp tục, hoàn toàn không đếm xỉa tới những nổ lực điên cuồng để có thể lên tiếng của Thurston. “Chúng ta sẽ đến với mẩu ghi chú được phát hiện trong tình trạng nhàu nát tới lạ trong lọ amoniac trên bàn trang điểm của Vera Lytton. Ở đây, tôi cũng có một lọ thủy tinh hình trụ, trong đó tôi có cho vào một ít amoni clorua* và vôi sống*. Tôi sẽ làm ướt nó và đun nóng lên một chút. Phản ứng này sẽ sinh ra khí amoniac có mùi hăng.”

“Trên một mặt của tờ giấy thứ ba này, tự tay tôi sẽ viết bằng dung dịch thủy ngân nitrat* này. Các vị thấy đấy, tôi không để lại bất cứ dấu vết gì trên tờ giấy khi viết. Tôi gấp nó lại và thả nó vào trong chiếc lọ - vài giây sau, tôi lấy nó ra. Đây là một cách thức rất nhanh để tạo ra được một thành phẩm, giống như kết quả từ từ của ánh sáng mặt trời đối với bạc nitrat. Khói của amoniac đã hình thành kết tủa của thủy ngân nitrat màu đen, một phần chữ viết màu đen rất rõ ràng và gần như không thể tẩy trôi được. Đó chính xác được gọi là mực vô hình, thay vì mực hóa học.”

Chúng tôi nghiêng người qua để đọc những gì anh đã viết. Nó giống hệt như mẩu ghi chú buộc tội Dixon:

Thứ này sẽ chữa được chứng đau đầu của cô.

BÁC Sĩ DIXON.

Một người hầu bước vào cùng một bức điện tín được gửi từ New York. Dù rất hiếm khi tạm dừng trong lúc đang phơi bày chân tướng của sự việc, Kennedy vẫn xé nó ra, đọc thật nhanh rồi nhét lại vào túi và tiếp tục.

“Ở trong chai thứ tư này, tôi có một dung dịch axit sắt clorua*, được pha loãng vừa đủ để phần chữ viết sẽ biến mất khi dung dịch khô hết.” Anh vội vàng nói tiếp. “Tôi sẽ chỉ vạch vài đường trên tờ giấy thứ tư này - vậy thôi. Nó không để lại dấu vết gì. Nhưng nó có một đặc tính nổi bật là sẽ chuyển sang màu đỏ khi tiếp xúc với hơi của sulphoxyanua. Đây là một bình khí cổ dài, được tạo ra bởi axit sulfuric* tác dụng với kali sulphoxyanua. Hãy lùi lại đi, bác sĩ Waterworth, vì sẽ rất nguy hiểm cho ông nếu hít phải dù chỉ một chút xíu chất này trong tình trạng sức khỏe như vậy. À! Thấy chưa - những vết gạch mà tôi đã tạo ra trên tờ giấy đã biến thành màu đỏ rồi đây.”

Sau đó, gần như chỉ chừa cho chúng tôi đúng một giây để ghi nhớ sự thật, anh chộp lấy mảnh giấy và ném nó vào lọ amoniac kia. Khi anh rút nó ra, nó lại chỉ còn là một tờ giấy trắng. Những vạch đỏ đã bị amoniac làm lu mờ. Chúng đã hoàn toàn biến mất và không để lại dấu vết gì.

“Bằng cách này, tôi có thể luân phiên làm cho những vết tích kia xuất hiện và biến mất bằng cách sử dụng sulphoxyanua amoniac. Gã viết mẩu ghi chú này và để tên bác sĩ Dixon, chắc hẳn đã nhận được câu trả lời của vị bác sĩ ấy dành cho bức thư của Thurston. Trong đó có dòng chữ: Thứ này sẽ không chữa được chứng đau đầu. ” Anh cẩn thận lần theo từng từ ngữ, giơ mẩu ghi chú chính cống ra trước ánh sáng với một mảnh giấy phủ lên bên trên nó, bỏ đi từ “không” và chỉ sử dụng những từ anh cần. Vậy là, mẩu ghi chú ấy đã bị phá hoại.

“Tuy nhiên, sau khi hắn ta lấy được phần chữ viết màu đỏ kia bằng cách sử dụng sulphoxyanua và dẫu hắn ta có thể trông đợi việc Vera Lytton nhét mẩu giấy đó vào trong lọ amoniac, _để từ đó xóa sạch được phần nội dung cũ. Hay phần chữ viết vốn không thể nhìn thấy trong _thủy ngân nitrat _ có nhắc tới tên của bác sĩ Dixon, sẽ hiện lên ở mặt bên kia mẩu ghi chú, nhờ _amoniac và không thể tẩy trôi. Bất kể tất cả mánh khóe trên, thì hắn vẫn quên mất một điều rằng...” Kennedy lúc này đang cất tiếng với vẻ đầy hăng hái và to tát. “Chỉ cần có hơi sulphoxyanua, những chứng cứ buộc tội hắn ta sẽ có thể được khôi phục bất cứ lúc nào, dù cho chúng đã từng bị che đậy bởi amoniac ”.

Trước khi ủy viên công tố quận kịp chen lời vào, Kennedy đã nhặt mảnh giấy được tìm thấy trong lọ amoniac bên cạnh cô gái đang hấp hối và nhét mảnh bằng chứng này của bang vào chiếc bình cổ dài chứa hơi sulphoxyanua.

“Đừng lo lắng.” Anh nói, cố gắng xoa dịu vị ủy viên công tố quận lúc này đang đùng đùng nổi giận. “Nó sẽ chẳng ảnh hưởng gì tới phần chữ viết của Dixon đâu. Giờ thứ đó đã là vĩnh viễn rồi, ngay cả khi nó chỉ là một bản được nhái lại đi nữa.”

Khi anh rút mẩu ghi chú ấy ra, trên cả hai mặt của nó đều có chữ viết, những nét chữ màu đen của mẩu ghi chú gốc và phần chữ viết gì đó màu đỏ ở mặt kia.

Chúng tôi cùng chen chúc xung quanh và Craig đọc nó với niềm thích thú không kém bất kì ai trong chúng tôi:

”Trước khi uống thuốc trị đau đầu, nhớ lật mặt chữ viết của tờ giấy này ra ngoài và bỏ vào trong một cái lọ cùng một ít nước ấm.”

“Hừm.” Craig nhận xét. “Có vẻ đây chính là nội dung nằm ở mặt ngoài của tờ giấy bọc một ít amoni clorua và vôi sống.” Nó tiếp tục:

”Cứ thả tất cả vào, tờ giấy và mọi thứ. Sau đó, nếu cô thấy choáng váng vì thuốc, amoniac sẽ nhanh chóng giúp cô hồi phục ngay thôi. Chỉ cần nuốt nhanh một thìa thuốc bột trị đau đầu là đủ.”

Không có cái tên nào được ký lên những chỉ dẫn đó cả, nhưng chúng lại được viết một cách rất rõ ràng. Còn cụm từ “tờ giấy và mọi thứ” thì được gạch chân nhiều lẩn.

Craig lôi ra vài lá thư. “Ở đây, tôi có mẫu chữ viết của nhiều người liên quan tới vụ án này. Nhưng chỉ cần nhìn thoáng qua, tôi đã có thể nhận ra đâu là mẫu chữ tương ứng với chữ viết trên tờ lệnh tử hình màu đỏ, được tạo ra bởi một tên ác quỷ gần như vô nhân tính này. Tuy nhiên, tôi sẽ để lại phần đó cho các chuyên gia phân tích chữ viết tay để họ định đoạt tại phiên tòa. Thurston, ai là người mà ông đã nhìn thấy bước vào ngôi nhà gỗ của bà Boncour khi ông rời đi - vị khách thường xuyên ghé thăm này ấy?”

Thurston vẫn chưa lấy lại sự bình tĩnh, nhưng bằng ngón tay trỏ run rẩy, ông ta quay sang và chỉ thẳng vào Halsey Post.

“Vâng, thưa các quý ông và quý bà...” Kennedy vừa thốt lên vừa dứt khoát đập bức điện vừa được gửi đến từ New York xuống mặt bàn. “Vâng, khách hàng thực sự của công ty Kerr & Kimmel, người đã khuất phục được Thurston làm theo ý hắn ta, chính là Halsey Post! Hắn chính là người tình bí mật của Vera Lytton cho đến khi bị đe dọa bởi vụ bê bối ở Danbridge. Halsey Post, tốt nghiệp ngành công nghệ, sinh viên chuyên ngành mực hóa học. Hắn đã giả mạo bức thư của Vera Lytton và các ghi chú khác, đồng thời còn là dân buôn xyanua trong nghề thợ bạc. Một tên đào mỏ đang khao khát hàng triệu đô la của gia đình Willard để bù đắp lại những thua lỗ của công ty Post & Vance. Và, cũng chính là tình địch của bác sĩ Dixon trong cuộc chiến giành giật tình yêu của cô Alma Willard. Đó là kẻ đã sử dụng cây bút có độc kia. Bác sĩ Dixon vô tội!”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của arthur b. reeve