
“Xin chào! Vâng, đây là giáo sư Kennedy. Tôi không nghe rõ tên - ồ, vâng - Chủ tịch Blake của công ty Bảo hiểm Trộm cắp Tiêu chuẩn. Cái gì cơ - thật sao? Những viên ngọc trai Branford - đã bị đánh cắp ư? Cô hầu gái đã bị đánh thuốc mê? Vâng, tôi sẽ nhận vụ này. Ông sẽ có mặt sau nửa tiếng đồng hồ nữa? Được rồi, tôi sẽ ở đây. Tạm biệt ông.”
Chính nhờ cuộc trò chuyện gọn gàng và vắn tắt qua điện thoại đó mà Kennedy đã bị vướng vào một trong những vụ án nguy hiểm nhất anh từng xử lý.
Khi nghe nhắc tới những viên ngọc trai Branford, tôi đã vô tình ngừng đọc sách và dỏng tai lắng nghe. Không phải vì tôi muốn tọc mạch công việc của Craig, mà đơn giản là bởi tôi không thể kìm lòng được. Đây là một tin tức chưa được công bố với báo chí và bản năng đã mách bảo tôi rằng phải có điều gì đó sâu xa hơn là lời tường thuật trần trụi về một vụ cướp như thế.
“Có kẻ nào đó đã vớ được một mẻ giàu sụ rồi.” Tôi nhận xét. “Theo như tôi nhớ được, có tin đồn là hồi những viên ngọc trai Branford kia được mua tại Paris năm ngoái, bà Branford đã phải bỏ ra tới một triệu franc cho bộ sưu tập ấy đấy.”
“Ông Blake đang cử viên thám tử lanh lợi nhất của mình tới chung sức với tôi trong vụ án này.” Kennedy nói thêm. “Theo như tôi nắm được, Blake cũng chính là người đứng đầu Hiệp hội Bảo lãnh Bảo hiểm Trộm cắp. Đây sẽ là một món hời đấy, Walter ạ, nếu chúng ta xử lý được vụ này.”
Đó là nửa tiếng đồng hồ dài nhất mà tôi từng trải qua, để chờ Blake đến. Khi ông ta cuối cùng cũng xuất hiện, khá rõ ràng là phỏng đoán của tôi đã đúng.
Blake chính là một trong những gã đàn ông tuy lớn tuổi song vẫn còn phong độ, kiểu người đang càng ngày càng trở nên quen thuộc trong giới kinh doanh hiện nay. Từ phong thái của ông ta toát lên một dáng vẻ nghiêm cẩn và sốt sắng cho thấy rõ ông ta đang coi trọng vụ việc này thế nào. Quá nóng lòng đến nỗi thảo luận ngay vào công việc, ông ta gần như còn chẳng kịp giới thiệu bản thân và người bạn đồng hành của mình, sĩ quan đặc biệt Maloney, một thám tử tư khá có tiếng.
“Dĩ nhiên là ông chưa từng được nghe bất cứ tin tức gì ngoại trừ những điều tôi vừa nói với ông qua điện thoại.” Ông ta bắt đầu, đi thẳng vào vấn đề. “Bản thân chúng tôi cũng mới được thông báo về việc này vào trưa nay và chúng tôi vẫn chưa công bố với báo chí, mặc dù cảnh sát địa phương ở Jersey hiện đã có mặt tại hiện trường. Cảnh sát New York chắc sẽ nhận được tin vào tối nay, vậy nên bất cứ điều gì chúng ta cần thực hiện đều phải được hoàn thành xong xuôi trước khi họ làm rối tung mọi chuyện. Có một đầu mối mà chúng tôi muốn bí mật theo dõi. Sau đây là tình tiết sự việc.”
Bằng lời lẽ ngắn gọn, thẳng thắn của một người làm việc năng suất và thức thời, ông ta đã phác thảo lại tình hình cho chúng tôi.
“Ông biết đấy, điền trang Branford có diện tích tầm khoảng chục héc ta trên ngọn núi phía sau Montclair, nhìn ra thung lũng và được bao quanh bởi những điền trang thậm chí còn rộng lớn hơn thế. Theo như tôi nắm được, ông Branford đang ở miền Tây cùng với một nhóm các nhà tư bản để điều tra một phát hiện được trình báo về muối potash*. Bà Branford đã đóng cửa ngôi nhà cách đây vài hôm và đến thị trấn Palm Beach ở trong một thời gian ngắn. Dĩ nhiên, họ nên cất những của cải có giá trị của mình vào một hầm ký gửi an toàn nào đó. Thế nhưng, họ đã không làm vậy. Họ đã tin tưởng vào một chiếc két sắt được cho là một trong những loại két tuyệt hảo nhất trên thị trường - một chiếc két sắt rất tráng lệ, tôi có thể nói là vậy. Chà, có vẻ là trong lúc cả ông chủ và bà chủ ngôi nhà đều đi vắng, những người hầu đã quyết định tận hưởng một quãng thời gian vui vẻ ở New York. Họ đã khóa cửa nhà cẩn thận - không nghi ngờ gì về điều đó - và cứ thế ra ngoài vui chơi. Tức là, tất cả bọn họ đều đi vắng, ngoại trừ người hầu gái của bà Branford, người đã từ chối đi vì lý do nào đó. Chúng tôi đã thẩm vấn toàn bộ người hầu, song chẳng tìm ra được bất cứ manh mối nào từ họ. Họ vừa trải qua một cuộc chè chén say sưa, điều đấy rõ ràng rồi. Họ thừa nhận điều đó.”
“Giờ thì, khi trở về nhà vào sáng sớm hôm nay, họ phát hiện ra người hầu gái kia đang nằm trên giường - đã chết, vẫn còn mùi chloroform* nồng nặc khắp căn phòng. Chiếc giường bị xáo trộn như thể một cuộc vật lộn đã xảy ra. Một chiếc khăn tắm được quấn qua loa kiểu hình nón, tẩm đẫm chloroform và bịt chặt trên mũi của cô gái. Thứ tiếp theo họ phát hiện ra là chiếc két sắt - đã bị phá nổ theo cách cực kì quái lạ. Tôi sẽ không bàn sâu về vấn đề ấy. Chúng tôi sẽ đưa ông ra ngoài đó và cho ông xem, sau khi tôi đã kể cho ông nghe toàn bộ câu chuyện.”
“Đây mới là vấn đề thực sự. Mọi chuyện có vẻ trông rất ổn, cho đến thời điểm này. Cảnh sát địa phương nói rằng kẻ trộm hoặc bọn trộm, bất kể chúng là ai đi nữa, dường như đã vào được trong nhà bằng cách phá một ô cửa sổ ở phía sau. Đó là sai lầm số một. Hãy kể cho ông Kennedy nghe về chiếc cửa sổ ấy đi nào, Maloney.”
“Mọi chuyện đơn giản như thế này.” Viên thám tử trả lời. “Khi tôi đến kiểm tra ô cửa sổ bị vỡ đó, tôi nhận ra những mảnh kính bị rơi ra bên ngoài, theo cách mà lẽ ra nó không thể như vậy, nếu cửa sổ bị đập phá từ bên ngoài. Ô cửa ấy chỉ là một hình thức tung hỏa mù mà thôi. Bất kể kẻ nào đã làm thế đi nữa, hắn cũng đã vào được trong nhà theo lối khác, sau đó đập vỡ cửa kính để đánh lạc hướng điều tra.”
“Và...” Blake kết luận, kẹp điếu xì gà giữa ngón cái và ngón trỏ của mình, rồi vung vẩy nó để nhấn mạnh những lời ông ta nói. “Chúng tôi đã gọi điện thoại đường dài cho đặc vụ của mình ở thị trấn Palm Beach hai lần vào buổi chiều hôm nay. Bà Branford không hề tới Palm Beach. Bà ấy không đặt phòng trong bất cứ khách sạn nào ở đó. Hơn thế nữa, bà ấy còn chưa từng có ý định đến đó. May mắn thế nào, Maloney lại vớ được manh mối từ một trong các người hầu kia và đã tìm được bà ấy ở khách sạn Grattan ngay trong thành phố này. Nói cách khác, bà Branford đã tự đánh cắp đồ trang sức của mình để lấy tiền bảo hiểm trộm cắp - đây vốn là một hành vi “đủ” phổ biến. Nhưng theo như tôi biết thì nó chưa bao giờ được thực hiện với một quy mô khủng như vậy trước đây cả.”
Người đứng đầu Hiệp hội Bảo lãnh Bảo hiểm Trộm cắp ngả người ra sau ghế và quan sát chúng tôi bằng ánh mắt sắc bén.
“Nhưng...” Kennedy chậm rãi ngắt lời. “Còn...”
“Tôi biết... người hầu gái.” Blake tiếp tục. “Tôi không có ý nói rằng bà Branford thực sự đã trộm cắp. Ồ, không hề. Bởi chuyện đó được thực hiện bởi một tên trộm két có kinh nghiệm.Hắn ta hẳn phải có kỹ năng trên mức trung bình, nhưng tất cả mọi tình tiết đều chỉ ra đó là tác phẩm của một tên trộm vụng về. Bà ấy đã thuê hắn ta. Tuy nhiên, hắn ta lại đi quá giới hạn khi chụp thuốc mê người hầu gái.”
Trong khoảnh khắc, Kennedy im lặng. Sau đó, anh bảo: “Chúng ta hãy đến đó kiểm tra chiếc két sắt xem sao. Chắc chắn phải có một manh mối nào đó. Sau đấy, tôi muốn được nói chuyện với bà Branford. Nhân tiện...” Anh nói thêm, khi tất cả chúng tôi đã đứng dậy để đi xuống chỗ xe hơi của Blake. “Tôi đã từng xử lý một vụ án liên quan tới bảo hiểm nhân thọ cho công ty Great Eastern. Tôi đã đưa ra điều kiện với họ rằng tôi sẽ được xử lý nó theo cách của riêng mình, bất kể nó có lợi hay bất lợi cho công ty. Như vậy có chấp nhận được không, trước khi tôi đảm trách vụ này?”
“Được chứ, được chứ.” Blake đồng ý. “Hãy cứ tìm ra chân tướng của sự việc. Chúng tôi sẽ không tìm cách trốn tránh trách nhiệm pháp lý chính đáng của mình đâu. Suy đoán trên chỉ là một ví dụ minh họa mà chúng tôi dựng lên bởi rất nhiều lý do mà chúng tôi tin rằng điều đó là thật. Nói chung, đã có quá nhiều vụ mạo danh trộm cắp để lĩnh tiền bảo hiểm kiểu này rồi. Và với tư cách là Chủ tịch của Hiệp hội Bảo Lãnh, bổn phận và mục đích của tôi là phải ngăn chặn nó. Đi nào.”
Maloney gật đầu thật mạnh, tỏ ý đồng tình với sếp mình. “Không việc gì phải sợ hãi.” Anh ta thì thầm. “Sự thật chính là điều sẽ mang lại lợi ích cho công ty, được rồi. Bà ta đã làm vậy còn gì.”
Điền trang Branford nằm cách ga xe lửa một quãng. Mặc dù sẽ mất nhiều thời gian để đi bằng xe hơi hơn đi tàu, nhưng lựa chọn xe hơi sẽ giúp chúng tôi không phải phụ thuộc vào dịch vụ tàu đêm khá thất thường cùng những người lái _taxi _địa phương.
Chúng tôi nhận ra ngôi nhà không hề bị cánh người hầu bỏ bê, nhưng họ cũng chẳng mặn mà gì với nó. Thi thể của cô hầu gái đã được chuyển đến một nhà xác trong vùng. Một sĩ quan cảnh sát đang tuần tra quanh khu đất, mặc dù tôi không thể hiểu được mục đích làm như vậy là để làm gì.
Kennedy chủ yếu quan tâm đến cái két. Nó thuộc loại két được gọi là “chống trộm”, có dạng hình cầu và trông giống như một chiếc máy điện thu nhỏ.
“Tôi không biết liệu có thứ gì trên đời có thể chống trụ được kiểu hành xử man rợ như với chiếc két sắt này hay không.” Craig nhận xét khi anh khép lại màn kiểm tra sơ bộ về chiếc két. “Nó cho thấy khả năng chống chịu rất lớn đối với những chất nổ có sức công phá mạnh, mà tôi tin, chủ yếu là do hình dạng tròn trịa của nó. Nhưng chẳng thứ gì có thể đứng vững được trước những đòn tấn công liên tục như vậy cả.”
Anh tiếp tục kiểm tra chiếc két sắt trong khi chúng tôi cứ đứng đực bên cạnh. “Tôi thích tái dựng lại các vụ án trong đầu.” Kennedy giải thích trong lúc anh từ từ kiểm tra. “Xem nào, gã này hẳn đã phải lột sạch tất cả những chi tiết trang trí bên ngoài của cái két. Hành động tiếp theo của hắn ta là tạo một vết lõm trên bề mặt mangan vắt ngang qua bản lề nối giữa cánh cửa và thân két. Việc này chắc hẳn phải mất rất nhiều phút làm việc cật lực. Thực tế là, tôi vẫn chưa hiểu được làm thế nào hắn ta có thể làm như vậy mà không cần dùng tới búa tạ và một cái đục nóng. Tuy nhiên, hắn ta thực sự đã làm được, sau đó...”
“Vậy còn cô hầu gái?” Maloney xen vào. “Cô ấy đang ở trong nhà. Chắc chắn cô ấy sẽ phải nghe thấy âm thanh đáng ngờ nào đó và phát tín hiệu báo động chứ.”
Đáp lại, Craig chỉ đơn thuần bước tới bên một ô cửa sổ lồi rồi kéo rèm lên. Chỉ vào ánh đèn của ngôi nhà bên cạnh, xa tít dưới con đường, anh nói: “Tôi sẽ mua loại xì gà ngon nhất trong bang này nếu anh có thể khiến họ nghe thấy tiếng của anh trong một đêm gió thổi dữ dội như đêm hôm qua đấy. Không, rất có khả năng cô ấy đã hét lên. Hoặc tại thời điểm này, hoặc là ngay từ đầu, tên trộm kia chắc đã đánh thuốc mê cô ấy. Ngoài những điều trên, tôi không thấy có cách nào khác để giải thích điều đó cả. Tôi tự hỏi liệu hắn ta có ngờ tới sẽ gặp phải một vấn đề khó nhằn nào đó trong lúc hắn ta tìm kiếm chiếc két sắt này không? Vậy nhưng, rõ ràng hắn ta đã chuẩn bị sẵn cách đối phó trong mọi trường hợp rồi. Lúc bấy giờ, hắn ta đã ở đây và đột nhập vào một trận địa trống trải đến không ngờ như vậy, ngoại trừ cô hầu gái. Hắn ta chỉ cần loại bỏ cô gái đó là xong, hoặc đồng bọn của hắn ta đã làm - theo cách dễ dàng nhất có thể, tội nghiệp cô gái.”
Quay trở lại chỗ két sắt, anh tiếp tục: “Chà, dù thế nào đi nữa, hắn ta đã đào một cái rãnh có lẽ dài khoảng bốn phân, rộng sáu milimét và, tôi phải nói là, không sâu quá ba milimét. Sau đó, hắn ta bắt đầu mở trộm két một cách thật nghiêm túc. Bên dưới vết lõm, hắn ta tạo ra một loại cốc nhỏ bằng đất sét đỏ rồi đổ “xúp” - nitroglycerin* - để nó chảy vào chỗ lõm. Sau đó, hắn ta cho nổ nó theo cách thức thông thường bằng một cục pin và một nắp fulminat* . Tôi không biết liệu nó có làm được gì hơn là chỉ làm đổi màu kim loại không. Tuy nhiên, bằng sự kiên trì thực sự của loại người như hắn ta, hắn ta chắc đã lặp đi lặp lại liều lượng đó, càng lúc càng dùng thêm nhiều “xúp” cho tới khi chiếc bản lề kia bị nong ra đôi chút, cộng thêm một lỗ hở để “xúp” có thể chảy vào trong.”
“Hẳn hắn ta đã lặp lại như vậy hết lần này tới lời khác và gia tăng số lần nạp “xúp”. Có lẽ hắn ta đã sử dụng hai hoặc ba cái cốc cùng một lúc. Tới thời điểm này, cánh cửa bên ngoài chắc đã bị nong ra vừa đủ để có thể dễ dàng đưa chất nổ vào trong. Không nghi ngờ gì chuyện hắn ta có thể đã dùng tới trên dưới ba trăm mililít chất đó cho mỗi lần nạp. Chắc nó giống kiểu tập bắn mục tiêu hơn là dùng thuốc nổ mở két. Nhưng vận may đâu phải thường xuyên đến cơ chứ - một ngôi nhà trống trải và rất nhiều thời gian. Cuối cùng, cánh cửa hẳn đã bị lồi ra được mấy milimét hoặc hơn, sau đó chỉ cần một lần nạp thuốc thật đã tay và phần lồi ra ngoài sẽ bị xé toạc, chiếc két sẽ bị lật. vẫn còn năm hoặc bảy phân thép mangan bảo vệ những gì bên trong nữa, được lèn chặt đến mức dường như chẳng thứ gì có thể lay chuyển được nó. Nhưng chắc chắn hắn ta đã kiên trì với nó cho tới khi chúng ta có được cái xác đắm mà mình đang thấy ở đây.” Rồi Kennedy dùng chân đá vào chiếc két sắt khi anh nói xong.
Blake lúc này vẫn đang rất chăm chú, trong khi Maloney há hốc miệng kinh ngạc. “Nếu làm trong lĩnh vực phá két sắt, chắc chắn tôi sẽ bổ nhiệm ông làm người đứng đầu công ty đấy.”
“Giờ thì...” Craig nói. “Chúng ta hãy quay lại New York và xem liệu mình có thể tìm ra bà Branford hay không.”
“Dĩ nhiên, ông hiểu được...” Blake giải thích trong lúc chúng tôi đang tăng tốc trở về. “Rằng hầu hết những vụ giả danh trộm cướp như thế này thường xảy ra ở những kiếp người thấp bé. Hay ở miền Đông cũng vậy, rất nhiều vụ tương tự xảy ra với dân buôn kim hoàn và những người làm ăn nho nhỏ khác. Tuy nhiên, chúng không bị giới hạn ở bất kì một tầng lớp nào cả. Thật vậy, những kẻ giàu sang phú quý, tự dát lên người hào quang đạo mạo kia còn dễ dàng moi móc các công ty bảo hiểm hơn là những con người túng thiếu. Tôi e là chúng ngày càng xảy ra thường xuyên hơn, dẫu vậy chúng tôi vẫn phải vui vẻ thừa nhận nạn trộm cắp chưa được giải quyết này và trả tiền bồi thường bảo hiểm. Song chuyện đó sẽ phải dừng lại thôi. Chúng tôi từng coi vụ án này là một rủi ro không may xảy ra, nhưng chúng tôi đã nhầm rồi. Nó thực sự đã đụng đến giới hạn cuối cùng của chúng tôi.”
Cuộc thẩm vấn với bà Branford quả là một nhiệm vụ khó xử mà tôi từng bị mắc míu vào. Tôi đang buộc phải thẩm vấn một người phụ nữ mỹ lệ tuyệt trần, nhưng lại bị tình nghi có liên quan tới một âm mưu táo bạo và ngay cả bản thân tôi cũng đang nghi ngờ bà ta đây. Tôi cũng không thể gọi được tên cảm xúc của bà ta lúc này. Không phải oán giận, mà thực sự bà ta đang khinh miệt và ghê tởm chúng tôi thì đúng hơn. Chắc hẳn bà ta đã phải phi thường kiềm chế để không gọi mấy tay khuân vác của khách sạn tới ném xác chúng tôi ra ngoài. Có lẽ làm vậy cũng chả đẹp mặt cho lắm nên bà ta đành chấp nhận chịu đựng sự hiện diện của chúng tôi. Nhưng công ty bảo hiểm thì khác, họ dĩ nhiên có thẩm quyền kiểm tra từng người trong gia đình và có tuyên thệ nếu cần, trước khi chi trả tiền bồi thường.
“Thật là xúc phạm!” Bà ta thốt lên, đôi mắt lóe sáng và khuôn ngực phập phổng vì kìm nén cảm xúc. “Một sự xúc phạm. Khi chồng tôi trở về, tôi sẽ bảo ông ấy giao toàn bộ chuyện này cho luật sư giỏi nhất trong thành phố. Không những tôi sẽ được lĩnh nhận toàn bộ số tiền bảo hiểm kia, mà còn nhận được cả tiền bồi thường thiệt hại, chi phí kiện tụng và tất cả mọi thứ pháp luật cho phép nữa. Theo dõi mọi hành tung của tôi theo cái cách này ư - đúng là một sự xúc phạm mà! Chả có kẻ nào đoán được chúng tôi đang ở St. Petersburg thay vì ở New York cơ chứ.”
“Khoan đã, bà Branford.” Kennedy nói, lịch sự nhất có thể. “Giả sử...”
“Chẳng giả sử gì hết!” Bà ta kêu lên vẻ giận dữ. “Tôi sẽ không giải thích gì cả, dù chỉ một lời. Tôi đóng cửa ngôi nhà lớn chơ vơ ở vùng ngoại ô để vào thành phố sống vài ngày thì có vấn đề gì sao? Chẳng lẽ ai cũng có quyền làm thế, ngoại trừ tôi?”
“Còn chồng bà thì sao?” Kennedy nói thêm, bực bội trước cách hành xử của bà ta với mình.
Bà ta ném cho anh một cái nhìn khinh bỉ. “Tôi cho rằng ông Branford tới Arizona với mục đích rõ ràng là đi lĩnh tiền bảo hiểm cho những món đồ trang sức của tôi.” Bà ta giải thích với vẻ mỉa mai cùng đôi mắt tóe lửa.👁️
“Tôi đang định nói...” Kennedy nhận xét với giọng điềm tĩnh như thể anh là người máy vậy. “Giả sử có ai đó lợi dụng sự vắng mặt của vợ chồng ông bà để trộm két sắt, liệu bà có nghĩ rằng cách khôn ngoan nhất là nên hoàn toàn thẳng thắn về việc này không?”
“Và hãy đưa ra một lý do chính đáng cho câu hỏi tại sao bà lại tha thiết muốn người ta biết mình sẽ tới Palm Beach trong khi thực tế là bà đang ở New York nữa?” Maloney truy hỏi, trong khi Kennedy cau mày trước nỗ lực tra vấn thiếu tế nhị của anh ta.
Nếu bà ta đã từng tỏ thái độ bực bội đối với Kennedy, thì chắc chắn lúc này bà ta đang nhảy dựng và bắt đầu nổi xung trước câu hỏi của Maloney rồi. Nhưng bà ta chỉ hất cằm lên và đáp với vẻ lạnh lùng: “Tôi không biết chuyện ngài đã được bổ nhiệm làm người giám hộ cho mình đấy, thưa ngài. Chúng ta hãy coi như cuộc thẩm vấn này đã kết thúc. Chúc ngủ ngon.” Cùng với câu nói đó, bà ta lao thẳng ra khỏi phòng và phớt lờ Maloney, đồng thời ban tặng cho Blake một ánh nhìn cay độc. Còn ông ta thì đang nhăn nhó mặt mày vì chẳng mấy hứng thú đối với phần thủ tục tế nhị như này.
Tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều đang cảm thấy mình giống như những cậu nhóc học sinh bị hát hiện ăn trộm hay đang thực hiện một hành vi vi phạm ghê tởm nào đó, khi chúng tôi chầm chậm nối đuôi nhau trên hành lang để đi ra thang máy. Một người phụ nữ mang những tính cách đặc trưng của bà Branford sẽ rất sẵn sàng và hoàn toàn có thể đổ lỗi sai lên đầu của kẻ khác. Giờ thì, tôi đã hiểu được lý do vì sao Blake lại muốn kêu gọi Kennedy giúp đỡ trong một vụ án có vẻ đơn giản như thế này rồi.
Blake và Maloney đang đi trước chúng tôi một khoảng. Lúc này, Craig nghiêng người qua tôi và thì thầm: “Tay Maloney đó thật khó mà chịu nổi. Tôi sẽ phải tìm cách thoát khỏi anh ta thôi. Hoặc chúng ta xử lý vụ án này một mình, hoặc chúng ta sẽ bỏ cuộc.”
“Nhất trí.” Tôi đồng ý dứt khoát. “Ngay từ đầu, hắn ta đã gây phiền toái rồi. Chỉ có điều, hãy hành xử sao cho hợp với khuôn phép nhé, Craig. Vụ này lớn tới mức anh sẽ chẳng thể bỏ qua được nó đâu.”
“Tin tôi đi, Walter. Tôi sẽ hành xử thật khéo léo.” Anh thì thầm, rồi nói thêm với Blake khi chúng tôi vượt lên trước họ: “Maloney nói đúng. Xét cho cùng, vụ này đủ đơn giản. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tìm ra cách nào đó để cột chặt chuyện này với bà Branford hơn nữa. Tối nay, tôi sẽ suy nghĩ kế hoạch. Tôi sẽ gặp lại các ông vào ngày mai.”
Khi Blake và Maloney lên xe rồi khuất dạng trên con đường, Kennedy liền quay vòng trở lại và cố tình bước vào khách sạn Grattan lần nữa. Giờ cũng khá muộn rồi. Người người đang kéo về khách sạn từ các rạp hát, miệng nói cười vui vẻ. Kennedy đã chọn một chiếc bàn có tầm nhìn ra phòng khách riêng lẫn phòng ăn.
“Bà ta đang ăn vận tươm tất để tiếp đón một ai đó, anh có để ý không?” Anh nhận xét khi chúng tôi ngồi xuống và đưa mắt nhìn qua một loạt những món ăn không thể nào ăn được trên tờ thực đơn đặt trước mặt, đến nỗi hoa cả mắt. “Tôi nghĩ sẽ rất đáng để chờ đợi ít phút xem đó là ai đấy.”
Sau khi gọi xong món mà mình thực sự không muốn gọi, tôi nhìn quanh cho đến khi mắt tôi dừng lại ở một tấm gương lớn nằm phía đầu bên kia của phòng ăn.
“Craig.” Tôi hào hứng thì thầm. “Bà B. đang ở trong phòng chờ - tôi có thể nhìn thấy bà ta trong tấm kính ở cuối phòng, phía sau anh đấy.”
“Đứng dậy và đổi chỗ cho tôi, càng kín đáo càng tốt, Walter.” Anh nói nhanh. “Tôi muốn quan sát bà ta trong khi bà ta không thể thấy tôi được.”
Kennedy đang chăm chú nhìn vào tấm gương. “Có một người đàn ông ngồi cùng với bà ta, Walter ạ.” Anh nói khẽ. “Hắn ta đã bước vào trong lúc chúng ta đổi chỏ ngồi - một gã rất đẹp trai. Trời ạ, tôi đã từng gặp hắn ta ở đâu trước đây rồi. Gương mặt và điệu bộ của hắn trông rất quen với tôi. Nhưng chỉ có điều là tôi không thể nào nhận ra hắn ta. Anh có thấy đống khăn áo khoác ngoài của bà ta đang vắt trên ghế không? Không phải chứ? Chà, hắn ta đang giúp bà ta mặc lại chúng. Họ sắp ra ngoài rồi. Gaçon, l’addition - vite*”
Thế nhưng, chúng tôi đã chậm chân. Bởi khi vừa đến cửa, chúng tôi chỉ còn thoáng trông thấy bóng dáng của chiếc limousine to đùng và mới cóng mà thôi.
“Người đàn ông vừa mới ra ngoài cùng quý bà kia là ai vậy?” Craig hỏi anh chàng da đen đang đẩy cánh cửa xoay ở lối ra vào của xe ngựa.
“Jack Delarue, thưa ngài - trong Người đàn ông vắng vợ, _thưa ngài.” Người gác cửa trả lời. “Vâng, thưa ngài, thi thoảng ông ấy vẫn tới ở lại đây ít ngày. Cảm ơn ngài.” Khi Kennedy thả một đồng hai mươi lăm _cent vào tay anh chàng.
“Chuyện này khiến mọi việc trở nên phức tạp đáng kể đấy.” Anh trầm ngâm khi chúng tôi chậm rãi bước xuống ga xe điện ngầm. “Jack Delarue - tôi tự hỏi liệu anh ta có phải đồng lõa và đã nhúng tay vào chuyện này hay không.”
“Tôi nghe nói Người đàn ông vắng vợ không phải là thành công vang dội hay món lời gì cả.” Tôi tự nguyện trả lời. “Delarue có rất nhiều chủ nợ, chắc chắn là như thế. Nhân tiện, Craig à...” Tôi háo hức nói. “Anh nghĩ sao nếu chúng ta tạt qua gặp O’Connor? Dù gì, cảnh sát cũng sẽ được báo tin sau vài tiếng đồng hồ nữa. Biết đâu Delarue lại từng có tiền án thì sao.”
“Ý kiến hay đấy, Walter.” Craig đồng ý, rẽ vào một hiệu thuốc có đặt bốt điện thoại. “Tôi sẽ gọi cho O’Connor và chúng ta sẽ xem liệu ông ấy có thực sự nắm được tin tức gì liên quan tới chuyện này hay không.”
O’Connor không có ở trụ sở, nhưng cuối cùng chúng tôi cũng đã xác định được ông ấy đang ở nhà. Lúc chúng tôi tới được đó, mặt trời đã bắt đầu ló rạng. Tin tưởng vào thanh danh của Phó Cảnh sát trưởng, một người đã từng trải qua nhiều thử thách, Craig bắt đầu hé mở câu chuyện. Anh vừa mới mô tả xong tác phẩm của tên trộm mở két thuê bị tình nghi thì O’Connor đã giơ cả hai bàn tay lên và đập mạnh chúng xuống hai tay vịn ghế của ông ấy.👁️
“Chao ôi!” Ông ấy nói. “Giờ thì rõ ràng rồi!”
“Cái gì cơ?” Chúng tôi đồng thanh hỏi.
“Ồ, hôm nay, một trong các đầu mối chỉ điểm đáng tin cậy nhất của tôi đã bảo với tôi rằng có chuyện gì đó đang xảy ra tại một ngôi nhà ở khu vực Quảng trường Chatham mà chúng tôi đã theo dõi từ lâu. Ở đó toàn một lũ lừa đảo và hôm nay tất cả bọn chúng đều say quắc cần câu, một dấu hiệu rành rành cho thấy kẻ nào đó vừa mới vớ được một mẻ lớn và hào phóng vung tay khao những kẻ còn lại. Hơn nữa, một, hai “đầu nậu” chuyên buôn bán đồ ăn cắp cũng đang có những động thái rất đáng ngờ. Chao ôi, giờ thì rõ mồn một rồi.”
Tôi nhìn Craig chăm chăm như muốn nói “Tôi bảo anh rồi mà”, nhưng anh đang mải mê lắng nghe O’Connor.
“Các vị biết không?” Viên sĩ quan cảnh sát tiếp tục. “Có một “đầu nậu đồ ăn cắp” đang vận hành chuyện làm ăn của hắn dưới vỏ bọc của một văn phòng cho vay nặng lãi. Chắc hẳn hắn ta có quen biết rộng rãi hơn bất cứ một tay anh chị nào trong số những tên tội phạm tầm cỡ ở thành phố này. Từ chỗ của hắn ta, bọn lừa đảo có thể kiếm được bất cứ thứ gì, từ xà beng cho tới cả bộ đồ nghề chuyên dùng để bẻ khóa két sắt. Tôi biết tay này hiện đang cố gắng thanh lý một số viên ngọc trai nguyên dạng vào ngày hôm nay tại các tiệm kim hoàn ở đường Maiden. Tôi cá hắn ta đang thanh lý một vài viên nào đó trong số những viên ngọc trai Branford kia, từng viên từng viên một. Tôi sẽ theo dõi vụ này. Đồng thời, tôi sẽ bắt tên “đầu nậu” kia và giam giữ hắn ta cho tới khi nào hắn ta chịu khai ra là tên trộm phá két nào đã lấy cho hắn những viên ngọc trai kia.”
“Và nếu tìm ra được tên đó, ông sẽ cùng tôi tới ngôi nhà gần Quảng trường Chatham và với điều kiện đó phải là một tên trong chính băng đảng ấy nhé?” Craig háo hức đề nghị.
O’Connor lắc đầu. “Tốt hơn là tôi nên tránh xa chỗ đó ra. Chúng biết tôi quá mà. Anh cứ đi một mình. Tôi sẽ gọi tay chỉ điểm kia - anh ta tên là Mèo Vui Vẻ - đi cùng anh. Tôi sẽ giúp anh bằng mọi cách. Tôi sẽ cho anh tùy chọn số lượng cảnh sát mặc thường phục mà anh muốn, để sẵn sàng đột kích vào địa điểm đó ngay khi anh nắm chắc bằng chứng trong tay. Nhưng anh sẽ chẳng bao giờ có được bất cứ bằng chứng nào nếu như chúng biết tôi đang lảng vảng quanh đấy đâu.”
Sáng hôm sau, Craig hầu như không ăn một miếng nào, lại còn chẳng khách sáo bắt tôi phải ăn vội ăn vàng cho xong bữa. Chúng tôi ra ngoài Montclair lần nữa, trước khi những người đi làm bắt đầu đổ bộ vào New York. Đấy là còn chưa kể chúng tôi đã ghé qua cả phòng thí nghiệm của anh trên đường đi và lấy một gói đồ mà hiện anh đang ôm rất cẩn thận.
Kennedy tiến hành khám xét ngôi nhà cực kĩ lưỡng từ hầm đến gác mái dưới ánh sáng ban ngày. Tôi không biết anh đang trông chờ tìm được gì, nhưng tôi khá chắc chắn chẳng có thứ gì thoát khỏi bàn tay anh.
“Giờ thì, Walter ạ...” Anh nói sau khi đã lục tung căn nhà. “Chỉ còn đúng một chỗ nữa thôi. Chính là chiếc két sắt nhỏ trên tường trong phòng bà Branford. Chúng ta cần phải mở nó ra.”
Trong khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, nếu không muốn nói là lâu hơn, anh đã dò xét tỉ mỉ tổ hợp mật mã két, lắng nghe từng tiếng rơi của những chiếc lẫy trong ổ khóa. Đây chỉ là một chuyện rất nhỏ nhặt, giản đơn và chẳng nghi ngờ gì rằng một trong những người có kinh nghiệm lâu năm trong ngành sẽ mở được nó trong tích tắc. Mồ hôi rịn ra trên trán cho thấy anh đang rất chú tâm vào việc này. Cuối cùng, nó cũng phải khuất phục. Ngoại trừ ít đồ bạc của gia tộc để lại, chiếc két kia hoàn toàn trống rỗng.
Cẩn thận để mắt tới cái cách ánh sáng chiếu rọi vào chiếc két trên tường, Craig mở gói đồ mà mình đã mang theo, để lộ ra một chiếc máy ảnh. Anh đặt nó trên một chiếc bàn viết đối diện với chiếc két, sao cho nó hoàn toàn không gây sự chú ý và hướng nó chĩa thẳng vào két sắt.
“Đây là một chiếc máy ảnh có màn trập giữa các ống kính vừa mới được phát minh với độ sáng và hiệu quả tuyệt vời.” Anh giải thích. “Thực tế là không phải lúc nào cũng lấy được những bức ảnh như vậy. Nhưng loại màn trập mới này có tốc độ lớn hơn rất nhiều so với bất kì loại nào từng được phát minh trước đó, vậy nên nó có khả năng được sử dụng trong công tác thám tử. Tôi sẽ lắp những sợi dây điện chất lượng này giống như một thiết bị báo trộm, chỉ có điều, thay vì sử dụng chuông báo động, tôi sẽ gắn chúng vào máy ảnh để chúng ta có thể chụp ảnh. Tôi đã chứng minh được tốc độ của nó lên tới một phần hai ngàn giây. Nó có thể hiệu quả hoặc không. Nhưng nếu nó hiệu quả, chúng ta sẽ tóm được một kẻ nào đó, đúng lúc hắn ra tay.”
Khoảng trưa, chúng tôi xuống phố Liberty, trụ sở của công ty bảo hiểm trộm cắp. Tôi không nghĩ Blake thích điều đó lắm vì Kennedy cứ nhất quyết muốn hành động một mình, nhưng ông ta không nói gì, vì đó chính là một phần của thỏa thuận. Riêng Maloney thì trông có vẻ vui mừng hơn. Anh ta đã gỡ được vài manh mối rối rắm của riêng mình liên quan tới bà Branford. Tuy nhiên, Kennedy đã xoa dịu tình hình bằng cách khen ngợi viên thám tử về sự lanh lợi của anh ta. Và quả thực, anh ta đã phô diễn được khả năng đáng chú ý của mình ngay từ lúc đầu, khi anh ta xác định được vị trí của bà Branford.
“Tôi đã bắt đầu với giả định rằng vợ chồng Branford chắc hẳn đang cần tiền vì lý do này hay lý do nọ.” Maloney nói. “Vì vậy, tôi đã tìm đến các đại lý thương mại ngày hôm nay và hỏi thăm về Branford. Tôi không thể nói rằng ông ta làm ăn rất phát đạt, chẳng ai phát đạt nổi ở cái phố Wall trong những ngày này cả và đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các vụ giả danh trộm cướp. Nhưng rồi, còn khả năng khác nữa.” Anh ta tiếp tục nói với vẻ đắc thắng. “Tôi có một tên đàn em ở khách sạn Grattan, anh ta đã báo cáo với tôi rằng bà Branford từng bị bắt gặp đi với nam diễn viên Jack Delarue đêm qua. Tôi cho là hai người họ đã cãi nhau, vì bà ta đã một mình quay về bằng taxi và trên mặt hiện rõ vẻ kích động. Dù các ông có đang nhìn nhận nó như thế nào đi nữa, các manh mối này cũng vô cùng hứa hẹn - liệu bà ta cần tiền cho những hoạt động đầu cơ của Branford hay là để bao nuôi gã Delarue trác táng kia cơ chứ.”
Maloney nhìn Craig với dáng điệu của một chuyên gia đủ khả năng đỡ đầu cho một kẻ nghiệp dư có tài - nhưng xét cho cùng, anh ta cũng chỉ là một tay nghiệp dư mà thôi. Kennedy chẳng nói chẳng rằng và dĩ nhiên là tôi hiểu ý anh.
“Đúng vậy.” Blake nhất trí. “Các vị thấy đấy, giả thuyết ban đầu của chúng tôi là một giả thuyết tương đối phù hợp. Dĩ nhiên, trong khi đó, phía cảnh sát vẫn đang còn lúng túng trong một vũng lầy của những manh mối giả.”
“Vụ án của chúng ta sẽ càng trở nên thuyết phục hơn rất nhiều...” Kennedy chầm chậm nhận xét. “Nếu như chúng ta có thể phát hiện ra vài món trong đống đồ trang sức bị đánh cắp kia và nơi chúng đang được cất giấu ở đâu đó bởi chính bà Branford.” Anh không đả động gì tới cuộc khám xét ngôi nhà công cốc kia của mình, mà tiếp tục bảo: “Các ông cho rằng bà ta đã làm gì với mớ ngọc quý ấy? Chắc hẳn bà ta đã cất giấu chúng ở đâu đó trước khi gọi tên trộm mở két kia tới phá chiếc két chứ. Thật khó có chuyện bà ta tin tưởng giao phó chúng vào tay hắn ta có phải không. Nhưng cũng có khả năng bà ta đủ ngu ngốc để làm như vậy thật. Dĩ nhiên, còn khả năng khác nữa là hắn ta thực sự ôm chúng bỏ trốn. Tôi đang tự hỏi liệu bà ta có cất giấu chúng ở khách sạn Grattan hay không, hoặc thậm chí là liệu bà ta có đích thân cất chúng vào một hầm ký gửi an toàn nào đó chăng. Biết đâu Delarue cũng có dính dáng tới chuyện này thì sao. Chúng ta không được bỏ qua bất kì một khả năng nào hết.”
“Đúng vậy.” Maloney trầm ngâm, dường như đang trăn trở một điều gì đó trong tâm trí, tựa hồ nó là một ý tưởng mới mẻ vậy. “Nếu chúng ta có được vài bằng chứng nào đó, dẫu chỉ là một phần của những viên ngọc quý mà bà ta đã cất giấu kia thôi thì vụ án sẽ được phá. Đó là một ý kiến hay đấy, Kennedy.”
Craig không nói gì, nhưng tôi có thể nhận ra hoặc mường tượng là mình có thể nhận ra, anh đang cảm thấy rất hài lòng trước ý nghĩ rằng anh đã tiễn chân Maloney đi theo một hướng khác, để chúng tôi có thể tự do đi trên con đường thênh thang của chính mình. Cuộc chuyện trò với Blake cũng mau chóng khép lại. Khi chúng tôi rời đi, tôi liền nhìn Craig vẻ dò hỏi.
“Tôi muốn gặp lại bà Branford.” Anh nói. “Tôi nghĩ chúng ta có thể làm tốt hơn khi được hành sự một mình hôm nay đấy, so với những gì chúng ta đã làm được đêm qua.”
Phải nói là tôi đã nửa tin nửa ngờ bà ta sẽ từ chối gặp gỡ hai chúng tôi, nhưng tôi khá ngạc nhiên khi cậu bé phục vụ quay trở lại cùng lời đề nghị mời chúng tôi lên phòng của bà ta. Rõ ràng thái độ của bà ta với chúng tôi rất khác so với lần nói chuyện đẩu tiên. Bất kể bà ta có phật lòng trước sự hiện diện chính thức của Blake hay sự hiện diện không chính thức của Maloney đi chăng nữa, thì chí ít bà ta đã lịch sự bỏ qua cho chúng tôi. Hoặc biết đâu cuối cùng bà ta cũng bắt đầu nhận ra những tấm lưới đang dần được thu lại quanh mình và mọi thứ đang bắt đầu trở nên u ám tới mức không thể trốn thoát được?
Kennedy đã nhanh chóng nhận ra được lợi thế của mình. “Bà Branford.” Anh bắt đầu. “Kể từ đêm qua, tôi đã nắm được một số thông tin rất quan trọng. Tôi nghe nói một số viên ngọc trai không rõ lai lịch mà có khả năng là của bà hoặc không, đang được một gã đàn ông rao bán trên Bowery, kẻ mà dân trộm két thường gọi là đầu nậu đồ ăn cắp.”
“Dân trộm két - đầu nậu đồ ăn cắp ư?” Bà ta nhắc lại. “Thưa ông Kennedy, thực tình tôi không muốn thảo luận về những viên ngọc trai kia nữa. Đối với tôi, chuyện chúng sẽ thế nào đã chẳng còn quan trọng. Mong muốn lớn nhất của tôi lúc này chính là lĩnh được tiền bảo hiểm. Nếu có bất cứ thứ gì được thu hồi, tôi hoàn toàn sẵn lòng khấu trừ số tiền đó vào tổng số tiền được bồi thường. Nhưng tôi nhất định phải đòi được tiền bảo hiểm đầy đủ hoặc phải được hoàn trả những viên ngọc trai kia. Ngay khi ông Branford tới, tôi sẽ thực hiện các bước khác để bảo đảm nhận được khoản bồi thường.”
Một cậu bé gõ cửa, mang vào một bức điện tín và bà ta đã mở nó một cách đầy lo lắng. “Ông ấy sẽ đến đây trong vòng bốn ngày nữa.” Bà ta nói, bực bội xé bức điện, chẳng hề có vẻ gì vui mừng khi nhận được nó cả. “Các ông vẫn còn chuyện gì muốn nói sao?”
Bà ta đang nhịp chân trên tấm thảm như thể nóng lòng muốn kết thúc cuộc trò chuyện này vậy. Kennedy nghiêm túc nghiêng người về phía trước và liều lĩnh lật con át chủ bài của mình.
“Bà còn nhớ phân cảnh trong vở kịch Người đàn ông vắng vợ hay không?” Anh chậm rãi nói.”Phân cảnh khi Jack Delarue chạm trán người vợ đang chạy trốn của mình tại buổi vũ hội hóa trang ấy?”
Bà ta hơi đỏ mặt, nhưng ngay lập tức đã lấy lại bình tĩnh. “Mang máng.” Bà ta thì thầm, mân mê những bông hoa trên chiếc váy của mình.
“Trong cuộc sống thực...” Kennedy nói, giọng anh cố tình để lộ mình đang muốn nhắc tới vở kịch đó vì có ý đồ riêng. “Các ông chồng sẽ không thể tha thứ ngay cả những tin đồn về - à, liệu chúng ta có nên gọi nó là những mối quan hệ thân thiết hay không nhỉ? - thế sẽ giảm nhẹ hơn rất nhiều so với sự thật đấy.”
“Trong cuộc sống thực...” Bà ta trả lời. “Những người vợ hiếm khi có những mối quan hệ thân thiết giống như một số báo chí và vở kịch vẫn khiến chúng ta hằng tin tưởng.”
“Tôi đã gặp Delarue sau buổi diễn tối qua.” Kennedy tiếp tục nói mà không bị dao động. “Anh ta không thấy tôi, nhưng tôi đã trông thấy anh ta và anh ta đang ở cùng với...”
Lúc này, bà ta đang đi đi lại lại trong căn phòng với vẻ kích động không thể kìm nén được. “Các người sẽ chẳng bao giờ ngừng theo dõi tôi phải không?” Bà ta hét lên. “Có phải mọi nhất cử nhất động của tôi đều đang bị giám sát và xuyên tạc đúng không? Tôi tin là một phiên bản bóp méo của sự thật sẽ được gửi tới cho chồng tôi đúng chứ. Các người chẳng hề có một chút tinh thần hiệp nghĩa, hay công lý, hay... hay lòng nhân từ nào sao?” Bà ta dịu giọng, dừng lại trước mặt Kennedy.
“Bà Branford.” Anh đáp vẻ lạnh lùng. “Tôi không thể hứa hẹn mình sẽ làm gì cả. Nhiệm vụ của tôi chỉ đơn thuần là tìm ra chân tướng về những viên ngọc trai kia mà thôi. Nếu nó dính dáng tới “một người khác nào đó”, nhiệm vụ của tôi vẫn sẽ là tìm ra chân tướng sự thật. Tại sao bà không kể cho tôi nghe tất cả những gì bà thực sự biết về những viên ngọc trai và tin tưởng tôi sẽ làm sáng tỏ mọi chuyện một cách xác đáng nhỉ?”
Bà ta đối mặt với anh, dáng vẻ lúc này xanh xao và phờ phạc. “Tôi đã kể rồi mà.” Bà ta lặp lại với giọng đều đều. “Tôi không thể kể thêm chuyện gì nữa - tôi không biết một điều gì khác cả.”
Có phải bà ta đang nói dối hay không? Tôi không đủ thạo về tâm lý phụ nữ để có thể đánh giá được điều đó. Nhưng sâu thẳm trong lòng, tôi biết rằng người phụ nữ này đang che giấu thứ gì đó đằng sau thái độ bình tĩnh gượng ép ấy. Bà ta đang phải chiến đấu vì điều gì? Chúng tôi lại rơi vào thế bế tắc rồi.
Sau bữa tối, tôi gặp lại Craig tại phòng thí nghiệm. Anh đã đi thêm một chuyến nữa tới Montclair, nơi thời gian lưu lại của anh đã bị kéo dài thêm vì Maloney đang có mặt ở đấy và anh muốn tránh mặt anh ta. Anh đã mang chiếc máy ảnh về và có thêm một cuộc trò chuyện khác với O’Connor để vạch ra một kế hoạch tác chiến.
“Chúng ta sẽ tới gặp Mèo Vui Vẻ tại tòa thị chính lúc chín giờ.” Craig giải thích ngắn gọn. “Walter, chúng ta sẽ ghé thăm một địa điểm thường xuyên lui tới của đám trộm mở két mà chẳng có mấy dân ngoài ngành từng được tận mắt thấy. Anh có tham gia không? O’Connor và người của ông ấy sẽ ở rất gần đấy - náu mình, dĩ nhiên rồi.”
“Tôi cho là như vậy.” Tôi chậm rãi trả lời. “Nhưng anh định lấy cớ gì để vào được hang ổ của đám trộm két này cơ chứ?”
“Chỉ đơn giản là chúng ta sẽ vào vai hai tay làm báo đang đi săn tin để viết bài, mà không cần tên tuổi, ngày tháng hay địa điểm - chỉ là một câu chuyện hay ho về những kẻ chuyên hành nghề trộm két hoặc mấy tên nào đó sống lang bạt mà thôi. Tôi có một... à, chúng ta sẽ gọi nó là một món đồ nghề máy ảnh nho nhỏ mà tôi sẽ đeo chéo qua vai. Anh là phóng viên, nhớ nhé, còn tôi là nhiếp ảnh gia của tờ báo. Dĩ nhiên bọn chúng sẽ không tạo dáng cho chúng ta chụp ảnh, nhưng cũng chẳng sao hết. Nhân tiện nhắc tới mấy bức ảnh, tôi đã chộp được một bức rất thú vị ở Montclair đó. Tôi sẽ cho anh xem nó tối nay - và trong trường hợp có bất cứ điều gì xảy ra với tôi, Walter ạ, anh sẽ tìm thấy tấm kính ảnh gốc được khóa kĩ trong ngăn kéo trên cùng của bàn làm việc của tôi. Tôi đoán tốt hơn chúng ta nên tới trung tâm thành phố thôi.”
Ngôi nhà Mèo Vui Vẻ dẫn chúng tôi đến nằm trên một con đường giao nhau với đường khác, cách Quảng trường Chatham một hoặc hai dãy nhà. Nếu ngẫu nhiên đi ngang qua đây vào ban ngày, chúng tôi sẽ chẳng thể phân biệt nó với những tòa nhà xiêu vẹo khác trên khu phố đó cả. Những ngôi nhà xung quanh tràn ngập tiếng huyên náo của trẻ con hay tiếng xe đẩy của em bé, trong khi ngôi nhà này rất trống vắng với cửa trước đóng chặt, còn rèm cửa thì bị kéo kín mít. Khi chúng tôi đến gần, một bóng người lén lút từ tầng hầm đi ra và nhanh chóng lẩn vào đám đông để tiếp tục hành nghề ban đêm như đi móc túi hoặc thực hiện phi vụ trộm cướp nào đó.
Tôi đang nghi ngại không biết chúng tôi có quyền hạn vào trong hay không - gần như phải nói là hy vọng - thì hành động của Mèo Vui Vẻ đã chứng minh điều đó khi anh ta thong dong đứng trước cửa tầng hầm. Ngôi nhà từng thuộc khu nhà ở của tầng lớp thượng lưu tại vùng ngoại ô Bowery một thời, mà nay chỉ còn là đống đổ nát và hoang tàn. Tay vịn cầu thang bằng sắt vẫn mang vẻ trang trọng, dù đã rỉ sét và không còn đảm bảo an toàn. Những viên đá gắn trên các bậc thang đã mục nát và bị ăn mòn bởi thời gian, riêng cửa trước thì chẳng bao giờ mở được nữa.
Bên trong, những minh chứng về vẻ hùng vĩ một thời thậm chí còn đáng chú ý hơn nhiều, nhưng cũng chẳng còn mấy. Chúng đã biến nơi này thành khu ổ chuột mất rồi. Nơi từng là phòng khách giờ đã trở thành hội trường chung cho hang ổ của bọn chúng. Những chiếc ghế gãy xếp dọc theo các bức tường, sàn nhà được trải đầy mùn cưa. Một cái lò khổng lồ có hình dạng củ hành đang chiếm cứ ngay giữa trung tâm của căn phòng, bên cạnh là một hộp mùn cưa đầy nước bọt ngả màu do hút thuốc.
Có ba hoặc bốn “vị khách” - không cần phải “đăng ký thông tin” trong “khách sạn” của dân trộm két sắt này - đang ngồi quanh bếp lò thảo luận điều gì đó bằng tiếng Anh. Chắc chắn là thế rồi, nhưng là một biến thể ngôn ngữ mà chỉ dân trộm két mới có thể hiểu được. Tôi để mắt tới một mặt lò sưởi làm bằng đá cẩm thạch từng một thời trắng muốt và tuyệt đẹp, nhưng giờ đã ố màu qua năm tháng và đang đứng sừng sững trên một tấm lưới sắt không còn được sử dụng. Những cánh cửa gấp dẫn vào căn phòng nào đó, tôi tưởng tượng chắc nó từng là thư phòng. Bụi bẩn và cáu ghét bao phủ khắp mọi nơi, đến mức không sao kể xiết. Có mùi quần áo cũ, mùi thức ăn còn vương lại và cả mùi đặc trưng của từng chủng tộc thuộc mọi quốc tịch được biết đến trong thành phố này nữa. Tôi nhớ lại một đêm mình từng ở trong một nhà trọ tại Bowery để tận hưởng chút “màu sắc địa phương”. Nhưng thực sự, nơi này tệ hơn nhà trọ đó rất nhiều. Chẳng có bất kì luật pháp nào có thể kiểm soát được ngôi nhà kiểu này cả. Bầu không khí ảm đạm bao trùm, đến nỗi chỉ với một chiếc đèn măng xông ám đen một nửa kia thôi cũng đã đủ đốt trụi sự rùng rợn của nơi đây và thắp sáng lên những điều tích cực mà con người hằng ao ước rồi.
Hướng dẫn viên của chúng tôi giới thiệu qua loa với bốn người kia. Và rồi, một sự im lặng chết chóc quẩn quanh khi tám con mắt xảo quyệt đều dán chặt vào chúng tôi và âm thầm đánh giá. Tôi có nên nói gì không nhỉ? Thật may, Craig đã giải cứu kịp thời. Với anh, cuộc phiêu lưu này chỉ đơn giản như một trò đùa, có chút mới mẻ và cũng đủ xứng đáng.
“Hãy hỏi về tiếng lóng.” Anh gợi ý. “Đó sẽ là một câu chuyện mở màn cực kì hay ho.”
Với tôi thì dường như chủ đề đó cũng đủ vô hại thật, vì thế tôi bắt đầu trò chuyện với một người đàn ông mà Mèo Vui Vẻ giới thiệu là chủ của nơi này. Đa phần tiếng lóng tôi vốn biết chỉ là được nghe truyền miệng lại, chẳng hạn như “cớm, chó săn” dùng để chỉ cảnh sát, “ống tẩu” để chỉ luật sư bào chữa cho một người khi hắn ta bị “hốt” hay bị bắt; trên thực tế, trong lúc mải nguệch ngoạc ghi chép, chắc tôi đã phải thu thập được cả kho khoảng một trăm từ vựng để tham khảo sau này.
“Còn biệt danh thì sao?” Tôi hỏi. “Ông có vài cái tên kỳ quái nào đó không?”
“ Ồ, có chứ.” Người đàn ông đáp. “Nhé, đây là Mèo Vui Vẻ - đó là biệt danh chúng tôi dùng để gọi những tay đi dò đường, chúng sẽ vào một thị trấn nào đó và lân la thăm dò mọi thứ trước khi người trong băng đảng đến. Tiếp đến là Chi Béo -biệt danh có nghĩa là hắn ta đến từ Chicago và béo phệ. Và Pitts Gầy - hắn ta đến từ Pittsburgh và...”
“Ôi, thôi đi nào.” Một trong những kẻ khác xen vào. “Pitts Gầy sẽ tới đây đêm nay đấy. Gã ta sẽ nổi khùng với ông cho mà xem, nếu gã ta nghe thấy ông nói chuyện với mấy tay phóng viên về gã.”
Người chủ bắt đầu thảo luận về những chủ để ít nguy hại hơn. Craig đã thành công trong việc moi được công thức nấu món “xúp” của dân trộm két từ ông ta.
“Công thức được viết bằng mật mã ở đây này.” Người đàn ông nói, rút ra một mảnh giấy bẩn thỉu. “Cái này ai chẳng biết, các anh cầm luôn đi cũng được. Đây chính là chìa khóa. Nó được viết bởi Smith Điếc đấy, mà đám cảnh sát cũng chôm được nó rồi.”
Craig bận rộn dịch thứ tài liệu đáng gây tò mò đó:
Lấy mười hoặc mười hai que thuốc nổ, bóp vụn cho thật mịn. Bỏ vào một cái nồi hoặc chậu rửa, rồi đổ cồn, methanol hoặc ethanol, lên trên sao cho vừa đủ ngập. Khuấy đều tay, sao cho các cục bị vón tan hết. Để nghỉ trong vài phút. Sau đó, lấy một vài mét vải thưa và xé nó thành từng mảnh, lọc hỗn hợp qua vải vào một chiếc chậu khác, vắt khô mùn cưa rồi vứt đi. Phần còn lại sẽ là hỗn hợp xúp và cồn. Tiếp theo, lấy lượng nước bằng với lượng cồn đã sử dụng và đổ vào hỗn hợp. Để nghỉ toàn bộ trong vài phút.
“Rất thú vị.” Craig nhận xét. “Một tiết học dùng thuốc nổ mở két ở trường giáo dục hàm thụ*. Phần còn lại của tiết học này sẽ dạy cách đối phó với các loại két khác nhau, có phải không?”
Đúng lúc đó, một người đàn ông gầy guộc trong chiếc áo choàng dài sờn rách và rộng thùng thình giậm bước từ dưới hầm lên gác. Cổ áo gã dựng đứng và chiếc mũ sùm sụp che ngang mắt.
Ở gã ta có vẻ gì đó quen thuộc đến lạ thường, nhưng vì gương mặt và dáng người của gã đều đang được che giấu rất kĩ, nên tôi chẳng thể xác định nổi tại sao mình lại nghĩ như vậy.
Bắt gặp cái nhìn thoáng qua của chúng tôi, gã ta liến lui về phía bên kia của căn phòng, rồi vẫy tay ra hiệu cho ông chủ và cùng nhau ra khỏi cửa. Tôi nghĩ mình nghe thấy gã ta hỏi là: “Những tên kia là ai vậy? Ai cho chúng vào đây?” nhưng tôi không thể bắt được câu trả lời.
Từng người từng người trong phòng đứng cả dậy và len lén ra ngoài, bỏ lại chúng tôi một mình cùng với Mèo Vui Vẻ. Kennedy với tay lấy một điếu thuốc lá từ hộp đựng của tôi và châm lửa nhờ bằng điếu thuốc tôi đang hút.
“Tôi nghĩ đó chính là gã chúng ta đang cần.” Anh thì thầm. “Pitts Gầy”
Tôi không nói năng gì, nhưng tôi sẵn lòng bỏ ra cả một khoản kha khá trong tài khoản ngân hàng của mình để được bắt chuyến ga đường sắt trên cao ở Quảng trường Chatham ngay lúc đó.
Một tiếng lao vút xé gió đến từ cánh cửa khép hờ phía sau lưng chúng tôi. Đột nhiên, mọi thứ trước mắt tôi trở nên tối sầm, mắt tôi hoa cả lên. Tôi cảm nhận được một cơn đau nhói phía trên đầu cùng cảm giác nhộn nhạo nơi dạ dày và rồi nửa mê nửa tỉnh ngã xuống sàn. Đầu óc tôi trống rỗng, mọi thứ trước mắt dần mờ mịt. Nhưng dù chỉ mang máng thôi, tôi vẫn có cảm giác mình đang bị kéo lê và thả phịch xuống rất mạnh.
Tôi không biết mình đã nằm đó bao nhiêu lâu. Kennedy bảo rằng không quá năm phút. Có thể là vậy thật, nhưng đối với tôi, nó dường như kéo dài cả thế kỷ. Khi mở mắt ra, tôi đang nằm ngửa trên một chiếc ghế xô pha đầy cáu bẩn ở một căn phòng khác. Kennedy đang cúi xuống nhìn tôi với dòng máu chảy ra từ một vết cắt dài và sâu trên đầu. Một bóng người khác đang rên rỉ trong bóng tối nhập nhoạng phía đối diện, đó là Mèo Vui Vẻ.
“Chúng đã dùng dùi cui đánh chúng ta.” Kennedy thì thầm với tôi khi tôi loạng choạng đứng dậy. “Sau đó, chúng kéo chúng ta qua một lối đi bí mật dẫn vào một ngôi nhà khác. Hiện tại anh cảm thấy thế nào rồi?”
“Vẫn ổn.” Tôi trả lời, phải vịn người vào ghế, vì tôi đang rất yếu do bị mất máu và chóng mặt. Từng bắp thịt và khớp xương của tôi đang kêu gào đau nhức. Tôi nhìn quanh, cái hiểu cái không và rồi ký ức của tôi bỗng ồ ạt ùa về. Chúng tôi đang bị nhốt ở trong một căn phòng của ngôi nhà nào đó sau vụ tấn công kia và chờ bị xử lý. Tôi sờ soạng trong túi mình. Dù tôi đã bỏ lại chiếc đồng hồ đeo tay ở phòng thí nghiệm, nhưng chiếc đồng hồ bỏ túi tôi mang theo cùng chút tiền ít ỏi trong ví đã không cánh mà bay.
Kennedy vẫn còn chiếc máy ảnh đeo vắt chéo qua vai, ở nguyên vị trí anh đã thắt nó thật chắc chắn.
Chúng tôi đang ở đây và bị cầm tù, trong khi Pitts Gầy - kẻ mà chúng tôi đang truy lùng, bất kể hắn là ai đi chăng nữa, đã kịp tẩu thoát rồi. Ở đâu đó phía bên kia con đường chính là O’Connor, ông ấy đang đợi chúng tôi trong một căn phòng nọ y như những gì chúng tôi đã thỏa thuận. Tại căn phòng chúng tôi đang bị giam giữ, có duy nhất một chiếc cửa sổ và nó đang được mở phanh. Phải mất bao lâu nữa để những nỗi nghi hoặc trong ông ấy mới bắt đầu trỗi dậy và tìm ra ngôi nhà mà chúng tôi đang bị giam giữ cơ chứ. Trong lúc đó, điều gì sẽ xảy ra với chúng tôi đây?
Kennedy đang bình tĩnh dựng lại chiếc giá ba chân của mình. Một chân của nó đã bị gãy trong trận giáp chiến vừa rồi, nhưng anh đã cột chặt nó lại bằng chiếc khăn tay còn thấm đẫm máu. Tôi tự hỏi làm sao anh có thể nghĩ tới việc chụp ảnh cơ chứ. Chính cái vẻ khoan thai kia của anh đang khiến tôi nổi đóa và phát cáu, tôi đã thầm rủa sả anh. Thế nhưng, anh vẫn bình tĩnh làm phần việc của mình. Tôi nhận ra anh đang lấy hộp đen ra và đặt nó lên chiếc giá ba chân ấy. Những đường nét của nó trở nên mơ hổ trong bóng tối, trông nó chẳng khác nào một chiếc máy ảnh. Chỉ là nó được gắn thêm vài phụ kiện rất kỳ quái bên cạnh, bao gồm cả một chiếc đèn nhỏ. Craig cúi xuống và gắn vài sợi dây điện quanh hộp.
Cuối cùng, dường như anh đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ. “Walter này.” Anh thì thầm. “Hãy vần chiếc ghế xô pha đó thật khẽ qua chặn cánh cửa kia lại nhé. Nào, giờ thì tới chiếc bàn ăn và cái bàn làm việc đó, lèn chặt những chiếc ghế vào trong. Hãy giữ cánh cửa đó đóng chặt bằng bất cứ giá nào nhé. Bây giờ hoặc không bao giờ - bắt đầu đi.”
Anh dừng lại một lát và mày mò chiếc hộp trên giá ba chân. “A lô! A lô! A lô! Có phải ông không, O’Connor?” Anh hét lên.
Tôi nhìn anh kinh ngạc. Có phải gã này đang bị điên rồi không? Có phải cú đánh kia đã ảnh hưởng tới não của anh không? Anh đang ở đây, cố gắng nói chuyện với một chiếc máy ảnh cơ đấy. Bỗng một chiếc chuông báo hiệu nho nhỏ trong hộp bắt đầu rung lên, như thể do bàn tay của các linh hổn làm ra vậy. 👁️
“Ngậm mồm lại và ở yên trong căn phòng đó đi.” Một giọng nói gầm gừ vang lên từ ngoài cửa. “Chúa ơi, chúng chặn cửa mất rồi. Nào, bọn mày, chúng ta sẽ đập chết lũ gián điệp này.”
Một nụ cười đắc thắng đang bừng sáng trên gương mặt tái nhợt của Kennedy. “Nó hoạt động rồi, nó hoạt động rồi.” Anh kêu lên khi chiếc chuông nhỏ kia lại tiếp tục rung lên. “Đây là một chiếc điện thoại không dây mà có lẽ anh đã từng thấy nó được công bố gần đây - có thể hoạt động tốt trong khoảng bán kính một trăm mét - xuyên qua được tường và mọi thứ. Nhà phát minh đã đặt nó trong một chiếc hộp mà một người có thể mang theo dễ dàng. Nó bao gồm cả pin và gắn trên một giá ba chân của máy ảnh thông thường để người sử dụng có thể dễ dàng mang theo như một nhiếp ảnh gia du lịch. Nó chỉ có tác dụng theo một hướng mà thôi, nhưng ở đây tôi có một cái chuông báo hiệu có thể rung từ đầu bên kia nhờ sóng _Hertz. _ Ơn Chúa, nó thật nhỏ gọn và đơn giản.”
“O’Connor.” Anh tiếp tục. “Đúng như tôi đã nói với anh. Đó là Pitts Gầy. Hắn ta đã rời khỏi đây từ mười hoặc mười lăm phút trước rồi. Tôi không biết hắn đã thoát ra theo lối nào, nhưng tôi nghe chúng nói chúng sẽ gặp nhau ở các bãi chứa hàng ở trung tâm thành phố lúc nửa đêm. Hãy phái cảnh sát mặc thường phục của anh tỏa ra đi và cử ai đó tới đây, nhanh lên, để cứu chúng tôi. Chúng tôi đang bị nhốt trong một căn phòng nằm ở ngôi nhà thứ tư hoặc thứ năm tính từ căn nhà nằm trong góc. Có một lối đi bí mật dẫn đến hang ổ của đám trộm két kia. Mèo Vui Vẻ vẫn đang bất tỉnh, Jameson thì loạng choạng không vững, còn tôi đang có một vết thương nặng ở da đầu. Chúng đang cố phá hàng rào chắn của chúng tôi. Nhanh lên!”
Năm phút đồng hồ kinh hoàng trôi qua trong tiếng đập rầm rầm vào cánh cửa, những lời chửi thề, cuộc hỗn chiến bên ngoài và tiếng sầm chát chúa khi chiếc ghế xô pha, bàn làm việc, bàn ăn cùng ghế đổ sập cùng một lúc. Cuối cùng, tôi cũng có thể thở phào nhẹ nhõm khi tôi trông thấy gương mặt vuông vức, thật thà của O’Connor cùng năm hay sáu người đàn ông mặc thường phục đang giữ chặt đám trộm két. Những kẻ này chắc chắn sẽ thủ tiêu chúng tôi để bảo vệ tên đồng bọn đang trên đường tẩu thoát của chúng. Sự thật là đầu óc tôi vẫn mơ mơ hồ hồ cho tới khi chúng tôi đi được nửa đường lên phố, trên chiếc xe của O’Connor đang tăng tốc về phía bãi chứa hàng đường sắt. Không khí trong lành cuối cùng cũng đã giúp tôi tỉnh táo lại và tạm quên đi những vết cứa cùng vết bầm tím trên cơ thể để tiếp tục một cuộc truy đuổi đầy phấn khích tiếp sau đây.
Chúng tôi cẩn trọng bước vào bãi cùng với một số thanh tra ngành đường sắt, họ đã mang theo vài chú chó nghiệp vụ để giúp chúng tôi trong vụ này. Một bên là bờ kè cao ngăn cách các bãi với những hàng xe hơi dài vô tận, một bên là khu vực đồi San Juan của New York nằm bên trên dốc đứng. Lấy màn đêm làm tấm khiên che chắn, chúng tôi lẩn dưới bờ kè cao đó. Và rồi, chúng tôi bắt gặp một nhóm gồm ba gã đàn ông đang đợi bắt chuyến “Pullman cửa phụ*” lúc nửa đêm - chuyến tàu chở hàng nhanh để rời khỏi New York.
Cuộc truy bắt diễn ra rất nhanh gọn, bởi chúng tôi đông hơn chúng gấp ba lần. Chính O’Connor là người đã ban tặng một cặp vòng tay bằng thép cho gã đàn ông gầy gò, kẻ trông có vẻ là thủ lĩnh của nhóm.
“Mọi chuyện kết thúc rồi, Pitts Gầy ạ.” Ông ấy nghiến răng nghiến lợi nói.
Một người bên phe chúng tôi chiếu thẳng chiếc đèn ló của anh ta vào ba tên tù nhân. Tôi bỗng cảm thấy mình như đang đi trong mơ.
Pitts Gầy chính là Maloney, tay thám tử kia!
Một tiếng đồng hồ sau, tại trụ sở, sau khi lấy xong thông tin cá nhân của chúng, việc “chụp ảnh tội phạm để làm hồ sơ” cũng đã được hoàn tất. Những viên ngọc tìm thấy trên người ba tên trộm két đã được đối chiếu với danh sách những viên ngọc trai Branford, nhưng bỏ qua mục ghi rõ giá trị vài ngàn đô la của chúng. Sau đó, O’ Connor dẫn đường cho chúng tôi vào văn phòng riêng của ông ấy. Bà Branford và Blake đang ở đó chờ đợi.
Maloney mặt mày sưng sỉa, không chịu nhìn người chủ cũ của mình. Blake chạy nhanh tới nắm lấy bàn tay Kennedy, háo hức hỏi: “Làm thế nào mà ông làm được vậy, Kennedy? Đây là điều cuối cùng tôi mong đợi đấy.”
Craig không nói một lời nào, nhưng anh từ từ mở một chiếc phong bì giờ đây đã nhàu nát, trong đó có một bức ảnh in chưa được xử lý bằng hóa chất. Anh đặt nó lên bàn. “Trong này có ảnh tên trộm mở két của ông đấy - trong lúc hắn ta đang hành sự.” Anh nói.
Chúng tôi cúi xuống nhìn. Đó là bức ảnh chụp Maloney đang đặt một thứ gì đó vào chiếc két sắt nhỏ trên tường trong phòng bà Branford. Trong nháy mắt, tôi chợt nhớ ra chiếc máy ảnh có tốc độ màn trập nhanh và sợi dây điện nối với chiếc két sắt trên tường. Cùng với gợi ý của Craig chủ đích dành cho Maloney, rằng nếu phát hiện ra vài viên ngọc quý được giấu ở một nơi nào đó “có vẻ rất phù hợp” trong nhà, thì nó chính là mắt xích cuối cùng trong chuỗi mắt xích biến câu chuyện giả tưởng kia thành sự thật và giúp chống lại bà Branford. Hay cả việc Maloney háo hức chấp nhận lời gợi ý ấy cùng chuyến ghé qua Montclair của gã mà Craig đã phải nỗ lực hết sức để tránh mặt gã ta nữa.
“Pitts Gầy, tức Maloney...” Kennedy nói thêm, quay sang Blake. “Anh chàng thám tử tư lanh lợi nhất của ông, đã rất thành công vào hai vai cùng một lúc. Hắn ta chính là đặc vụ đáng tin cậy của ông, kẻ nắm trong tay những bí mật quý giá nhất của khách hàng bên ông, đồng thời cũng là kẻ đã dàn xếp tất cả vụ cướp mà ông cứ tưởng là mạo danh, sau đó soạn ra các bằng chứng buộc tội chính những nạn nhân ấy. Hắn ta đã vào nhà Branford bằng một chiếc chìa khóa vạn năng và giết người hầu gái. Bức ảnh cho thấy hắn ta đã đặt chiếc ghim cài hình khiên này vào trong két sắt lúc chiều hôm nay - đây là chiếc ghim cài ấy. Trong suốt thời gian qua, hắn ta chính là thủ lĩnh của băng đảng trộm két sắt nguy hiểm nhất đất nước này.”
“Bà Branford.” Blake kêu lên, bước tới và cúi đầu thật sâu. “Tôi tin là bà có thể thông cảm cho tình thế khó xử này của tôi. Những lời xin lỗi của tôi sẽ không tính là quá khiêm tốn đâu. Tôi sẽ rất vinh dự được trao cho bà một tấm séc bảo chi cho những viên ngọc quý bị mất ngay vào sáng sớm ngày mai.”
Bà Branford cắn môi vẻ lo lắng. Việc trả lại những viên ngọc trai dường như không khiến bà ta quan tâm một chút nào.
“Cả tôi cũng cần phải xin lỗi vì đã có những nghi hoặc không xác đáng về bà và... và... hãy tin tưởng ở tôi, nó đã bị lãng quên rồi.” Kennedy nói, nhấn mạnh vào từ “không xác đáng”, đồng thời nhìn thẳng vào mắt của bà ta.
Bà ta hiểu được những gì anh ám chỉ, một vẻ nhẹ nhõm lướt qua gương mặt của bà ta. “Cảm ơn ông.” Bà ta thì thầm một cách giản dị, sau đó cụp mắt xuống và nói thêm bằng giọng khẽ khàng hơn mà chẳng một ai nghe thấy được ngoại trừ Craig: “Ông Kennedy, làm sao tôi có thể cảm ơn ông được đây? Chỉ một đêm nữa thôi và sẽ là quá muộn để có thể cứu vớt bản thân tôi rồi đấy.”