Bàn Tay Đen

Lượt đọc: 495 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4. KẺ PHÓNG HOẢ
part4

Vào một buổi chiều muộn nọ, khi tôi dạo bước về gần đến nhà, bỗng thấy một chiếc xe loại du lịch màu đỏ rất lớn với động cơ cực khỏe và treo một chiếc chuông bằng đồng sáng loáng phía trước, đang dừng đỗ bên lề đường trước căn hộ của chúng tôi. Đó là chiếc xe mà người ta vẫn thường bắt gặp hay luồn lách liều lĩnh giữa những chiếc xe tải và xe điện, vi phạm mọi quy tắc lẫn luật lệ và chẳng dừng lại vì bất cứ điều gì. Tiếng còi xe của nó cứ oang oang gào thét, nhưng các viên cảnh sát thì chỉ đứng đó điều tiết giao thông thay vì cố gắng bắt giữ người lái xe - nói cách khác, đó là một chiếc xe của Sở Cứu hỏa.

Tôi nhìn nó với vẻ hiếu kỳ trong giây lát, bởi bất kể thứ gì có liên quan tới công tác chữa cháy đương thời đều khá thú vị. Nhưng rồi, tôi đã quên khuấy nó ngay khi đứng trong chiếc thang máy đang vùn vụt lướt lên nhà. Để rồi lát sau, hình ảnh của chiếc xe ấy lại ùa về tâm trí khi tôi nhìn thấy một người đàn ông cường tráng với mái tóc hoa râm và đang mặc một bộ đồng phục xanh lam có lót vải màu đỏ trên người, ông ấy rướn người về phía trước, sốt sắng rót vào tai Kennedy một câu chuyện nào đó.

“Và đứng sau toàn bộ chuyện này, thưa ông...” Tôi nghe thấy giọng ông ấy nói khi bàn tay to lớn của ông ấy nện cái “rầm” xuống mặt bàn. “Là một kẻ cố ý phóng hỏa - hãy ghi nhớ kĩ lời tôi nói.”

Trước khi tôi kịp đóng cửa lại, Craig đã nhìn thẳng vào mắt tôi và tôi đọc được trong ánh nhìn của anh rằng anh đang có một vụ án mới - một vụ án khiến anh thấy cực kì hứng thú. “Walter này...” Anh kêu lên. “Đây là Cảnh sát trưởng của Đội điều tra Hỏa hoạn McCormick. Không sao đâu, McCormick. Ông Jameson đây chính là người đồng hành với tôi trong cả trước và sau khi tìm ra chân tướng sự thật trong các vụ điều tra dưới danh nghĩa thám tử của tôi.”

Một kẻ cố ý phóng hỏa - một trong những loại tội phạm nguy hiểm nhất. Mấy chữ đó đã lập tức khơi dậy trí tưởng tượng trong tôi, vì báo chí gần đây đã đưa rất nhiều tin tức liên quan tới một chuỗi các vụ hỏa hoạn kinh hoàng và kỳ quái mà có vẻ phát sinh do cố ý, hiện đang đe dọa tới khu vực kinh doanh của thành phố.

“Điều gì khiến ông nghĩ rằng có kẻ cố ý phóng hỏa - ý tôi là một kẻ chủ mưu duy nhất - đứng sau hàng loạt vụ hỏa hoạn kỳ lạ này?” Kennedy hỏi, tựa lưng vào chiếc ghế Morris* của mình. Các đầu ngón tay anh chụm lại với nhau, đôi mắt khép hờ như đang chìm vào tiềm thức để xâu chuỗi lại các thông tin hỗn loạn và tìm ra manh mối hữu ích, trong khi vị cảnh sát trưởng kia vẫn thao thao bất tuyệt các vụ hỏa hoạn.

“Chà, thường thì chẳng có bất kì lý do hay lời giải thích xác đáng nào cho những trường hợp cố ý gây hỏa hoạn cả.” McCormick đáp, cân nhắc từng lời lẽ của mình. “Nhưng lần này, tôi nghĩ có một điểm chung nào đấy trong hành động liều lĩnh của hắn ta. Ông có biết chuỗi cửa hàng bách hóa của gã Stacey cùng nhóm đồng minh ăn chia lợi tức trong lĩnh vực kinh doanh hàng may mặc và sản phẩm dệt hay không?”

Craig gật đầu. Dĩ nhiên chúng tôi có biết tới khối liên minh dệt may khổng lồ này. Nó đã trở thành chủ đề chính của cánh báo chí hồi nó được lập ra, tức là chỉ cách đây vài tháng, đặc biệt là khi trong số những người tổ chức nghiệp đoàn ấy có cả sự góp mặt của một nữ doanh nhân rất thông minh, cô Rebecca Wend. Mặc dù liên minh thương mại này đã vấp phải sự phản đối đáng kể, nhưng Stacey đã đập tan tành làn sóng phản đối đó bằng sức mạnh uy tín tuyệt đối của ông ta. McCormick rướn người về phía trước và khua khua ngón tay trỏ để nhấn mạnh quan điểm của mình, rồi chậm rãi trả lời. “Thực tế là mọi vụ hỏa hoạn trong số này đều nhắm vào một công ty con nào đấy của Stacey hoặc một tập đoàn được đặt dưới sự kiểm soát của gã.”

“Nhưng nếu sự việc đi xa đến mức đó...” Kennedy nói thêm. “Hẳn cảnh sát chính quy sẽ hỗ trợ các ông tốt hơn tôi nhiều chứ.”

“Tôi đã yêu cầu sự giúp đỡ từ phía cảnh sát rồi.” McCormick trả lời với vẻ mệt mỏi. “Nhưng họ thậm chí còn chưa thèm xem xét xem đó có phải là một kẻ cố ý phóng hỏa riêng lẻ hay là cả một băng nhóm hay không. Và trong lúc chờ đợi, Chúa ơi, ông Kennedy ạ, tên tội phạm này có thể sẽ khơi mào một vụ hỏa hoạn mới vượt quá tầm kiểm soát thì sao!”

“Ông nói cảnh sát không có lấy một manh mối để chỉ ra bất kì ai chịu trách nhiệm cho những vụ hỏa hoạn đó ư?” Tôi hỏi với hy vọng vị cảnh sát trưởng kia có thể thoải mái nói ra những nghi ngờ của ông ấy với chúng tôi, hơn là những gì ông ấy đã phát biểu trong các cuộc phỏng vấn trên báo mà chúng tôi đã đọc.

“Hoàn toàn không có bất cứ manh mối gì - ngoại trừ những điều rất lố bịch.” McCormick đáp lại, vần vò chiếc mũ của mình một cách đầy hằn học.

Chẳng ai nói một lời. Chúng tôi đang đợi McCormick tiếp tục.

“Vụ hỏa hoạn đầu tiên...” Ông ấy bắt đầu kể lại câu chuyện của mình thêm lần nữa vì những lời tôi vừa nói, Craig cũng chăm chú lắng nghe như thể anh chưa từng biết về nó vậy. “Là tại cửa hàng khá lớn của công ty may mặc Jones & Green thuộc Stacey. Bên bảo hiểm đã tốn cả mớ tiền để chi trả cho họ sau vụ cháy. Waren - giám đốc đồng thời là ông chủ thực sự của công ty - đã rời khỏi thị trấn vào thời điểm đó.”

Cảnh sát trưởng ngừng lời, tựa hồ đang kiểm tra lại những tình tiết kỳ quái trong tâm trí khi ông ấy tiếp tục.

“Ngày hôm sau, một vụ hỏa hoạn gây hoang mang khác đã xảy ra tại công ty con Quadrangle Cloak & Suit của Stacey trên Đại lộ số 5. Chắc hẳn đã có mâu thuẫn nào đó xảy ra giữa công ty này với những người làm công và một số nhân viên trong vụ ấy đã bị sa thải. Vài ông lớn đã được mời về đồn uống trà, nhưng thực sự chúng tôi không có manh mối nào để bắt chẹt họ. Max Bloom, giám đốc công ty, còn khăng khăng rằng vụ hỏa hoạn được châm ngòi với mục đích trả thù. Nhưng biết đâu lại giống như vụ cháy của công ty Jones & Green...” Nói tới đây, ông ấy liền hạ giọng vẻ bí mật. “Nhằm nuốt tiền bảo hiểm thì sao.”

“Tiếp đến là vụ hỏa hoạn ở tòa nhà Slawson, một tòa nhà áp mái mới được xây dựng ngay gần Đại lộ số 4. Ngoài chuyện tòa nhà đã được nhóm lợi ích Stacey bỏ tiền ra tài trợ, thì dường như chẳng có bất cứ lý do gì để một vụ hỏa hoạn xảy ra ở đó cả. Người ta đồn là tòa nhà này sẽ mang lại lợi nhuận đầu tư rất cao và tôi hoàn toàn không biết phải giải thích về vụ hỏa hoạn ấy thế nào. Tôi không tóm được gã nào liên quan cả - chỉ có thể coi đó là tác phẩm của một gã mắc chứng cuồng phóng hỏa thuần túy mà thôi, một kẻ nào đó đang thiêu rụi các tòa nhà để mua vui, một kẻ với khát khao cháy bỏng được nghe thấy tiếng còi xe cứu hỏa rú rít trên đường phố và có lẽ sẽ nhân cơ hội mà khoe khoang chút tinh thần anh dũng trong việc “giải cứu” những người thuê nhà. Tuy nhiên, chuyên gia tính toán tổn thất của công ty bảo hiểm, Lazard và chuyên gia tính toán tổn thất cho người được bảo hiểm, Hartstein, đã đi đến một thỏa thuận thống nhất và tôi tin tiền bảo hiểm vẫn sẽ được thanh toán cho những công ty ấy thôi.”

“Nhưng...” Kennedy xen vào. “Tính tới thời điểm này, tôi vẫn chưa thấy có bất cứ bằng chứng nào chỉ ra việc cố ý gây hỏa hoạn một cách có tổ chức.”

“Chờ một chút.” Cảnh sát trưởng trả lời. “Đấy mới chỉ là phần mở đầu thôi, ông hiểu chứ. Chỉ ít lâu sau đó lại xảy ra một vụ hỏa hoạn khác, nó rất giống âm mưu che đậy một vụ cướp bằng cách đốt trụi tòa nhà sau khi gây án. Nó xảy ra ở một cơ sở kinh doanh lụa gần phố Spring. Nhưng sau một cuộc tranh cãi, các chuyên gia tính toán tổn thất cũng đã đi đến được thỏa thuận bồi thường cho trường hợp đó. Tôi đề cập tới các vụ hỏa hoạn này là bởi thực tế chúng đang cho thấy các tác phẩm với mục đích cố ý gây hỏa hoạn khác nhau - bảo hiểm, trả thù, trộm cướp hay chỉ đơn thuần là nổi điên. Nhưng kể từ sau vụ cháy trên phố Spring, đặc trưng của các vụ hỏa hoạn đã bắt đầu có sự thống nhất hơn. Tất cả chúng đều được thực hiện ở các cơ sở kinh doanh, hoặc gần như là vậy.”

Nói đến đây, vị cảnh sát trưởng đưa ra một danh mục liệt kê các đám cháy có nguyên nhân gây cháy đáng ngờ, chí ít là có tới tám đám cháy tất cả. Tôi vội vàng ghi chép lại, định bụng rằng một lúc nào đó sẽ dùng danh sách này cho một tiêu đề dạng khung trên tờ Star. Khi ông ấy đọc xong danh sách của mình, tôi vội vàng thống kê số người thiệt mạng. Có sáu người chết, hai trong số họ là lính cứu hỏa và bốn nhân viên. Tổn thất lên đến hàng triệu đô la.

McCormick đưa một bàn tay lên trán quệt mổ hôi. “Chuỗi hỏa hoạn này đang khiến tôi phát điên.” Ông ấy khàn giọng lẩm bẩm. “Bất cứ chỗ nào tôi đặt chân đến, mọi người ở đó đều bàn tán về nó cả. Nếu tôi ghé vào nhà hàng để ăn trưa, bồi bàn sẽ lân la dò hỏi. Nếu gặp tay viết báo, hẳn nào hắn ta cũng thao thao bất tuyệt về nó. Cả thợ cắt tóc ở quán quen của tôi cũng vậy - tất cả mọi người đều như thế. Thậm chí, có những hôm nó còn xuất hiện trong giấc mơ của tôi, hay đôi khi tôi lại nằm trên giường vì nó mà trắng đêm trăn trở. Thú thật với các ông, tôi cũng đã đổ rất nhiều công sức và nỗ lực vào vụ này đấy.”

“Nhưng...” Kennedy nhấn mạnh. “Tôi vẫn không hiểu nổi tại sao ông lại liên kết tất cả các vụ cháy này đều là do một kẻ cố ý phóng hỏa gây ra chứ. Tôi thừa nhận là đang có một trận hỏa hoạn liên hoàn thật. Nhưng điều gì khiến ông cứ khăng khăng quả quyết chúng đều là tác phẩm của cùng một kẻ đến vậy?”

“Tôi đang định nhắc đến chuyện đó đây. Có một điều là, hắn ta hoàn toàn không giống những kẻ cố ý phóng hỏa mà ta hay gặp. Thông thường, chúng sẽ mồi lửa bằng vỏ bào* và xăng dầu, hoặc chúng sẽ trét paraffin* lên củi hay sử dụng xăng, dầu hỏa, hoặc thứ gì đó tương tự. Thế nhưng có vẻ như tay này cảm thấy rất khinh bỉ những phương pháp thô sơ kiểu ấy. Tôi không biết hắn ta đã mồi lửa ra sao, tuy nhiên, trong tất cả các vụ mà tôi vừa đề cập, chúng tôi đều tìm thấy được phần còn lại của một sợi dây điện. Chắc chắn chuyện này phải liên quan gì đấy đến điện - nhưng liên quan thế nào thì tôi không biết. Đó chính là lý do tại sao tôi nghĩ các vụ hỏa hoạn này có liên kết với nhau. Ngoài ra, còn một lý do khác nữa.”

McCormick rút một mẩu giấy lem nhem ra khỏi túi và đặt nó lên bàn. Chúng tôi đọc nó với vẻ háo hức:

Chào sếp!

_ Ông vẫn chưa tìm ra kẻ cố ý phóng hỏa kia đúng chứ? Chỉ khi nào thằng này chết và những vụ hỏa hoạn kia dừng lại thì ông mới biết được hung thủ là ai mà thôi. Chắc ông không nhận ra được một điều, rằng tên hung thủ ấy vẫn đang trò chuyện với ông về vụ cháy liên hoàn gần như mỗi ngày đâu nhỉ. Chính là thằng này đấy! Thằng này chính là kẻ cố ý phóng hỏa thật sự và cũng là kẻ đang viết bức thư này đấy. Thôi thì, thằng này sẽ tiết lộ cho sếp biết lý do thằng này châm ngòi những vụ hỏa hoạn đó nhé. Còn lý do gì ngoài tiền cơ chứ - một kiểu kiếm sống quá đơn giản, vậy thôi. Chả ai bắt quả tang hay tóm sống được thằng này cả. Vậy nên tốt nhất là sếp nên từ hỏ việc tìm kiếm tôi và tập trung vào việc uống thuốc mà giữ gìn cái thân đi là vừa._

TIA LỬA*.

“Chà!” Kennedy thốt lên. “Dù sao thì hắn ta cũng có khiếu hài hước đó chứ - Tia Lửa cơ đấy!”

“Hài hước đến khó chịu.” McCormick gầm gừ, nghiến chặt răng. “Còn đây là một bức thư khác mà tôi nhận được ngày hôm nay:”

Này sếp! Bọn này sẽ bận bịu trở lại và tặng một cửa hàng bách hóa - cũng lớn ấy nhỉ - một mồi lửa gọi là nho nhỏ nhé. Làm sao để vừa ý Ngài được đây? Cuộc vui lại bắt đầu khi kẻ chủ mưu phóng hỏa lần nữa hành động.

TIA LỬA.

“Thật là, các ông ạ, khi nhận được bức thư đó...” McCormick than vãn. “Suýt nữa tôi đã rung chuông báo cháy ở cấp độ chín mươi chín* ngay lập tức cơ đấy - chúng đã lừa phỉnh tôi. Nhưng tôi lại tự nhủ: Chỉ có một việc phải làm thôi - hãy tới gặp người tên Kennedy này. Vì vậy, tôi đã có mặt ở đây. Ông có nhận ra tôi đang nhắm đến điều gì không? Tôi tin rằng kẻ cố ý phóng hỏa này chính là một nghệ sĩ trong lĩnh vực của hắn, hắn ta làm điều đó đơn thuần chỉ vì niềm vui thích và số tiền dễ kiếm được từ nó. Nhưng hơn thế, phải có một kẻ nào đấy đang chống lưng cho hắn ta. Một kẻ cực kì quyền thế - chúng ta phải bắt được tên này. Ông hiểu chứ?”

“Một cửa hàng bách hóa lớn à.” Kennedy trầm ngâm. “Điều đó chắc chắn rồi - chỉ có khoảng hai chục cái như vậy thôi, trong đó nhóm đồng minh vì lợi ích của Stacey đang kiểm soát một số. Thưa cảnh sát trưởng, tôi sẽ tiết lộ cho ông biết những gì tôi sẽ làm. Hãy để tôi trực với ông đêm nay tại trụ sở, cho đến khi chúng ta nhận được báo động. Lạy Chúa, tôi sẽ theo vụ án này tới cùng!”

Vị cảnh sát trưởng đứng dậy và bước qua chỗ Kennedy đang ngồi. Một tay ông ấy đặt lên vai Craig và tay kia nắm lấy bàn tay của anh. Ông ấy mở miệng định nói, nhưng giọng dường như nghẹn lại ở cổ.

“Cảm ơn ông.” Cuối cùng ông ấy cũng thốt ra thành tiếng bằng chất giọng khàn khàn. “Thanh danh của tôi ở sở hiện đang bị đe dọa, sự thăng tiến của tôi, thậm chí chính chiếc ghế tôi đang ngồi và gia... gia đình của tôi nữa... ờ... ờ...”

“Không cần phải nói gì nữa đâu, thưa ngài.” Kennedy đáp, nét mặt anh lộ rõ vẻ thông cảm. “Tối nay lúc tám giờ, ông hãy để lại mấy lời nhắn của tay Tia Lửa này cho tôi được chứ.”

Lúc này, McCormick đã lấy lại được bình tĩnh để gửi lời chào từ biệt nồng nhiệt đến chúng tôi. Ông ấy rời khỏi phòng như thể trút bỏ được gánh nặng suốt mười năm đằng đẵng vậy. Một lúc sau, ông ấy lại ló đầu vào cửa. “Tôi sẽ cử một trong số xe của sở qua đón các ông nhé, thưa các quý ông.” Ông ấy nói.

Sau khi vị cảnh sát trưởng rời khỏi, chúng tôi ngồi im lặng trong ít phút. Kennedy đang đọc đi đọc lại các mẩu giấy nhắn đó, mặt mày cau có như muốn dùng cơ mặt để bóp nát vấn đề cực kì phức tạp nào đó vậy. Tôi không nói năng gì, mặc dù trong tâm trí của tôi cũng đang đầy ắp những suy đoán. Cuối cùng, anh đặt hai tờ giấy nhắn xuống mặt bàn một cách rất dứt khoát rồi thốt ra lời nhận xét. “Đúng rồi, chắc chắn là như vậy.”

“Cái gì cơ?” Tôi thắc mắc, vẫn đang gõ gõ trên chiếc máy đánh chữ của mình, sao chép lại danh sách các vụ cháy do cố ý phóng hỏa để phòng tới lúc vụ án được giải quyết và câu chuyện sẽ được đăng tải trên báo chí.

“Lời nhắn này...” Anh giải thích, cầm lấy tờ giấy nhắn đầu tiên và cất tiếng chậm rãi. “Được viết bởi một người phụ nữ.”

Tôi quay phắt người lại trên chiếc ghế. “Không đời nào!” Tôi khẳng định với vẻ đầy hoài nghi. “Chẳng có bất cứ phụ nữ nào dùng những ngôn từ như vậy cả.”👁️

“Tôi không nói nó do một người phụ nữ tự soạn ra - mà nó được viết bởi một người phụ nữ.” Anh trả lời.

“Ô.” Tôi nói, cảm thấy hơi xấu hổ.

“Chúng ta có thể xác định được giới tính của đối tượng từ nét chữ viết tay đúng khoảng tám mươi trên một trăm trường hợp đấy.” Kennedy tiếp tục, thích thú trước vẻ bối rối của tôi. “Có lần, tôi đã kiểm tra hàng trăm mẫu chữ viết nhằm chứng minh nghiên cứu của mình là xác đáng. Vì muốn kiểm tra lại kết luận của mình, tôi đã gửi một vài mẫu trong số đó cho hai chuyên gia phân tích chữ viết tay. Mặc dù kết quả của chúng tôi hơi khác nhau, nhưng cũng trùng khớp tới bốn trong tổng năm trường hợp mà tôi đã gửi. Nó được gọi là dấu hiệu xác thực giới tính, phụ thuộc vào số lượng chữ viết, độ tuổi của người viết và chịu ảnh hưởng bởi quá trình rèn luyện cũng như những yêu cầu nghề nghiệp ở một mức độ nhất định. Chẳng hạn, kiểu chữ viết chuẩn mực của người làm giáo viên và nét chữ ngoáy tít của nhân viên kế toán. Trong trường hợp này, người viết trên tờ giấy nhắn đầu tiên chỉ là một người viết có các chỉ số ở mức độ trung lập. Do đó, các dấu hiệu xác thực giới tính tương đối chính xác.”

“Vậy là có một người phụ nữ dính dáng tới vụ này và cô ta đã viết mẩu giấy nhắn đầu tiên cho tên cố ý gây hỏa hoạn kia - ý anh là như vậy phải không?” Tôi hỏi.

“Chính xác. Hầu như luôn có một người phụ nữ nào đó đã nhúng tay vào vụ này, dù bằng cách này hay cách khác. Người phụ nữ này có quan hệ mật thiết với kẻ cố ý phóng hỏa. về phần kẻ phóng hỏa ấy, bất kể hắn ta là ai đi chăng nữa, hắn ta đã thực hiện những tội ác với một sự toan tính rất lạnh lùng và, như De Quincey* đã từng nói, trong một tinh thần nghệ thuật thuần túy. Ngọn lửa dục vọng đã thôi thúc hắn ta và hắn ta đang dùng chính thứ nghệ thuật đó để bảo toàn sự giàu có. Tuy nhiên, tên đàn ông này cũng có khả năng là công cụ trong tay những kẻ khác. Thật khinh suất khi khái quát hóa sự việc dựa trên những tình tiết ít ỏi mà chúng ta hiện đang có trong tay. Chà, chúng ta vẫn chưa làm được gì cả. Hãy đi dạo một chuyến, ăn một bữa tối sớm một chút rồi quay trở lại đây trước khi xe đến thôi.”

Kennedy không nói thêm lời nào liên quan tới vụ án trong lúc chúng tôi cùng đi dạo, hay thậm chí là trên đường chúng tôi đến trụ sở của Sở Cứu hỏa ở trung tâm thành phố.

Chúng tôi nhận ra McCormick đang lo lắng đợi mình. Ở phía trên cao của tòa tháp được xây bằng sa thạch tại trụ sở, chúng tôi ngồi cùng ông ấy trong mê cung của bộ máy chính quyền tinh vi và đang phải chơi thứ trò chơi phóng hỏa ở New York kia. Trong các chiếc tủ kính lớn là những cỗ máy bằng đồng và niken* sáng loáng gồm những chiếc đĩa, tay đòn, chuông, máy điện báo tự động in tin, những tờ giấy cùng bảng tín hiệu điện báo dù không có con số. Đây là máy điện báo báo cháy hay “bánh xe quay cò quay của con quỷ lửa” như một người nào đó đã từng gọi nó một cách rất hợp tình hợp lý.

“Tất cả các chuông báo cháy từ tất cả các quận, cả từ các hộp báo động thông thường lẫn các hệ thống phụ trợ, đều sẽ đổ về đây đầu tiên qua mạng lưới dây điện dài năm ngàn cây số hoặc hơn trải dài khắp thành phố.” McCormick giải thích với chúng tôi.

Một tiếng còi rít lên.

“Giờ đang báo động đấy.” Ông ấy kêu lên, tập trung cao độ.

“Ba”, “sáu”, “bảy”, những con số xuất hiện trên bảng tín hiệu điện báo. Các nhân viên trong văn phòng di chuyển như thể họ là một phần của cơ chế này vậy. Hai hồi chuông báo động được lặp lại và được gửi đi khắp thành phố. McCormick cũng không còn vẻ bình tĩnh kia nữa.👁️

“Chuông báo đó không phải ở khu mua sắm.” Ông ấy giải thích, cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều. “Giờ các trạm cứu hỏa ở khu vực phát sinh đám cháy đó cũng đã nhận được báo động khẩn cấp rồi. Bốn xe cứu hỏa tiêu chuẩn, hai xe chữa cháy có thang và cần cẩu, một tháp nước, tiểu đoàn trưởng và một phó tiểu đoàn trưởng đang vội vã di chuyển đến chỗ đám cháy đó. Ôi không, lại một báo động khác nữa này.”

Một lần nữa, tiếng còi báo vang lên. “Một”, “bốn”, “năm” hiển thị trên bảng tín hiệu điện báo.

Thậm chí trước cả khi những người trợ lý kịp phản ứng, McCormick đã lôi xềnh xệch hai chúng tôi ra cửa. Rồi khoảnh khắc tiếp theo, chúng tôi đã ngồi trên chiếc xe đang phóng như điên để tới khu phố trên, chiếc chuông phía trước xe đang kêu leng keng như tiếng xe cứu hỏa, còi báo động hú liên tục, động cơ xe chạy rung lên mãnh liệt cho tới khi nước đạt điểm sôi trong bộ tản nhiệt.

“Thả nó ra đi, Frank.” McCormick ra lệnh cho tài xế của ông ấy, khi chúng tôi rẽ vào một đại lộ rộng rãi và lúc này gần như vắng bóng người.

Tựa như một vệt đỏ trong đêm tối, chúng tôi lao vụt đi trên đại lộ đó, cua gấp vào Phố số 14, cuối cùng đến Đại lộ số 6. Với một cú giật mạnh cùng một cú đạp phanh, chúng tôi dừng xe lại. Các động cơ, xe cứu hỏa có vòi rồng, xe chữa cháy có thang và cần cẩu đang được đội cứu hộ cùng các cảnh sát đang thiết lập vành đai chữa cháy cũng như mọi thứ khác. Nhưng đám cháy đâu rồi?

Đám đông đã chỉ ra được vị trí của nó - đó là cửa hàng của Stacey. Lính cứu hỏa và cảnh sát đang tiến vào tòa nhà đồ sộ. McCormick len vào theo sau họ, chúng tôi cũng đi theo.

“Ai đã báo động?” Ông ấy hỏi khi chúng tôi leo lên cầu thang cùng với những người khác.

“Là tôi.” Một người gác đêm đứng trên đầu cầu thang thứ ba trả lời. “Lúc đó, tôi trông thấy có ánh sáng trong văn phòng ở góc trong cùng của tầng ba - một thứ gì đó đang cháy rực. Nhưng giờ hình như nó đã tắt.”

Cuối cùng chúng tôi cũng tới được văn phòng. Bên trong tối đen và không một bóng người, nhưng nhờ có những chiếc đèn bão, chúng tôi đã có thể nhìn ra mặt sàn của căn phòng lớn nhất này đang bày bừa toàn sách cùng sổ cái rách nát.

Chân của Kennedy vấp phải thứ gì đó. Nó là một sợi dây điện lòng thòng trên sàn nhà. Anh lần theo nó. Nó dẫn tới một ổ cắm đèn điện, chỗ nó được nối vào.

“Không bật đèn lên được à?” McCormick hét lên với người gác đêm.

“Không phải ở trên này. Chúng được bật từ tầng dưới và sẽ tắt trong đêm. Tôi sẽ đi xuống đó nếu như các vị muốn và...”

“Không.” Kennedy gầm lên. “Cứ ở yên chỗ đó cho tới khi nào tôi lần được theo sợi dây điện này đến đầu bên kia đã.”

Cuối cùng chúng tôi cũng tới một văn phòng nho nhỏ được ngăn vách với căn phòng chính. Kennedy cẩn thận mở cửa ra. Một luồng không khí từ trong đó ùa ra. Anh đóng sầm cửa lại.

“Cầm mấy chiếc đèn bão đó lùi lại đi, các chàng trai.” Anh ra lệnh.

Tôi khịt mũi, trông chờ ngửi thấy được mùi khí thắp sáng. Nhưng thay vào đó, chỉ có một mùi ngòn ngọt và kỳ quái đang tỏa khắp không khí. Trong khoảnh khắc, nó khiến tôi nghĩ tới một phòng mổ của bệnh viện.

“Ete* đấy.” Kennedy la lên. “Cầm những chiếc đèn đó lùi xa hơn nữa đi và nhấc chúng lên khỏi mặt sàn nhé.”

Trong một khoảnh khắc, trông anh có vẻ hơi do dự tựa hồ anh không biết phải làm gì tiếp theo. Liệu anh nên mở cửa và để loại khí cực kì dễ cháy này thoát ra ngoài hay anh nên kiên nhẫn chờ cho đến khi hệ thống thông gió tự nhiên của văn phòng nhỏ ấy xua tan nó đi?

Trong lúc đang cần nhắc, anh tình cờ liếc mắt ra bên ngoài cửa sổ và bắt gặp một hiệu thuốc ở phía bên kia đường.

“Walter.” Anh nói với tôi. “Mau chạy qua đó và lấy tất cả diêm tiêu lẫn lưu huỳnh mà người đàn ông ấy có trong cửa hàng đi nào.”

Tôi không để lãng phí một phút giây nào mà chạy đi làm ngay lập tức. Kennedy đổ hai loại hóa chất ấy vào trong một cái nồi ở giữa văn phòng chính, khoảng ba phần năm lượng diêm tiêu và hai phần năm lượng lưu huỳnh, tôi có thể nói là như vậy. Rồi anh châm lửa nó. Khối hóa chất đó bốc cháy với ngọn lửa sáng nhưng không nổ. Chúng tôi có thể ngửi thấy mùi khói gây ngạt thở từ nó và rút lui về phía sau. Trong một, hai khoảnh khắc, chúng tôi tò mò quan sát nó từ xa.

“Đó là loại bột dập lửa rất hữu hiệu đấy.” Craig giải thích khi chúng tôi hít ngửi mùi của nó. “Nó sẽ tạo ra một lượng lớn carbon dioxide* sulfur dioxide*. Giờ thì - trước khi mọi thứ trở nên tồi tệ hơn - tôi đoán sẽ an toàn nếu mở cánh cửa đó và để ete thoát ra ngoài. Các vị thấy đấy, đây là cách tốt nhất để trả lại sự an toàn cho một căn phòng ngập tràn hơi dễ cháy. Đi nào, chúng ta sẽ đợi bên ngoài văn phòng chính trong vòng vài phút, cho tới khi các loại khí trộn lẫn lại với nhau.”

Cảm giác như thể đã hàng tiếng đồng hồ trôi qua, trước khi Kennedy nghĩ rằng đã an toàn để quay trở lại văn phòng đó cùng với một ngọn đèn. Vừa cầm đèn, chúng tôi vừa vội vã chạy tới gian phòng nho nhỏ của một văn phòng ở đầu phía bên kia. Trên sàn là một can ete nhỏ, dĩ nhiên là đã bay hơi hết sạch, bên cạnh là một thiết bị nhỏ trông như được dùng để tạo tia lửa điện.

“Vậy, đó là cách hắn ta đã gây nên chuyện này.” Kennedy trầm ngâm, chỉ vào cái hộp với vẻ suy tư. “Hắn ta đã để ete bay hơi trong căn phòng một lúc rồi gây ra một vụ nổ từ khoảng cách an toàn với tia lửa điện nhỏ này. Đó chính là nơi dây điện của hắn ta đi vào, McCormick ạ. Này anh bạn, anh có thể bật đèn từ dưới nhà lên rồi đấy, ngay bây giờ.”

Trong lúc chúng tôi đợi người gác đêm đi bật đèn, tôi thốt lên. “Hắn ta đã thất bại lần này vì điện đã bị ngắt.”

“Chính xác, Walter ạ.” Kennedy đồng ý.

“Nhưng những ngọn lửa mà người gác đêm đã nhìn thấy, chúng là gì mới được?” McCormick chen vào, cảm thấy hoang mang đáng kể. “Chắc chắn ông ta phải nhìn thấy một thứ gì đó chứ.”

Đúng lúc đấy, đèn chớp nháy sáng lên.

“Ồ, đó là trước khi gã ta cố gắng làm hơi ete phát nổ thôi.” Kennedy giải thích. “Hắn ta buộc phải đảm bảo hiệu quả của tác phẩm hủy diệt của mình trước. Và, xét đoán từ những mảnh giấy đã cháy thành than kia, hắn ta đã làm rất tốt đấy. Nhìn mà xem, hắn ta đã xé vài trang từ những cuốn sổ cái rồi đốt chúng trên sàn nhà. Nhưng có một mục tiêu cần xử lý trong số tất cả các trang đó. Là cái gì nhỉ? Ái chà! Hãy nhìn tập giấy đã bị cháy sém ở một góc này đi.”

Anh cúi xuống và xem xét nó cẩn thận. “Một kiểu bản ghi nhớ nào đó, tôi đoán là vậy. Tôi sẽ giữ lại tờ giấy bị cháy này và kiểm tra nó sau. Đừng động vào nó. Tôi sẽ tự lấy nó.”

Sau khi lục soát hết mức có thể, chúng tôi vẫn chẳng thể tìm ra được dấu vết nào khác của kẻ phóng hỏa, cuối cùng chúng tôi đành rời đi. Kennedy đã cẩn thận bỏ tờ giấy đã bị cháy sém kia vào trong một chiếc hộp đựng mũ lớn để mang về.

“Đêm nay sẽ chẳng có thêm vụ cháy nào nữa đâu, McCormick.” Anh nói. “Nhưng tôi sẽ đi trực cùng ông mỗi đêm cho đến khi chúng ta tóm được kẻ cố ý phóng hỏa này. Trong khi đó, tôi sẽ xem liệu mình có thể giải mã được điều gì nếu có trong tờ giấy đã bị cháy sém này hay không.”

Ngày hôm sau, McCormick lại ghé thăm chúng tôi. Lần này, ông ấy mang theo một mẩu giấy nhắn khác, một dòng chữ nguệch ngoạc nhằm che đậy danh tính của người viết có nội dung như sau:

Này sếp, thằng này vẫn chưa xong việc đâu nhé. Vậy nên, hãy chống mắt mà xem thằng này kiếm một cửa hàng khác đây này. Thằng này sẽ không thất bại trong lần tới đâu.

TIA LỬA.

Craig cau có khi đọc mẩu giấy nhắn và đưa nó cho tôi. “Lần này lại là gã đàn ông kia viết - giống như mẩu giấy nhắn thứ hai,” là tất cả những gì anh nói. “McCormick, vì chúng ta đã biết “sét sẽ giáng xuống nơi nào” rồi, liệu ông có nghĩ sẽ khôn ngoan hơn nếu đặt trụ sở của chúng ta tại một trong các trạm cứu hỏa ở khu vực đó không?”

Vị cảnh sát trưởng đồng ý và đêm đó, chúng tôi đã ngồi trực trong một trạm cứu hỏa gần khu cửa hàng bách hóa nhất.

Kennedy và tôi lần lượt được chỉ định vào các vị trí trên xe cứu hỏa có vòi rồng chữa cháy và xe cứu hỏa thông thường. Kennedy ngồi trong xe cứu hỏa có vòi rồng để được ngồi cùng với McCormick. Chúng tôi đã được chỉ dạy tụt xuống một trong bốn cây cột làm từ đồng, bằng cách đặt bàn tay ở bên dưới khuỷu tay, để có thể nhanh chóng xuống dưới. Họ đã chỉ cho chúng tôi cách nhảy vào “đồng phục” - một chiếc quần rộng rãi bên trên một đôi ủng cao cổ, và phát những chiếc mũ bảo hộ mà chúng tôi sẽ phải đội nó - theo như quy định - đè lên áo khoác cao su mặc trên người. Vậy là tình cờ thay, Craig và tôi đã tạm thời gia nhập Sở Cứu hỏa. Đó là một trải nghiệm rất mới lạ cho cả hai chúng tôi.

“Nào, Walter.” Kennedy nói. “Chừng nào vụ này còn chưa dừng hẳn, chúng ta sẽ còn phải “lăn xả” vào tất cả đám cháy, giống như những người lính chính quy kia vậy. Chúng ta sẽ không bỏ sót bất kì cơ hội nào nhằm tóm gọn tên chủ mưu kia, bất kể ngày hay đêm.”

Đó là một buổi tối yên tĩnh đến lạ khi chỉ có một đám lửa nho nhỏ trong một cửa hàng kẹo trên Đại lộ số 7. Hầu hết thời gian chúng tôi ngồi quây quần bên nhau, cố gắng rủ rê những người lính kể về những trải nghiệm ly kỳ trong các vụ chữa cháy của họ. Nhưng nếu có điều gì mà người lính cứu hỏa không biết thì đó chính là thứ ngôn ngữ tiếng Anh để nói về chính bản thân họ. Trời cũng đã khá khuya lúc chúng tôi trở về những chiếc giường nho nhỏ và gọn gàng màu trắng trên tầng.

Chúng tôi chưa kịp chìm vào trong giấc ngủ mơ màng giữa khung cảnh xa lạ thì tiếng cồng ở tầng dưới vang lên. Đó là hiệu lệnh của chúng tôi.

Chúng tôi có thể nghe thấy tiếng vó ngựa lộc cộc và mau lẹ khi chúng tự động được tháo xích khỏi chuồng, trên thân chúng cũng đã được trang bị đầy đủ yên ngựa và dây cương. Tất cả đều huyên náo, vận động và la hét. Craig và tôi lúng túng lao vào bộ đồ được trang bị cho mình ngay khi những âm thanh đầu tiên vang lên, rồi lại vụng về trượt xuống cột và “được” xô đẩy vào đúng vị trí đã định. Bởi công tác quản lý khoa học ở một trạm cứu hỏa New York đã đạt mức hiệu suất đến một trăm phần trăm và chúng tôi không được phép trì hoãn.

Ngọn đuốc bằng dầu đã được châm vào động cơ, ngay lập tức, chiếc xe ngựa chở chúng tôi nhào lên phía trước. Tôi đang phải bám thật chắc vào thành xe để đảm bảo tính mạng nhỏ bé, vì trước mắt tôi là hình ảnh người đánh xe thúc những con chiến mã lao phăng phăng về phía trước, giống như một người đánh xe ngựa trong cuộc đua Ben Hur* thời hiện đại. Chiếc xe chở Craig và McCormick giờ đây đã mất dạng trong đám khói dày đặc cùng những tia lửa kéo dài phía sau lưng chúng tôi. Chúng tôi cứ không ngừng lao đi cho đến khi rẽ vào Đại lộ số 6. Ánh sáng chói lóa của bầu trời mách bảo cho chúng tôi biết rằng lần này kẻ cố ý phóng hỏa đã thành công.

“Tôi tự treo cổ nếu đó không phải là cửa hàng của Stacey.” Người lính ngồi cạnh tôi trên chiếc xe cứu hỏa hét lên khi đám chiến mã ngoặt vào đại lộ và dừng lại ở vòi nước được phân bổ. Cảm giác giống như một cuộc tập trận vậy. Mọi đường đi nước bước đều đã được các nhà chiến lược cứu hỏa hoạch định sẵn, thậm chí từng vòi nước chữa cháy của các xe cứu hỏa cũng đã được phân nhiệm vụ dập tắt một đám cháy nhất định.

Một số tầng nhà đã bị bắt lửa, các cửa sổ rực sáng như những lò sưởi, các tấm kính phồng ra rồi nứt vỡ, từng lưỡi lửa cứ liếm lên phía trên và bắn ra tung tóe thành những vệt sáng dài. Vòi chữa cháy được nối ngay lập tức, nước đã được mở, lớp cao su cùng vải bạt mềm rũ giờ đã trở nên cứng nhắc như cột trụ, trước áp lực cao của sức nước đang đổ dồn qua nó. Hết lính cứu hỏa này tới lính cứu hỏa khác lao mình vào tòa nhà “chống cháy” đang rực lửa ấy, bị giục giã bởi những lời chửi thề khản đặc từ người sếp của họ.

Hai mươi hoặc ba mươi người lính đi thẳng vào trung tâm của đám cháy mà cảnh sát đã phải rút lui. Không vội vàng hấp tấp, cũng chẳng hề do dự. Tất cả đều nhịp nhàng, trơn tru như thể một cỗ máy. Thế nhưng, dù đã căng mắt nhìn xuyên qua tầng tầng lớp lớp khói đen, nhưng chúng tôi vẫn chẳng thấy bóng dáng của bất cứ ai trong số những con người anh dùng đó cả. Họ đã bị nuốt chửng, quả thực là như vậy. Vì đó là con đường mà lính cứu hỏa New York đã lựa chọn. Thi thoảng, lại có một dòng nước từ một chiếc vòi nào đó phun ra từ một ô cửa sổ, cho thấy những người lính ấy vẫn còn sống và đang cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Ở tầng trệt, đội cứu hộ với những chiếc mũ chống cháy màu đỏ đang bận rộn phủ những tấm cao su lên bất cứ thứ gì trong đống hàng hóa kia mà họ có thể, để bảo vệ chúng trước làn nước. Các bác sĩ với những chiếc hộp đựng đổ nghề màu đen cùng quần trắng đang tất bật sơ cứu cho những người bị thương. Kennedy và tôi cũng bận bịu quanh chiếc xe cứu hỏa, có rất nhiều việc chúng tôi cần phải làm.

Trên nền những tiếng rít chói tai đòi tiếp thêm nhiên liệu của lửa, tôi nghe thấy một giọng nói hét lên. “Bắt đầu bằng một vụ nổ - chính là tên cố ý phóng hỏa đó, được rồi.” Tôi ngước nhìn lên. Đấy là McCormick, toàn thân lấm lem và ướt sũng, đang nói chuyện với Kennedy trong trạng thái bị kích động cao độ.

Tôi đang bận rộn làm vài việc lặt vặt ở quanh những chiếc xe cứu hỏa để thấy mình thực sự giúp ích được gì đó, nên chẳng thể nào dành thời gian để quan sát ngọn lửa. Lúc này, nó đã được kiểm soát. Đòn tấn công sắc bén và có khoa học đó đã dập tắt được những gì có khả năng trở thành một trong những đám cháy lớn nhất lịch sử của New York.

“Các vị đã sẵn sàng vào bên trong rồi chứ?” Tôi nghe McCormick hỏi.

Đáp lại, Kennedy chỉ đơn giản gật đầu. Còn về phần tôi, Craig đi đâu tôi theo đó.

Ba người chúng tôi lao thẳng qua cánh cửa bị cháy sém, bước qua những khối sắt đã bị uốn cong queo vẫn đang còn âm ỉ rực đỏ giữa làn khói và hơi nước. Trong khi ấy, cột nước vẫn rít lên, bắn tung tóe và sánh tràn cả ra. Khói vẫn khiến chúng tôi thấy ngạt thở, lâu lâu chúng tôi lại phải tìm kiếm chút không khí ở sát mặt sàn hay sát tường. Tay chân tôi nặng nề như đeo đá, nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục lao tới.

Với tình trạng vừa ho vừa nghẹt thở, chúng tôi đi theo McCormick đến nơi từng là trung tâm của đám cháy, chính là văn phòng của tòa nhà. Những người lính cứu hỏa đang cầm cuốc và rìu, cùng tất cả các loại dụng cụ được chế tạo tinh vi, để bổ xuống và xé toạc những bức tường lẫn đống vật dụng bằng gỗ, nhằm dập tắt những tia lửa cuối cùng vẫn đang còn âm ỉ. Dẫu cho bốn, năm ngàn lít nước vẫn đang điên cuồng chảy vào những khu vực cháy khác nhau của tòa nhà.

Trên sàn văn phòng nọ có một khối gì đó đã bị hóa thành than, hình thù rất kỳ quái và khó nhận biết nổi. Cái mùi khủng khiếp trong căn phòng này là gì nhỉ? Thịt người bị khét ư? Tôi giật mình lùi lại trước những gì từng là hình hài của một người phụ nữ.

McCormick thốt lên một tiêng kêu và khi ngoảnh mặt đi, tôi nhận ra ông ấy đang cầm một sợi dây điện bị cháy lớp cách điện. Ông ấy đã nhặt nó lên từ đống đổ nát của sàn nhà. Nó dẫn tới một cái can đã bị đen thui và móp méo - thứ đã từng là một can ete.

Đầu óc tôi hoạt động rất nhanh chóng, nhưng McCormick đã kịp thốt ra những lời đó trước khi tôi có thể định hình chúng. “Cuối cùng thì ả ta cũng đã tự mắc bẫy của chính mình!”

Kennedy chẳng nói chẳng rằng, nhưng khi một trong những người lính cứu hỏa mạnh bạo mà cung kính phủ lên thi hài đó một tấm cao su, anh liền cúi xuống và lôi ra từ ngực người phụ nữ một tập đựng hồ sơ dài. “Nào, chúng ta đi thôi.”

Sau khi lại được quay trở về căn hộ của mình, chúng tôi đi gội sạch cái đầu đang đau nhức, súc sạch cổ họng khô rát và vệ sinh những đôi mắt đỏ ngầu, trong im lặng. Toàn bộ cuộc phiêu lưu này, mặc dù vẫn còn rất sống động và mới mẻ trong tâm trí của tôi, dường như không phải là sự thực, mà chỉ giống như một giấc mơ. Khí ngạt, hơi nước kêu xì xèo cùng cái vật thể ghê rợn nằm bên dưới tấm bạt - tất cả những điều đó có nghĩa là gì nhỉ? Cô ta là ai? Tôi cố gắng suy luận, nhưng không thể tìm ra câu trả lời.

Trời đã gần sáng khi cánh cửa mở ra và McCormick bước vào, mệt mỏi thả người xuống ghế. “Các vị có biết người phụ nữ kia là ai không?” Ông ấy thở hổn hển. “Chính là cô Wend.”

“Ai đã nhận dạng cô ta vậy?” Kennedy điềm tĩnh hỏi.

“Ồ, nhiều người. Stacey đã nhận ra cô ta ngay lập tức. Rồi Hartstein - chuyên gia tính toán tổn thất cho người được bảo hiểm và Lazard - chuyên gia tính toán tổn thất cho công ty, cả hai nhân vật ít nhiều có liên quan đến cô ta trong việc bồi thường tiền bảo hiểm trong các vụ cháy khác, đều nhận ra cô ta. Cô ta là một người phụ nữ rất thông minh, chính là cô Wend đó, một bánh răng cực kì quan trọng trong các hoạt động kinh doanh của Stacey. Và thử nghĩ mà xem, rốt cuộc cô ta lại chính là kẻ cố ý phóng hỏa kia cơ chứ! Tôi thật không thể nào tin nổi!”

“Tại sao lại phải tin cơ chứ?” Kennedy khẽ hỏi.

“Tại sao lại phải tin ấy hả?” McCormick hỏi lại. “Stacey đã phát hiện ra những thâm hụt trong sổ sách kế toán của ông ta phát sinh từ hoạt động ở các bộ phận của cô ta. Người kế toán đảm trách các tài khoản trong bộ phận của cô ta tên Douglas, hiện giờ đang mất tích. Chắc hẳn cô ta đã cố gắng che đậy các hoạt động của mình bằng cách phóng hỏa và khai khống sổ sách. Chỉ có điều, cô ta đã thất bại khi cố gắng đốt trụi chính cửa hàng của Stacey, đến những hai lần. Cô ta là một trong số ít những người có thể vào văn phòng mà không bị giám sát. Ồ, mọi chuyện giờ đã sáng tỏ rồi. Theo tôi nghĩ, hơi nặng của ete - chúng nặng hơn không khí, các vị biết mà - hẳn đã thoát ra ngoài theo bề mặt sàn đêm qua và bốc cháy ở một khoảng cách gần đáng kể so với vị trí cô ta đã dự tính. Cô ta đã bị cuốn vào hiện tượng backdraft*, hay một thứ gì đại loại thế. Chà, tạ ơn Chúa, chúng ta đã được thấy thương vụ cuối cùng của tên cố ý phóng hỏa này rồi. Kia là gì vậy?”

Kennedy đã đặt tập hồ sơ lên mặt bàn. “Không có gì. Chỉ có điều tôi đã thấy thứ này được gắn chặt vào ngực của cô Wend, ngay trên tim cô ta.”

“Vậy nghĩa là, cô ta đã bị sát hại sao?” McCormick kêu lên.

“Chúng ta vẫn chưa thể đi đến kết luận của vụ án này đâu. ” Craig trả lời vẻ lảng tránh. “Ngược lại, chúng ta vừa có được manh mối hữu hiệu đầu tiên đấy. Không, McCormick ạ, giả thuyết của ông sẽ không trụ vững được. Vấn đề thực sự là chúng ta phải tìm ra được tay kế toán mất tích bằng bất cứ giá nào. Ông phải thuyết phục hắn ta thú nhận tất cả những gì hắn ta biết, và tất nhiên, với điều kiện được xem xét miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Bởi, hắn ta chỉ là một con tốt thí trong tay những kẻ ngồi trên cao kia mà thôi.”

Không khó để thuyết phục McCormic. Dù mệt mỏi, ông ấy vẫn vớ lấy chiếc mũ của mình và bắt đầu khởi động cơ chế cuối cùng nhằm kết thúc cuộc rượt đuổi đằng đẵng theo kẻ cố ý phóng hỏa kia.

“Tôi phải đánh một giấc vài tiếng đồng hồ thôi.” Ông ấy ngáp khi rời khỏi. “Nhưng trước tiên, tôi muốn làm một điều gì đó để tìm kiếm tay Douglas này đã. Tôi sẽ cố gắng tới gặp các vị vào khoảng trưa nay nhé.”

Tôi đã quá mệt mỏi để tới văn phòng rồi. Thực tế, tôi đang nghi ngờ không biết liệu mình có thể viết nổi một dòng tin nào hay không đây. Nhưng tôi đã gọi điện kể về trải nghiệm cá nhân của mình tại vụ hỏa hoạn ở cửa hàng Stacey và nói với họ rằng họ có thể viết nó theo bất kì hướng nào họ muốn, thậm chí ký tên tôi vào đó luôn cũng được.

Tới khoảng trưa, McCormick đã quay trở lại, trông ông ấy lại phơi phới như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Ông ấy đã quen với nó rồi.

“Tôi biết Douglas đang ở đâu rồi!” Ông ấy hổn hển thông báo.

“Tốt lắm!” Kennedy nói. “Và ông có thể cho anh ta lộ diện bất cứ khi nào cần thiết không?”

“Để tôi kể cho các vị nghe những gì tôi đã làm. Tôi đã từ đây đi thẳng xuống gặp ông ủy viên công tố quận và đốc thúc ông ấy ra khỏi giường. Ông ấy đã hứa sẽ sai đám kế toán viên của mình đi kiểm tra báo cáo của mấy gã chuyên gia tính toán tổn thất, Hartstein và Lazard, cũng như xem xét lại sơ bộ những sổ sách kế toán còn lại của Stacey. Ông ấy bảo mình sẽ có bản báo cáo sơ bộ sẵn sàng trong tay vào tối nay, nhưng dĩ nhiên báo cáo chi tiết sẽ phải mất vài ngày.”

“Dẫu vậy, vấn đề của Douglas mới khó. Tôi chưa gặp hắn ta, nhưng một trong những người ở văn phòng trung tâm, thông qua việc theo dõi vợ hắn, đã phát hiện ra hắn ta đang ẩn náu ở miền Đông. Hắn ta cho rằng mình đã núp rất kĩ, chỉ cần hắn không bước chân ra khỏi nơi ở là sẽ không bao giờ bị tóm. Rắc rối là ở chỗ nếu tôi bắt hắn ta, những tên ngồi trên cao kia cũng sẽ biết điều đó và cao chạy xa bay trước cả khi tôi kịp nhận được lời thú tội cùng với lệnh bắt giữ. Thà tôi chờ thu lưới một mẻ còn hơn. Chẳng lẽ không còn cách nào để chúng ta có thể gom được cả đám Stacey lại với nhau? Bắt giữ Douglas và tóm gọn những kẻ có tội trong vụ án, tất cả cùng một lúc mà không cho chúng có cơ hội được trốn thoát hoặc bao che cho kẻ cố ý phóng hỏa thực sự kia hay sao?”

Kennedy suy nghĩ trong giây lát. “Có chứ.” Anh chậm rãi trả lời. “Có. Nếu ông có thể tập hợp tất cả bọn họ lại với nhau tại phòng thí nghiệm của tôi vào tối nay. Chẳng hạn, lúc tám giờ, tôi sẽ cho ông hai tiếng đồng hồ để bắt giữ Douglas mà không gặp phải bất cứ trở ngại gì, lấy được lời thú tội và đọc lệnh bắt giữ. Tất cả những gì ông cần làm là để tôi nói chuyện vài phút vào chiều nay với thẩm phán, người sẽ ngồi tham dự phiên tòa tối nay. Tôi sẽ lắp một chiếc máy nhỏ trên bàn làm việc của ông ấy tại tòa án và chúng ta sẽ bắt được tên tội phạm thực sự - hắn sẽ không bao giờ có cơ hội bước chân qua biên giới của tiểu bang hoặc biến mất theo bất kì cách nào đâu. Ông thấy đấy, phòng thí nghiệm của tôi sẽ là nơi trung lập. Tôi nghĩ ông có thể đưa họ tới đây, nhưng không được để họ biết rằng tay kế toán đã bị bắt, còn người phụ nữ đã chết kia thì đâu thể nào tiết lộ bất cứ điều gì với cảnh sát được cơ chứ.”

Lần tiếp theo tôi gặp Kennedy là vào cuối buổi chiều, trong phòng thí nghiệm của anh. Anh đang sắp xếp thứ gì đó trong ngăn kéo trên cùng của chiếc bàn mặt phẳng. Trông nó có vẻ là hai món dụng cụ bao gồm rất nhiều tay đòn, đĩa quay và nam châm, mỗi dụng cụ có một cuộn giấy rộng khoảng mười hai phân. Trên một dụng cụ đó là một loại bút với hai dây lụa được gắn vuông góc với nhau ở gần đầu. Mặt kia là một ống mao dẫn bằng thủy tinh tại điểm nối của hai nhánh bằng nhôm, cũng vuông góc với nhau.

Cảnh tượng đó thật giống cái lần tôi từng được chứng kiến Kennedy thao tác trong phòng thí nghiệm của anh để chuẩn bị cho “cuộc gọi hồn”. Anh không nói năng gì khi tôi tò mò dõi theo anh, còn tôi cũng chẳng hỏi anh câu nào. Hai bộ dây điện được gắn vào từng món dụng cụ trong số đó, sau đấy những bộ dây điện này được anh giấu cẩn thận và dòng ra ngoài cửa sổ. Kế đến, anh sắp xếp những chiếc ghế ở phía đối diện bàn làm việc của mình.

“Walter.” Anh nói. “Khi nào khách khứa của chúng ta bắt đầu có mặt, tôi muốn anh là người sẽ làm chủ buổi họp mặt này. Chỉ cần giữ họ ở yên phía đối diện bàn làm việc với tôi là được rồi. Đừng để họ dịch chuyển ghế sang phải hoặc trái nhé. Và trên hết, hãy để cửa mở. Tôi không muốn bất kì ai nghi ngờ hay cảm thấy họ đang bị giam giữ theo bất kì cách nào. Hãy tạo ấn tượng rằng họ có thể tự do đi và đến khi họ muốn.”

Stacey đến đầu tiên trên chiếc limousine mà ông ta đã đỗ ở ngay cửa tòa nhà Hóa Học. Bloom và Warren xuất hiện cùng với nhau trên chiếc xe kế sau. Lazard tới bằng một chiếc _taxi _mà anh ta đã bảo không cần chờ và Hartstein đến bằng tàu điện ngầm, cũng là người cuối cùng có mặt. Tất cả mọi người đều trông rất vui vẻ.

Tôi mời họ ngồi xuống như Kennedy đã chỉ dẫn. Kennedy kéo phần mở rộng ở bên trái bàn làm việc của mình và chống khuỷu tay lên đó trong lúc anh bắt đầu gửi lời xin lỗi vì đã làm mất thời gian của họ vào thời điểm quan trọng đến vậy. Theo những gì tôi có thể nhận ra, anh đã lặng lẽ kéo ngăn kéo trên cùng của bàn làm việc bên phải, ngăn kéo mà tôi từng thấy anh đặt thứ dụng cụ phức tạp kia của mình vào trong đó. Nhưng vì chẳng còn gì xảy ra sau đấy nữa, nên tôi gần như đã quên béng về nó ngay khi nghe anh cất lời. Anh bắt đầu bằng cách đề cập tới những tờ giấy bị đốt mà anh đã tìm thấy trong văn phòng kia.

“Đôi khi chúng ta hoàn toàn có thể giải mã được...” Anh tiếp tục. “Phần chữ viết trên những tờ giấy bị cháy sém nếu như đủ tỉ mỉ nghiên cứu. Với bản thảo đã bị cháy sém và khó có thể nhận diện rõ nội dung bằng bất cứ phương tiện nào mà chúng ta từng biết, tôi đã thử áp dụng các phương pháp chụp ảnh màu gần đây để cho ra một bức ảnh chụp của nó. Và ngạc nhiên thay, phần chữ viết hoàn toàn dễ đọc. Mỗi lần như thế, miễn là tờ giấy chưa hề bị phân rã hoàn toàn, chúng ta vẫn có thể thu được những kết quả tích cực. Bản thảo bị cháy sẽ được sắp xếp lại cẩn thận sao cho gần với hình dạng ban đầu nhất có thể, đặt trên một tấm kính và được quét lên một lớp véc ni khô, sau đó nó sẽ được bồi thêm bằng một tấm kính khác.”

“Bằng cách sử dụng màn hình màu được lựa chọn cẩn thận và các tấm kính ảnh chính sắc, chúng ta sẽ có thể chụp được một bức ảnh chữ viết hoàn toàn dễ đọc, dẫu có những phần bị cháy sém mà mắt thường không thể nhìn ra được. Đây là phương pháp bí mật được sử dụng trong rất nhiều vụ án. Ở đây, tôi có vài mẩu giấy bị cháy mà tôi đã thu thập được sau âm mưu phóng hỏa cửa hàng ông lần đầu, thưa ông Stacey.”

Stacey ho hắng tỏ ý xác nhận. Về phần Craig, anh chẳng hề giấu giếm bất cứ điều gì khi kể lại những gì mình đã phát hiện ra.

“Một số mảnh trong đây là những lệnh phiếu với tên người hưởng lợi là cô Rebecca Wend và được ký bởi Joseph Stacey.” Anh lặng lẽ nói. “Chúng đại diện cho một số tiền tổng rất lớn. Những mảnh giấy khác là bản ghi nhớ của cô Wend, còn những mảnh khác nữa lại là các bức thư có ký tên được gửi cho cô Wend, nhằm mục đích đổ tội cho cô ấy về các vụ hỏa hoạn do kẻ khác gây ra.”

Nói tới đây, anh đặt những lá thư ký tên “Tia Lửa.” lên trên chiếc bàn trước mặt mình. “Giờ thì...” Anh nói thêm. “Một kẻ nào đó, với tinh thần bất khuất, đã gửi những mẩu giấy nhắn này cho cảnh sát trưởng vào nhiều thời điểm khác nhau. Kỳ lạ thay, tôi nhận ra những nét chữ của người viết đầu tiên có điểm tương đồng đặc biệt với nét chữ của cô Wend, trong khi bức thứ hai và thứ ba, dù cũng được ngụy tạo, nhưng lại gợi ý rất rõ ràng về nét chữ viết tay của kẻ đã viết thư cho cô Wend.”

Không một ai nhúc nhích. Nhưng tôi đang ngồi đó kinh hoàng. Xét cho cùng, cô ta cũng chỉ là một phần của âm mưu này, không phải là một con tốt thí. Bọn họ có “chơi đẹp” với nhau không vậy nhỉ?

“Tiếp theo là chuỗi các vụ hỏa hoạn đáng chú ý.” Kennedy lại tiếp tục nói. “Vụ án này có một số nét rất độc đáo. Tóm lại, đây là một vụ án rõ ràng liên quan tới thứ mà người ta vẫn gọi là “tơ-rớt[^id71] cố ý phóng hỏa”. Nào, tơ-rớt cố ý phóng hỏa này là gì? Chà, theo như tôi hiểu, đó chính là một liên minh bao gồm những tên gian thương và những tay chuyên gia tính toán tổn thất bảo hiểm tham gia vào thương vụ cố tình phóng hỏa để kiếm lời. Những tơ-rớt cố ý phóng hỏa này, không phải là kiểu tội phạm cố ý phóng hỏa thông thường, mà cách phóng hỏa của chúng khiến cho những người lính cứu hỏa luôn lầm tưởng rằng nguyên nhân của một phần tư tổng các vụ hỏa hoạn đó là do chất dễ cháy gây nên. Những “tơ-rớt” như thế hiện đang tồn tại trên khắp đất nước của chúng ta. Chúng đã từng hoạt động ở Chicago, nơi chúng được cho là đã kiếm được bảy trăm năm mươi ngàn đô la trong một năm. Một băng nhóm khác được cho là có trụ sở chính tại thành phố Kansas. Những băng nhóm khác thì hoạt động ở St. Louis, Pittsburgh, Cleveland và Buffalo. Các cảnh sát điều tra hỏa hoạn của Illinois, Kentucky, Tennessee và Ohio đã nhiều lần thăm dò hoạt động của chúng. Nhưng, cho đến mãi gần đây, New York vẫn là nơi duy nhất thoát được những hoạt động có tổ chức kiểu này. Dĩ nhiên chúng ta vẫn đang có rất nhiều kẻ cố ý phóng hỏa và cuồng phóng hỏa hoạt động lẻ tẻ khác, nhưng bản thân tôi chưa bao giờ để ý thấy một âm mưu nào lớn như vậy trước đây.”

“Giờ thì, vụ cháy ở công ty Jones & Green, vụ cháy tại công ty Quadrangle Cloak & Suit, vụ cháy ở tòa nhà Slawson và những vụ cháy khác, tất cả đều đã được dàn dựng vì một mục đích chung - nuốt trọn tiền bảo hiểm. Tôi cũng có thể nói ngay ở đây rằng, trong vụ án này, một số kẻ đang có điều lo lắng, nhưng những kẻ khác còn lo lắng hơn nhiều. Mới đầu, cô Wend cũng là một đồng đảng tham gia vào âm mưu này. Chỉ có một vấn đề ở cô Wend, chính là cô ta quá khôn ngoan để bị lừa. Cô ta khăng khăng mình phải được lĩnh đủ phần chia chác trong chiến lợi phẩm kiếm được. Vì lẽ đó, có vẻ như toàn bộ các đồng đảng còn lại đều không đồng tình với cô Wend, chẳng hề có chuyện hào hiệp với phụ nữ gì ở đây, cũng không giống như câu kẻ cướp không cướp của nhau.”

“Một kẻ nào đó mà tôi xin nói thẳng là tôi không biết tên - chưa thì đúng hơn - đã nảy ra ý tưởng hủy bỏ các nghĩa vụ của công ty Stacey đối với cô Wend cũng như các bằng chứng buộc tội mà cô ấy nắm giữ về “tơ-rớt cố ý phóng hỏa”, mà lúc ấy cô ta vẫn là một thành viên tính đến thời điểm này. Nhưng kế hoạch kia chỉ thành công một phần. Nhiệm vụ táo bạo chủ chốt, cũng tức là phá hủy các cửa hàng dưới trướng của Stacey, đã thất bại.”

“Kết quả thế nào ư? Cô Wend, người từng câu kết với “tơ-rớt”, và giờ đã hóa kẻ thù không đội trời chung của cả nhóm, biết đâu lại đứng ra làm chứng chống lại các đồng đảng thì sao[^id72]. Còn gì tuyệt vời hơn là đạt được âm mưu bằng cách thực hiện các nhiệm vụ táo bạo đó, đồng thời trừ khử luôn kẻ đồng đảng ăn hại này cơ chứ? Tôi tin cô Wend đã bị dụ dỗ tới cửa hàng vào đêm xảy ra vụ cháy lớn bằng một cái cớ nào đó. Người đã viết bức thư thứ hai và thứ ba ký tên “Tia Lửa” chính là kẻ đã làm chuyện đó. Cô ta đã bị sát hại bằng thứ công cụ chết người này.” - Craig đặt tập hồ sơ lên mặt bàn - “Và kẻ đó đã lên kế hoạch đổ toàn bộ gánh nặng bị tình nghi lên đầu cô ta bằng cách quả quyết là có những thâm hụt trong sổ sách kế toán ở bộ phận của cô ta.”

“Xì!” Stacey thốt lên, hút xì gà với vẻ đầy tự mãn. “Chúng tôi đã bị biến thành nạn nhân trong những vụ cháy đó bởi những kẻ có thù với chúng tôi, các liên đoàn lao động và những kẻ khác nữa. Cuộc nói chuyện về một tơ-rớt cố ý phóng hỏa này đúng là một thứ báo lá cải giật gân và vớ vẩn. Hơn thế nữa, chúng tôi còn bị cướp một cách có hệ thống bởi một kẻ đứng đầu bộ phận đáng tin cậy. Và chuỗi hỏa hoạn ở các cửa hàng Stacey chính là kế hoạch mà tên trộm lựa chọn để che đậy… ừm... hành vi trộm cắp của cô ta. Khi nào tới lúc thích hợp, chúng tôi sẽ cho kế toán viên Douglas kia lộ diện và chứng thực điều đó.”

Kennedy lần mò trong ngăn kéo của bàn làm việc của mình, rồi rút ra một dải giấy dài đầy rẫy những con số. “Tất cả công ty của Stacey...” Anh nói. “Đều đang phải trải qua tình trạng suy thoái hiện hữu trong ngành thương mại. Tất cả đều không trả được nợ. Hãy thử xem qua thứ đó đi, ông Stacey. Đây là bản tóm tắt báo cáo sơ bộ từ các kế toán viên của ủy viên công tố quận, sau khi họ xem qua sổ sách của ông hôm nay đấy.”

Stacey há hốc miệng kinh ngạc. “Làm sao ông có được nó hả? Bản báo cáo vẫn còn chưa sẵn sàng cho tới chín giờ tối nay mà, mà giờ mới chỉ qua mốc thời gian đó chưa đầy mười lăm phút.”

“Đừng bận tâm chuyện tôi có nó bằng cách nào. Hãy kiểm tra nó, cùng với các chuyên gia tính toán tổn thất của ông, hay với bất kì ai. Tôi nghĩ ông sẽ nhận ra chẳng có bất cứ thâm hụt nào ở bộ phận của cô Wend, rằng ông đang thua lỗ, đang mắc nợ cô Wend. Và rằng, cô ấy lẽ ra nên nhận được phần lợi ích lớn nhất từ khoản tiền bảo hiểm kiếm được kia mới phải, nếu mưu đồ cố ý phỏng hỏa đó diễn ra như kế hoạch.”

“Chúng tôi hoàn toàn bác bỏ những số liệu bịa đặt này!” Stacey nói, giận dữ quay về phía Kennedy sau một cuộc hội ý đầy vội vã.

“Vậy thì biết đâu, ông sẽ đánh giá cao thứ này đấy.” Craig trả lời, lôi một mảnh giấy khác từ trong bàn làm việc ra. “Tôi sẽ đọc nó. Henry Douglas, sau khi tuyên thệ theo đúng thủ tục, xin được cung khai và nói rằng người đó - tạm thời chúng ta sẽ gọi hắn là Chấm Chấm Chấm - bằng vũ trang và vũ lực đã thực hiện một hành vi trọng tội, có chủ đích và cố ý, đó là sát hại Rebecca Wend, trong khi chính tên Chấm Chấm Chấm kia mới là kẻ cố ý châm lửa và phóng hỏa... “

“Đợi chút.” Stacey ngắt lời. “Hãy cho tôi xem tờ giấy đó.”

Kennedy đặt nó xuống, chỉ để phần chữ ký lộ ra. Cái tên được ký bằng một nét chữ viết tay tròn trịa và đầy đặn: “Henry Douglas”.

“Đó là đồ giả mạo.” Stacey hét lên trong cơn thịnh nộ. “Chưa đầy một tiếng đồng hồ trước khi tôi đến đây, tôi đã gặp Henry Douglas. Lúc đó anh ta không hề ký bất cứ một tờ giấy nào như thế cả. Anh ta cũng không thể ký nó từ lúc đó và ông không thể nhận được nó. Tôi cho rằng tài liệu kia là giả mạo.”

“Thưa các quý ông...” Anh nói. “Đây là phân cảnh cuối cùng của vở kịch mà các vị đang diễn đấy. Các vị đang được thấy trên bàn làm việc này một dụng cụ đã được phát minh ra từ rất nhiều năm về trước, nhưng chỉ mới thực sự được đưa vào ứng dụng gần đây thôi. Đó là một chiếc máy truyền điện bằng chữ viết - tức là một thư ký từ xa. Với kiểu mẫu mới này, nó có thể được cho vào một ngăn kéo bàn để sử dụng cho bất kì ai có thể muốn đặt ra câu hỏi, giống như những người thư ký, mà người ở đầu bên kia không hề hay biết. Nó giúp chúng ta có thể soạn thảo một tin nhắn trong những điều kiện như thế này, và nhận được một câu trả lời tương ứng “có liên quan tới đặc điểm tính cách hoặc công việc làm ăn” của cá nhân đang ngồi bên cạnh khuỷu tay một ai khác, mà không cần rời khỏi bàn làm việc hay phải đặt câu hỏi.”

“Với một cây bút chì bình thường, tôi đã viết trên tờ giấy của chiếc máy truyền này. Sợi dây lụa gắn vào chiếc bút chì sẽ điều chỉnh dòng điện đang điều khiển một cây bút chì khác ở đầu dây bên kia. Cây bút chì nhận ấy sẽ di chuyển cùng lúc với bút chì của tôi. Đó chính là nguyên lý của chiếc máy vẽ truyền*khi được chia làm đôi, một nửa ở đây, nửa còn lại ở phía cuối đường dây, hai sợi dây điện thoại mà trong trường hợp này là đang kết nối với hai nửa của máy.”

“Trong lúc chúng ta đang ngồi đây, tôi đã để tay phải của mình trong ngăn kéo mở hờ của chiếc bàn làm việc và viết ghi chép bằng bút chì về những chuyện đang xảy ra trong căn phòng này. Những ghi chép ấy, cùng các bằng chứng khác, đã đồng thời được trình lên trước mặt Thẩm phán Brenner trong một phiên tòa đêm. Cùng lúc đó, trên thiết bị còn lại, tức là thiết bị nhận, các số liệu của những kế toán viên đang được viết tại tòa án cũng đã được sao chép ở đây. Các vị đã được xem chúng rồi đấy. Trong khi đó, Douglas hiện đã bị bắt giữ và bị đưa ra trước thẩm phán tòa sơ thẩm. Cùng lúc, cáo buộc của bên công tố viên dành cho tội giết người cấp độ một, do phạm tội cố ý phóng hỏa, cũng đã được đưa ra. Các vị đã thấy nó rồi đấy. Nó đã được gửi tới trong lúc các vị đọc những số liệu kia.”

Những kẻ âm mưu kia trông có vẻ choáng váng.

“Và bây giờ...” Kennedy tiếp tục. “Tôi nhận ra cây bút chì của thiết bị nhận kia lại đang viết. Chúng ta hãy cùng xem nó là gì nhé.”

Chúng tôi cúi xuống. Nội dung viết bắt đầu: “New York. Nhân danh Chính phủ Bang New York...”

Kennedy không đợi chúng tôi đọc xong. Anh xé phần nội dung đó ra khỏi chiếc máy truyền điện bằng chữ viết rồi vung vẩy nó trên đầu.👁️

“Đó là lệnh bắt giữ. Tất cả các ông đều bị bắt vì tội cố ý phóng hỏa. Riêng ông, Samuel Lazard, còn bị bắt giữ thêm vì tội giết hại Rebecca Wend cùng sáu người khác nữa trong những vụ hỏa hoạn do chính ông châm lửa. Ông mới là thủ phạm cố ý phóng hỏa thực sự, công cụ của Joseph Stacey, có thể là như vậy, nhưng tất cả đều sẽ được sáng tỏ trong phiên tòa. McCormick, McCormick.” Craig gọi. “Không sao đâu. Tôi có lệnh bắt rồi. Cảnh sát có đang ở đó không?”

Không có câu trả lời.

Lazard và Stacey bất ngờ lao ra cửa và chỉ trong chớp mắt, chúng đã ngồi yên vị trên chiếc xe đang đỗ chờ sẵn của Stacey. Người tài xế nhả phanh và kéo cần số. Đột nhiên khẩu súng lục của Craig vụt sáng và cánh tay của gã tài xế buông thõng trên vô lăng.

Khi McCormick cùng cảnh sát lờ mờ hiện ra từ trong bóng tối, hơi muộn màng một chút. Sau một cuộc vật lộn chóng vánh hòng bắt giữ Stacey và Lazard trong chiếc xe hơi bọc da lộng lẫy của Stacey, tôi liền quở trách Kennedy: “Nhưng mà, Craig, anh đã bắn vào anh chàng tài xế vô tội đấy. Anh không định bày tỏ gì đó với anh ta sao?”

“Ồ.” Kennedy trả lời vẻ thờ ơ. “Đừng lo về chuyện đó. Chúng chỉ là mấy viên đạn bằng muối mỏ thôi mà. Không ghim sâu được đâu. Nó chỉ châm chích một lúc thôi, nó có tính sát trùng và sẽ tan rã hoặc bị hấp thụ một cách nhanh chóng thôi ấy mà.”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của arthur b. reeve