Bàn Tay Đen

Lượt đọc: 496 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5. KẺ BIỂN THỦ
part5

“Sẽ thật nhẹ nhõm biết bao nhiêu khi cuộc bầu cử này kết thúc và các tờ báo lại đăng tải tin tức như bình thường.” Tôi càu nhàu khi lật mở trang đầu tiên của tờ Star chỉ bằng một cái liếc qua các tiêu đề.

“Đúng vậy.” Kennedy nhận xét, anh đang thấy bối rối trước một bức thư mình nhận được trong hòm thư buổi sáng. “Đây đúng là cuộc vận động tranh cử ác liệt nhất trong nhiều năm qua đấy. Nào, anh cho rằng họ đang nhắm đến tôi vì chuyên môn của tôi hay họ đang cố tiếp cận tôi với tư cách là một cử tri độc lập?”

Bức thư đã khơi nguồn cho lời nhận xét đó có tiêu đề “Ủy ban Vận động Tranh cử Travis của Liên đoàn Cải cách” và hiển nhiên, Kennedy đang mong muốn tôi đề xuất quan điểm về nó, tôi cầm nó lên. Chỉ có vài dòng ngắn ngủi, yêu cầu anh ghé qua vào buổi sáng, nếu thuận tiện, để gặp Wesley Travis - ứng cử viên cho chức thống đốc và thủ quỹ của ủy ban vận động tranh cử của anh ta - Dean Bennett. Rõ ràng nó đã được viết tay rất vội vã vào đêm hôm trước.

“Chuyên môn.” Tôi đánh liều. “Chắc là đang có vụ bê bối nào đó liên quan tới chiến dịch vận động tranh cử mà họ cần phải yêu cầu sự trợ giúp từ anh chăng.”

“Tôi cũng cho là vậy.” Craig đồng ý. “Chà, nếu đó là chuyện làm ăn thay vì chính trị, thì ít ra nó cũng hay ho đấy. Nhưng đây cũng là một cách kinh doanh hiện thời mà. Tôi cho rằng anh sẽ không phản đối chuyện đi cùng tôi chứ?”

Vậy là, không lâu sau của buổi sáng hôm ấy, chúng tôi nhận ra mình đang có mặt tại trụ sở vận động tranh cử. Hai quý ông khoác áo choàng dài tới gối và đội mũ lụa, với khuôn mặt vô cùng lo lắng và kích động đã ra đón chúng tôi. Không khó để nhận ra rằng họ đang tham gia vào cuộc chiến thường niên và tích cực tìm kiếm những phiếu bầu từ những người đồng quan điểm cho một vị trí nào đó, mà họ gần như đã kiệt sức vì quá trình gian khổ này.

Trụ sở của họ nằm trong tòa tháp của một tòa nhà chọc trời, nơi đang quyết liệt kêu gọi “ý thức đạo đức” của cử tri, cả dạng giấy báo lẫn truyền miệng. Tuy nhiên, ở đây mang một sắc thái khác so với các trụ sở chính trị mà tôi vẫn thường cộng tác trong những chiến dịch trước đó. Không có các chính trị gia cổ hủ, không có bầu không khí âm mưu nặng nề, cũng như mùi thuốc lá nồng nặc. Thay vào đó, chỉ có bầu không khí hiệu quả và nghiêm túc đang chiếm cứ nơi này một cách rất rõ rệt. Các tấm bản đồ của bang đang được treo trên tường, vài tờ còn được đính đầy những chiếc đinh ghim nhiều màu sắc khác nhau, biểu thị cho thực trạng của cuộc vận động tranh cử. Một bản đồ thành phố với rất nhiều màu sắc, được chia thành đủ các loại quận, cho biết diễn biến của trận chiến trong thành trì của Ông Trùm, Billy McLoughlin, đã đi được bao xa. Các hệ thống khổng lồ bao gồm các thẻ chỉ mục, bìa còng đựng hồ sơ, các thiết bị tiết kiệm sức lao động để có thể nhanh chóng xuất bản một lượng lớn “tài liệu” cho chiến dịch. Tóm lại là một hệ thống hoàn hảo với những minh chứng xuất hiện khắp mọi nơi, y như một doanh nghiệp hùng mạnh, được quản lý đâu ra đấy đến mức người ta có thể tự hào về nó vậy.

Wesley Travis là một chàng trai tương đối trẻ: một luật sư đã sớm ghi dấu ấn trong lĩnh vực chính trị và đủ sắc sảo để rũ bỏ được sự bóc lột của những người làm chủ, trước khi quần chúng vùng lên chống lại họ. Hiện giờ, anh ta là ứng cử viên của Liên đoàn Cải cách cho vị trí thống đốc và anh ta đang xây dựng một chiến dịch vận động tranh cử rất quyết liệt.

Người quản lý chiến dịch tranh cử của anh ta, Dean Bennett, là một doanh nhân kiếm lợi ích tài chính theo kiểu trái ngược với những lợi ích “ăn theo” của Billy McLoighlin. Ông ta là thành viên của một đảng chính quy mà cả Travis lẫn Bennett lẽ ra từng phải thuộc về, trong những ngày xưa cũ. Thật vậy, Liên đoàn Cải cách có được sự tồn tại ngày hôm nay chính là nhờ sự kết hợp may mắn của cả những điều kiện đạo đức lẫn kinh tế đang không ngừng đòi hỏi sự tiến bộ.

“Tới giờ, mọi chuyện vẫn diễn ra theo đúng hướng của chúng tôi.” Travis mở lời với vẻ tín cẩn, khi chúng tôi được mời ngồi một cách thoải mái, không phân biệt địa vị, cùng với những điếu xì gà dành cho cuộc tranh cử đã được châm. “Dĩ nhiên chúng tôi không có được “núi vàng núi bạc” như đối thủ của mình, bởi chúng tôi không “trấn lột” lợi ích từ các tập đoàn. Chúng tôi nhận được sự ủng hộ của người dân vì lẽ đó , và tôi cho rằng việc chúng tôi phản đối các quyền lợi bất di bất dịch ấy chính là một sự giúp ích tuyệt vời. Có vẻ chúng tôi sắp chiến thắng. Tôi nói là “có vẻ”, bởi trong thời đại ngày nay, người ta sẽ chẳng bao giờ chắc chắn được mọi chuyện sẽ thành ra thế nào trong cuộc chơi chính trị này.”

“Thưa ông Kennedy, ông đã đọc được bài báo hôm trước, viết rằng ngôi nhà ở quê hương của tôi tại Long Island đã bị trộm ghé qua chưa? Một vài phóng viên đã làm hơi quá lên thì phải. Thành thật mà nói, tôi nghĩ họ thật sự chán ngấy những tin tức giật gân kiểu khác, đến nỗi họ đã tin vào lời lẽ của những kẻ tầm phào để viết lên những bài báo hư cấu và trông chờ bóc trần một sự thật kinh khủng nào đấy vậy. Bởi lẽ, tên trộm đó dường như chẳng thể lấy được thứ gì từ thư viện của tôi, ngoài một sổ lưu niệm hoặc cuốn album ảnh thông thường. Đó là một vụ trộm rất kỳ quái, nhưng tôi cũng chẳng có gì để che giấu nên tôi không hề cảm thấy lo lắng. Chà, khi tôi suýt quên béng mất chuyện đó thì một gã nào đấy đã ghé qua văn phòng của Bennett ở đây và gặng hỏi về vụ trộm đó. Hãy kể lại cho chúng tôi nghe mọi chuyện diễn ra thế nào đi, Bennett. Chính ông đã gặp hắn ta mà.”

Bennett hắng giọng. “Các vị thấy đấy, mọi chuyện diễn ra như thế này. Gã ta khai tên là Harris Hanford và tự giới thiệu mình là một nhiếp ảnh gia. Tôi nghĩ gã ta đang làm việc cho Billy McLoughlin. Gã đề nghị sẽ bán cho chúng tôi vài bức ảnh và ẩn ý rằng chúng nằm trong số những bức ảnh bị trộm mất ở quê nhà của Travis. Sau khi qua tay rất nhiều người, chúng đã được một người bạn của gã thu mua, dù tên bạn kia chẳng thể biết tên trộm ấy là ai. Gã nói rằng dù gã không tự tay chụp những bức ảnh đó, nhưng gã biết rõ chúng là do ai chụp. Hơn nữa, những tấm kính ảnh gốc đều đã bị phá hủy, song hắn nghe ngóng được thời gian những bức ảnh kia được chụp là khi hội nghị đề cử diễn ra vào mùa thu năm nay kết thúc. Lúc ấy người được tiến cử là Travis. Dù thế nào đi nữa, những bức ảnh này đã bị bán ra ngoài và giá của chúng là hai mươi lăm ngàn đô la.”

“Chúng là ảnh chụp gì mà gã ta có thể đưa ra một cái giá cao ngất như vậy chứ?” Kennedy hỏi, háo hức nhìn từ Bennett sang Travis.

Travis nhìn thẳng vào mắt anh mà không hề nao núng. “Có vẻ đó là những bức ảnh chụp tôi.” Anh ta chậm rãi trả lời. “Một bức có nội dung mô tả cảnh tôi đứng túm tụm một nhóm trên hiên nhà của McLoughlin, tại trang trại của ông ta trên bờ biển phía nam của hòn đảo, cách nhà tôi ở hơn ba mươi cây số. Theo cách gã Hanford mô tả, tôi đang đứng giữa McLoughlin và J. Cadwalader Brown, người bảo trợ tín nhiệm hiện đang chống lưng cho McLoughlin để cứu vãn các khoản đầu tư của ông ta. Bàn tay của Brown đang đặt trên vai tôi và chúng tôi đang chuyện trò với nhau rất thân mật. Một bức ảnh khác chụp Brown, McLoughlin và tôi đang ngồi trên xe của Brown, trong đó Brown và tôi rõ ràng có mối quan hệ rất tốt đẹp. Ô, có tới vài bức ảnh trong số đó, tất cả đều giống nhau. Giờ thì...” Anh ta nói thêm, giọng anh ta ngân lên đầy cảm xúc như thể anh ta đang thuyết trình trước một hội nghị dành cho những người đi xe kéo và thuyết phục họ rằng chẳng có gì là vi phạm pháp luật khi đi xe hơi cả. “Tôi không ngần ngại thừa nhận rằng khoảng một năm trước hoặc hơn, tôi chẳng thân thiết gì với những người đàn ông này, song chí ít, tôi có quen biết họ. Đã nhiều lần, thậm chí là cho tới cuối mùa xuân năm ngoái, tôi đã có mặt tại các hội nghị liên quan tới triển vọng tranh chức tổng thống của bang và tôi nghĩ có lần mình đã thực sự đi cùng xe với họ để quay về thành phố. Nhưng tôi biết không có bất cứ bức ảnh nào được chụp lúc đó cả, mà thậm chí nếu có, tôi cũng chẳng quan tâm liệu chúng có ám chỉ điều gì liên quan đến chân tướng sự việc hay không. Tôi đã thẳng thắn thừa nhận trong các bài phát biểu của mình rằng tôi có quen biết những người đàn ông này, nhưng sự am hiểu của tôi về họ, cũng như sự tuyệt giao quan hệ giữa chúng tôi, đâu thể chứng minh tôi đã dùng mưu hèn kế bẩn hay dựa dẫm vào họ để được đắc cử đâu. Họ ghét cay ghét đắng tôi. Các vị cũng biết chuyện đó mà. Điều tôi thực sự quan tâm ở đây là cái luận điệu thề thốt đang được đính kèm với những bức ảnh này - những bức ảnh giả này. Chúng không có khả năng được chụp từ sau hội nghị đó, khi những người không thuộc bất kì đảng phái nào đã tiến cử tôi được. Nếu những bức ảnh kia là thật, tôi sẽ trở thành một kẻ phản bội đúng nghĩa. Nhưng tôi thậm chí còn chưa từng gặp mặt McLoughlin hay Brown từ mùa xuân năm ngoái nữa là. Toàn bộ chuyện này đúng là một...”

“Lời dối trá từ đầu đến cuối.” Bennett dứt khoát nói chen vào. “Đúng vậy, Travis, tất cả chúng ta đều biết rõ điều đó. Bởi nếu không tin tưởng vào anh, thì ngay lúc này đây, chắc hẳn tôi đã nghỉ việc rồi. Thế nhưng, chúng ta cũng phải đối diện với sự thật rằng, câu chuyện được thề thốt bởi Hanford có vẻ đang được cả Billy McLoughlin lẫn Cad. Brown ngấm ngầm thừa nhận. Dẫu sao thì họ chẳng bận tâm nó là chuyện gì cả, miễn đó là thứ chống lại anh. Và những bức ảnh kia, hoặc là sẽ được phơi bày trên khắp các mặt báo, hoặc là sẽ bị ỉm đi, tất cả đều phụ thuộc vào cách hành xử của chúng ta. Giờ thì, anh thừa biết hậu quả nếu chuyện đó bị phanh phui vào đúng thời điểm này sẽ gây tổn hại như thế nào đến những lá phiếu bầu cho phe Cải cách. Chí ít nhiều người dân cũng cho rằng chúng ta là những người trong sạch, dẫu chẳng cần thanh minh. Chỉ có một số người tin tưởng ở mức độ vừa phải và đang chờ đợi một màn bóc trần sự thật để xem xét liệu có nên trở mặt với chúng ta không mà thôi. Nếu giờ chiến dịch vẫn còn sớm, hẳn tôi sẽ đề nghị chúng ta chấp nhận vấn đề đó, đấu tranh cho ra ngô ra khoai và khi tình thế được đảo ngược, chúng ta thể nào cũng sẽ có được sự ủng hộ tuyệt vời nhất cho chiến dịch tranh cử. Nhưng giờ đã quá muộn màng để có thể vạch trần mánh khóe xảo quyệt của chúng trước khi cuộc bầu cử diễn ra vào thứ Sáu rồi. Thành thật mà nói, tôi tin sự thận trọng mới chính là yếu tố quyết định trong vụ này và nó thực sự không làm vơi đi dù chỉ chút xíu nào niềm tin của tôi dành cho anh. Travis ạ, chà, tôi sẽ trả tiền trước rồi vạch trần trò xảo trá ấy sau, sau cuộc bầu cử này.”

“Không, tôi sẽ không làm vậy.” Travis vẫn khăng khăng, nghiến chặt khuôn hàm vuông vức của mình với vẻ ngoan cường. “Tôi sẽ không để bản thân mình bị tống tiển đâu.”

Cánh cửa đã bật mở và một phụ nữ trẻ trong chiếc váy dạo phố rất lộng lẫy, đội một chiếc mũ lớn với một tấm mạng che mặt như trêu ngươi. Cô ấy do dự đứng đó ít phút, rồi định đóng cửa lại cùng một lời xin lỗi vì đã chen ngang cuộc thảo luận.

“Tôi sẽ chiến đấu đến cùng cho dù có phải tiêu sạch từng đồng đô la mà mình có.” Travis tuyên bố. “Nhưng tôi sẽ không để mình bị tống tiền dù chỉ là một xu. Chào buổi sáng, cô Ashton. Tôi sẽ rảnh trong một giây nữa thôi. Và tôi sẽ vào gặp cô ngay trong văn phòng của cô.”👁️

Cô gái với tập tài liệu trên tay mỉm cười đáp lại. Travis nhanh chóng băng qua phòng đến bên cô gái, giữ cửa mở một cách đầy kính cẩn và thì thầm một, hai lời gì đó với cô ấy. Sau khi cô gái đã đi khuất, anh ta quay lại và nhận xét. “Tôi cho là ông đã từng được nghe nói về cô Margaret Ashton, nhà lãnh đạo những người phụ nữ đòi quyền được đi bầu cử cho phái yếu, thưa ông Kennedy? Cô ấy chính là người đứng đầu văn phòng báo chí của chúng tôi.” Sau đó, với một vẻ quyết tâm cao độ, gương mặt thanh tú của anh ta bỗng trở nên cứng rắn, rồi anh ta đấm tay xuống mặt bàn. “Không, không một xu nào cả!” Anh ta gầm lên.

Bennett nhún vai tuyệt vọng và nhìn Kennedy với vẻ cam chịu vờ vĩnh tựa hồ đang muốn nói: “Ông có thể làm gì với một gã như thế này cơ chứ?”. Travis đang kích động bước tới bước lui trên sàn nhà và khua tay như thể anh ta đang phát biểu trong một cuộc hội nghị ở đất nước của kẻ thù. “Hanford đã công kích chúng tôi theo cách này...” Anh ta tiếp tục, càng lúc càng kích động khi đi đi lại lại. “Gã ta đã thẳng thừng nói rằng những bức ảnh đó thể nào cũng sẽ được thừa nhận là nằm trong số các bức ảnh đã bị trộm từ tôi cũng như những nghi ngờ về nó là hoàn toàn chính xác. Công chúng rồi sẽ tin tưởng tất thảy chuyện đó thôi. Lúc Bennett nói với gã ta là tôi sẽ kiện gã, gã ta chỉ cười và bảo: Cứ tự nhiên. Tôi đâu phải người đánh cắp mấy bức ảnh. Hẳn sẽ là một trò cười ra trò lắm, nếu Travis yêu cầu sự giúp đỡ từ các tòa án mà anh ta đang chỉ trích. Tôi đoán anh ta sẽ muốn thu hồi quyết định đó nếu nó chống lại anh ta có phải không? Hanford còn bảo mỗi bức ảnh trong số đó đều đã được sao ra một trăm bản và kẻ này, kẻ mà chúng tôi không biết là ai ấy, đã sẵn sàng bỏ chúng vào bưu kiện để gửi tới một trăm tờ báo hàng đầu của bang sao cho chúng có thể kịp xuất hiện trên các ấn bản phát hành vào thứ Hai, ngay trước Ngày Bầu cử. Gã ta nói, dù chúng tôi có kiên quyết phủ nhận tới mức nào đi nữa thì cũng chẳng thể triệt tiêu được sức ảnh hưởng mà chúng tạo ra đâu - hay chí ít, gã ta còn đi xa hơn thế và bảo ngay cả việc chúng tôi muốn “làm lung lay tính hợp lệ của chúng” cũng là không thể nào.”

“Nhưng tôi xin nhắc lại. Chúng là đồ ngụy tạo. Theo những gì tôi biết, đó là một âm mưu của McLoughlin, cuộc chiến cuối cùng của một ông trùm để giành lại mạng sống cho chính mình, khi ông ta bị dồn vào chân tường. Và chuyện này còn hèn hạ hơn nhiều so với việc ông ta cố tình ngụy tạo một bức thư. Những bức ảnh kia sẽ thu hút thị giác và trí óc hơn cả những bức thư. Đó chính là thứ đang khiến mọi chuyện trở nên nguy ngập đến như vậy. Billy McLoughlin luôn luôn biết cách tận dụng tối ưu những lời phao xuyên tạc để gây thiệt hại cho đối thủ ngay đêm trước bầu cử. Kể cả tôi có khả năng phủ nhận cũng như chứng minh được những bức ảnh đó là ngụy tạo đi nữa, tôi e rằng vẫn chỉ có hại mà thôi. Tôi không thể kịp thời tiếp cận tất cả cử tri được. Một mất mười ngờ mà.”

“Vậy đó.” Bennett lạnh lùng tiếp lời. “Anh thừa nhận rằng chúng ta thực tế đang bất lực. Đó là điều tôi vẫn khăng khăng nói suốt từ nãy tới giờ. Hãy kiểm soát số ảnh in ra kia trước đã, Travis ạ, vì Chúa. Rồi mới hú hét theo kiểu gì anh muốn - trước hoặc sau cuộc bầu cử cũng được. Như tôi nói rồi đấy, nếu chúng ta vẫn còn một, hai tuần nữa cơ, thì có chiến đấu cũng chẳng sao. Nhưng chúng ta không thể tranh thủ bất cứ động thái nào mà không tự biến mình thành trò hề, cho tới khi chúng được phát hành vào thứ Hai như một cú chốt hạ màn cho chiến dịch tranh cử. Toàn bộ các báo đăng tải trong khoảng thời gian còn lại của thứ Hai và buổi sáng thứ Ba sẽ không cho chúng ta thời gian đáp trả đâu. Ngay cả khi chúng được xuất bản hôm nay đi chăng nữa, chúng ta cũng khó có thì giờ để vạch trần âm mưu này, sau đó đay đi đay lại cho tới khi người dân hiểu ra nó và biến vấn đề kia trở thành thực tế, thay vì sự thật. Không, chính anh cần phải thừa nhận là như thế. Không còn thời gian đâu. Chúng ta cần phải thực hiện những gì chúng ta đã lên kế hoạch rất chu toàn để hoàn thành chiến dịch tranh cử. Nếu chúng ta để mình đi chệch hướng vì chuyện này, thì đồng nghĩa chúng ta đã từ bỏ những nỗ lực cuối cùng của bản thân. Và bất kể ra sao, điều đó cũng sẽ có lợi cho lão McLoughlin y như những gì lão ta muốn. Giờ thì, Kennedy, ông có đồng ý với tôi không? Hãy chặn đứng những bức ảnh kia ngay lập tức, bằng bất cứ giá nào, sau đấy mới điều tra mọi chuyện và, nếu chúng ta có thể, khởi kiện sau khi đã bầu cử xong xuôi?”

Kennedy và tôi, những người cho đến nay vẫn chẳng khác nào những khán giả chăm chú, vốn không định ngắt lời hai người họ. Cuối cùng, Craig bèn hỏi: “Ông có bản sao các bức ảnh đó không?”

“Không.” Bennett đáp. “Gã Hanford này là một tay trơ tráo, nhưng gã quá tinh ranh để bỏ chúng lại đây. Tôi chỉ được thấy chúng trong một chốc lát thôi. Trông chúng thật kinh khủng. Và những bản khai có tuyên thệ về chúng còn kinh khủng hơn nhiều.”

“Hừm.” Kennedy cân nhắc, suy ngẫm về cuộc khủng hoảng ấy trong đầu. “Chúng tôi đã từng khẳng định được chân tướng của những bức thư bị ngụy tạo và đánh cắp trước đây. Tuy nhiên, việc khẳng định được chân tướng của những bức ảnh bị ngụy tạo và đánh cắp quả là chuyện mới mẻ. Tôi không ngạc nhiên gì khi ông bị doạ cho phát sợ, Bennett ạ, cũng như việc anh muốn chiến đấu, Travis.”

“Vậy, ông sẽ tiếp nhận vụ này chứ?” Travis nài nỉ đầy khẩn thiết, quên béng cả cung cách ứng xử trong tranh cử của mình lẫn người quản lý chiến dịch vận động cho anh ta. Anh ta chúi người về phía trước gần giống như thể một tù nhân đang ngồi trên băng ghế bị cáo để đón lấy từng lời của trưởng đoàn bồi thẩm. “Ông sẽ lần ra kẻ đã ngụy tạo ra những bức ảnh đó trước khi quá muộn chứ?”

“Tôi chưa nói rằng mình sẽ làm như vậy.” Craig trả lời vẻ cân nhắc. “Thậm chí tôi còn chưa bảo mình sẽ tiếp nhận vụ việc này. Chính trị là một trò chơi mới mẻ đối với tôi, anh Travis ạ. Nếu như bước vào lĩnh vực này, tôi sẽ muốn bước vào rồi ở lại trong đó - chà, anh biết những gì mà cánh luật sư các anh vẫn thường nói rồi đấy, một cách thật trong sạch. Tôi sẽ tiếp nhận vụ việc này với một điều kiện và chỉ với một điều kiện thôi.”

“Ông nói đi.” Travis nóng lòng thốt lên.

“Dĩ nhiên, vì tôi là người được anh thuê.” Craig tiếp tục với sự chậm rãi đầy khiêu khích. “Vậy nên, thật là không phải phép khi cho rằng nếu tôi thấy - tôi nên nói như thế nào nhỉ - nói thẳng nhé, được chứ? - nếu tôi thấy câu chuyện của Hanford có một... ờ... cơ sở nào đó, thì thật không phải phép khi cho rằng tôi nên bỏ rơi anh và chuyển qua phe bên kia. Nhưng cũng thật vô lý nếu cho là tôi sẽ tiếp tục theo anh và giúp anh thoát khỏi một chuyện như thế này, mà chẳng màng đếm xỉa tới sự thật. Điều tôi đang yêu cầu chính là hãy cho tôi toàn quyền quyết định những việc mình muốn làm và được phép từ bỏ vụ này ngay khi tôi không thể tiếp tục thêm được nữa, để công bằng cho tôi, từ bỏ nó và giữ kín miệng mình. Anh hiểu chứ? Đây chính là những điều kiện của tôi và không hơn không kém.”

“Và ông nghĩ mình có thể thành công sao?” Bennett hỏi với vẻ khá hoài nghi. “Ông sẵn lòng mạo hiểm ư? Chẳng lẽ ông không nghĩ là sẽ hợp lý hơn nếu chúng ta chờ đợi cho tới khi cuộc bầu cử giành thắng lợi hay sao?”

“Các vị đã được nghe những điều kiện của tôi rồi đấy.” Craig nhắc lại.

“Chốt.” Travis cắt ngang. “Tôi sẽ chiến đấu đến cùng vụ này, Bennett ạ. Nếu như chúng ta phạm sai lầm bằng cách mặc cả với chúng ngay từ đầu thì kết cục, mọi chuyện có thể sẽ còn tệ hơn cho chúng ta nhiều đấy. Bởi lẽ, trả tiền đồng nghĩa thú tội mà.”

Bennett lắc đầu vẻ nghi hoặc. “Tôi e lựa chọn này cũng hoàn toàn nằm trong chủ đích của McLoughlin. Các bức ảnh giống như số liệu thống kê ấy. Chúng không thể nói dối trừ khi có người bắt chúng làm như vậy. Tuy nhiên, thật khó mà xác định một kẻ dối trá có thể làm được gì với cả hai thứ đó trong một cuộc bầu cử.”

“Nói đi, Dean, ông sẽ không bỏ rơi tôi chứ?” Travis quở trách. “Ông không thấy khó chịu khi tôi vùng lên chống lại chúng đấy chứ?”

Bennett đứng dậy, đặt một bàn tay lên vai của Travis và nắm lấy vai kia của anh ta. “Wesley.” Ông ta nghiêm túc bảo. “Tôi sẽ không bỏ rơi anh ngay cả khi những bức ảnh kia có là sự thật đi chăng nữa.”

“Tôi biết mà.” Travis đáp lại đầy chân thành. “Vậy thì hãy cứ cho ông Kennedy đây một ngày để xem ông ấy có thể làm được gì. Sau đó, nếu không có tiến triển, chúng tôi sẽ nghe theo lời khuyên của ông, Dean ạ. Chúng ta sẽ trả tiền, tôi cho là như vậy và yêu cầu ông Kennedy theo tiếp vụ việc này sau thứ Ba tuần tới.”

“Với những điều kiện đó.” Craig thêm vào.

“Với những điều kiện đó, ông Kennedy ạ.” Travis nhắc lại. “Bắt tay nào. Phải nói là, tôi nghĩ mình đã từng bắt tay cả nửa số nam giới của bang này kể từ khi tôi được để cử, nhưng cái bắt tay này có ý nghĩa lớn lao với tôi hơn bất kì cái nào trong số đó. Hãy ghé qua gặp chúng tôi, bất cứ lúc nào ông cần sự hỗ trợ. Khỏi cần ngại tốn kém miễn sao cho hợp lý và... và tìm ra được bằng chứng buộc tội, bất kể nó có động chạm tới ai ngồi ghế cao hơn, ngay cả khi đó là Cadwalader Brown đi nữa. Tạm biệt và vô cùng cảm ơn ông - ồ, nhân tiện, chờ đã. Để tôi dẫn ông đi tham quan một vòng và giới thiệu ông với cô Ashton nhé. Biết đâu cô ấy sẽ giúp được ông chăng.”

Văn phòng của Bennett và Travis nằm ở trung tâm của dãy phòng. Một bên là lực lượng văn thư và thủ quỹ cũng như văn phòng diễn giả, nơi mà các diễn giả với đủ mọi trình độ lúc này đang tiếp nhận các chỉ thị, những chuyến vận động tranh cử được lên sẵn kế hoạch và các báo cáo thu được từ các cuộc hội nghị hiện đang được cất giữ.

Ở phía bên kia là văn phòng báo chí với một lực lượng năng nổ và hùng hậu do cô Ashton phụ trách. Cô ấy đang hỗ trợ cho Travis bởi vì anh ta đã tuyên bố cực kì dứt khoát về “quyền bầu cử cho phụ nữ”, đồng thời khăng khăng rằng đảng của anh ta phải đưa đề mục này vào cương lĩnh của mình. Cô Ashton là một cô nàng rất thông minh, tốt nghiệp tại một trường đại học danh tiếng dành riêng cho phái nữ và đã từng có nhiều năm kinh nghiệm trong ngành báo trước khi trở thành nhà lãnh đạo cho sự nghiệp đấu tranh giành quyền bầu cử cho phụ nữ. Tôi nhớ mình đã từng đọc được và nghe thấy rất nhiều tin tức liên quan tới cô ấy, mặc dù tôi chưa từng gặp cô ấy bao giờ. Gia đình Ashton vốn nổi danh trong giới thượng lưu của New York và quả là một thử thách đầy đau đớn đối với một số người bạn bảo thủ của cô ấy, khi cô ấy khước từ những gì họ cho là “lĩnh vực hoạt động” thích hợp cho phụ nữ. Trong số những người bạn đó, theo như tôi được biết, có cả Cadwalader Brown.

Travis còn chưa kịp giới thiệu chúng tôi với nhau, vậy mà tôi đã kịp ngửi thấy mùi yêu đương lãng mạn ẩn sau cách quản lý buồn tẻ kiểu chung chung đối với văn phòng báo chí của chiến dịch tranh cử. Tôi không có ý đánh giá thấp công việc hay khả năng của người đứng đầu văn phòng báo chí ấy. Nhưng, điều khiến tôi thấy ngạc nhiên chính là việc ứng cử viên này đang dành một sự quan tâm rất đặc biệt cho chiến dịch vận động tranh cử qua báo chí, hơn là quan tâm tới văn phòng diễn giả. Và tôi chắc chắn điều đó không chỉ được lý giải bởi thực tế công chúng đang đóng một vai trò càng ngày càng quan trọng trong công tác vận động chính trị.

Tuy nhiên, những đổi mới giống như hệ thống lưu trữ theo chỉ mục thẻ dựa theo từng khu vực bầu cử trên toàn bang của cô ấy, trong đó cho thấy thái độ của các biên tập viên báo chí khác nhau, của các nhà lãnh đạo chính trị ở địa phương cũng như những thay đổi trong quan điểm quần chúng, thực sự rất có giá trị và đầy đủ. Kennedy, người vốn có một bộ óc phân loại và sắp xếp các tình tiết sự việc rất quy củ, rõ ràng đang bị ấn tượng trước bộ nhớ máy móc khổng lồ do cô Ashton xây dựng nên. Mặc dù anh không nói gì với tôi, nhưng tôi biết anh cũng đã để mắt tới trạng thái yêu đương giữa ứng cử viên phe Cải cách và người đứng đầu phong trào đòi quyền bầu cử cho phái nữ kia.

Chính vào khoảnh khắc Travis bị gọi quay trở lại văn phòng của anh ta, Kennedy, người đang nhìn cô Ashton với vẻ đồng tình rõ rệt, liền ngả người qua và nói bằng giọng khe khẽ rằng:

“Cô Ashton, tôi nghĩ là mình có thể tin tưởng được cô. Cô có muốn giúp đỡ ông Travis một việc lớn hay không?”

Cô ấy không để lộ dẫu chỉ bằng một cái nhìn thoáng qua trên gương mặt về trạng thái thực sự của những cảm xúc trong lòng mình là gì. Mặc dù tôi tưởng tượng sự sẵn lòng đồng ý của cô ấy có lẽ còn mang nhiều ý nghĩa hơn cả những điều cô ấy chắc hẳn sẽ gửi gắm trong từ “có” đơn thuần.

“Tôi cho là cô cũng biết chuyện đang có một âm mưu được thực hiện hòng tống tiền anh Travis?” Kennedy nhanh chóng nói thêm vào.

“Tôi biết đôi điều về chuyện đó.” Cô ấy trả lời bằng một giọng điệu cho thấy là dĩ nhiên, Travis đã kể nó cho cô ấy nghe trước cả khi chúng tôi được mời tới giúp đỡ. Tôi cảm thấy không phải không có khả năng là quyết tâm sắt đá muốn được chiến đấu của Travis có thể được khơi nguồn từ những lời khuyên của cô ấy, hay chí ít là từ quan điểm của cô ấy về anh ta.

“Tôi cho rằng trong một hàng ngũ lớn như này, không phải là không có nguy cơ kẻ thù chính trị của các vị có thể cài cắm một, hai nội gián vào đúng không?” Kennedy nhận xét, liếc nhìn quanh khoảng hai chục viên chức phụ trách sổ sách đang bận bịu lôi ra “các tài liệu”.

“Thi thoảng chính tôi cũng nghĩ như vậy đấy.” Cô ấy đồng tình. “Nhưng dĩ nhiên là tôi không thể biết. Tuy vậy, tôi cần phải khá cẩn thận. Lúc nào cũng có một ai đó quanh quẩn bên bàn làm việc này của tôi hoặc nhìn ngó qua đây. Làm sao có bí mật gì nhiều trong một căn phòng lớn như thế này chứ. Tôi không bao giờ để những thứ quan trọng nằm ở vị trí nào mà bất kì ai trong số họ có thể nhìn thấy hết.”

“Phải rồi.” Kennedy trầm ngâm. “Văn phòng đóng cửa lúc mấy giờ?”

“Chúng tôi sẽ xong việc vào khoảng chín giờ tối nay, tôi nghĩ vậy. Ngày mai có thể sẽ muộn hơn.”

“Ừm, vậy thì, nếu tôi ghé qua đây tối nay, chẳng hạn vào lúc chín giờ rưỡi, liệu cô có thể ở đây không? Chắc tôi không cần phải nói rằng sự hiện diện của cô có thể mang tới một giá trị lớn lao không kể xiết đối với... đối với chiến dịch tranh cử này.”

“Tôi sẽ ở đây.” Cô ấy hứa, chìa một bàn tay ra bắt tay anh với phần cánh tay thẳng đến lạ. Đồng thời, cô ấy nhìn trực diện vào gương mặt của anh bằng đôi mắt, mà ngay cả những kẻ bảo thủ trong cơ quan lập pháp cũng phải thừa nhận, đó chính là cách thức để thu hút được nhiều phiếu bầu.

Kennedy vẫn chưa thực sự sẵn sàng để rời đi, thay vào đó, anh đi tìm Travis và được cho phép xem qua thu chi tài chính của chiến dịch. Có rất ít mạnh thường quân tầm cỡ ủng hộ cho quỹ của Travis, nhưng lại có rất nhiều khoản tiền nhỏ từ mười, hai mươi lăm đô la tới tận năm, mười xu. Thực sự, nó đã cho thấy được bề sâu của cuộc nổi dậy quần chúng. Kennedy cũng vội vàng lướt qua các hạng mục chi tiêu - tiền thuê nhà, tiền lương, lực lượng văn phòng và nhân viên tốc ký, quảng cáo, văn phòng phẩm, in ấn, bưu phí, điện thoại, điện tín, xe hơi và chi phí đi lại, cũng như các mục linh tinh khác.

Như Kennedy đã phát biểu sau đó, trái ngược với những khoản tiền nhỏ giọt đang chảy vào, những khoản tiền lớn được chi ra lại đi thành từng cục. Vận động tranh cử trong thời đại ngày nay quả thực rất tốn kém, ngay cả khi nó được thực hiện một cách trung thực đi chăng nữa. Báo cáo về khoản chi linh tinh cho thấy một vài mục lớn không rõ ràng và sau khi hạch toán thật nhanh, Kennedy nhận ra nếu tất cả các khoản chi phí cần được thanh toán ngay lập tức, ủy ban sẽ nợ tới vài ngàn đô la.

“Tóm lại...” Tôi lập luận khi chúng tôi rời đi. “Vụ này sẽ khiến Travis bị sa cơ, hoặc sẽ khiến quỹ của anh ta rơi vào thế tuyệt vọng. Hay phải chăng nó có nghĩa là anh ta đã nhìn thấy được thất bại trước mắt và đang dùng cách này để bù đắp lại cho chính bản thân mình dưới lớp ngụy trang bị tống tiền?”

Kennedy không nói năng gì trước những mối nghi hoặc của tôi, mặc dù tôi có thể nhận ra trong tâm trí của anh, anh đang không bỏ qua bất kì manh mối khả dĩ nào.

Phòng chụp ảnh của Harris Hanford chỉ ở cách đó vài dãy nhà, gã chính là người mà Kennedy đang nhất quyết muốn gặp. Chúng tôi tìm thấy gã trong một tòa nhà cũ, trên một trong những con phố phụ vào những năm ba mươi mà các cửa hàng từng chiếm cứ. Căn phòng của gã nằm trên tầng cao nhất, sau ba dãy cẩu thang. Khi chúng tôi lên tới nơi, tôi để ý thấy căn phòng bên cạnh phòng gã hiện giờ đang bỏ trống.

Cuộc trò chuyện của chúng tôi với Hanford rất ngắn ngủi và không gặt hái được điều gì. Hoặc gã chính là đại diện cho một bên thứ ba trong thương vụ này, hoặc gã chỉ đang ra vẻ là như vậy. Gã đã kiên quyết từ chối cho chúng tôi xem các bủc ảnh, dù chỉ liếc nhìn một cái cũng không.

“Các giao dịch của tôi...” Gã khẳng định với vẻ đầy hời hợt. “Tất cả đều phải được thực hiện với ông Bennett hoặc với ông Travis, trực tiếp, chứ không phải với những người đại diện. Tôi chẳng giấu giếm gì về chuyện đó cả. Các bức ảnh in không hề có ở đây. Chúng an toàn và đã sẵn sàng được trưng ra vào đúng thời điểm, hoặc để tiền trao cháo múc, hoặc để đăng tải trên mặt báo. Chúng ta đều đã biết rõ về chúng rồi, chúng ta đều hài lòng, mặc dù các phim âm bản đã bị tiêu hủy. Còn về việc chúng có phải đã bị trộm từ Travis hay không, các ông có thể tự mình suy luận ra từ những gì đã biết. Chúng đã được tuồn ra và được sao chép lại, những bản sao sắc nét. Nếu ông Travis muốn bác bỏ sự tồn tại của chúng, cứ để ông ta khơi mào vụ kiện đi. Tôi đã nói rõ mọi chuyện với Bennett rồi. Ngày mai sẽ là ngày cuối cùng và lúc đó tôi phải có được câu trả lời của Bennett, mà không bị bất cứ kẻ tọc mạch nào xía mũi vào. Nếu câu trả lời là đồng ý, vậy thì quá tốt. Bằng không, họ biết chuyện gì sẽ xảy ra rồi đấy. Tạm biệt.”

Giờ vẫn còn sáng sớm và hành động tiếp theo của Kennedy chính là ra ngoài Long Island để kiểm tra thư viện tại nhà của Travis, nơi những bức ảnh được cho là đã bị đánh cắp. Tại phòng thí nghiệm, Kennedy và tôi mang theo một chiếc hộp lớn màu đen hình chữ nhật, đựng một chiếc máy ảnh cùng một giá ba chân.

Cuộc kiểm tra thư viện từng bị trộm của anh chỉ mất có vài phút, xem xét cửa sổ mà có vẻ tên trộm đã theo đó đột nhập vào, chiếc tủ mà hắn ta đã cạy mở và tình hình chung chung. Cuối cùng, Craig lắp đặt máy ảnh của mình một cách cực kì cẩn thận và chụp vài bức ảnh cửa sổ, chiếc tủ, các cửa ra vào, bao gồm cả hình ảnh căn phòng từ mọi góc độ. Bên ngoài, anh chụp hai mặt của góc nhà nơi thư viện được đặt. Nửa đi xe điện, nửa đi xe ngựa, chúng tôi băng ngang qua hòn đảo để tới được bờ biển phía nam và cuối cùng chúng tôi đã tìm thấy trang trại của McLoughlin, nơi chúng tôi chẳng hề gặp phải khó khăn gì trong việc chụp được năm, sáu bức ảnh mái hiên và ngôi nhà. Nhìn chung, mấy thủ tục này có vẻ khá tẻ nhạt với tôi, nhưng tôi hiểu rất rõ từ những trải nghiệm trước đây của mình rằng Kennedy có mục đích kĩ lưỡng từ trước rồi. 👁️

Chúng tôi chia tay nhau khi đã về thành phố và gặp lại ngay trước lúc ghé qua chỗ cô Ashton. Rõ ràng Kennedy đã tận dụng khoảng thời gian đó để rửa mấy tấm kính ảnh của mình, vì hiện giờ, anh đang có trong tay khoảng mười, mười hai bức ảnh in. Tất cả đều có cùng kích thước, được gắn lên những tấm bìa các tông cứng ngắc trong một vùng có những thang đo và đánh số ở cả bốn cạnh. Anh nhận ra tôi đang bối rối về chúng.

“Đó là những bức ảnh hệ mét giống như Bertillon* ở Paris đã chụp.” Anh giải thích. “Bằng cách sử dụng thang đo, bảng biểu và các phương thức khác đã từng được biết đến, chúng ta có thể xác định được gần chính xác khoảng cách cũng như nhiều yếu tố khác nữa từ những bức ảnh đó, như thể chúng ta đang đứng ngay tại hiện trường vậy. Bertillon đã giúp làm sáng tỏ rất nhiều tội ác nhờ sự hỗ trợ này, chẳng hạn như bí ẩn về vụ nổ súng ở khách sạn Quai d’Orsay và những vụ án khác. Bức ảnh hệ mét này, tôi tin là, rồi cũng sẽ được xếp ngang hàng với portrait parle*, dấu vân tay cùng những phát minh còn lại thôi.”

“Chẳng hạn, để giải quyết bí ẩn một tội ác, nhiệm vụ đầu tiên của thám tử là phải nghiên cứu địa hình của hiện trường. Các sơ đồ và bản vẽ của một căn phòng hoặc ngôi nhà nào đó cần phải được thiết lập. Vị trí của từng đồ vật phải được ghi chú lại tỉ mỉ. Ngoài ra, thiên nhãn của máy ảnh cần phải được trưng dụng. Căn phòng bị trộm kia đã được chụp ảnh lại, như trong trường hợp này. Lẽ ra tôi phải làm việc đó bằng cách đặt một cây thước chia độ lên mặt bàn và chụp cả nó vào ảnh, nhưng Bertillon đã nghĩ ra được một phương pháp khoa học chính xác hơn. Ống kính máy ảnh của ông ấy luôn luôn được đặt ở một độ cao cố định so với mặt đất và tạo ra hình ảnh trên tấm kính ảnh ở một tiêu cự chính xác. Ảnh in từ âm bản sẽ được gắn lên một tấm thẻ trong một vùng có kích thước xác định, dọc theo các cạnh của nó có in một thang đo bằng mét. Theo cách ông ấy đã tính toán, khoảng cách giữa hai điểm bất kì trong bức ảnh hoàn toàn có thể được xác định. Thông qua một sơ đồ địa hình cùng một bức ảnh hệ mét, người ta có thể nghiên cứu một tội ác giống như nghiên cứu tổng quan bản đồ của một quốc gia xa lạ vậy. Có vài điểm kỳ quái mà tôi đã quan sát được ngày hôm nay và tôi hiện đang có ở đây một bản ghi không thể nào xóa nhòa về hiện trường vụ án. Nhờ được lưu giữ theo cách đó, người ta sẽ chẳng thể hoài nghi gì nó nữa.”

“Giờ thì, những bức ảnh đang được để ở trong chiếc tủ này. vẫn còn những chiếc tủ khác nữa, nhưng chẳng cái nào bị xáo trộn. Chứng tỏ, tên trộm hẳn đã biết chính xác đâu là chiếc tủ hắn ta cần phải tìm. Dấu vết được tạo ra khi phá khóa không phải do xà beng để lại, mà là của một chiếc tuốc nơ vít. Cho đến thời điểm này, chúng ta vẫn chưa cần phải có một kiến thức khoa học uyên thâm đáng kinh ngạc nào hết. Tất thảy những gì chúng ta cần, chỉ là một chút thường thức khoa học mà thôi, Walter ạ.”

“Giờ, làm thế nào tên trộm vào được trong nhà đây? Tất cả các cửa sổ lẫn cửa ra vào đều được cho là đã khóa. Người ta khẳng định có một tấm kính đã bị cắt từ chiếc cửa sổ bên cạnh nhà. Đúng thế và các mảnh kính đã được để ở đó, nhằm đánh lừa như một bằng chứng. Nhưng hãy liếc qua bức ảnh chụp bên ngoài này xem. Để với tới được cửa sổ đó, thậm chí một người đàn ông cao lớn cũng sẽ phải đứng lên một cái thang hay một thứ gì đó. Thế nhưng, chẳng có vết tích gì của thang, hay của bất cứ người nào, trên lớp đất mềm bên dưới cửa sổ cả. Hơn nữa, ô cửa sổ đó đã bị cắt từ bên trong. Các vết cắt của dao cắt kính cho thấy rõ điều đó. Lại là một thường thức khoa học.”

“Vậy thì, chắc hẳn phải là người nào đó trong nhà hay ít ra là một ai đấy biết rõ nó đúng không?” Tôi kêu lên.

Kennedy gật đầu. “Có một thứ mà chúng ta sở hữu, trong khi cảnh sát lại hoàn toàn bỏ qua...” Anh tiếp tục. “Chính là một hồ sơ hiện trường. Chúng ta đã có chút tiến triển trong việc tái hiện lại vụ án, như cách Bertillon gọi. Giá mà chúng ta có được những bức ảnh kia của Hanford thì sẽ tốt biết mấy.”

Hiện giờ, chúng tôi đang trên đường tới gặp cô Ashton tại trụ sở và trong lúc chúng tôi đi xe vào trung tâm thành phố, tôi đã cố suy ngẫm để đi được đến kết luận của vụ việc. Liệu đây có thực sự là một vụ gài bẫy hay không? Phải chăng chính Travis là kẻ đang diễn kịch và liệu vụ trộm kia có phải là một “sự dàn dựng” để nhờ đó, anh ta có thể ngăn chặn nguy cơ bị phơi bày những gì đã bị biên thành tài sản công trong tay của kẻ khác, không còn ý định che giấu nữa? Hay phải chăng rốt cuộc, đây chính là đòn đánh cuối cùng trong tuyệt vọng của Ông Trùm?

Toàn bộ chuyện này đang bắt đầu có vẻ đáng ngờ trong tâm trí của tôi. Mặc dù Kennedy dường như đã có được chút tiến triển thực sự, nhưng tôi lại cảm thấy không những nó chẳng thể giúp gì cho Travis, mà còn khiến mọi chuyện trở nên u tối hơn rất nhiều. Chẳng có bất cứ thứ gì ngoài lời nói vô căn cứ của anh ta, rằng anh ta đã không còn tới thăm Ông Trùm từ sau cuộc hội nghị đề cử kia cả. Anh ta thừa nhận mình đã từng làm vậy trước khi Liên đoàn Cải cách ra đời. Bên cạnh đấy, có thể ngầm hiểu rằng cả Ông Trùm lẫn Cadwalader Brown đều đang mặc nhận lời khẳng định có tuyên thệ của gã đàn ông nọ, kẻ đã từng bảo hắn ta đã chụp những bức ảnh ấy. Thêm vào đó, chỉ riêng sự tồn tại của những bức ảnh thực sự kia cũng đã là một lý lẽ đanh thép dưới góc nhìn đồ họa cho cầu chuyện này rồi. Vê phần cá nhân tôi, nếu ở vào vị trí của Kennedy hiện giờ, tôi nghĩ mình thể nào cũng sẽ tận dụng ngay điều kiện trong thỏa thuận với Travis để rút êm khỏi vụ này. Thế nhưng, Kennedy, nay đã bắt tay vào vụ án, lại kiên trì bám lấy nó.

Cô Ashton đang đợi chúng tôi ở văn phòng báo chí. Bàn làm việc của cô ấy được đặt ở chính giữa một đầu của căn phòng. Một vị trí mà nếu cô ấy có thể để mắt tới đội ngũ nhân viên trong văn phòng của mình, thì đội ngũ nhân viên trong văn phòng cũng có khả năng để mắt đến cô ấy.

Kennedy có vẻ đã để tâm tới sự sắp xếp đó trong chuyến thăm buổi sáng của chúng tôi, vì anh đã bắt tay vào việc ngay lập tức. Một bên của căn phòng hướng về văn phòng của Travis và Bennett là một khoảng tường trống trải rất rộng. Bằng một cái vồ, anh nhanh chóng đục một cái lỗ trên lớp vữa thô ráp, ngay phía trên lớp ván ốp chân tường chạy xung quanh căn phòng. Cái lỗ không xuyên hẳn sang tận bên kia tường. Anh đặt một đĩa tròn bằng cao su lưu hóa vào bên trong nó, với những sợi dây cách điện dẫn xuống mặt sau ván gỗ ốp chân tường, rồi vòng ra từ dưới lớp ván ấy vào bên dưới tấm thảm trải sàn. Một ít vữa nhanh chóng giúp bịt kín lại lỗ hổng trên bức tường và anh để nó khô.

Tiếp theo, anh dòng những sợi dây điện bên dưới thảm trải sàn tới bàn làm việc của cô Ashton. Chúng kết thúc ở đó, bên dưới thảm trải sàn cũng như một tấm thảm trang trí, với mười tám, hai mươi đường xoắn ốc khổng lồ. Chúng có đường kính khoảng một mét hoặc hơn được sắp xếp sao cho không gây sự chú ý của bất cứ bàn chân hiếu kỳ nào trên tấm thảm trải sàn đang phủ lên chúng.

“Tất cả chỉ vậy thôi, cô Ashton.” Anh nói khi chúng tôi đang cùng nhau quan sát động thái tiếp theo của anh. “Tôi mong được gặp cô vào sớm ngày mai và tôi có thể đề nghị cô đội chiếc mũ mà cô đang đội không?” 👁️

Nó là một chiếc mũ rất hợp với cô ấy, nhưng giọng điệu của Kennedy rõ ràng ám chỉ khiếu thẩm mỹ của anh trước món phục trang của nữ giới trông như chiếc giỏ úp ngược kia, hoàn toàn không phải là lý do khiến anh nảy ra đề nghị đó. Cô ấy hứa và mỉm cười, vì ngay cả một người phụ nữ dám đấu tranh đòi quyền bầu cử cho phái mình đi nữa, có lẽ cũng rất mê những chiếc mũ đẹp.

Craig vẫn còn phải gặp Travis và báo cáo lại công việc của anh. Người ứng cử viên đang khắc khoải chờ đợi tại khách sạn của mình sau một cuộc họp bàn lớn của quần chúng liên quan tới các vấn đề công cộng chung ở miền Đông, trong đó chủ nghĩa tư bản và các ông trùm tư bản đã bị huýt sáo chê bai tới vang vọng bốn bể, nếu như điều đó là có thể.

“Ông thu hoạch được gì không?” Travis háo hức hỏi.

“Tôi e rằng...” Kennedy trả lời và sắc thái trên gương mặt của ứng cử viên kia liền trở nên sa sầm. “Tôi e rằng anh sẽ cần phải gặp họ đấy, tạm thời là như vậy. Thời hạn sẽ hết vào ngày mai và tôi hiểu là Hanford sẽ lên đây để được nghe câu trả lời cuối cùng. Chúng ta phải lấy được bản sao của những bức ảnh đó, ngay cả khi chúng ta phải trả tiền cho chúng. Có vẻ không còn cách nào khác.”

Travis liền ngồi phịch xuống ghế và nhìn Kennedy một cách đầy tuyệt vọng. Trông anh ta thực sự rất nhợt nhạt. “Không... không phải ông đang nói chẳng còn cách nào khác đấy chứ, rằng tôi sẽ buộc phải thừa nhận thậm chí trước Bennett và những người khác là tôi đang rơi vào thế bất lợi hay sao?”

“Tôi không nói là vậy.” Kennedy nói với vẻ không khoan nhượng, tôi nghĩ thế.

“Chính là vậy còn gì.” Travis khẳng định gần như chắc nịch. “Vì sao ư, kiểu gì chúng ta chẳng nói được như vậy. Không, không... ý tôi không phải thế. Xin thứ lỗi cho tôi. Tôi chỉ đang bực bội về chuyện này mà thôi. Ông cứ nói tiếp đi.” Anh ta thở dài.

“Anh sẽ chỉ đạo Bennett thương lượng với Hanford sao cho có lợi nhất có thể khi hắn tới đây vào ngày mai. Hãy bảo ông ta sửa soạn các chi tiết liên quan tới việc thanh toán, sau đó chuyển gấp những bản sao sắc nét nhất của những bức ảnh đó cho tôi.”

Travis dường như đã sụp đổ.

Chúng tôi gặp lại cô Ashton vào buổi sáng hôm sau khi bước vào văn phòng của cô ấy. Kennedy đưa cho cô ấy một gói đồ và bằng một vài lời ít ỏi mà tôi không thể nghe rõ, anh giải thích những gì mình muốn, rồi hứa ghé lại sau.

Khi chúng tôi trở lại, các cô gái cùng những nhân viên phụ trách sổ sách khác đã đến và văn phòng giờ như một tổ ong tất bật đang gấp rút khép lại chiến dịch tranh cử. Những chiếc máy đánh chữ đang được gõ lách cách, các mẩu báo được cắt ra từ một chồng báo khổng lồ và dán vào những cuốn _album _thủ công lớn, các thông tư được gập lại và sẵn sàng gửi qua đường bưu điện cho lời kêu gọi cuối cùng. Căn phòng quả thật rất đông đúc. Tôi cảm thấy không nghi ngờ gì nữa, như Kennedy đã nói, rằng chẳng có mấy điều xảy ra được ở đó mà không bị ai quan sát cả.

Cô Ashton đang ngồi ở bàn làm việc của mình cùng với chiếc mũ để chỉ đạo công việc. “Nó hoạt động rồi.” Cô nhận xét một cách khó hiểu với Kennedy.

“Tốt.” Anh đáp. “Tôi chỉ ghé qua để chắc chắn thôi. Giờ thì, nếu có bất cứ điều gì đáng quan tâm xảy ra, cô Ashton ạ, tôi mong cô sẽ thông báo cho tôi biết ngay lập tức. Tôi không được xuất hiện ở đây, nhưng tôi sẽ đợi ở tầng dưới trong hành lang của tòa nhà. Nước đi tiếp theo của tôi sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào những gì cô cần báo cáo đấy.”

Ở tầng dưới, Craig chờ đợi với tâm thế sốt ruột càng lúc càng gia tăng. Chúng tôi đứng ở một góc có thể quan sát được mà không dễ dàng bị phát hiện. Và sự sốt ruột của chúng tôi không hề vơi dịu đi chút nào khi thấy tay Hanford bước chân vào thang máy.

Tôi nghĩ cô Ashton hẳn sẽ trở thành một nữ thám tử xuất sắc, thật vậy, trong một vụ án mà những cảm xúc cá nhân của cô ấy không hề bị ảnh hưởng như trong vụ án này. Trông cô ấy tái nhợt và kích động khi cô ấy xuất hiện trong hành lang, Kennedy vội vã tiến về phía cô ấy.

“Tôi không thể tin được! Tôi sẽ không tin chuyện đó đâu!” Cô ấy cố gắng nói.

“Nói cho tôi nghe đi, chuyện gì đã xảy ra?” Kennedy dịu dàng thúc giục.

“Ôi, thưa ông Kennedy, tại sao ông lại yêu cầu tôi làm việc này cơ chứ?” Cô ấy trách móc. “Thà tôi không biết gì còn hơn.”

“Tin tôi đi, cô Ashton.” Kennedy nói “Cô nên biết. Cô chính là người tôi tin cậy nhất đấy. Chúng tôi đã trông thấy Hanford đi lên tầng. Chuyện gì đã xảy ra vậy?”

Mặt mày cô ấy vẫn tái nhợt và cô ấy lo lắng trả lời: “Ông Bennett đã xuất hiện vào khoảng mười giờ kém mười lăm. Ông ấy dừng lại để nói chuyện với tôi và tò mò liếc nhìn quanh căn phòng. Ông biết không, tôi đã cảm thấy cực kì khó chịu trong giây lát. Sau đó, ông ấy khóa cánh cửa dẫn từ văn phòng báo chí đến văn phòng của ông ấy và để lại lời nhắn rằng ông ấy không muốn bị quấy rầy. Vài phút sau, một người đàn ông đã ghé qua.”

“Phải, phải.” Kennedy nhắc vở. “Là Hanford, không nghi ngờ gì nữa.”

Cô ấy tiếp tục nói một tràng mà không kịp thở, gần như không cho ai cơ hội để hỏi xem làm thế nào cô ấy biết được nhiều đến vậy.

“Tại sao?” Cô ấy kêu lên với một vẻ đại loại như thách thức trong giọng nói. “Anh Travis rốt cuộc vẫn mua những bức ảnh đó chứ. Và điều tồi tệ nhất trong chuyện này chính là, tôi đã gặp anh ấy ở hành lang lúc anh ấy đang đi vào, còn tôi thì xuống đây. Anh ấy đã cố hành xử với tôi y như trước giờ vẫn vậy, lại còn sau tất cả những gì mà giờ tôi đã biết về anh ấy nữa chứ. Họ đã dàn xếp xong mọi chuyện rồi, ông Bennett đang đứng ra thay mặt cho anh Travis và ông Hanford này. Họ thậm chí còn sắp yêu cầu tôi mang tiền đựng trong một chiếc phong bì được dán kín tới phòng chụp ảnh của ông Hanford này nữa chứ, để trao cho một kẻ thứ ba, người sẽ có mặt vào lúc hai giờ chiều nay.”

“Cô ư, cô Ashton?” Kennedy hỏi, một tia sáng lóe lên trên gương mặt của anh như thể, cuối cùng, anh cũng đã nhìn ra được một điều gì đó.

“Vâng, chính là tôi đây.” Cô ấy nhắc lại. “Hanford khăng khăng đó là một phần của thỏa thuận. Họ... họ vẫn chưa thẳng thừng yêu cầu tôi trở thành phương tiện để tiến hành những giao dịch bẩn thỉu của họ, nhưng khi họ làm vậy, tôi sẽ không...”

“Cô Ashton!” Kennedy phản đối. “Tôi xin cô hãy giữ bình tĩnh. Tôi không biết cô sẽ đón nhận mọi chuyện thành ra như này, hoàn toàn không hay biết. Làm ơn, làm ơn! Walter, anh sẽ thứ lỗi cho chúng tôi nếu chúng tôi rẽ qua chỗ hành lang dưới kia và ra ngoài trời chút chứ. chuyện này cực kì quan trọng.”

Trong năm hoặc mười phút sau đó, Kennedy và cô Ashton dường như đang thảo luận một cách nghiêm túc về diễn biến mới của các sự kiện, trong khi tôi sốt sắng đứng chờ họ. Lúc họ lại gần tôi lần nữa, trông cô ấy có vẻ đã bình tĩnh hơn rồi, nhưng tôi nghe thấy cô ấy nói: “Tôi hy vọng ông đúng. Tôi hoàn toàn suy sụp vì chuyện đó. Tôi sẵn sàng từ chức. Niềm tin của tôi vào bản chất con người giờ đang lung lay rồi. Không, tôi sẽ không vạch trần Wesley Travis vì lợi ích của anh ấy. Thật đau lòng cho tôi khi phải thừa nhận là như thế, nhưng Cadwalader từng vẫn hay nói rằng mọi người đàn ông đều có cái giá của anh ta. Tôi sợ chuyện này sẽ gây tổn hại lớn cho sự nghiệp cải cách và kéo theo với đó là tổn hại đến những người phụ nữ đang đấu tranh đòi quyền bầu cử cho phái mình, những người đang cùng chung số phận với đảng này. Tôi... tôi thật khó lòng mà tin được...”

Kennedy vẫn đang nhìn cô ấy một cách đầy tha thiết. “Cô Ashton!” Anh khẩn nài. “Đừng tin điều gì cả. Hãy nhớ một trong những nguyên tắc đầu tiên của chính trị là lòng trung thành. Hãy chờ cho đến khi...”

“Chờ ư?” Cô ấy hỏi lại. “Làm sao tôi có thể cơ chứ? Tôi ghét Wesley Travis vì anh ấy đã nhượng bộ... thậm chí còn hơn cả tôi ghét Cadwalader Brown vì thói vô tâm và thích chỉ trích cay độc về sự lương thiện của người khác.”

Cô ấy cắn môi vì đã phản bội những cảm xúc của mình khi thốt ra những lời đó, nhưng những gì cô ấy nghe được rõ ràng đã ảnh hưởng sâu sắc đến cô ấy. Cảm giác giống như thể đôi chân của người mà cô ấy vẫn luôn hằng ngưỡng mộ giờ đây đã hóa đất sét* vậy. Tuy nhiên, rõ ràng là cuối cùng, cô ấy vẫn đang nhìn nhận nó một cách khách quan hơn những gì mình có thể, nếu cô ấy là một người ngoài cuộc.

“Cô cứ suy nghĩ cho thật kĩ.” Kennedy thúc giục. “Họ sẽ không yêu cầu cô làm vậy ngay đâu. Đừng làm bất cứ điều gì hấp tấp cả. Hãy tạm dừng việc phán xét lại. Rồi cô sẽ không hối hận đâu.”

Vấn đề tiếp theo của Craig có vẻ chính là chuyển bối cảnh hành động của anh sang phòng chụp ảnh của Hanford. Dường như anh đang suy nghĩ đôi điều rất mau lẹ trong lúc chúng tôi đi bộ lên phố, sau khi từ biệt cô Ashton. Tôi cũng không dám mạo muội hỏi anh về những gì xảy ra, khi mà rõ ràng là, mọi chuyện đều phụ thuộc vào việc chuẩn bị cho những điều sắp xảy đến.

Hanford đã ra ngoài. Chuyện đó dường như khiến Kennedy cảm thấy rất hài lòng, vì với gương mặt rạng rỡ, một dấu hiệu khẳng định chắc chắn hơn cả những lời nói rằng anh đã nhìn thấy hướng đi cho mình càng lúc càng rõ ràng hơn rồi. Anh đã đề nghị tôi tới gặp người đại diện và thuê văn phòng trống bên cạnh phòng chụp ảnh kia, trong khi anh ngược lên thành phố để hoàn thành nốt những sắp đặt của mình cho bước cuối cùng.

Tôi đã hoàn thành phần việc mình được giao và đang đợi trong căn phòng trống đó khi anh quay trở lại. Anh bắt tay vào việc ngay lập tức và khi tôi tò mò quan sát anh trong im lặng, thì có vẻ anh chỉ đang lặp lại những gì mình từng làm ở trụ sở của Travis mà thôi. Anh đang đục một cái hốc trên bức tường, chỉ là lần này anh làm việc đó cẩn thận hơn rất nhiều. Nhưng rõ ràng, nếu anh định đặt bất cứ thứ gì vào trong cái hốc, chắc chắn nó phải tương đối lớn. Cái hốc ấy hình vuông. Khi cúi xuống, tôi có thể nhận ra anh đã đục xuyên qua lớp vữa và các lớp gỗ mỏng cho vữa bám đến tận mặt giấy dán tường phía bên kia, mặc dù anh đã cẩn thận để không làm sứt mẻ gì nó cả. Sau đó, anh đặt một chiếc hộp vuông màu đen vào trong hốc, cẩn thận căn chỉnh nó. Tiếp đến, anh làm mấy phép đo để xác định vị trí chính xác của tâm hộp so với các vách ngăn và bức tường.

Một chiếc chìa khóa vạn năng đã đưa chúng tôi vào phòng chụp ảnh sáng sủa, song hiện đang không một bóng người của Hanford. Vì lợi ích của cô Ashton, tôi ước gì các bức ảnh kia đang ở đó. Tôi chắc chắn Kennedy sẽ thấy có một chút ăn năn khi phải lấy trộm chúng, nếu chúng ở đấy thật. Tuy nhiên, đó lại là chuyện hoàn toàn khác so với những gì anh đang nghĩ trong đầu thời điểm này và anh đang thao tác rất nhanh vì sợ bị phát hiện. Qua những phép đo của anh, tôi đoán anh đang tính toán một vị trí sao cho càng gần tâm chiếc hộp mà anh đã đặt trong cái hốc trên tường, ở phía bên kia tấm giấy dán tường tối màu, càng tốt. Khi đã hoàn toàn hài lòng với bản thân, anh lấy ra một cây bút chì sắc từ trong túi và vạch nhẹ lên tờ giấy để đánh dấu điểm đó. Nó rơi về phía bên trái của một tấm lịch lớn treo trên tường.

Lời khẩn cầu của Kennedy đối với Margaret Ashton rõ ràng đã phát huy tác dụng, bởi vì khi chúng tôi gặp lại cô ấy một lúc sau những chuẩn bị khó hiểu này, cô ấy đã vượt qua được cảm xúc của mình.

“Họ đã yêu cầu tôi mang một bức thư tới phòng chụp ảnh của ông Hanford...” Cô ấy khẽ bảo. “Và không được để những người kia biết là tôi biết gì đó liên quan tới nó, tôi đã đồng ý làm như vậy.”

“Cô Ashton.” Kennedy nói, vô cùng nhẹ nhõm. “Cô đúng là một người trung thành đấy.”

“Không đâu.” Cô ấy đáp, mỉm cười yếu ớt. “Tôi chỉ đủ đàn bà để tò mò vậy thôi.”

Craig lắc đầu, nhưng không tranh luận gì quan điểm đó cả. “Sau khi cô đưa phong bì cho gã ta, bất kể gã là ai đi chăng nữa, trong phòng chụp ảnh của Hanford, hãy đợi cho tới khi gã ta có hành động gì đó... ừm... đáng ngờ. Trong khi đấy, hãy nhìn vào bức tường nằm ở phía đối diện với văn phòng bỏ trống bên cạnh. Ở bên trái tờ lịch lớn, cô sẽ thấy một dấu bút chì mờ mờ, một dấu thập. Bằng cách nào đó, cô phải xoay xở để tới được gần nó, nhưng đừng đứng trước nó. Sau đó, nếu có bất cứ chuyện gì xảy ra, hãy cắm cây kim số mười nho nhỏ này vào tường ngay điểm giao nhau của chữ thập. Nhanh chóng rút nó ra, đếm đến mười lăm, rồi gắn miếng dán nhỏ này lên trên chữ thập đó và cố gắng thoát ra khỏi đấy nhanh hết sức có thể. Mặc dù chúng tôi sẽ không ở xa đâu, nếu cô cần chúng tôi. Tất cả chỉ vậy thôi.”

Chúng tôi không đi cùng cô ấy đến phòng chụp ảnh, vì sợ bị theo dõi và nóng lòng chờ đợi ở văn phòng bên cạnh. Dù không thể nghe thấy bên trong đang nói những gì, nhưng khi có tiếng cửa đóng lại và rõ ràng cô ấy đã rời khỏi, Kennedy vội lấy thứ gì đó từ bên trong chiếc hộp được phủ một mảnh vải đen trên tường ra.

Ngay khi nó đã được an toàn, Kennedy liền cử tôi vội vã đuổi theo sau cô ấy để bảo vệ bản sao của những bức ảnh buộc tội mà cô ấy sẽ mang từ phòng chụp ảnh về. Trong lúc đó, anh sẽ ở lại để xem kẻ nào bước ra ngoài. Tôi nghĩ cô ấy đã đột nhiên đổi ý khi cô ấy đưa cho tôi gói đồ và yêu cầu rằng tôi hãy mang nó tới cho ông Bennett, rồi lấy những bức ảnh từ ông ta.

Tôi cảm thấy Kennedy cuối cùng cũng đã lần ra điều gì đó, thông qua những động thái khó hiểu của anh trong suốt hai ngày qua. Và rồi, Craig đã bảo với tôi rằng anh muốn tôi đi gặp Billy McLoughlin, nếu tôi không có cuộc hẹn nào. Tôi đã trả lời mình không có, rồi lại phải xoay xở để thoái thác cuộc hẹn mà tôi thực sự có.

Văn phòng của Ông Trùm đang có rất nhiều chính trị gia ở đó, vì đây là đêm trước “ngày bột nhào*” - khi hầu bao được nới lỏng và một loạt lý lẽ đầy sức thuyết phục được tuôn ra, hòng xoay chuyển tình thế cuộc bầu cử. Hanford đang có mặt ở đó cùng với những kẻ tay sai đắc lực khác.

“Ông McLoughlin...” Kennedy khẽ mở lời, khi chúng tôi được ngồi riêng với Hanford trong phòng làm việc nho nhỏ của Ông Trùm. “Xin ông hãy thứ lỗi cho tôi, nếu tôi có vẻ hơi chậm trễ trong việc tiết lộ nguyên do đã đưa tôi đến đây buổi tối ngày hôm nay. Trước hết, anh Hanford là một nhiếp ảnh gia nên hẳn anh sẽ hiểu rất rõ chuyện này. Kể từ thời của Daguerre*, nhiếp ảnh đã được coi là phương tiện không thể sai lầm và nó khắc họa trung thực bất kì vật thể, cảnh tượng hay hành động nào. Thật vậy, một bức ảnh sẽ luôn được thừa nhận trước tòa như là một bằng chứng không thể nào chối cãi. Vì trong khi tất cả các bằng chứng khác đều thất bại, thì một bức ảnh được chụp qua ống kính máy ảnh, gần như lúc nào cũng có thể thay đổi được cục diện. Tuy nhiên, một bức ảnh quyết định tới số phận của một vụ án quan trọng như vậy sẽ phải được kiểm tra cực kì kĩ lưỡng. Bởi một thực tế đã được xác minh rằng ảnh chụp có thể làm giả. Những bức ảnh được phối có thể thay đổi hoàn toàn đặc tính của bức ảnh âm bản ban đầu, và chúng đã được thực hiện trong suốt năm mươi năm vừa qua. Hành vi lừa gạt bằng nhiếp ảnh vô hại, đơn giản và đầu đời, chính là tấm kính ảnh ghép những đám mây vào trong một bầu trời quang đãng. Nhưng những người chỉnh ảnh bằng bút chì và công cụ khắc ngày nay rất khéo léo. Một người thợ có kỹ năng bình thường có thể đưa một người được chụp trong phòng chụp ảnh, vào một khung cảnh ngoài trời, rồi phối sao cho thật hài hòa, mà không để lại bất cứ dấu vết giả tạo nào.”

“Chắc chắn tôi không cần phải nói làm sao để đặt một cái đầu lên một cơ thể khác trong một bức ảnh, cũng chẳng cần phải nói hiệu ứng phơi sáng kép* sẽ làm được những gì đâu nhỉ. Gần như chẳng có giới hạn nào cho những thay đổi về hình thái và nét đặc trưng của bức ảnh. Chúng ta có thể ghép sao cho một người băng qua phố Broadway hay đi tản bộ trên đường Riverside, những nơi mà anh ta có thể chưa từng một lần đặt chân đến. Do đó, một người bị cáo buộc một tội danh nào đó, hoàn toàn có thể dùng một bức ảnh ghép để tạo ra bằng chứng ngoại phạm cho mình.”

“Vậy, ai có thể biết được những tấm ảnh đó là giả? Thực tế, chúng có thể hoặc chắn chắn sẽ thuyết phục được tất cả mọi người, ngoại trừ người giám định và những người đã nghiên cứu nó cẩn thận. Một thẩm phán sắc sảo sẽ khăng khăng yêu cầu rằng, trong mọi vụ án, âm bản phải được trình lên và kiểm tra kĩ lưỡng để xác định bất cứ thay đổi khả dĩ nào có thể được tạo ra bởi một kẻ thao túng khôn ngoan.”

Kennedy hướng ánh mắt về phía McLoughlin. “Giờ thì, tôi không buộc tội ông về bất cứ điều gì, thưa ông. Nhưng một bức ảnh hiện đang thuộc sở hữu của anh Travis, trong đó anh ấy được mô tả là đang đứng trên bậc thềm nhà ông cùng với ông và ông Cadwalader Brown. Tư thế của anh ấy và ông Brown trong những bức ảnh chụp cho thấy sự thân tình tối đa giữa hai người bọn họ. Tôi không ngần ngại mà nói rằng ban đầu, đó là một bức ảnh chụp ông, ông Brown cùng ứng cử viên của chính ông. Đó chính là một trò chơi khăm, một bức ảnh giả, mà trong đó Travis đã được thay thế vào nhờ một tay giả mạo ảnh rất xuất sắc.”

McLoughlin ra hiệu cho Hanford trả lời. “Một bức ảnh giả ư?” Gã khinh khỉnh hỏi vặn lại ý sau trong câu nói của anh. “Vậy còn các bản khai có tuyên thệ thì sao? Chẳng có âm bản gì hết. Ông sẽ phải chứng minh được bản in gốc đã bị ăn cắp từ Travis, nói thế nào nhỉ, là đồ giả mạo đấy. Mà ông đâu làm được.”

“Ngày Mười chín tháng Chín chính là ngày được khẳng định ở đây phải không, tôi tin là như vậy?” Kennedy khẽ hỏi, đặt xấp ảnh theo hệ mét cùng những bức ảnh được cho là của Travis xuống mặt bàn. Anh đang chỉ vào bóng của một đầu hồi trên ngôi nhà được mô tả trong các bức ảnh hệ mét cũng như các bức ảnh khác.

“Anh có thấy cái bóng của đầu hồi đó không? Có lẽ anh chưa bao giờ nghe nói tới điều này, Hanford ạ, nhưng chúng ta có thể xác định được chính xác thời điểm một bức ảnh được chụp nhờ việc nghiên cứu bóng ảnh đấy. Đó là một điều hoàn toàn có khả năng thực hiện ở cả khía cạnh nguyên lý lẫn thực tiễn, đồng thời có thể rất đáng tin. Hiện nay, hẩu hết các nhà khoa học đều có thể được mời tới làm chứng trước tòa. Nhưng có lẽ, các nhà thiên văn học chính là một trong những người ít có khả năng được mời nhất. Chà, bóng trong bức ảnh này sẽ chứng minh được bằng chứng ngoại phạm cho một người nào đó.”

“Để ý nhé. Cái bóng hiện lên rất nổi bật theo hướng bên phải và vị trí chính xác của nó trên ngôi nhà thì dễ xác định rồi. Anh gần như có thể sử dụng ảnh hệ mét để làm được điều đó. Việc xác định đầu hồi đổ bóng rất dễ dàng. Nói chính xác, nó cao 5,98 mét. Cái bóng phía dưới dài 4,34 mét, bóng phía đông dài 3,99 mét và bóng phía bắc dài 1,05 mét. Anh thấy đấy, tôi đã tính toán rất chi tiết. Tôi phải làm như vậy. Trong một phút, nó di chuyển được 0,024 mét lên phía trên, 0,016 mét sang bên phải và 0,029 mét trong đường biểu kiến mặt trời của nó. Nó đi qua bề ngang của ngôi nhà bằng ván lá sách, 0,11 mét, trong 4 phút 37 giây.”

Kennedy đang thao thao một loạt các dữ liệu mà anh suy ra được từ bức ảnh hệ mét của mình, từ dây dọi, ống thăng bằng, la bàn và thước dây, tam giác thị sai, các đỉnh, thiên đỉnh, cực và mặt trời, độ xích vĩ, góc phương vị, giờ mặt trời, các góc thị sai, độ khúc xạ cùng một tá thuật ngữ khó hiểu khác.

“Trong lượng giác cầu...” Anh kết luận. “Để giải một bài toán, cần phải biết được ba yếu tố. Nhưng tôi đã biết được đến bốn. Vì vậy, tôi có thể lấy từng yếu tố đã biết, coi nó là chưa biết và có tới bốn cách để kiểm tra kết quả của tôi. Tôi xác định được mốc thời gian của bức ảnh có thể là 3 giờ 21 phút 12 giây vào buổi chiều, hoặc 3 giờ 21 phút 31 giây, hoặc 3 giờ 21 phút 29 giây, hoặc 3 giờ 21 phút 33 giây. Giá trị trung bình là 3 giờ 22 phút 26 giây, do đó không thể có sai số nào đáng kể, ngoại trừ một vài giây. Để được như thế, ngày hôm đó chắc chắn phải là một trong hai ngày, ngày Hai mươi hai tháng Năm hoặc ngày Hai mươi hai tháng Bảy. Muốn xác định được nó là ngày nào trong số hai ngày này, chúng ta cần phải dựa vào bằng chứng, thay vì chỉ dựa vào cái bóng. Chắc chắn nó phải là vào tháng Năm, vì tình trạng non xanh của tán lá đang cho thấy điều đó. Nhưng ngay cả khi nó là vào tháng Bảy đi nữa, thì cũng còn xa mới tới được tháng Chín. Việc xác định năm của bức ảnh, tôi cũng đã giải quyết xong xuôi. Điều kiện thời tiết, theo như tôi nhận thấy, thường rất thuận lợi vào tất cả những ngày này ngoại trừ tháng Chín. Tôi thật sự có thể trả lời, với độ chắc chắn và chính xác vượt trội so với chính người chụp bức ảnh đó - kể cả khi hắn ta có trung thực đi chăng nữa - về ngày tháng thực sự của bức ảnh. Bức ảnh thật, ngoài việc đã bị chỉnh sửa, thực tế đã được chụp vào tháng Năm năm ngoái. Khoa học không thể nào sai lầm, mà hoàn toàn chính xác trong vấn đề này.”

Một pha ghi bàn vô cùng đẹp mắt đến từ Kennedy. McLaughlin và Hanford không thể thốt nên lời. Thế nhưng, Craig vẫn vội vã nói tiếp.

“Tuy nhiên, các vị có thể hỏi, còn bức ảnh xe hơi thì sao? Đó cũng là một bức ảnh giả mạo trắng trợn. Dĩ nhiên tôi phải chứng minh được điều đó. Trước hết, anh biết công chúng đã nhận thức được về sự biến dạng của một bức ảnh biểu thị tốc độ. Ảnh chụp không bị nghiêng của một chiếc xe trong cuộc đua sẽ bị bác bỏ ngay lập tức - người ta đòi hỏi phải được thấy tốc độ, tốc độ, nhiều tốc độ hơn nữa, ngay cả là trong các bức ảnh. Độ méo quả thực sẽ cho thấy tốc độ, nhưng nó cũng có khả năng được làm giả.”

“Hanford biết rằng hình ảnh được phóng chiếu ngược bởi ống kính trên tấm kính ảnh và phần dưới của bức ảnh được chụp trước phần trên. Cơ chế đó của máy ảnh sẽ tiếp nhận ánh sáng, tạo nên bức ảnh, giống như một tâm mành cuốn vậy. Khe hở sẽ đi từ bên trên xuống dưới và hình ảnh trên tấm kính được phóng chiếu lộn ngược, phần dưới của vật thể xuất hiện ở trên cùng tấm kính. Ví dụ, bánh xe sẽ được tiếp nhận trước đầu người tài xế. Nếu chiếc xe hơi đang di chuyển nhanh chóng, hình ảnh di chuyển trên tấm kính ảnh và mỗi phần hình ảnh liên tiếp sẽ được chụp trước một chút so với phần hình ảnh cuối cùng. Toàn bộ vật thể sẽ nghiêng về phía trước. Bằng cách mở rộng khe hở này và giảm tốc độ của màn trập, mức độ biến dạng của hình ảnh cũng sẽ nhiều hơn.”

“Giờ thì, đây là những gì đã xảy ra. Một bức ảnh xe hơi của Cadwalader Brown đã được chụp, có lẽ là khi đang đứng yên, với Brown ngồi trong đó. Vấn đề ngụy tạo cho Travis hay bất kì ai khác ngồi bên cạnh ông ấy thật sự rất đơn giản. Nếu sử dụng một chiếc đèn chiếu phóng to, hình ảnh của bức ảnh làm giả này sẽ được hắt lên giấy giống như dương bản của đèn chiếu. Và nếu phía bên tay phải cách xa hơn một chút so với phía bên tay trái, bên trên cách xa hơn bên dưới, các vị hoàn toàn có thể in ra một bức ảnh giả đang chạy về phía trước với tốc độ cao - ngay cả khi không có chuyển động đi chăng nữa - bị biến dạng. Sự khác biệt giữa bức ảnh giả này với sự biến dạng của màn trập chỉ có khả năng được phát hiện bởi một chuyên gia mà thôi. Nhưng nó sẽ qua mắt được người khác. Tuy nhiên, trong vụ án này, kẻ giả mạo đã quá tự tin về bức ảnh đến mức hắn ta đã bất cẩn. Thay vì đặt tấm kính ảnh xa tờ giấy hơn về phía bên phải, hắn ta lại làm như vậy với bên trái. Nó cũng ở xa phía dưới hơn là phía trên. Hắn ta đã có được độ méo rất ổn, đủ để làm hài lòng các tay mơ. Nhưng đó là kiểu méo sai đường! Phần trên của bánh xe, cũng chính là phần chạy nhanh nhất và lẽ ra phải kém rõ ràng nhất, thì trong bức ảnh giả, lại sắc nét y như bất cứ bộ phận nào khác. Đó là một sai lầm nho nhỏ, nhưng đủ chí mạng. Bức ảnh đó quả thực đang chạy với vận tốc rất cao -nhưng là chạy giật lùi! Quả là quá non nớt, quá non nớt!”

“Ông không nghĩ mọi người sẽ hiểu được tất cả những thứ đó, phải không?” Hanford lạnh lùng hỏi, bất chấp việc đã bị phơi bày.

Kennedy không để tâm. Anh đang nhìn McLoughlin. Ông Trùm cũng đang chăm chú quan sát anh với vẻ đầy cáu kỉnh.

“Chà.” Cuối cùng ông ta nói. “Tất cả chuyện này là cái gì vậy hả? Tôi chẳng liên quan gì tới nó hết. Tại sao ông lại tìm đến tôi? Hãy mang nó tới những đảng phái đích thực kia kìa.”

“Liệu tôi có nên làm như vậy không nhỉ?” Kennedy khẽ hỏi.

Anh thận trọng lôi ra một bức ảnh khác. Chúng tôi không thể nhìn được nó, nhưng khi trông thấy nó, McLoughlin gần như bị choáng váng.

“A... anh lấy cái đó ở đâu ra thế hả?” Ông ta há hốc miệng kinh ngạc.

“Tôi đã lấy nó ở chỗ nó đang ở và nó không phải là ảnh giả.” Kennedy trả lời với vẻ bí ẩn. Sau đó, anh có vẻ đã nghĩ thấu đáo hơn. “Đây.” Anh giải thích. “Chính là thứ được gọi là ảnh chụp qua lỗ kim[^id80]. Từ ba trăm năm trước, della Porta[^id81] đã biết tới camera obscura[^id82] và dù không có được một tấm kính ảnh nhạy sáng, ông ấy vẫn có thể tạo ra các bức ảnh. Một cái hộp, hoàn toàn kín ánh sáng, có các rãnh bên trong để giữ các tấm kính ảnh, được phủ một màu đen và dán chặt. Tiếp nữa là một lỗ kim do kim số mười tạo ra trên một tờ giấy mỏng, và các vị đã có một thiết bị để chụp ảnh không cần tới thấu kính. Nó có một độ chính xác mà không một công cụ tạo ảnh bằng ống kính nào có thể có được. Nó đã sao chụp được hình ảnh theo đúng nghĩa đen, trực tiếp, không cần chỉnh tiêu cự và lấy được góc rộng với hiệu quả y hệt. Thậm chí những bức ảnh chụp nhanh qua lỗ kim hoàn toàn có thể thực hiện được ở nơi bị thừa sáng, với độ phơi sáng từ mười đến mười lăm giây.”

“Bức ảnh đó, ông McLoughlin ạ, đã được chụp vào ngày hôm qua tại phòng chụp ảnh của Hanford. Sau khi cô Ashton rời đi, tôi đã biết ai là người bước chân ra khỏi cửa, nhưng bức ảnh này cho thấy những gì đã xảy ra trước đó. Vào một khoảnh khắc rất quan trọng, cô Ashton đã chọc một chiếc kim vào bức tường của phòng chụp ảnh, đếm đến mười lăm trước khi đóng lỗ kim đó lại và đây là thành quả. Walter, Hanford... hãy để chúng tôi được ngồi riêng với nhau trong ít phút.”

Khi Kennedy bước ra khỏi văn phòng của Ông Trùm, có một vẻ hài lòng kín đáo hiện trên gương mặt anh mà tôi không hiểu nổi. Tôi chẳng moi được bất cứ một lời nào từ anh, dù là đêm hôm đó hay sang ngày hôm sau, cũng là ngày cuối cùng trước cuộc bầu cử. Tuy nhiên, tôi phải nói mình thật sự rất thất vọng khi không thể nắm được diễn biến của mọi chuyện. Toàn bộ sự việc này với tôi thật chẳng khác nào một mớ hỗn độn cả. Mọi người đều mắc míu với nó. Cô Ashton đã nghe lỏm được gì và Kennedy đã nói những gì với McLoughlin? Trên tất thảy, trò chơi của anh là gì? Có phải anh đang chơi trò xoa dịu những cảm xúc của cô gái kia bằng cách để cho cuộc bầu cử diễn ra, mà không phát sinh một vụ bê bối nào với Travis hay không?

Đêm bầu cử cuối cùng cũng đã đến. Tất cả chúng tôi đều đang ở trụ sở của Travis, Kennedy, Travis, Bennett và tôi. Cô Ashton vắng mặt, nhưng khi những kết quả bầu cử đầu tiên chỉ vừa bắt đầu được công bố, Craig đã thì thầm bảo tôi ra ngoài tìm cô ấy, hoặc ở nhà hoặc ở câu lạc bộ của cô ấy. Tôi đã tìm được cô ấy ở nhà. Có vẻ cô ấy đã mất hết hứng thú với cuộc bầu cử thì phải và thật sự khó khăn để tôi thuyết phục cô ấy đi cùng mình.

Sự phấn khích của bất kì một đêm nào khác trong năm đều trở nên vô nghĩa trước đêm nay. Những đám đông rối trí có mặt khắp mọi nơi đang hô hào cổ vũ và thổi kèn inh ỏi. Lúc thì một loạt những tiếng la hét đầy cuồng loạn, òa lên từ đám đông dày đặc trước bảng tin của một tòa soạn báo. Lúc lại là những tiếng rên rỉ đầy rầu rĩ, những tiếng rít giận dữ và huýt sáo chê bai, hoặc tất cả sẽ cùng ồ lên reo hò khi kết quả bầu cử xoay ngoắt sang hướng khác. Thậm chí, bóng chày cũng chẳng thể hô hào được một đám đông như thế. Đèn đóm sáng rực trời. Xe hơi bấm còi ầm ĩ và rồ ga. Các nhà hàng xa hoa chật ních người với người. Cảnh sát có mặt khắp mọi nơi. Người người cầm còi, cầm chuông cùng đủ loại thiết bị tạo ra tiếng động khác đang chen chúc, xô nhau từ bên này sang bên kia, trên những con đường đông đúc. Hoặc họ đang quá thèm thuồng và đói khát, hoặc những bản tin kia đang quá đỗi nghèo nàn.

Tuy nhiên, đằng sau tất cả những ồn ào cùng năng lượng con người hừng hực ấy, tôi chỉ có thể nghĩ tới việc âm thầm thu thập tin tức một cách có hệ thống rồi biên tập chúng mà thôi. Ở phía trên cao nơi trụ sở của Liên đoàn, khi chúng tôi đã quay trở lại đó, một nhóm nhân viên phụ trách sổ sách đang lập bảng kê khai kết quả số phiếu bầu, so sánh các báo cáo chính thức và bán chính thức với nhau. Mới đầu, tình thế xoay chuyển theo hướng này, rồi lại sang hướng khác, hy vọng của chúng tôi cứ lên xuống thất thường. Trông cô Ashton có vẻ lạnh lùng và khó chịu, trong khi Travis thì lo lắng nhiều hơn và bớt để tâm đến kết quả phiếu bầu hơn lẽ ra phải thế. Cô ấy tránh mặt anh ta và anh ta dường như cũng ngần ngại tìm kiếm cô ấy.

Mới đầu tôi tự hỏi, liệu kết quả số phiếu từ khu vực ngoại ô của bang có đủ lớn để áp đảo được số phiếu bầu bất lợi đến từ khu vực nội đô không? Nhưng giờ, tôi đang rất ngạc nhiên khi thấy người dân thành phố hướng về Travis mạnh mẽ đến nhường nào.

“McLoughlin giữ lời rồi.” Kennedy thốt lên khi hết quận này tới quận khác cho thấy phần lớn phiếu bầu của Ông Trùm đang bị sụt giảm nghiêm trọng. “Giữ lời ấy hả? Ý anh là gì?” Chúng tôi hỏi gần như cùng một lúc.

“Ý tôi là ông ta đã giữ lời với tôi tại một cuộc trao đổi mà anh Jameson đây đã nhìn thấy nhưng không thể nghe được. Tôi đã nói với ông ta là tôi sẽ công bố tất cả mọi chuyện, bất kể chuyện đó có động chạm tới ai, khi nào và ở đâu đi chăng nữa, nếu ông ta không chịu buông tha cho Travis. Tôi đã khuyên ông ta đọc lại Đạo luật Sửa đổi của chính mình về tiền bạc trong các cuộc bầu cử và tôi chốt hạ bằng lời đe dọa rằng: Sẽ chẳng có ngày bột nhào nào hết, McLoughlin, hoặc vụ này sẽ bị truy tố lên tận cấp cao nhất. Không có ngày bột nhào. Các vị đã thấy được hiệu quả trong kết quả số phiếu bầu rồi đấy.”

“Nhưng làm sao anh làm được chuyện đó?” Tôi hỏi, vẫn chưa hiểu ra được. “Những bức ảnh giả kia đâu có làm lay chuyển ông ta cơ chứ, đó là những gì tôi có thể nhận ra.”

Cụm từ “những bức ảnh giả” khiến cô Ashton vội liếc mắt nhìn lên. Tôi nhận ra Kennedy vẫn chưa kể cho cô ấy hay bất kì một ai, cho tới khi Ông Trùm chịu thực hiện lời hứa. Anh chỉ đơn thuần là sắp xếp một trong những vở kịch nho nhỏ của chính mình mà thôi.

“Liệu tôi có nên nói không nhỉ, cô Ashton?” Anh hỏi, bổ sung thêm. “Trước khi tôi hoàn thành phần việc của mình trong thỏa thuận và xóa sạch chuyện này khỏi tâm trí?”

“Tôi không có quyền để từ chối.” Cô ấy run run đáp lại, nhưng với một vẻ hạnh phúc mà tôi chưa từng được nhìn thấy, kể từ lần đầu chúng tôi được giới thiệu với nhau.

Kennedy đặt một bức ảnh in lên bàn. Đó là bức ảnh lỗ kim kia, hơi mờ, nhưng hoàn toàn thuyết phục. Trên chiếc bàn làm việc trong hình là một đống hóa đơn. McLoughlin đang đẩy chúng về phía Bennett. Một người đàn ông hướng mặt về phía trước đang nói chuyện nghiêm túc với một người không hề xuất hiện trong bức ảnh. Trực giác mách bảo tôi, thậm chí trước cả khi Kennedy nói ra, rằng kẻ đó chính là cô Ashton khi cô ấy cắm chiếc kim vào tường. Còn gã đàn ông nọ là Cadwalader Brown.

“Travis.” Kennedy yêu cầu. “Hãy mang sổ sách kế toán của chiến dịch tranh cử của anh tới đây. Tôi muốn xem thật kĩ khoản mục chi linh tinh.”

Các cuốn sổ sách được mang đến và anh vừa nói tiếp, vừa lật mở những trang giấy. “Theo như tôi thấy thì có vẻ đã có một khoản thâm hụt gần hai mươi ngàn đô la vào hôm trước. Tại sao ư, nó đã được bịa ra. Bằng cách nào hả, Bennett?”

Bennett không thể thốt nên lời. “Tôi sẽ nói cho các vị nghe...” Craig tiếp tục nói mà không thèm động tâm. “Bennett, chính ông đã biển thủ số tiền đó cho việc làm ăn của mình. Thay vì chịu cảnh bị phát hiện, ông đã tới gặp Billy McLoughlin và đề nghị bán đứng chiến dịch tranh cử của phe Cải cách để lấy tiền bù lại vào chỗ đó. Nhờ sự trợ giúp của tên lừa đảo kia, Hanford, công cụ của McLoughlin, ông đã tỉ mỉ vạch ra một kế hoạch tống tiền Travis bằng những bức ảnh giả. Ông biết đủ rõ về địa chỉ nhà và thư viện của Travis để có thể dàn dựng một vụ trộm vào một đêm nọ, khi ông đang ở đó với anh ta. Phải có tay trong trong vụ này, tôi đã phát hiện ra điều đó, chỉ bằng một cái liếc mắt thôi. Travis ạ, tôi rất tiếc phải nói với anh niềm tin của anh đã bị đặt nhầm chỗ. Chính Bennett là người đã trộm đồ của anh và còn tệ hơn thế nữa!”

“Thế nhưng Cadwalader Brown, một kẻ lúc nào cũng thân thiết với thuộc hạ của mình, tức Billy McLoughlin, đã nghe Xaẵ được chuyện đó. Với ông ta, nó lại khơi ra một ý tưởng hoàn toàn khác. Với ông ta, nó sẽ mang lại một cơ hội để lật đổ được kẻ thù chính trị kiêm đối thủ đáng căm hờn trong cuộc chiên tình trường với cô Ashton. Thêm vào đó, biết đâu nó còn có thể làm cô ấy cảm thấy ghê tởm chính trị, khiến cô ấy vỡ mộng, cũng như làm lung lay niềm tin của cô ấy dành cho những điều mà ông ta cho là một vài trong những quan niệm “cấp tiến” của cô ấy. Tất cả đều có thể đạt được chỉ bằng “một cú đánh”. Người ta vẫn bảo rằng sổ séc chẳng biết tí gì về chính trị, nhưng Bennett đã học được vài điêu. Tôi dám nói là thế. Và để bảo vệ thanh danh của chính mình, ông ta sẽ trả lại những gì ông ta từng cố gắng biển thủ.”

Travis gần như vẫn chưa thể tin được. “Làm sao ông có được gợi ý đầu tiên vậy?” Anh ta há hốc miệng kinh ngạc.

Kennedy đang đào bới bức tường với một tệp hóa đơn ở nơi anh đã chôn chiếc đĩa lưu hóa nhỏ của mình. Tôi vốn đã đoán ra đó là một chiếc máy truyền thanh, mặc dù tôi không thể xác định nó được sử dụng như thê nào hoặc ai là người sử dụng nó. Nó ở đó, được đặt vuông vức trong lớp vữa. Ngoài ra còn có các dây điện chạy ngẩm dưới tấm thảm trải sàn. Khi anh nhấc tấm thảm trang trí dưới bàn làm việc của cô Ashton lên, ở đấy cũng có những vòng dây điện khổng lồ. Tất cả chỉ có vậy.

Lúc này, cô Ashton bước lên phía trước. “Vào thứ Sáu tuần trước...” Cô ấy nói bằng một giọng khe khẽ. “Tôi đã đeo một chiếc thắt lưng có giấu một cuộn dây điện quanh eo mình. Từ cuộn dây điện đó, một sợi dây chạy ngẩm dưới áo khoác của tôi, nối với một cục pin khô nhỏ trong túi áo. Trên đầu, tôi đội một thiết bị, giống như chiếc điện thoại mà mấy cô gái vẫn thường mang cùng ống nghe ở một bên tai được tiếp pin. Không ai nhìn thấy nó, vì tôi đã đội một chiếc mũ rất lớn, thứ hoàn toàn che giấu được nó. Nếu có ai biết chuyện và có nhiều cặp mắt cùng dõi theo, mọi sự sẽ đổ bể. Tôi có thể đi lại loanh quanh, chẳng ai nghi ngờ gì. Nhưng khi đứng dậy hoặc ngối vào bàn làm việc của mình, tôi có thể nghe thấy mọi điều được thốt ra trong văn phòng của ông Bennett.”

“Nhờ hiện tượng cảm ứng...” Kennedy giải thích. “Các xung lực được thiết lập trong chiếc máy truyền thanh giấu kín kia sẽ tạo ra các dòng điện trong những cuộn dây được giấu dưới tấm thảm trải sàn này. Chúng đã được sao chép không dây bằng hiện tượng cảm ứng trong cuộn dây điện quanh eo cô Ashton và tác động tới ống nghe bên dưới chiếc mũ rất hợp với cô ấy. Hãy kể nốt phần còn lại đi nào, cô Ashton.”

“Tôi đã nghe thấy thỏa thuận được dàn xếp với tay Hanford này.” Cô ấy nói thêm, gần như thể đang thú nhận điều gì đó. “Nhưng không hiểu rõ ngọn ngành về nó như ông Kennedy đã hiểu, tôi đã vội vàng lên án anh Travis. Tôi đã nghe được chuyện trả lại hai mươi ngàn đô la vào các tài khoản của chiến dịch tranh cử, cũng như năm ngàn đô la được trả cho Hanford liên quan tới việc chụp ảnh của ông ta. Và cả cái cách anh £

Travis sẽ bị đánh bại cho dù anh ấy có trả tiên hay không. Tôi

nghe họ bảo có một điếu kiện rằng tôi chính là người phải mang tiền giao dịch. Ngoài ra, tôi đã nghe được rất nhiều điều mà chắc hẳn đã giúp khẳng định được mối nghi hoặc của ông Kennedy theo một cách nào đó và của tôi theo chiều hướng ngược lại, điều mà bầy giờ tôi mới biết là không phải sự thật. Sau đó, Cadwalader Brown trong phòng chụp ảnh đã chế nhạo tôi với vẻ đầy cay độc và... và điều đó khiến tôi rất đau lòng, vì dường như ông ta đã nói đúng. Tôi hy vọng anh Travis sẽ tha thứ cho tôi, chuyện tôi từng cho rằng hành vi phản bội của ông Bennett chính là của anh ấy.”👁️

Một tiếng hò reo vang dội bỗng òa lên giữa các nhân viên phụ trách sổ sách trong văn phòng bên ngoài. Một cậu bé vội vàng lao vào phòng cùng một bản báo cáo vẫn còn chưa ráo mực. Kennedy chộp lấy nó và đọc:

“McLoughlin đã nhượng lại thành phố cho Travis do có ít hơn nửa tổng số phiếu bầu, ước tính trên mười lăm khu vực bầu cử. Điều này đã xác nhận thắng lợi của Liên đoàn Cải cách trong toàn bang.”

Tôi quay sang Travis. Anh ta đã chẳng còn để tâm tới điều ý gì ngoại trừ lời xin lỗi đẹp đẽ kia của Margaret Ashton.

Kennedy kéo tôi ra ngoài cửa. “Chúng ta cũng có thể nhường cô Ashton cho Travis rồi đấy...” Anh nói, vui vẻ bổ sung thêm. “Bằng hiện tượng cảm ứng của một cánh tay vòng qua eo. Hãy cùng ra ngoài và ngắm nhìn đám đông thôi nào!”

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của arthur b. reeve