.
Bàn Tay Đen, hay La Mano Nera trong tiếng Ý, là một phương pháp thu tiền bảo kê được thực hiện bởi các băng đảng Camorra và Mafia. Phương pháp này ban đầu được phát triển vào thế kỷ mười tám và đã du nhập tới Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ mười chín cùng những người nhập cư. ↩
☆
Spaghetti là một thực phẩm thiết yếu của ẩm thực Ý truyền thống. Giống như các loại mì ống khác, mì spaghetti được làm từ lúa mỳ xay, nước, đôi khi được bổ sung thêm vitamin và khoáng chất. ↩
☆
Rượu vang Chianti là một loại rượu vang đỏ đến từ Tuscany, Ý. Khi ở trong ly, Sangiovese sẽ có màu đỏ ruby với những đốm sáng của màu cam cháy sáng. ↩
☆
Pagliacci là vở bi kịch nổi tiếng của nhà viết kịch người Italy Ruggero Leoncavallo. Bằng hình thức sân khấu lồng trong sân khấu, vở kịch là câu chuyện đẫm nước mắt về số phận của những anh hề “giấu nước mắt vào bên trong để đem đến nụ cười cho khán giả”. ↩
☆
Globulin miễn dịch là các kháng thể có bản chất là glycoprotein có vai trò giúp cho hệ miễn dịch nhận biết và chống lại các tác nhân lạ xâm nhập. ↩
☆
Lactose là đường tự nhiên có trong sữa động vật hay các sản phẩm từ sữa như sữa tươi, kẹo sữa,... hay còn gọi là đường tự nhiên trong sữa có vị ngọt. ↩
☆
Strychnine là một loại chất kiềm kết tinh có độc tính cao, không màu, đắng, được sử dụng làm thuốc trừ sâu, đặc biệt để tiêu diệt các động vật có xương sống nhỏ như chim và động vật gặm nhấm. Khi hít hoặc nuốt phải sẽ gây ngộ độc dẫn đến co giật cơ và cuối cùng là tử vong do ngạt. ↩
☆

“Và ngày mai, chúng sẽ lại đưa ra thêm một dấu hiệu khác để chứng minh thế lực của mình.” Gennaro rên rỉ. ↩
☆
Anglo-Saxon hay Anh-Sắc là một dân tộc sống tại Đảo Anh từ thế kỷ năm Công nguyên, gồm những người có gốc từ các bộ lạc German cổ tới từ lục địa châu Âu. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức, lịch sử, dân tộc, và văn hóa Anh cũng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của họ. ↩
☆
Người Latinh là một bộ tộc gốc Ý mà từng là những cư dân đầu tiên của Roma. ↩
☆
Camorra là một trong những gia tộc tội phạm lớn mạnh và tàn ác bậc nhất nước Ý, có lịch sử hình thành từ thế kỷ mười sáu, do người Tây Ban Nha tới Ý nhập cư dựng lên. ↩
☆
Limousine là một dòng xe có kích thước lớn với thiết kế phân vùng khoang hành khách và khoang lái. Phương tiện có trục chính dài, thường được thiết kế có hơn bốn cửa. ↩
☆
Một đồng xu Hoa Kỳ trị giá 50 xu, tức là một nửa của một đô la. ↩
☆

Người đàn ông với dáng vẻ sát khí lại bước vào và khịt mũi hít ngửi. ↩
☆
La malavita là một từ tiếng Ý có nhiều nghĩa. Nó thường được dùng để chỉ thế giới ngầm tội phạm hoặc “vùng đất băng đảng”, cuộc sống băng đảng, thế giới đấu giá và tội phạm có tổ chức nói chung, đặc biệt là tội phạm có tổ chức ở Ý. ↩
☆
Carabinieri là đội cảnh binh quốc gia của Cộng hoà Ý, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ an ninh trong nước. Đây là một trong những cơ quan thực thi pháp luật chính của nước Ý, cùng với Lực lượng Cảnh sát Nhà nước và Lực lượng Cảnh sát Kinh tế. ↩
☆
Cừu đen (black sheep) dùng để ám chỉ một thành viên nào đó trong gia đình, trong công ty, trong đội bóng... có tính cách khác biệt, nếu không muốn nói là dị biệt so với các thành viên còn lại. Giống như một con cừu đen vô tình lọt vào giữa bầy cừu trắng. ↩
☆
Hiện nay, mệnh giá lớn nhất của đồng USD được sản xuất là 100 USD. Từ năm 1946, Mỹ đã ngưng in các tờ tiền có mệnh giá 1.000 USD và lớn hơn như 5.000 USD, 10.000 USD và thậm chí là 100.000 USD. ↩
☆
Đây là một câu truyện trong Kinh thánh kể về Daniel, một nhà tiên tri, đã diễn giải những dòng chữ bí ẩn được viết bởi một bàn tay không có cơ thể lên tường của cung điện, nói rằng triều đại của vua Belshazzar sẽ bị lật đổ. ↩
☆
(Tiếng Ý) Cảnh sát tới! Cảnh sát tới! ↩
☆

Trước mặt tiền của quán Albano, một cuộc chiến thú vị đang diễn ra. ↩
☆
Tủ com mốt là loại tủ nhiều ngăn, dùng để chứa đồ trong nhà, chủ yếu là quần áo, sách vở và những món đồ nho nhỏ khác. ↩
☆
Tên gốc là The Taming of the New Woman. ↩
☆
Amoniac(NH3) là một chất vô cơ, thường tồn tại ở dạng khí, không màu. Amoniac hóa lỏng nhìn giống nước, không màu, có mùi hôi hăng nồng đặc trưng. Nồng độ amoniac lớn có thể gây chết người. ↩
☆
Xyanua là một chất cực độc có thể gây chết người chỉ với một lượng rất nhỏ. Chỉ cần 50mg-200mg xyanua hoặc hít phải 0,2% khí xyanua có thể giết chết ngay lập tức một người trưởng thành. ↩
☆

Một có gái với tương lai rực rỡ trên sân khấu đã được phát hiện trong tình trạng bất tỉnh... ↩
☆
Muối ngửi là hợp chất giúp tăng cường hiệu suất hoạt động của con người, sử dụng trong những trường hợp bị bất tỉnh, tuy nhiên nó tiềm ẩn nhiều nguy hại tới sức khỏe. ↩
☆
Cyanogen ((CN)2) ở nhiệt độ phòng là một khí không màu, mùi hăng và cũng rất độc. ↩
☆
Axit malic (C4H6O5) là một loại axit trái cây thuộc họ axit alpha hydroxy (AHA). Hoạt chất này được tìm thấy phổ biến trong trái cây, rau, rượu vang. Axit malic là chất lỏng, tan nhiều trong nước, có mùi thơm của táo. Thành phần chính làm nên vị chua của táo chính là do axit này. ↩
☆
Thủy ngân(ll) clorua (HgCI2) là một chất rắn tinh thể màu trắng dùng làm chất thử trong phòng thí nghiệm. Ngày trước nó được dùng để điều trị bệnh giang mai, nhưng hiện tại không còn dùng cho các mục đích y học vì độc tính của thủy ngân rất nguy hiểm. ↩
☆
Thủy ngân(l) chloride (Hg2CI2) là một hợp chất hóa học, tồn tại dưới dạng chất rắn màu trắng hoặc vàng-trắng, không mùi. ↩
☆

...tôi với tay lấy hai quả táo. Tôi thúc ép bà ấy ăn một quá, kể cả lõi và không chừa lại chút nào. Còn tôi ăn quả còn lại, rồi cũng làm y như vậy. ↩
☆
Hydro peroxide (H2O2) hay còn được biết đến với cái tên thân thuộc “Oxy già”, có tác dụng làm sạch vết thương, ngăn ngừa nhiễm trùng và khử mùi. ↩
☆
Axit hydrocyanic (HCN) là một loại axit rất độc (từ 2 đến 3 giọt có thể giết chết một con chó). ↩
☆
Oxamide ((CONH2)2) là hợp chất hữu cơ, được sản xuất từ hydro xyanua, oxy hóa thành xyanogen, ~ sau đó thủy phân. ↩
☆
Thanh giáo là những người theo đạo Tin lành ở Anh vào thế kỷ mười sáu và mười bảy, những người đã tìm cách thanh lọc Giáo hội Anh khỏi các tập tục Công giáo La Mã, cho rằng Giáo hội Anh chưa được cải cách hoàn toàn và nên trở thành Tin lành hơn. ↩
☆

“Lạy Chúa!” Ông ta kêu lên đầy thảng thốt. “Tôi vô tội như ông trong tội ác này vậy, giáo sư Kennedy ạ.” ↩
☆
Quinoline (CgH7N) là một chất lỏng hút ẩm không màu với mùi mạnh. Các mẫu tuổi, đặc biệt là nếu tiếp xúc với ánh sáng, trở thành màu vàng và sau đó là màu nâu. ↩
☆
Bạc nitrat (AgNO3) là một muối của axit nitric, tan tốt trong nước và có màu trắng. ↩
☆
I-ốt là tinh thể có màu tím thẫm hoặc xám, có thể thăng hoa tại nhiệt độ thường tạo ra chất khí màu tím hòng kèm mùi khó chịu. ↩
☆
Amoni clorua (NH4CI) là một hợp chất vô cơ, tồn tại dưới dạng muối tinh thế, có màu trắng. Không màu, không mùi, vị mặn, có tính hút ẩm, tan nhanh và mạnh trong nước. ↩
☆
Vôi sống hay còn gọi là canxi oxit (CaO) là một chất rắn, màu trắng, rất nhạy với độ ẩm, dễ hấp thụ CO2 và nước trong không khí. ↩
☆
Thủy ngân nitrat (Hg2(NO3)2) là một loại bột tinh thể không màu hoặc hơi vàng, mùi axit nitric, hút ẩm và có độc tính cao. ↩
☆
Sắt clorua (FeCI3) tồn tại ở dạng khan là những vẩy có tinh thể màu nâu đen hoặc phiến lớn hình sáu mặt. Nó được dùng làm tác nhân khắc axit cho bàn in, chất cẩm màu, chất xúc tác,... ↩
☆
Axit sunfuric (H2SO4) là một chất lỏng sánh như dầu, không màu, không mùi, không bay hơi, nặng gần gấp 2 lần nước. ↩
☆
Potash là tên gọi chung cho bất kì của một số hợp chất có chứa kali, chẳng hạn như kali cacbonat (K2CO3), kali oxit (K2O) và kali clorua (KCI). Các hợp chất này được sử dụng chủ yếu trong sản xuất phân bón. ↩
☆
Chloroform là chất lỏng không màu, dễ bay hơi, có mùi gần giống ether. Đây là một chất gây mê đường hít, tác dụng đến thần kinh trung ương gây chóng mặt, mệt mỏi và ngất. ↩
☆
Nitroglycerin (C3H5(NO3)3) là một chất lỏng đặc, không màu, như dầu, gây nổ phổ biến nhất được sản xuất bằng cách nitrat hóa glycerol với axit nitric bốc khói màu trắng trong điều kiện thích hợp với sự hình thành este của axit nitric. ↩↩
☆
Có thể là thủy ngân(ll) fulminat (Hg(CNO)2) hoặc bạc(l) fulminat (AgCNO). Thủy ngân(ll) fulminat rất nhạy cảm với ma sát, nhiệt và chủ yếu được sử dụng như một kích hoạt cho các vật liệu nổ khác trong mũ gõ và nổ mìn. Bạc(l) fulminat là một muối của axit fulminic, rất độc, nó nhạy nổ hơn cả thủy ngân(ll) fulminat hay các fulminat khác và có thể nổ ngay trong nước. ↩
☆

Bà ta ném cho anh một cái nhìn khinh bỉ. ↩
☆
(Tiếng Pháp) Bồi bàn, hóa đơn... nhanh lên nào. ↩
☆

O’Connor đã giơ cả hai bàn tay lên va đập mạnh chúng xuống hai tay vịn ghế của ông ấy. ↩
☆

Có phải gã này đang bị điên rồi không? Có phải cú đánh kia đã ảnh hưởng tới não của anh không? Anh đang ở đây, cố gắng nói chuyện với một chiếc máy ảnh cơ đấy. ↩
☆
Nguyên văn: “side-door Pullman”. Đây là từ tiếng lóng của dân lao động nhập cư vào nước Mỹ để chỉ một toa tàu chở hàng có cửa bên hông mở giúp bạn dễ dàng “lậu” được một chuyến đi. ↩
☆
Mẫu ghế Morris đàu tiên được giới thiệu vào năm 1866. Không giống như loại ghế nằm thư giãn, ghế Morris có đặc trưng là lưng ghế cao và ngã ra hướng sau và tay vịn cao. ↩
☆
vỏ bào là những mảnh mỏng, nhỏ và xoăn từ gỗ rơi ra khi bào. ↩
☆
Parafin (hay paraffin oil) là một loại nhiên liệu, được chiết xuất từ dầu thô tinh khiết. Hóa chất này được sử dụng chủ yếu làm dầu đốt đèn cho thắp sáng (đèn cầy). ↩
☆
Từ “spark” trong tiếng Anh vừa có nghĩa là “tia lửa”, “tàn lửa”, vừa có nghĩa là “một người vui tính”. ↩
☆
Hệ thống phân loại cấp độ nghiêm trọng của các vụ hỏa hoạn ở Anh thường gồm năm cấp độ được đánh số từ 1 đến 5. Các cấp độ hoả hoạn khác nhau dựa trên các yếu tố bao gồm nơi bắt đầu đám cháy, nguyên nhân gây ra đám cháy và liệu có bất kì hóa chất nào được sử dụng trên các vật liệu dễ cháy có liên quan hay không. Ở đây, nhân vật McCormick đang muốn nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng và khó kiểm soát của tình hình. ↩
☆

Tôi quay phắt người lại trên chiếc ghế. “Không đời nào!” Tôi khẳng định với vẻ đầy hoài nghi. Chẳng có bất cứ phụ nữ nào dùng những ngôn từ như vậy cả” ↩
☆
Thomas Penson De Quincey (1785-1859) là một nhà văn, nhà tiểu luận và nhà phé bình văn học người Anh. ↩
☆
Niken là một kim loại màu trắng bạc, bề mặt bóng láng. Đặc tính cơ học: cứng, dễ dát mỏng và dễ uốn, dễ kéo sợi. ↩
☆

McCormick cũng không còn vẻ bình tĩnh kia nữa “Chuông báo đó không phải ở khu mua sắm. Ông ấy gtải thích, cảm thấy nhẹ nhõm hơn rất nhiều. ↩
☆
Ete là một loại hợp chất hữu cơ chứa một nhóm ete, trong đó nguyên tử oxy được liên kết với hai nhóm alkyl hoặc aryl. Ở nhiệt độ phòng và dưới áp suất cao, ete thường dễ cháy. ↩
☆
Carbon dioxide (CO2) là một chất khí dễ hóa lỏng, không màu có thể gây ngạt thở ở nồng độ cao. ↩
☆
Sulfur dioxide (SO2) là một chất khí, không màu, có mùi hắc đặc trưng, rất độc. ↩
☆
Ben Hur là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết Ben-Hur: A Tale of the Christ của tác giả người Mỹ Lew Wallace (1827-1905). Cuốn sách được xuất bản vào năm 1880, kể về Judah Ben-Hur, một quý tộc Do Thái sống tại Jerusalem trong thế kỷ thứ nhất, nhưng đã bị người anh em kết nghĩa của mình là Messala, một sĩ quan La Mã, phản bội. Sau đó, Ben Hur phải sống kiếp nô lệ trước khi được trả lại cuộc sống tự do và trở thành một người huấn luyện giác đấu. Cuộc đua ngựa mang tính sống còn giữa Ben-Hur và Messala được coi là một cuộc đua ngựa huyền thoại. ↩
☆
Backdraft (hay backdraught) là hiện tượng xảy ra khi một lượng không khí mới khuyếch tán nhanh vào trong phòng kín đang diễn ra sự cháy với nhiệt độ đủ lớn để tạo ra sự bùng cháy đột ngột. Đây là hiện tượng nguy hiểm nhất trong các vụ cháy, có thể thổi bay người đứng gần và cộng với nhiệt độ cao có thể gây tử vong dễ dàng. ↩
☆
Tơ-rớt hay công ty tơ-rớt là một nhóm lớn các doanh nghiệp có chung lợi ích kinh doanh cùng với sức mạnh thị trường đáng kể, thường dưới dạng một công ty cổ phần hoặc một nhóm các công ty hợp tác với nhau. ↩
☆
Nguyên văn: “turn state’s evidence”. Đây là thuật ngữ trong luật pháp Hoa Kỳ chỉ việc một tên tội phạm đồng ý thừa nhận mọi tội trạng của bản thân và đứng ra làm chứng với tư cách là nhân chứng của bang nhằm chống lại các đồng đảng, đồng lõa của mình, thường là để đổi lấy sự khoan hồng của pháp luật khi tuyên án hoặc được miễn truy tố. ↩
☆
Một thiết bị hình bình hành dùng để sao chép một bản vẽ hoặc một mẫu vẽ đã có sẵn. ↩
☆

Kennedy xé phần nội dung đó ra khỏi chiếc máy truyền điện bằng chữ viết rồi vung vẩy nó trên đầu ↩
☆

“Tôi sẽ chiến đấu đến cùng cho dù có phải tiêu sạch từng đồng đô la mà mình có.” Travis tuyên bố. ↩
☆

Craig lắp đặt máy ảnh của mình một cách cực kì cẩn thận. ↩
☆
Alphonse Bertillon (1853-1914) là một sĩ quan cảnh sát, nhà tội phạm học người Pháp và là người đã áp dụng kỹ thuật nhân trắc học vào thực thi pháp luật và tạo ra một hệ thống nhận dạng dựa trên các phép đo vật lý. Ngoài ra, Bertillon còn là người phát minh ra ảnh chụp chân dung tội phạm trong hồ sơ lưu của cảnh sát. ↩
☆
Portrait par le là một thuật ngữ tiếng Pháp dùng để chỉ bức ảnh của nghi phạm ở cả hai góc nhìn chính diện và nhìn nghiêng. ↩
☆

“Tôi mong được gặp cô vào sớm ngày mai cô Ashton.” Kennedy nói. ↩
☆
Nguyên văn: “the feet of her idol had turned to clay”. Trong tiếng Anh, thành ngữ “feet of clay” (nghĩa đen là đôi chân bằng đất sét) được dùng để ám chỉ một ai đó mà bạn tôn trọng hoặc ngưỡng mộ hóa ra lại có những điểm yếu và lỗi lầm nghiêm trọng mà bạn không hề nhận ra trước đó. ↩
☆
Nguyên văn: “dough day”, cụm từ dùng để chỉ một ngày không lâu trước cuộc bầu cử, trong đó “bột nhào” - hay chính là tiền bạc được sử dụng chủ yếu để mua phiếu bầu trong cuộc bầu cử - sẽ được phân phát cho các thành viên của một đảng. ↩
☆
Louis-Jacques-Mande Daguerre (1787-1851) là một nghệ sĩ, nhà vật lý học người Pháp, người được công nhận cho sự phát minh ra quy trình nghệ thuật chụp hình thực tiễn. ↩
☆
Phơi sáng kép hay còn gọi là ảnh chồng lớp (tiếng Anh: double exposure) là kỹ thuật chụp hai lần (tận dụng hai nguồn sáng với cường độ và thời gian chiếu sáng khác nhau) trên cùng một tấm phim. ↩
☆
Máy ảnh lỗ kim là một loại máy ảnh không có ống kính, cực kì đơn giản, chỉ cần một chiếc hộp, một lỗ siêu nhỏ ở một mặt hộp (lỗ kim) để ánh sáng đi qua tới giấy ảnh đính ở mặt đối diện. ↩
☆
Giambattista della Porta (1535-1615), còn được gọi là Giovanni Battista Della Porta, là một học giả, nhà thông thái và nhà viết kịch người Ý. ↩
☆
Camera obscura (tiếng Latin nghĩa là “phòng tối”) là một thiết bị quang học dẫn đến nhiếp ảnh và máy ảnh chụp ảnh. Thiết bị bao gồm một chiếc hộp hoặc một căn phòng với một lỗ ở một bên. Ánh sáng từ một cảnh bên ngoài đi qua các lỗ và chiếu vào một bề mặt bên trong, nơi nó được sao chép với hình ảnh ngược lại, nhưng với màu sắc và cảnh được giữ nguyên. ↩
☆

Tôi hy vọng ông Travis sẽ tha thứ cho tôi. ↩