Mưa rả rích cả tuần, da trời thâm bầm xám ngoét như môi thằng nghiện. Đồi lúp xúp, đìu hiu trong chiều lạnh. Những rạch chè dài hun hút đến vô tận. Lẻ loi những thân cọ chơ vơ, tán lá ủ dột trĩu xuống vì nước, chốc chốc lại rùng rùng, đành đạch khi có dọn gió dưới thung thổi hất lên.
Gió mang tối xuống nhanh. Trên con đường dẫn vào xóm Chè trơn như mỡ đổ, thấp thoáng bóng một người đàn bà chửa vượt mặt đang dò dẫm từng bước. Khối bụng lặc lè nhắc nhở chị ta thận trọng, phòng những cú sảy chân bất ngờ. Trên lưng, chiếc ba lô to như chực kéo người ngửa về sau.
Ì ạch leo đến giữa đồi, thốt nhiên người đàn bà ngồi sụp xuống vạt cỏ. Thán khí từ phổi tranh đường ra qua mũi, qua mồm. Hơi thở dốc qua đi, chị chống tay vào cỏ, định đứng dậy đi tiếp. Đường về nhà còn xa, phải qua hai mỏm đồi thế này mới tới, mà trời đã nhập nhoạng.
Chợt từ đâu le lói một cơn đau, âm ỉ ở vùng lưng dưới. “Chắc do đi bộ quãng đường xa, khó chịu nên em đạp?” Người đàn bà nhìn xuống bụng, cười mỉm rồi quyết định ngồi lại, hy vọng một lát cơn đau sẽ dịu đi. Luồn trong lớp áo mưa, đôi tay người mẹ xoa xoa, vỗ về đứa con trong bụng, thì thào: “Ngủ ngoan, bé bỏng của mẹ!”.
Mưa vẫn quất vào mặt, tóc bết dính, dẫn nước luồn lách qua cổ, qua nách, xuống bụng. Người đàn bà run lên bên con đường nhạt nhòa trong mưa. Như là tự nhủ phải về được đến nhà trước khi tối hẳn, chị quả quyết đứng dậy nhưng rồi lại khuỵu xuống. Một cơn đau mới lại đến. Đau thốc từ sau ra trước, tưng tức nơi cửa mình. Hôm trước khám thai, bác sỹ bảo phải hai tuần nữa mới sinh cơ mà. Chị nhìn xuống bụng vẻ nghi hoặc, lo lắng rồi lại như tự trấn an mình. Nhưng sao vẫn đau, đau liên tục, đau theo nhịp vài phút một lần, như thể bị động thai. “Đừng, đừng con ơi, ở lại với mẹ, mẹ chỉ còn mình con!”, trong cơn vật vã trên vệ cỏ, lùng bùng giãy giụa giữa manh áo đi mưa, người đàn bà vẫn lảm nhảm những tiếng cầu xin…
Cơn đau mỗi lúc một mau hơn, lan nhanh từ vùng lưng dưới hông ra trước. Bụng dưới quặn lên vì co thắt, thúc đẩy. Háng ẩm ướt, hai bên đùi phía trong bỗng lép nhép. Sinh khí tứa ra.
- Thôi chết! Hay là chuyển dạ? Trời ơi!
Ánh mắt thất thần vụt nhìn xuống dưới, rồi dáo dác nhìn lên, nhìn ngang, như thể tìm một bóng người, một chỗ trú chân.
- Có ai không? Cứu tôi với? - Tiếng kêu lạc giọng vì sợ hãi của người sắp làm mẹ.
- Cứu, cứu với!
- Cứu!
Tiếng kêu yếu dần, tan vào vô vọng. Giờ này, trời này, chỉ một mình chị giữa mênh mông đồng đất. Trong xa xăm, đâu như có tiếng chó sủa tối vọng về. Trên đầu mây vần vũ, bồng bềnh tiền sử. Trời càng lúc càng tối, vạt chè, tán cọ thoáng chốc đã biến sang màu đen dị hình. Từ đất đã vọng lên tiếng ri ri nỉ non của dế.
Chỉ có một mình! Tiếng khóc tức tưởi bật ra từ lồng ngực người mẹ trẻ, không chỉ vì cơn đau dứt ruột, mà ai oán như tủi phận, xót xa đến cùng cực.
“Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà vượt cạn mồ côi một mình”, câu ấy cũng chỉ nói đến lúc lâm bồn bình thường của người đàn bà, ở thời khắc họ cho cuộc đời những sinh linh mới mẻ. Đằng này, chỉ một mình chị cô độc tuyệt đối giữa bạt ngàn chè cọ, Không lúc nào ranh giới sống chết của cả hai mẹ con có thể mỏng manh hơn. Quay cuồng trong cơn đau, vòng xoáy màu máu đảo lộn rút con ngươi hướng lên trên, miệng há lưỡi thò khỏi cung răng. Đúng lúc ấy, như ảo giác, rõ ràng trong làn mưa bay từ nền trời đen ngòm, có ánh mắt đang nhìn xuống chị. Ánh mắt ấy lạ lắm, như thúc chị gắng lên, như chỉ dẫn cho chị cách thoát khỏi tình huống nguy hiểm hiện tại. Nó còn như van vỉ, cầu xin…
Đăm đắm vào cái nhìn tưởng tượng, chợt như có lửa bùng lên trong cặp mắt người đàn bà. Một cái gì đó thật dữ dội, quyết liệt đã trỗi dậy. Bản năng giống cái bảo vệ những đứa con của mình ư? Không rõ. Chỉ thấy người mẹ trở dạ ấy ngồi nhổm lên giữa bê bết bùn đất, rướn hết thị lực nhìn xung quanh. Kia rồi, lờ mờ bóng cọ. Cắn môi bật máu, người mẹ nén đau lết cặp mông trượt trên mặt đất từng chút, từng chút một. Cọ già, tán phủ rộng rãi như cái lọng của tự nhiên. Dưới gốc, một đống tàu lá khô vương vãi. Cũng không xa là đống cành chè dân đốn vụ trước còn vất ngổn ngang. Củi chè bền lửa, chỉ tội mưa gió ướt sũng thế này làm sao mà cháy được. Người đàn bà khó nhọc vơ lấy nắm cành chất vội thành bếp, nhét mấy tàu cọ già xuống dưới, rồi bàn tay run rẩy móc ra một hộp diêm, quýnh quáng quẹt lửa châm.
Khói um, mù mịt, chị nén đau ra sức thổi.
Hì hục, rồi ánh lửa cũng bùng lên, ma quái nhảy nhót.
Mồ hôi vẫn rịn ra theo từng cơn co thắt. Người mẹ trẻ lập cập mở chiếc ba lô, lấy mảnh áo mưa kê dưới mông, giật toang chiếc quần lót để chuẩn bị cho thời khắc vượt cạn, sẵn sàng đón đứa con bé bỏng chào đời bằng chính đôi bàn tay mình.
Vũ trụ chao đảo, người đàn bà quằn quại hét từng tiếng đứt quãng:
- Hùng ơi, khôn thiêng thì về đây cứu em, cứu con. Nối đời của anh đây, của dòng họ Vũ đây!
Lửa vẫn cháy rần rật trên mấy tàu cọ. Nước ối đã ra đẫm ướt mảnh nylon. Nỗi sợ cạn dịch thoáng vụt qua trong đầu, người mẹ nghiến chặt hàm răng rặn mạnh.
- Ra đi con, ra đi, mẹ xin con, Hùng ơi, cứu em, con ơi, thương mẹ… Ra đi, rồi mai mình về bà ngoại. - Người mẹ trẻ gào lên trong từng đợt co thắt, háng dang rộng, tay phải nắm chặt con dao ăn.
Nửa giờ vật vã, kết bằng một tiếng rú váng động. Bên dưới, đầu trẻ đã nhô ra khỏi ống sinh. Người mẹ dồn toàn sức cho cơn co bóp cuối cùng.
“Oe, oe”, bé trai dây rốn lòng thòng đã trườn khỏi lòng mẹ đi ra, cơn đau vụt tắt, chỉ còn những âm ỉ, giật giật khó tả miền bụng dưới. Phản xạ đón con xảy đến, khi tiếng khóc đầu tiên lọt vào tai người mẹ. Chị đảo chiều nằm, quay xuống cứa dao cắt rốn hài nhi rồi ấp nhanh bé vào lòng cùng mớ quần áo vương vãi. Bầu vú như tự tìm đến miệng trẻ. Không rõ sữa đã về chưa, chị bóp mạnh. Tiếng khóc ngằn ngặt làm người mẹ nhở đến đống lửa gần tàn. Bàn tay quờ quạng chất thêm mấy tàu cọ khô vào. Lửa lại in hình nhảy múa trong đôi mắt đang sáng rực vì sung sướng của người mẹ. Đêm nhích dần về sáng, người mẹ trùm cả đống quần áo đắp cho con.
Khi hài nhi thiếp vào giấc ngủ, chị cũng nằm vật ra, miên man. Thời gian bỗng đảo chiều chuyển động, kéo quá khứ hiện hình đầy ắp trong cơn mê mệt. Những tiếng nổ chát chúa như nện vào óc hôm nao, bỗng rền vang trong ký ức…
Ngoài tán lá, mưa cũng đã ngớt. Thi thoảng có giọt nước rơi xuống đống lá khô, lộp bộp như tiếng gà mổ ngô. Đống lửa leo lét tàn dần nhưng cũng đủ giữ cho hai mẹ con họ qua đêm thu mưa gió trên triền đồi heo hút ấy.
-
Ánh trăng non đầu tháng, không đủ cường lực để xuyên thủng lớp giáp của rừng. Dòng người lầm lũi chuyển động theo sau ánh đèn pin loang loáng. Câm lặng. Chỉ có tiếng lách cách khe khẽ của kim khí chạm nhau. Sau cơn mưa ban chiều, muỗi tủa ra từ bụi, u u rờn rợn. Thảng hoặc, có con gì thấy động vụt bỏ chạy. Những tiếng xột xoạt bất ngờ phát ra từ bụi rậm tối ngòm, làm tốp người khựng lại, dò xét rồi lại ngập ngừng bước tiếp. Cây gậy trên tay khua khua, đập đập về phía trước, sang hai bên đường mòn, để tránh những cú táp bất ngờ của con cạp nong, hổ mang nào đấy.Đêm xuống, rừng đen ngòm như một cái bẫy khổng lồ, chờ đợi những cái sa chân. Trên đầu, những búi dây leo quềnh quàng, búa xua xuống trước trán. Trong đấy, biết đâu chẳng có những con lục xà đang thả mình…
Hơn ba giờ đi bộ, lõi của rừng đã ở lại phía sau. Những tán lá ken trên đầu bớt dày. Từ ống nhòm đêm, đập vào mắt là một thung lũng hẹp, tạo thành giữa ba khe núi, như cái miệng nơm úp. Mờ mờ hiện ra một con đường mòn hình con rắn, đang ngoằn ngoèo trườn đi giữa các khe núi. Phía sau đã là vành đai biên giới.
Tin trinh sát báo về, độ quá nửa đêm sẽ có cuộc giao hàng lớn ở đây. Người cầm đèn pin đi đầu nói nhỏ: “Nghỉ tại chỗ mười phút, tranh thủ hội ý!”. Tốp người tản ra, vặn vẹo đỡ mỏi rồi vạch quần xả nước ồ ồ. Sảng khoái. Có tiếng hỏi nhỏ:
- Thuốc lá đâu? Tao điếu, mày!
Những đốm lửa lập tức được chuyền nhau, lập lòe đom đóm.
- Muốn chết à? Tắt thuốc ngay, ngu thế! Ngồi cả xuống đi! - Tiếng quát khẽ nhưng đầy uy lực. Những điếu thuốc nhả vội khỏi mồm, rơi xuống đất. Bàn chân di di.
- Lát nữa, chúng sẽ giao nhận hàng dưới thung lũng. Bây giờ thằng Linh phụ trách tổ 1 vận động ra phục hai bên cánh gà của khe núi kia. Tổ 2 thằng Tuấn chỉ huy. Tuấn “đen” đâu? Mày dẫn năm anh em lùi lại rừng ngay, ém sát đường mòn. Thấy chúng đi qua, cứ để yên cho qua. Khi ta gọi hàng, bọn nó sẽ chạy tán loạn. Nếu qua chỗ chúng mày thì xông ra mà bắt, đừng để sổng thằng nào. Tổ 3 triển khai đội hình bao vây toàn bộ khu vực giao hàng. Hai chục khẩu AK tập trung ở đây, tạo thế gọng kìm, đợi chúng “chập” với nhau sẽ phang.
- Nếu nó “bật” lại thì ta được phép bắn hạ chứ?
- Nghe này! Cả hai nhóm không dưới mười thằng đâu, đều có AK, lựu đạn, nên chúng mày phải hết sức cẩn thận. Mặc áo giáp vào! Tìm thân cây to mà nấp! Đầu tiên ta sẽ gọi hàng, nếu chúng bắn lại thì cứ hạ súng tầm thấp mà “tiu” què chân cho anh. Vạn bất đắc dĩ mới phải tiêu diệt, vì tao cần những cái lưỡi còn cử động để khai. Lưu ý lúc bắn tạo góc bốn mươi lăm độ, kẻo phang nhầm vào nhau. Quy ước là bắn điểm xạ ba viên một. Tao hô xung phong, chúng mày đồng loạt xông ra nhé. Chú ý vồ tay, đừng để chúng kịp rút chốt lựu đạn. Còn anh chưa lao ra, cấm thằng nào manh động rời khỏi chỗ nấp. Nghiêm cấm nổ súng khi tao chưa có lệnh!
Có tiếng rì rầm bàn tán các tình huống có thể xảy ra lúc vào trận.
- Đội trưởng Thắng ơi em ở tổ nào anh? - Có tiếng con gái cất lên.
- Con Hoa, mày ở tổ anh, phụ trách liên lạc giữa các tổ bằng bộ đàm. Tý nữa mà có đàn bà thì mày khám!
- Nhớ chọc rồi ngoáy cho kỹ em gái, nhỡ nó giấu hàng! - Ai đó chêm vào rồi cười khùng khục.
- Vớ vẩn! Vào việc đi!
Tiếng lên đạn loạch xoạch. Những bóng đen tản ra rất nhanh, trả lại cho rừng cái yên tĩnh vốn có.
Chiều hôm trước.
Toàn “khỉ đốm” ngả người lim dim trên ghế phụ chiếc Lexus 470. Xe đang lao vùn vụt trên đường, trực chỉ hướng biên giới, chợt điện thoại đổ chuông. Một số máy lạ hoắc gọi tới, có số đuôi 919. Gã ngạc nhiên, số này chỉ có ông Trùm biết. Nhầm máy chăng? Gã uể oải cầm máy lên nghe. Mất toi cơn ngủ, khí nóng nghe như đã bốc tới mặt. Giọng nói chuẩn bị sẵng. Bỗng, đầu dây kia có tiếng rất quen:
- Nghe thôi, đừng hỏi! Sếp dặn mày cẩn thận. Bọn “cớm”1 đang làm mạnh. Lúc giao hàng đề phòng bọn A Tú chơi đểu. Có gì tao gọi lại.
Máy tắt phụt, đột ngột như lúc gọi đến. Toàn ngả người ra sau ngẫm ngợi. Mấy đứa ngồi sau hỏi với lên:
- Ai gọi đấy anh?
- Câm đi! Đéo phải việc chúng mày! - Toàn sẵng giọng.
Cuộc gọi bất ngờ khiến gã thấy bất an. Nỗi lo sợ không còn là điều gì mơ hồ nữa. Bởi gã đang ngồi trên chiếc xe chứa cả tạ “trắng”2, khác nào kẻ đang ôm bom. Gã biết đi chuyến này quá nguy hiểm. Đang cao điểm, Công an ra quân rầm rộ. Thằng nào ho he thò mặt ra hãy coi chừng. Mới rồi mấy đường dây lớn trong nước vừa bị hốt trọn, dắt díu nhau vào trại cả trăm thằng, chờ ngày ra tòa mà nhận án tử. Thành thử, hàng khan lắm, đội giá cao vọt. Khách đói hàng kêu như vạc, nhao nhao tìm nguồn cung. Bán ra lúc này một vốn trăm lời.
Toàn vào nghề đã có “thâm niên”. Nghề này đã thò chân vào thì khó mà rút ra. Khó, vì chỉ có nó mới thỏa mãn cơn khát tiền trong mỗi con người. Mỗi bánh kiếm lãi cả trăm triệu. Ban đầu, nhiều đứa bước chân vào nghề có thể là do những khó khăn, quẫn bách trong cuộc sống. Nhưng vào cuộc rồi, thấy tiền thật dễ kiếm, thì việc kiếm tiền trở thành đam mê lúc nào chẳng hay. Tiền có sức mạnh vạn năng, mang những giấc mơ sang giàu về trên mặt đất. Khi đã phè phỡn vì nhiều tiền, bước vào đẳng cấp của những kẻ sống trên tiền, thì chẳng còn cái phanh nào tồn tại trong đời nữa. Có những thằng nhiều tiền quá chẳng biết làm gì, bèn chôn cả hầm tiền dưới đất. Đêm nào cũng lén xuống thơ thẩn chơi với tiền. Chơi say mê, chơi chân thành. Chúng nó bảo, âm thanh vĩ đại nhất trên cuộc đời này là tiếng sột soạt của tiền khi mang ra đếm. Nó ngân lên những giai điệu mà những kẻ không tiền không thể hiểu được. Một điều nữa khiến những kẻ đã “ngồi trên thuyền” không thể nhảy xuống, buộc phải đi đến cùng. Đó là vì luật chơi.
Đợt trước, có thằng sợ chết gặp lão Trùm để thoái thác việc vận chuyển. Lão hỏi “sao lại thôi, thôi dễ thế á?” rồi đưa mắt cho mấy thằng hộ sát xúm vào tẩn cho nó một trận thừa sống thiếu chết, về sau Toàn không gặp lại thằng ấy nữa. Có lẽ xác nó đã dưới đáy sông hay mục ruỗng ở một xó xỉnh nào đó rồi. Và gã hiểu ra, đã cùng tổ chức, cùng đánh quả, ăn chia với nhau, biết hết chiêu thức và các mối làm ăn. Nay tự dưng bảo rút, rút là rút thế nào? Ai cho rút mà rút? Luật làm ăn, chỉ cần có ý định rút lui, là đã tự điền tên mình vào sổ khai tử. Bởi về nguyên tắc, không thể để thằng ất ơ nào đó nắm thông tin về mình mà lại không làm việc cho mình. Để nó sống, tức là thông tin có nguy cơ bị lộ lọt. Nên đã bỏ việc, thì phải cho nó im lặng vĩnh viễn. Lão Trùm chỉ cho lính tạm nghỉ ngơi, mỗi khi dính cao điểm bị “cớm” đánh mạnh. Nhưng khi yên ắng, phải trở lại với công việc. Đừng dại dột nghĩ đến chuyện “rửa tay gác kiếm”. Cuối cùng thì những thằng như gã đều có suy nghĩ giống nhau, đằng nào tay cũng đã “nhúng chàm”, buôn một bánh khác nào nghìn bánh. “Mẩu số chung” đều là tai chỉ kịp nghe một tiếng “bùm”, hay thấy nhói đau nơi bắp tay khi mũi tiêm thuốc độc chọc vào, rồi tất cả thành hư vô. Thành thử, kệ mẹ cho số phận đưa đẩy, dẫn dắt.
Làm cho lão Trùm, chứng kiến cách lão xử lý công việc, Toàn phục lăn. Bụng dạ lão Trùm sâu thăm thẳm, khó ai mang thước mà dò. Là người “túc trí đa mưu”, lão cùng lúc khoác mấy bộ mặt. Mà ở vai diễn nào, lão cũng rất tròn. Thành thử, mấy ai biết lão là trùm của trùm. Những năm trước, Toàn được lão cho đi theo sang Lào, để áp tải gỗ nhập cảnh vào Việt Nam. Làm mãi, rồi gã mới tình cờ được biết những xúc gỗ ấy là rỗng ruột. Chẳng rõ được khoét từ bao giờ, trở thành kho ma túy di động hoàn hảo. Có thánh mới phát hiện ra. Gã tính nhẩm, với từng ấy công gỗ đã áp tải về nước suốt mấy năm qua, thì lượng hàng trắng đã lên đến vài tấn chứ chẳng chơi. Nghĩ mà mồ hôi vãi ra như tắm, dù trời đang vào rét. Gã vỡ lẽ tiếp, thì ra những quyển đô hậu hĩnh lão Trùm phát cho gã trước đây là tiền công chuyển hàng.
Sợ không? Gã rất sợ. Nhưng dù có sợ lắm lắm, thì gã vẫn phải cung cúc tuân theo chỉ lệnh. Ánh mắt của lão Trùm chưa bao giờ khiến gã đủ dũng khí để mở miệng thoái thác nhiệm vụ. Cứ thế, gã nhắm mắt đưa chân, mặc cho con tạo đưa đẩy. “Sống chết có số” - gã tự trấn an mình thế. Dần dà, gã lấy được lòng tin của lão, rồi biết được những chuyện cơ mật. Thì ra lão Trùm là một kênh điều phối quan trọng của tuyến hàng trắng từ Tam Giác Vàng, qua Lào vào Việt Nam. Hàng tiêu thụ trong nước hoặc xuất đi Trung Quốc. Bán ở Trung Quốc thì được giá tốt hơn. Chỉ là khâu vận chuyển qua biên giới càng lúc càng khó. Sau đợt truy quét vừa rồi, còn thằng nào bên ngoài thì “són đái” cả, nằm im thở khẽ nghe ngóng động tĩnh. Nhân cớ này, Toàn “khỉ đốm” cũng định té đi nước ngoài “tránh bão” một thời gian.
Hôm nọ, vừa xách va ly ra sân bay thì Toàn bị lão Trùm gọi giật lại, bảo về có việc quan trọng cần làm ngay. Gã đi taxi đến thẳng khách sạn Nikko gặp lão, bụng chất chứa lo âu.
Căn phòng mù mịt khói thuốc lá, lão Trùm đi đi lại lại, nét mặt căng thẳng. Cốc rượu mạnh cầm trên tay sóng sánh theo bước chân lắc lư. Hồi lâu, lão lên tiếng:
- Tình hình căng lắm rồi. Bên kia bọn nó thúc tao rát quá!
- Đợt này bọn “cớm” đang làm gắt, hay ta cứ bảo nó thư thư đã, đợi yên ắng hẵng đi.
- Đéo được! Tiền đặt cọc của nó mình đã cầm nửa năm nay rồi. Mấy chuyến trước không chuyển được nên đọng quá!
- Còn thiếu của nó bao nhiêu ạ?
- 500 bánh!
- Khiếp! Nhiều thế cơ ạ? Bây giờ mình chuyển thế nào được? Đang cao điểm bọn “cớm” đánh mạnh quá. Vừa rồi bị bể hàng loạt đấy anh. Em sợ khó tìm bọn “bảo tiêu”!
- Sợ cũng phải làm! Đéo chuyển được chuyến này, chúng nó giết tao… Mày nghe thì biết! - Lão Trùm chợt sẵng giọng làm Toàn sợ xanh mắt.
Nói rồi lão rút trong túi áo ra chiếc máy ghi âm, nheo nheo mắt tìm lại đoạn đàm thoại với khách. Toàn nhận ra giọng thằng A Tú, nói tiếng Việt lơ lớ:
- Ông nên nhớ, với bọn này thì làm ăn là phải chuẩn. Tiền đặt cọc cầm rồi, tiêu rồi thì chẳng có lý gì mà đến hẹn tôi không có hàng. Hay ông tính chơi tôi? Tôi bảo này, “lệch” với ai chứ với chúng tôi là không có được. Ông biết tôi ít đùa mà!
Toàn biết, ai chứ đám A Tú đã nói thì hẳn không phải là dọa rồi. Nó là thằng đầu sai đắc lực của bọn A Khiêm - cầm cái nhánh Tam Hoàng ở mấy nước Đông Nam Á. Trước đây, hội này chỉ hoạt động sòng bài, cá độ, buôn gái, rửa tiền… Quãng chục năm nay, chúng ôm thêm mảng ma túy, hình thành ở các nước mạng lưới phân phối, bán buôn, bán lẻ. Thị trường tiềm năng nhất bây giờ chính là lục địa Trung Quốc. Lúc này trông lão Trùm không giấu được vẻ lo lắng, có thể lão rất sợ rằng chỉ cần sai hẹn thêm lần này, chuyện đao thương sẽ xảy ra. Tay chân của đám A Tú nhiều vô số kể, ở mọi nơi. Việc “bem”3 mấy thằng như lão dễ tựa lấy đồ trong túi. Có điều, trước nay lão vẫn làm ăn đàng hoàng tử tế nên lần chậm trễ này mới không bị xử, mà chỉ gọi thúc giục, cảnh cáo. Chứ nếu lão tính xù thật, thì có chui xuống đất chúng cũng móc lên.
- Chuyến này, đích thân mày phải đi. Tìm lấy khoảng chục thằng thạo việc, vũ khí đầy đủ để hộ tống xe hàng. Cho mày ba ngày để chuẩn bị! - Lão Trùm đột ngột hạ lệnh.
Thiếu chút nữa Toàn đánh rơi cái ly đang cầm trên tay. Vậy ra lão muốn gã đi giao chuyến hàng này cho A Tú tại vành đai biên giới. Nghĩ mà kinh, ôm mớ hàng to như thể đi nghễu nghện qua hàng trăm cây số, chỉ sơ xảy một chút gì là coi như xong.
Mồ hôi rịn vô thức trên khuôn mặt mai mái của kẻ từng vào tù ra khám. Gã len lét, cúi đầu nói lí nhí câu “vâng”. Gã không đủ gan để báo bận hay tìm cách thoái thác, bởi cặp mắt rắn đằng sau lớp kính trắng ấy đang xoáy đến tận đáy nhãn cầu của gã. Lão Trùm có thói quen như vậy - luôn áp chế người khác bằng tia nhìn lạnh, để tước đoạt mọi nỗ lực cự tuyệt.
Với Toàn, mệnh lệnh này không thể không tuân, vì ngoài sự sợ hãi thần phục, nó còn dịp để gã báo ân. Từ ngày vào chốn giang hồ, sống trong cạm bẫy, lừa lọc phản trắc, Toàn chỉ đội ơn duy nhất một người. Đó là lão. Trong gã, lão Trùm hiện lên như một đấng quyền lực, nhưng giàu lòng nhân, ít nhất là với riêng gã.
Toàn nhớ mãi ngày còn là thằng lưu manh trẻ trâu chiếu dưới. Mới tập tọe ra ràng, gã đành kiếm ăn độ nhật nhờ vào bảo kê thu “phế”4 của mấy động gái, sởi bạc. Sau vài năm tạo dựng được chút tên tuổi, gã gọi bọn “trẻ con” về dưới trướng, mở thêm nghề đòi nợ thuê. Sau mấy vụ tranh giành địa bàn thu tô, đâm chém lãng xẹt, gã nhập kho, án bảy quyển lịch. Ngồi trong trại, gã học thêm được khối ngón nghề, nên khát khao ngày về để thi triển. Một ngày đẹp trời, lão Trùm ghé qua trại thăm nuôi mấy thằng đệ tử. Tình cờ được gặp lão, cuộc đời Toàn đã rẽ sang một chương mới. Chẳng biết lão Trùm lo lót chạy vạy thế nào, mà chỉ một thời gian ngắn sau, Toàn được ra tù trước thời hạn. Công “vớt” gã ra từ trong trại giam nặng như núi, nhưng chưa hết. Toàn bộ số nợ tiền tỷ sau những trận cá độ “quên sầu”, lão cũng rộng tay trang trải cho. Vợ của gã, vốn dĩ là cô ả gái gọi cao cấp, gã đem lòng si mê bấy lâu nhưng không có phúc lại gần, vì thị đã thuộc về một thằng có số má. Về dưới trướng lão Trùm, đời gã bắt đầu lên hương, tiền vào như nước. Biết gã đã phê lòi mắt cô ả kia, lão bố trí một vụ đẹp để thằng đó vào khám. Rồi bằng tiền, lão đã mua cô nàng về để gả cho gã làm vợ. Ơn thế, sao trả cho hết. Bởi vậy, có phải nhảy vào lửa vì lão, Toàn cũng đâu dám từ nan.
Vụ vận chuyển này là “mệnh lệnh trái tim”. Dù có phải đổ máu, xộ khám hay “đi tàu suốt”5, gã không thể không nhận. Kết thúc cuộc gặp, lão Trùm cho gã ba ngày để chuẩn bị. Trước ngày xuất phát, kế hoạch vận chuyển được Toàn “khỉ đốm” tính đến từng chi tiết nhỏ nhất. Hàng được san làm bốn xe, bình xăng phụ và sàn xe dưới hàng ghế sau đã được gia cố thành thùng chứa hàng, ngụy trang cẩn thận. Nếu không bị “zích”6 thì có trời mà biết. Chưa yên tâm, hành trình của gã liên tục có xe đi trước thám thính và xe sau đoạn hậu. Tất cả bọn áp tải hàng đều phải để điện thoại ở nhà, cấm liên lạc với ai trong suốt hành trình. Đến biên giới, sẽ tập kết hàng ở nơi an toàn. Sau khi “khớp lệnh” với A Tú về ngày giờ, địa điểm giao nhận, cả bọn sẽ đi bộ gùi hàng vượt núi.
Thông tin bên kia báo địa điểm giao nhận ở thung lũng giáp vành đai biên giới. Điểm này rất sâu, đường đi rất hiểm trở, lại xa đồn biên phòng. Nếu có động thì tất cả cùng té sang Trung Quốc. Để thực sự yên tâm, Toàn cho người đi “tăm” trước địa hình.
Tính thì kỹ vậy rồi, nhưng sao gã cứ thấy nóng ruột khó tả. Hồi đầu năm đi coi tử vi, nhìn mặt ông thầy mà phát sợ. Gã gặng hỏi, ông mới sang tai rằng năm nay gã gặp hạn đao thương, cẩn thận bị chết thảm bởi “đại tiểu hạn trùng phùng”. Giải ra là mệnh có sao Tang, Hổ hội hợp, lại gặp cung tiểu hạn có lưu Tang, lưu Hổ chiếu vào. Ông thầy bói khuyên gã ra ngoài phải hết sức cẩn trọng và tránh đụng độ. Từ hôm ấy đi đâu gã cũng cố giữ gìn. Vậy mà chuyến đi này là chuyện chẳng đừng.
Chiều qua lúc vừa mở cửa định bước lên xe, con bồ thối mồm lại chạy theo hỏi với: “Anh đi có về không?”.
Phỉ phui cái mồm! Gã lừ mắt: “ĐCM, tao có chết đéo đâu mà không về?!”. Thị lắp bắp đính chính: “Em chỉ hỏi là có về ngay không”. Chưa đi đã bực mình, gã quay vào nhà xách thêm khẩu AK cưa nòng, xếp dưới gầm ghế phụ. Những thằng cùng đi cũng đã nai nịt gọn gàng. Chờ tín hiệu báo yên, gã từ từ cho chiếc Lexus lăn bánh ra cửa rồi vút đi. Ba chiếc Nissan cùng lần lượt bám sau.
“Cuộc điện vừa rồi của thằng nào nhỉ”? - Toàn băn khoăn mãi. Nghe giọng thì rất quen, đâu như tiếng thằng Huy “mỗ”, nhưng nó đang bên Lào cơ mà?!
-
Nhập nhoạng tối, bốn chiếc xe ô tô đã rẽ vào con đường mòn biên giới. Sương mù đã bay là đà, trùm lên một bức màn mờ ảo. Có tiếng chim lợn kêu eng éc vụt qua, dơi lao vút lên không trung như những mũi tên. Ánh sáng đỏ hắt ra từ những chiếc đèn hậu báo hiệu đoàn xe đã dừng lại. Qua màn sương, mờ mờ hiện ra một ngôi nhà xây bí hiểm lưng tựa vào đồi, chung quanh có tường xây cao vút.Từ bên trong có ai đấy ra kéo cánh cổng sắt. Khoảng sân rộng bên trong đã tối sậm, bỗng như con quái thú há mồm để cả bốn chiếc xe chui lọt vào. Mấy bóng người nhộn nhạo đi lại ngoài xe. Hai người đàn ông khoác súng chạy ra ngoài đường ngó nghiêng giây lát rồi chạy vào, kéo cánh cổng đóng sập lại. Có một giọng đàn bà the thé: “chuyển vào hầm đi”. Toàn nhảy xuống xe, thúc đàn em khẩn trương xuống hàng chuyển vào trong căn hầm bí mật trong vườn, căn hầm này gã đã quá quen thuộc, bên trong đủ chỗ cho bảy, tám người với lương thực, nước uống, lại có đường ăn thông ra chân núi, phòng khi có “động”. Trên nắp hầm chủ nhà đã đắp đất đê’ trồng rau ngụy trang.
cả bọn hì hụi khui hàng ra khỏi xe, xếp lên chín cái quẩy tấu7 rồi chuyển nhanh xuống hầm. Xong xuôi, cổng lại mở ra để bốn chiếc xe quay đầu rồi lăn bánh rời khỏi ngôi nhà ven núi. Không gian yên tĩnh trở lại. Thảng hoặc có tiếng rúc gọi bạn của lũ chồn núi, nghe ma quái, rờn rợn. Khi cả bọn Toàn đã yên vị dưới hầm, một mâm rượu thịt được dọn ra. Chúng bốc bải trong câm lặng, xem chừng uể oải, vẻ căng thẳng đang hằn rõ trên những khuôn mặt mai mái. Ngoài đường và trong sân, mấy thằng súng ống lăm lăm đang căng mắt quan sát. Yên lặng.
Đêm xuống, sương kết tủa trên lá thành nước, rỏ xuống lộp bộp. Liếc nhanh đồng hồ, Toàn bảo tất cả chuẩn bị. Vừa lúc định đi, bỗng đâu “mọc” ra bảy, tám gã người Mông nữa. Chúng đều cao lởn, mặt mũi dữ tợn, lúc lắc bên hông là những con dao mèo sáng loáng, chuôi lấp lánh khâu đồng, chắc bọn này vào hầm qua đường thoát hiểm. Một thằng ghé tai bảo Toàn điều gì đó, rồi cả bọn nhanh nhẹn khoác số quẩy tấu đầy hàng lên vai. Tay đèn pin, súng AK quàng dây qua cổ, nhóm tội phạm đi hàng một, lặng lẽ rời căn hầm theo lối đi bí mật. Những bóng đen lần lượt tuồn ra khỏi miệng hầm ở dưới gốc tre già, khẩn trương leo lên triền đồi rồi vụt tan biến vào bóng đêm đặc quánh.
-
Canh hai, có tiếng gà rừng gáy hồi ngắn lạc lõng. Trăng thượng huyền đã ở giữa trời, nhòe đi sau làn sương mù phủ dày. Trong muôn vàn cây dại um tùm, những nòng thép đẫm hơi sương vẫn kiên nhẫn hướng vào thung lũng. Dế nỉ non đến sốt ruột, khiến đêm rừng càng u tịch, miên man. Từ tối đến giờ, muỗi bu kín phần da thịt hở ra sau lớp áo mưa, con nào con nấy mọng căng. Vắt cũng đã rời lớp lá mục, những cái vòi nhọn như kim nhâu nhâu về nơi có mùi máu. Những cái gãi rất sẽ, không đủ tạo thành tiếng sột soạt. Tất cả như bất động, chỉ có những cặp đồng tử căng ra, đảo nhanh theo từng tiếng động trên con đường mòn. Trong bàn tay, báng súng nhớp nhúa mồ hôi, tứa ra từ nỗi căng thẳng bên trong.Vài phút nữa vào trận, thương vong chưa biết thế nào.
- Em buồn đái quá, đái rồi mà vẫn mót! - có tiếng thì thào.
- Tao cũng thế, vạch ra mà xả tại chỗ đi. Khi căng thẳng hay bị thế.
- Xuỵt!
Tiếng dế lại nỉ non dưới lớp cỏ. Ai đó cựa quậy, ngón tay bấu vào con vắt mọng máu giật ra khỏi cổ chân.
Từ xa, đã rõ dần tiếng chân bước bậm bịch, có ánh đèn pin loang loáng trên mặt đất. Sương vẫn dày đặc, cản ánh thượng huyền soi xuống thung sâu. Khoảng cách còn vài sải, mới lờ mờ hiện ra hơn chục thằng lưng đeo gùi, súng tiểu liên lủng lẳng trước ngực. Bước chân xào xạo trên cỏ, ngang tầm những cặp mắt đang ép chặt trong bụi cây ven đường. Bước chân xa dần về phía thung lũng, chừng năm phút sau, trong ống nhòm hồng ngoại, hiện ra một tốp khác từ phía khe núi biên giới, cả hai nhóm cùng tiến vào khoảng đất hẹp giữa các vách đá.
Chúng “khớp lệnh” với nhau chính xác đến từng phút.
Còn cách khoảng chục mét, hai bọn cùng dừng bước, súng chĩa vào nhau rồi quay ra xung quanh. Toàn “khỉ đốm” tiến lên trước cất tiếng hỏi:
- A Tú đâu?
Từ nhóm bên kia, một tên béo đậm bước ra, nói bằng thứ tiếng Việt lơ lớ:
- Tao đây. Hàng đâu? Bao nhiêu?
- Tiền đâu? Đô la hay tệ?8 - Toàn hỏi.
- Đô. Đây. Xem hàng đã, đủ năm trăm cái không?
- Đủ, đúng hợp đồng.
- Tiền thật chứ? Trừ khoản đặt cọc đi, mày phải đưa tao….
- Yên tâm, khách quen sao phải nghĩ! Vẫn giá cũ đấy chứ?
Một thằng bên Toàn “khỉ đốm” bước về phía nhóm A Tú, bấm đèn pin soi đống tiền xếp trong mấy chiếc gùi mây rồi ngoái lại phía Toàn, đầu gật gật. Bên A Tú cũng cử một đứa tiến lại chỗ đống quẩy tấu của nhóm Toàn, xem xét rồi kiểm đếm cẩn thận số hàng. Xong, gã quay lại chỗ A Tú đứng, xì xồ điều gì bằng tiếng Quan hỏa. Thời gian chậm chạp nhích. Người của Toàn đã sang nhận những chiếc gùi đầy tiền, nhóm A Tú cũng tiến lại khoác số quẩy tấu ma túy lên lưng.
Thời gian đông cứng lại, chỉ có tiếng lạch xạch thật khẽ của kim giây đồng hồ.
- Đứng im! Giơ tay lên! Các anh đã bị bắt! - Tiếng quát lớn và đột ngột qua chiếc loa pin, như giải tỏa sức nén, xé rách cô tịch rừng khuya.
Vỡ òa xúc cảm, mạch máu giần giật, chim chóc giật mình nháo nhác từng không.
- Bỏ súng xuống, giơ tay lên! - Tiếng loa nhắc lại, kiên quyết.
Những bóng đen bỗng cứng đờ tay chân, đứng chết lặng. Không rõ tiếng loa phát ra từ đâu.
“Pằng pằng pằng”, loạt đạn đầu tiên khạc ra từ khẩu AK trên tay Toàn “khỉ đốm”. Những đốm đỏ nối đuôi nhau thành vệt dài như sao Chổi, hướng về những bụi cây tối om gần đó.
Tiếng nổ khai mào đã đánh thức đồng bọn. Sau giây thất thần, cả lũ sực tỉnh, những khẩu AK khác đồng thanh lên tiếng. Đạn bay chíu chíu, loạn xạ. Vừa bắn, chúng vừa quáng quàng tìm chỗ nấp.
- Đầu hàng ngay, nếu không sẽ bị tiêu diệt! - Tiếng loa vẫn dõng dạc trong mở âm thanh chát chúa.
Những tràng súng tiếp tục như quãi trấu về phía công an.
-Bắn!
Tiếng quát đanh gọn trên loa vừa dứt, tức thì những tia sáng đỏ phụt cấp tập từ sau những thân cây to, đan chéo cánh xẻ, chụp xuống thung lũng. Súng AK nổ điểm xạ loạt ba viên rất chụm. Đêm sơn cước bừng sáng bởi những đường lửa nhằng nhịt, đan ngang cắt dọc. Rừng mịt mù khói súng, lá cây rụng lả tả…
Vừa bắn, các trinh sát vừa di chuyển, vận động khép chặt vòng vây từ hai cánh gọng kìm. Trong thung lũng, đạn bắn trả vẫn rít vèo vèo qua tai. Quyết liệt.
- Lựu đạn, ném! - Khẩu lệnh đanh gọn.
Chưa đầy nửa giây, trên không trung đã xuất hiện những quả cầu tròn, bay theo quỹ đạo hình cầu vồng xuống thung lũng. Từng quầng lửa xanh lè hất lên, mảnh bay rào rào, bịt họng tiếng súng AK bắn trả. Chuỗi nổ kết thúc, váng động đầu đây tiếng thét đau đớn.
Trận địa chợt trống hoác, im bặt. Trên thinh không, chim lợn giật mình rời cành, bay chao đảo trong tiếng eng éc thảm thiết.
“Xoẹt”, pháo sáng bỗng vút lên cao. Một quầng sáng bùng lên giữa không trung, soi rõ cái dù bé như cái khăn mùi xoa trắng phau. Khối sáng đung đưa, tỏa rộng như ngọn đèn nhiều nghìn oát soi xuống bãi đất trống. Dù đưa pháo từ từ hạ xuống…
- Xung phong! - Đội trưởng Thắng hô to rồi lao vọt ra từ sau một thân cây.
- Xung phooong!… Nhiều tiếng hô dài tiếp ứng. Những bụi cây bỗng rùng rùng chuyển động cùng chiều. Mang trên lưng cả đống cành lá ngụy trang, các trinh sát ào xuống thung lũng như một cơn lốc.
Tại rẻo đất trống giữa các khe núi, la liệt xác người ở mọi tư thế. Qua ánh đèn pin, chường mặt tại chỗ 18 tên tội phạm. 7 cái xác đã nằm còng queo, mắt trợn ngược trắng dã và máu vẫn tuôn xối xả ra từ những vết thủng trên đầu, dưới bụng. Số còn lại đang quằn quại, rên rỉ.
Toàn “khỉ đốm” đã bất động, ngực nát bấy vì bị một mảnh lựu đạn to găm vào, máu lấp xấp bên trong chiếc áo dạ màu đen. Cạnh đó, một chiếc điện thoại di động đang lập lòe sáng…
Sơ cứu xong, những chiếc võng dù đã chuẩn bị sẵn nhanh chóng đưa cả lũ ra khỏi rừng. Những chiếc gùi đầy ắp tiền và ma túy trĩu vai các trinh sát trên đường quay ra…
*
Trụ sở công an tỉnh L.C đèn sáng rực như ban ngày. Trung đội cảnh sát cơ động được tăng cường canh gác cổng ra vào cơ quan. Bóng lính lố nhố dưới sân. Hai chiếc xe đặc chủng đã đậu sẵn bên ngoài, chỉ chờ lệnh là nổ máy. Lá khô xào xạc, rụng lả tả sau mỗi trận gió lạnh quét qua khoảng sân rộng. Đêm mênh mông, ôm trong nó bao khốc liệt, cả những khắc khoải, bồn chồn…Chiếc máy bộ đàm nóng ran trên tay Đại tá Trần Trọng Hà - Trưởng ban chuyên án. Trong phòng làm việc, chiếc gạt tàn đã đầy ắp. Từ tối đến giờ, tướng Thành - Giám đốc công an tỉnh chốc chốc lại điện hỏi tình hình công việc, khiến ông càng nóng ruột. Bụng bắt đầu râm rẩm đau, chứng loét dạ dày đáng ghét, cứ mỗi lúc căng thẳng thế này, lại trở chứng đến là khó chịu.
Không lo sao được, vì là tổng chỉ huy chiến dịch, ông phải gánh chịu trách nhiệm về thành bại trước tập thể Ban Giám đốc.
Trận đánh này quá lớn và phức tạp. Theo tin lực lượng, ngoài lượng ma túy cực lớn, còn có sự góp mặt của bọn tội phạm nước ngoài, khả năng đấu súng rất cao. Ông đã tính đến tình huống này, nên mọi phương án đã được dự liệu thật cụ thể, chi tiết đến từng khâu trước giờ xuất kích. Quân cán được tăng cường tối đa, trang bị hỏa lực mạnh nhất có thể. Nhưng, đánh bắt ma túy giống như người đi câu, giật cần sớm hoặc muộn đều hỏng, chưa kể, luôn có những chuyện ngẫu nhiên xảy ra ngoài ý muốn, vượt xa mọi dự kiến, chính những điều “ất ơ” này, nhiều khi lại làm hỏng án, hoặc gây nguy hiểm cho anh em. Đó là điều khiến ông lo ngại nhất.
Đại tá Hà tiếc mãi vụ “sổng chuồng” mấy bánh heroin dạo trước. Lần đó, các ông bám theo hai thằng mua hàng đến một quán nước ven đường là địa điểm giao dịch. Lúc này ta vẫn chưa biết thằng bán là ai. “Phác đồ” của ông là đợi cho chúng “chập nhau”, trưng ra hàng và tiền sẽ ập vào bắt quả tang. Mọi việc diễn ra đúng kế hoạch. Trinh sát đã chốt chặn, cài cắm đủ cả, nói theo cách của ông là “mắc màn đợi trời tối”. Vạ vật chờ đợi suốt một ngày trời, nên thoáng thấy bọn bên mua đến điểm hẹn, anh em đã mừng húm. Chắc mẩm phen thả lưới này sẽ câu được cá, bõ cái công “rắc thính, đào giun” bao tháng ngày qua.
Đang chờ tên bán xuất hiện, đột nhiên có chiếc xe Công an tỉnh bạn đi công tác ngang qua. Buổi trưa nắng như thiêu đốt, cả bọn tạt vào quán để nghỉ chân uống nước. Mấy chú lính trẻ mồm miệng cười nói oang oang, vô tư ngồi xuống cái ghế hai thằng khách đang ngồi. Đứng ở trong buồng, ông Hà dậm châm, nghiến răng, nắm đấm xiết chặt, ông tiên liệu được chuyện gì sẽ xảy ra. Quả thực, chỉ nhác thấy bóng Công an, hai thằng khách bỗng chột dạ, len lét đứng dậy trả tiền nước rồi rảo bước xe vù mất. Bao công sức thoắt biến thành “công dã tràng”, bởi những chuyện ất ơ. Tiếc “rỏ máu mắt”!
Lúc đi ra ngang qua bàn nước của mấy đồng nghiệp đang vô tư “chém gió”, ông hậm hực gằn giọng từng tiếng một: “Lạy các bố! Các bố phá nát việc của con rồi!”. Cả nhóm công an ngơ ngác nhìn ông già ăn mặc nhếch nhác, đang càu nhàu điều gì chả rõ. Thế mới nói, trong làm án yếu tố may mắn rất quan trọng. Câu “người tính không bằng trời tính” là vậy. Trước những tình huống phát sinh, mọi sự trông cả vào khả năng ứng biến của anh em ngoài trận địa.
Trận đánh càng lớn, nỗi lo càng tăng gấp bội. Nói về lo thì có đủ thứ khiến người ta phải đứng ngồi không yên. Lo có được việc không, có sứt mẻ, thương vong, sai sót gì không? Ranh giới giữa huân chương, bằng khen, vỗ tay… Với kỷ luật hạ sao, thậm chí cách chức… Khi vào trận cũng chỉ là gang tấc.
Ngoài thực địa, chỉ cần một tính toán sai gây thiệt hại về nhân mạng, một ứng xử thiếu nhạy bén hay quyết định hấp tấp, nóng vội… của người lính, đều có cơ phá nát một chuyên án dày công. Đánh án ma túy đòi hỏi phải bắt quả tang và thu giữ được ma túy ngay tại trận, thế mới có đủ căn cứ để xử lý. Nếu để đối tượng kịp tẩu tán, thoát ly vật chửng, cuộc bắt sẽ thảm bại.
Và rồi phía sau những thất bại ấy là những hệ lụy với tiền đồ chính trị của người trong cuộc. Nhất là với số cán bộ chỉ huy. Về nguyên tắc, ông nào vi phạm sẽ “ăn đòn” nặng nhất. Kế đến là người phụ trách trận đánh, rồi đến cấp chỉ huy cao hơn. Lại nói đến trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, kể ra có lúc cũng hơi oan, vì người ở nhà phải gánh cả “tội” cho ông ngoài đường. Mà lỗi lúc vào trận thì vô cùng đa dạng, như một đòn bắt non, hấp tấp, một cái nhãng ý hoặc để súng cướp cò làm đối tượng vù mất…
Trận nào cũng vậy, không ít thì nhiều cũng đều có những vấn đề cần phải rút kinh nghiệm. Làm sao có thể hoàn hảo tuyệt đối. Muốn không mắc lỗi, chỉ có cách là không làm gì. Chứ đã bắt tay vào công việc, không thể tránh khỏi sơ sảy. Có điều là lớn hay nhỏ, nặng hay nhẹ mà thôi.
Nên có thể hiểu được tâm trạng “ngồi đống lửa” của người ở nhà.
Chưa hết, gần đây lũ “bảo tiêu” áp tải ma túy được vũ trang bằng súng đạn không kém gì công an. Tháng trước bắt nhóm vận chuyển ma túy từ Lào về, chúng khai cứ mua từ ba bánh heroin trở lên, được bên bán tặng một khẩu K54 với hai cơ số đạn. Còn mua trên mười bánh, chủ hàng khuyến mại một cây tiểu liên AK. Ma túy mang lại siêu lợi nhuận, biến bao kẻ thành con “thiêu thân”. Vì tiền, chúng sẵn sàng chết. Mặt khác, tên nào cũng biết rõ điều gì sẽ đợi mình nếu bị bắt. Chỉ có một con đường, đằng nào chả chết, nên chúng đâu có ngại mạng đổi mạng, sẵn sàng “xanh - chín”, “tất tay” với công an khi đối mặt. Trận này việc đấu súng xem ra rất khó tránh khỏi.
Từ lúc có tin lượng hàng tầm 500 bánh sẽ đi qua tỉnh, ông Hà giật mình thảng thốt. Nửa đời lăn lộn, quần nhau với đám giặc cỏ này, nhưng ông chưa từng gặp vụ nào “khủng” đến thế. Hàng nhiều thế này, rất có thể được mua gom từ nhiều nguồn về, hoặc đã ủ rất lâu trong nội địa. Vì vậy, bằng mọi giá phải hốt trọn “mẻ cá” này, để có câu trả lời về xuất xứ lô hàng. Chiều nay, khi các chốt báo về hành trình di chuyển của đoàn xe ma túy, ông vét hết quân tung vào trận, đồng thời xin Giám đốc chi viện thêm Cảnh sát cơ động hỗ trợ đánh bắt…
Thời gian trôi đi như máu chảy. Đã quá nửa đêm mà vẫn chưa có tin báo về. Bộ đàm cầm lăm lăm trên tay, chỉ cần một cú ấn nhẹ vào phím đàm thoại, là ông sẽ biết tình hình. Nhưng ông không thể, bởi sẽ thế nào nếu giữa rừng đêm phát ra tiếng khọt khẹt của bộ đàm?
Thiếu thông tin, dẫu là người điềm tĩnh nhưng ông không thể ngồi yên.
- Có tin gì chưa? - Giám đốc lại hỏi.
- Báo cáo anh, chưa ạ. Giờ này anh em chắc đã vào đến nơi.
- Tôi cho phép bắn hạ nếu chúng chống trả quyết liệt bằng vũ khí nóng. Tuy nhiên, bắt sống được thì tốt hơn, để còn khai thác.
- Dạ, tôi đã quán triệt rồi.
- Ừ, có gì báo cáo tôi ngay.
-
Khi chiếc xe Gaz chở quân đầu tiên vượt qua cổng gác tiến thẳng vào trong sân Công an tỉnh, Đại tá Hà guồng chân từ gác hai chạy xuống.- Thế nào? Ổn cả chứ? Có ai làm sao không? - Ông hỏi như hét.
- Báo cáo sếp, anh em lành lặn cả. Bắt được mười tám thằng, nhưng chỉ mười một thằng còn cựa quậy.
- Thế những đứa khác thì sao?
- “Tèo” cả rồi! Tại chúng nó phang lại bọn em dữ quá!
- Thu được hàng không?
- Báo cáo thu toàn bộ hàng và tiền, chưa đếm, nhưng rất nhiều.
- Được lắm!
Ông Hà cười ha hả rồi ra tận cửa xe đón lính, ôm lấy từng người. Sau lúc hoan hỉ, trong đầu ông đã bật ra ngay một list9 những việc phải làm ngay. Cuộc họp án diễn ra khi chiếc xe cuối cùng về đến nơi. Tất cả những tên còn sống đều đã bị trọng thương. Đầu ra của những lỗ đạn AK to như miệng bát con, máu đã thâm đen băng gạc sơ cứu lúc trong rừng. Đại tá Hà chỉ thị:
- Anh Tuất chỉ đạo một tổ đưa những thằng còn sống vào bệnh viện cấp cứu. Cắt cử canh gác hai bốn trên hai bốn để chống trốn, thông cung, tự sát. Chúng tỉnh lại phải lấy sinh cung ngay. Người đã chết thì đưa vào nhà xác, chờ sáng mai khám nghiệm. Cậu Thắng viết báo cáo sự việc, vẽ sơ đồ hiện trường. Tuấn “đen” phụ trách kiểm đếm vật chứng, niêm phong chờ giám định. Cô Hoa kiểm tra điện thoại đối tượng. Nghiêm cấm tiếp xúc với báo chí. Giữ bí mật tuyệt đối kết quả phá án. Tất cả rõ chưa? Vào việc luôn đi!
Suốt đêm hành quân, di chuyển, đấu súng… những anh chàng như đã hết hơi, người như nhũn ra, thật khó để nhấc nổi đôi chân, ước mơ sau mỗi trận đánh chỉ là ngủ. Chẳng mong gì hơn là được đặt cái lưng xuống giường, đánh một giấc đến sáng. Nhưng tố tụng hình sự quy định chặt chẽ thời hạn cho từng hoạt động. Những việc cấp bách, khẩn cấp không có lý do gì để chậm trễ hay trì hoãn. Bởi vậy, dân trinh sát không ngại đấm đá, mà ớn nhất là lúc bắt xong, vì cả núi việc đang đợi chờ họ. Từ phát sinh tố tụng, soạn thảo văn bản, đến đấu tranh xét hỏi, niêm phong tang vật, thu giữ tài liệu, khai thác thông tin… Họ không làm thì ai làm đây.
Trong lúc họp, Thượng sỹ Hùng nghẹo cổ ngáy khò khò. Người cu cậu lấm lem bùn đất, mái tóc bờm xờm, trên gò má còn nguyên vết gai cào đang rỉ máu. Hùng ngáy khá to khiến ông Hà dừng lời. Vị chỉ huy đưa mắt nhìn thông cảm. Quỳnh Hoa lấy tay che miệng ngáp, đá chân sang Hùng nhắc khẽ: “Ngáy vừa thôi cu, sếp đang nhìn đấy!”. Anh chàng giật nảy mình, ngoái sang nhìn cô ngơ ngác, rồi nhắm mắt ngủ tiểp.
Cuộc họp kết thúc chóng vánh, trả lại cho trụ sở cái tĩnh lặng vốn có lúc rạng sáng. Bên ngoài, gió vẫn quét u u trên những tầng lá. Lác đác đâu đó, đã có tiếng gà le te báo sáng.
Phòng làm việc Đội trinh sát địa bàn đèn điện bật sáng rực. Người nào việc nấy. Quỳnh Hoa cặm cụi kiểm tra chiếc máy điện thoại dính máu của Toàn “khỉ đốm”. Tất cả những thông tin được cô thận trọng ghi vào tờ biên bản. Trong khi ấy, Đội phó Tuấn “đen” chỉ đạo một nhóm kiểm đếm số ma túy thu được.
Những cục hàng bọc trong mấy lớp ny-lon màu vàng, được xếp la liệt chật mặt bàn dài. Tổng số đúng 500 bánh. Anh em thoăn thoắt xếp chúng vào thùng các tông được đánh số thứ tự, rồi dán băng dính niêm phong. Đang làm, chợt Trung úy Linh gọi Tuấn giật giọng:
- Ô, đại ca ơi! Xem này, toàn hàng loại mới em chưa thấy bao giờ!
- Đâu, đâu? Mày bóc ra à?
Bánh heroin có hình bánh chữ nhật, được nén từ chất bột màu trắng, trọng lượng khoảng 360 gam, kích thước 12x15 cm, dày chừng 4 cm. Mặt bánh dập nổi hình chữ S và dòng chữ “Made in Vietnam”. Tuấn nâng bánh heroin trên tay. Lạ quá, trước nay anh chỉ biết đến loại “Sư tử vờn cầu”, xuất xứ từ miền Tam Giác Vàng. Loại này anh cũng chưa từng biết đến. Tem nhãn rất lạ, lại ghi sản xuất ở Việt Nam. Tuấn thảng thốt:
- Ái chà, mẹ kiếp! Hàng sản xuất trong nước à?!
“Ôm án” từ đầu đến giờ, Tuấn nắm được cục diện vụ án. Trong anh lập tức bật ra hàng loạt câu hỏi cần phải giải đáp nên quay sang hỏi Hoa:
- Em, mấy ngày gần đây, thằng Toàn liên lạc với số nào?
Hoa chưa trả lời mà cắm cúi xem lịch sử giao dịch trên máy. Tuấn chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trong phòng. Anh đang hình dung đến một việc cực kỳ phức tạp tiếp theo trận đánh ngày hôm nay. Tiếng reo của Hoa làm Tuấn giật mình:
- Đây rồi anh, có hai tin nhắn mới nhất đến máy thằng Toàn. Tin thứ nhất đến lúc 2 giờ sáng hôm nay. Em đọc nhé: “Hỏi A Tú xem đợt tới lấy bao nhiêu? Đặt cọc trước một nửa. Mở máy, có gì tao sẽ gọi sau!”. Tin thứ hai đến sau đó khoảng một giờ. Nội dung: “Giao xong chưa? Sếp đang sốt ruột. Xong mày điện ngay để lão ấy yên tâm.”
- Ơ? Thế tin đến đúng lúc đang bắn nhau à? - Thiếu úy Phong buột miệng chêm vào.
- Cả hai tin này gửi từ số nào? - Tuấn hỏi như quát.
- Dạ, đều gửi từ số 09xxxxx919 anh ạ. Vào chiều hôm qua số này còn gọi cho thằng Toàn một cuộc.
- Hay rồi! Mày chết với anh! - Tuấn thốt lên vui vẻ. Nụ cười phá đi nét đăm chiêu cố hữu trên mặt anh. Đó là lần đầu tiên Tuấn cười, trong mấy ngày gần đây.
- Sao hả anh, mình biết gì rồi? - Đám lính trẻ bâu xâu lại hỏi.
- Này nhá, manh mối chính là “thằng 919”. Tìm được sẽ biết kẻ được gọi là “sếp” là ai. Chắc chắn là thằng trùm. Ra được nó, mới biết xuất xứ nguồn hàng từ đâu. Mẹ kiếp! Không chừng lại phăng ra cả nhà máy tinh chế heroin trong nước chứ chẳng chơi. Bây giờ bằng mọi cách phải tìm cho ra “ông cháu” đuôi 919 này, hiểu chưa? - Tuấn giảng giải với giọng hứng khởi. Nỗi mệt nhọc dường như đã tan biến trong anh, Hoa nhìn Tuấn cũng tủm tỉm cười, ánh mắt đằm thắm, cảm phục.
Cả đám trinh sát tự cho mình giây phút xả hơi. Chuyện láo rộ lên, tay rút thuốc châm như đốt rạ. Phút chốc căn phòng đã ngập mùi khói. Thật khó tả cho người ngoài cuộc hiểu cái cảm giác sướng âm ỉ của lính tráng, mỗi khi lần ra đầu mối lớn. Có lẽ, đó là giây phút hạnh phúc nhất của người cầm súng.