Bến Bờ

Lượt đọc: 8056 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG SÁU

Rời khỏi thành phố, con đường chạy về phía tây được khoảng ba mươi cây số thì có lối rẽ trái. Qua chiếc cầu bê tông nhỏ bắc trên một mặt sông le te một dòng chảy nông sờ, con đường hẹp dần và mỗi một khúc ngoặt nó như một linh hồn đơn lẻ lại một lần dấn thân vào miền xa vắng. Dân cư, xóm bản thưa thớt dần. Cuối cùng, con đường hun hút giữa trống vắng, trơ trơ hai bên và trùng trùng bốn phía chỉ còn lại một hình sắc duy nhất là núi rừng đã trụi hết cây cối, bụi rậm. Chỉ còn núi. Núi, rặt một loại núi đá vôi tiến hóa chậm, tạo nên các dáng hình kì lạ. Hoặc đơn độc cô lẻ, vững chãi như những chiếc đe của thợ rèn. Hoặc như khí tiết, tinh anh của cả thiên niên kỷ kết tủa, liền mạch như một bức trường thành, tỏa ra cái ma lực hăm dọa và phong tỏa mọi sinh linh.

Cảnh quan nơi đây còn đang ở thể bản nguyên, hoang sơ lắm. Triệu triệu năm trước đây hình như đã là vậy. Và bây giờ cũng vẫn thế. Gián cách giữa các ngọn núi là vùng lún sụt, các đầm lầy. Bị vây bọc giữa các vòng cung núi cũng lại là đầm lầy. Nuôi sống các đầm lầy là các dòng chảy ngầm, phun lên từ các tầng đá vôi nằm sâu trong lòng đất. Nước lưu chuyển âm thầm, chúng đục rỗng chân các sơn mạch, tạo nên các hang động bất ngờ, kỳ quái. Còn trên đỉnh các ngọn núi, mạch núi, cảnh tượng còn kỳ quái, bất ngờ hơn. Ở đây, đá xếp lớp, nghiêng theo một chiều, hoặc lổng chổng thành hòn thành cục chồng chất lên nhau, cũng có khi hiện thành hình người hình vật. Nơi này nhấp nhô bóng dáng đoàn thiên binh thiên tướng, ùn ùn ngựa xe giáo mác, diễu võ dương oai. Nơi kia là hình tướng hùng hổ của cả đàn voi trận, ngựa chiến. Chỗ tạc hình xe tăng đại bác dàn thế trận. Lạ lùng nữa là có nơi nhấp nhô bóng hình thầy trò Đường Tăng trên con đường vạn dặm sang Tây Trúc thỉnh kinh Phật.

Im vắng tách biệt tràn ngập không gian ba chiều. Im vắng thấu lên tới tận những đám mây hình đá tảng đục lờ. Im vắng thu vào lòng nó cả những thung lũng lúa tự chín trong cô liêu, những sườn núi đá lác đác mấy mái gianh, vài cây đu đủ dăm khóm nứa, bóng người mặc áo quần mầu xỉn lúi húi đập đá; tiếng đá đập chưa kịp vọng tới cao xanh đã lập tức bị nuốt chửng.

Chốn cách biệt, hoang vắng này còn có người cư trú?

Có! Có nhiều là khác. Có cả nam lẫn nữ. Tất cả đều mặc áo quần nhuộm mầu ruột pin đèn và được phân chia thành từng tốp ba chục người một, nam riêng, nữ riêng, dưới quyền chỉ huy của một người mặc cảnh phục màu vàng nhạt, gắn phù hiệu đỏ và sự giám sát của một chiến sĩ cảnh vệ mặc quân phục mầu rêu đất, lăm lăm trong tay một cây súng tiểu liên đạn đã lên nòng.

Buổi sáng, sau một hồi kẻng rền, những người này rời khỏi nơi ăn ở của họ, để đi làm việc ở ngoài trời. Ngày hai buổi sáng chiều, tổng cộng là tám giờ, những người đàn ông thì phá đá, làm đường, hoặc khai hoang đầm lầy. Còn phụ nữ, như phân công từ thời nguyên thủy, họ phải lo việc trồng trọt cấy hái, chăn dê nuôi lợn, nuôi bò, vào vụ mùa này, họ tập trung thu dọn nương ngô, ruộng đậu, để sửa soạn gieo cấy rau quả vụ đông.

Năm giờ chiều, kẻng báo hết giờ ran ran truyền lan vách đá, các tốp người mặc quần áo xỉn mầu xếp hàng hai thong thả trở về nơi ở. Khác lúc ra đi, trên tay họ lúc này có thể là một nắm rau cải, một quả bí đỏ mới mót được, thậm chí một con dúi hay một chú chuột đồng mới bị sập bẫy. Qua cái cổng là một cấu trúc bê tông hình vòm cao rộng, có cánh sắt khép mở bằng năng lượng điện, họ bước vào một con đường bê tông xám trắng, rộng rãi như đường để binh lính đi duyệt binh qua lễ đài. Bên phải con đường lúc này là những dẫy nhà ở tập thể một tầng mái nâu, thần mật hiền lành như mọi khu chung cư. Bên trái con đường, phía đồi cao, là những tòa nhà mới xây, hai tầng, có kiến trúc hiện đại, ốp đá màu, lắp kính râm, vừa hoa mĩ vừa trang nghiêm. Từ đây, nhìn ra xa hơn có thể thấy một bãi đất rộng phía sau khu chung cư, ở đó có sân bóng đá, bóng rổ, một mặt sàn sân khấu và một lễ đài; xa nữa, ba bốn cái lò gạch đang nhả khói êm đềm. Cảnh trí nơi đây đã khác hẳn vùng núi đá bên ngoài chiếc cổng lớn nọ, thật thanh bình và khuôn phép.

Tuy nhiên, tính chất khác biệt của khung cảnh chỉ hiện lên ở cuối con đường lát bê tông. Khu vực này được đánh dấu bằng một vọng gác, khoanh vuông bốn bề bằng một lối đi rải đá răm rộng hai mét, và được quây bằng một lớp tường vi cao vót, trên giăng ba hàng dây điện, bốn góc nhô lên bốn cái tháp canh mái nhọn. Trong hàng tường ngăn giữ nọ là hơn chục dãy nhà một tầng, chia thành hai khu vực nam nữ, ra vào đều phải qua những chiếc cổng nhỏ có cảnh vệ đứng gác. Đó là khu giam giữ tù nhân của trại cải tạo có tên là Tam Giang. Những người mặc áo quần xỉn màu pin đèn là những tội phạm đã thành án, là tù nhân của Trại này. Họ là những kẻ phạm tội hình sự; từ trộm cắp vặt tới biển thủ công quỹ cả trăm tỉ đồng, từ ma cô, nghiện hút tới cướp của giết người. Họ phải cách ly khỏi cộng đồng và phải chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, kẻ ít nhất là năm năm, kẻ nhiều nhất là chung thân mãn đời.

Mùa đông năm ấy, Trại Tam Giang đã chứa tới hai nghìn tù nhân nam nữ. Và tù nhân thứ 2001, con số cuối cùng của năm, lại là cô Thảo, đứa con gái áp út của mụ Đống, mẹ kế của Khanh, mắc tội ngộ sát, chịu nhận hình phạt năm năm giam giữ cải tạo.

Mụ Đống và cả cái bộ lạc hổ lốn ấy không mảy may thương xót Thảo. Họ cũng không muốn mệt nhọc đến thân, nên Khanh đã phải lặn lội đến tận đây, để trình bày rõ hoàn cảnh phạm tội và tư cách của phạm nhân, những mong được giám thị Trần Văn Lập thông cảm, giúp đỡ. Lập đã biết quan hệ giữa Khanh và Điền. Và Khanh từ khi còn học ở trường phổ thông đã biết tình bạn thân thiết giữa Điền và Lập. Rung động trước tấm lòng nhân hậu của Khanh, cảm mến tâm hồn nghệ sĩ và nhan sắc của nàng, Lập hứa sẽ quan tâm giúp đỡ nữ tù nhân này cải tạo tốt để sớm trở về với gia đình.

Ba mươi tuổi, đã có vợ và hai con gái, Lập giữ trách nhiệm giám thị trại giam này mới hơn nửa năm. Tầm thước, to ngang, vóc dạc lực điền, Lập có vẻ hợp với nghề giám thị; Khanh nghĩ vậy khi tiếp xúc với anh, vì nhận ra con người này hình thể có chút thô mộc, nhưng thiên chất nam tính tự nhiên, có phong nghi oai vệ, tài khí đẹp đẽ và mạnh mẽ về tính cách.

Tốt nghiệp phổ thông cùng năm với Điền, Lập tòng quân. Sau một chiến công bắt trọn một ổ buôn ma túy vượt biên, anh được cử đi học trường sĩ quan và về phụ trách một đồn binh biên thùy tỉnh Lao Cai. Anh là một đồn trưởng quả cảm. Ở vị trí công tác này đến năm thứ hai, Lập mới làm đơn xin chuyển công tác về địa phương. Trong đơn từ và tâm sự không thấy nói lý do gì hơn là để hợp lý hóa gia đình, cụ thể là thể theo yêu cầu gắt gao của người vợ. Bố mẹ hai bên nội ngoại đều đã mất. Vợ Lập là kế toán hợp tác xã thêu ren ở một xã mới lập, thuần dân khai hoang và những người mãn hạn tù ngay bên cạnh trại Tam Giang. Chị là một phụ nữ nông thôn tươi đẹp, sinh lực sung mãn và nồng nàn tính dục, cứ vài tháng lại có một thư đòi chồng vế. “Thế là đáng lẽ đảm nhiệm chức trách người ngăn chặn giặc ngoại xâm, mình lại biến thành kẻ quản lý lũ vô lại, những cặn bã dơ bẩn nhất của xã hội. Nhưng mình nhớ tới câu đã nói với Điền hôm cậu đấm ngã thằng Nghiệm: Can đảm, không phải ai cũng bắt chước được đâu. Mình yêu cậu”. Viết thư cho Điền, Lập nói vậy.

“Trong công việc, tôi không nệ vào sự yêu thích. Tôi chỉ chú trọng đến bổn phận. Nghề nghiệp chỉ là hình thái tồn tại. Gốc rễ của nó là trách nhiệm làm người”. Lập thường nói vậy. Trong một đợt chỉnh huấn toàn ngành, ở cùng một tiểu tổ với ông Hói và Điền, hồi Điền mới về Trung Tâm nhận công tác, Lập nhấn mạnh: “Tôi không thích thú gì công việc giam giữ, cải tạo bọn tù hình sự. Nhưng được phân công, tôi sẽ làm tròn bổn phận, dù có phải hy sinh thân mình”. Giáo điều và cứng nhắc, ông Hói gồng mình phê phán quyết liệt Lập, cho Lập là kẻ sống thiếu men say lý tưởng. Chấp gì kẻ tư duy không cao hơn phép nhân hai lần hai là bốn, không vượt khỏi vòng tam đoạn luận, lại khôn ngoan, che đậy mình trong vỏ đạo đức giả. Chẳng ai tranh biện, phản bác ông Hói, ngoài sự im lặng đóng băng, biến ông thành kẻ cô độc tội nghiệp. Hơn nữa, còn biến ông thành một chất xúc tác, một phép thử, một dấu hiệu để phân lập; ai ở cao hơn trình độ ông thì sẽ tìm đến liên kết cùng nhau. Tình bạn đã nảy nở từ hồi còn là học sinh giữa Điền và Lập càng trở nên bền chặt; họ trở thành điểm tựa tình thần của nhau.

Giờ đây, động lực chi phối, điều khiển công việc hàng ngày của Lập là ý thức bổn phận. Bổn phận, thực tình khái niệm này đã bị hiểu một cách phiến diện sai lệch, với một nội hàm thuần túy trí tuệ, khô khan. Bổn phận không có nghĩa là làm lấy lệ. Bổn phận với cha mẹ, với con cái, với gia đình, Tổ quốc. Bổn phận, đó chính là tinh thần trách nhiệm đã tạo nên sự bền vững trong các nhân mối rường cột của xã hội và chẳng đã khắc họa nên những hình tượng cao quý đẹp đẽ đó sao! Thiếu một tinh thần trách nhiệm nghiêm túc thì quyền tự do của con người chỉ là mảnh đất mầu vun trồng thói ích kỷ. Sẽ không có sự công bằng. Sẽ lộng hành tệ đặc quyền đặc lợi và thói tật sống chết mặc bay. Tinh thần bổn phận đảm bảo tự do cho mỗi người, chỗ đứng cho mỗi người, nó là cơ sở cho cách sống đẹp: sống cho mọi người và để người khác có điều kiện được sống đẹp cùng mình. Tinh thần bổn phận trước cộng đồng là nhân cách quan trọng nhất của con người.

Tinh thần bổn phận của Lập được các chiến sĩ dưới quyền anh thấm nhuần. Năm trăm chiến sĩ cảnh vệ, năm chục cán bộ quản giáo, cùng chia sẻ với thủ trưởng của mình nỗi lo toan quản chế, giáo dục hơn hai nghìn tù nhân hình sự. Xoay quanh cái trục công việc nọ với nỗi lo đau đáu thường xuyên, cuộc sống mỗi chiến sĩ ở đây, có chung một đặc điểm, thời gian biểu của họ bị khóa vào lịch trình sinh hoạt của tù nhân.

Vậy là đã mấy năm qua, và giờ đây đã thành thói quen, niềm vui, nỗi lo của Lập, bị neo vào chu trình hoạt động của những kẻ đang ở trong tay anh giam hãm. Năm giờ sáng, kẻng báo thức, Lập trở dậy với bao bồn chồn lo âu. Mười lăm phút sau, sau điểm danh, kẻng ran một hồi báo hiệu an toàn, anh mới cất cơn lo lắng, vì biết chắc đêm qua không có sự cố gì. Phạm đi phá đá, khai hoang, cuốc ruộng, dệt thảm từ hồi kẻng vang lúc bảy giờ rưỡi, cũng là lúc anh rơi vào trạng thái tâm lý căng thẳng nhất, anh phải dõi theo mọi biến động bất thường, vì trốn chạy có bao giờ thôi là ý thức thường trực của những kẻ bị giam giữ đang được làm việc ở ngoài trời. Anh chỉ thở phào, nhẹ nhõm được chút ít, vào hồi kẻng báo an toàn gõ liền một hồi thong thả lúc điểm danh xong, ở các thời điểm: mười một giờ sáng, năm giờ chiều và hai mươi tư giờ đêm. Nỗi lo lại canh cánh ngay sau đó ít phút, vì có gì đảm bảo chắc chắn với anh là không có việc tù trốn, tù sinh sự với cảnh vệ, quản giáo và với nhau, ở cả những giây phút họ ngủ nghê, ngơi nghỉ. Mỗi người tù là một khả năng bùng nổ.

Trong tinh thần bổn phận, Lập bằng lòng chấp nhận cuộc sống này. Anh sống vui vẻ với cuộc sống không bình thường, rình rập nhiều bất trắc. Tinh thần bổn phận được biểu hiện bằng sự hết lòng tự nguyện khiến Lập có ít thời gian dành cho riêng mình. Nhà ở cách mười cây số, anh chỉ có thể sum họp với vợ con vào mỗi tối thứ bẩy và ngày chủ nhật hàng tuần. Xem xét việc học hành của hai con, đứa lên mười, đứa lên bẩy, âu yếm trò chuyện với vợ cũng chỉ khuôn vào thời gian ấy. Nhiều lúc, vì công việc đột xuất, bẵng đi cả tháng trời liền mới được về nhà, lên giường nằm cạnh vợ còn như người khách lạ vì đầu óc còn để ở đâu đâu. Con cái đã lớn, vợ Lập sinh lực đang độ căng tràn, thấy chồng rút khẩu súng đặt xuống dưới gối theo thói quen, đã có lúc huẩy người, quay mặt vào tường dằn dỗi: Thì anh đi với công việc của anh đi, về làm gì nữa! Ngủ với vợ ở nhà mà cứ như đang ở trại tù! Nỗi lo bổn phận không tròn khiến cuộc ái ân giảm thiểu niềm hưng phấn. Đã quen nết đi rồi, đã nhập vào máu thịt rồi một cuộc sống đầy lo toan, khắc khoải, biểu hiện từ trong mỗi miếng ăn, trong mỗi giấc mộng.

Đến thăm cái Thảo ở Trại giam Tam Giang, Khanh có hai cảm nghĩ. Bấy lâu sống cạnh gia đình mụ Đống, nàng thường nghĩ, cái xấu xa tồi tệ ở con người ta quả là một con ngựa bất kham, không thể kìm giữ được; giờ đây, nàng biết thêm rằng, cái xấu xa tội lỗi là một mặt cấu thành của cuộc sống này; và xã hội đã có lề luật cùng các thể chế nghiêm nhặt để giữ chúng trong vòng cương tỏa. Cảm nghĩ thứ hai nàng hướng về Lập. Lập gây ấn tượng đặc biệt với nàng. Biết Lập từ thời còn đi học ở trường phổ thông, thêm nữa anh lại là bạn thân của Điền, thiện cảm nàng dành cho Lập càng tăng thêm.

Thành ra lần này cùng với các đồ tiếp tế thăm nom cho cái Thảo, Khanh còn có những món quà quý để tặng cho vợ Lập: Một tấm khăn voan, một chiếc vòng cẩm thạch và hai mét lụa tơ tằm. Nàng không giấu nổi cảm mến Lập khi trong câu chuyện, luôn miệng ngợi khen: người đàn bà là vợ anh đã thật là hạnh phúc khi có một người chồng là anh. Và vào cuối buổi chia tay, nàng còn ngỏ ý một ngày gần đây được đến thăm gia đình anh.

Chân thành và ngây thơ, Khanh không nhận ra vẻ mặt có phần lãnh đạm của Lập khi nghe nàng ngợi khen vợ mình; cả sự hờ hững nữa khi anh đưa tay đón nhận những món quà quý Khanh dành cho vợ anh. Còn lúc Khanh ngỏ ý muốn đến thăm gia đình mình thì anh hoàn toàn tảng lờ.

Cuộc sống quả là không ít oái oăm là vậy!

Khanh không hề hay biết, đó là những ngày ông giám thị đang cắn răng chịu đựng một nỗi đau đời có thể làm bại xuội cả tâm thể. Một nỗi đau như cốt để chứng tỏ ở cuộc đời này đang còn tồn tại một quy tắc là vô kỳ bất hữu, nghĩa là không cái gì là không thể xảy ra, nên đã xảy ra một sự kiện hết sức bất ngờ, khiến anh rơi vào một tình cảnh vô cùng éo le, chua chát.

Vợ Lập, một phụ nữ nông thôn có nhan sắc và sức lực dồi dào. Chị đẹp một vẻ đẹp phồn thực sinh sôi. Ngực nở, hông cả, chân dài, mắt lá dăm, cằm hai lớp, nhìn ngoại hình đã thấy chị thuộc loại đàn bà hiếu dục. Đẻ liền hai đứa, sau đó lại còn nạo hút vài lần, ăn uống kham khổ, việc nhà việc đồng ruộng quanh năm suốt tháng quần quật, lạ thay chị vẫn cứ rừng rực cháy bỏng cơn khát muốn dục tình. Lập hiểu vợ từ bản thể phụ nữ nọ, nhưng vẫn cứ nghĩ người đàn bà khác hẳn người đàn ông ở sự kiềm thúc bản thân, người đàn bà sống chủ yếu vì tương lai của con cái, vì sự danh giá của đức ông chồng chứ không sống cho riêng mình. Vả lại, lạc thú thân xác là một trải nghiệm nhục tính, là một kinh nghiệm lớn vô tận, anh đã có và biết tận dụng lắm. Thêm nữa, anh cũng chẳng phải gã đàn ông hèn kém gì về năng lực giao tình. Nên hoàn toàn yên tâm ở đức hạnh thủy chung như nhất của vợ cũng là phải. Vậy mà, thật là bất ngờ, quá bất ngờ! Quá bất ngờ vì không bao giờ có thể tưởng tượng nổi. Vì không bao giờ có nổi mảy may ý tưởng như thế với một người thân yêu để đề phòng, dự liệu trước, nên khi sự việc xảy ra rồi, thì như bị sét đánh, choáng váng, ngơ ngác cả tháng trời, sống giữa đời thực mà cứ ngỡ chiêm bao gặp ác mộng. Vì mọi việc đều có thể xảy ra, chứ còn tồi tệ như thế thì không thể có, xưa nay vẫn là nghĩ vậy mà hôm ấy, lại không phải vậy.

Hôm ấy, sau gần tháng trời đi họp tổng kết công tác ở một tỉnh miền Trung, Lập mới được tạt qua nhà thăm vợ con. Đêm thu ấy mát mẻ, cuộc ân ái vợ chồng diễn ra thật sôi nổi, mãn nguyện. Yêu nhau xong, hai vợ chồng còn đầu gối tay ấp trò chuyện hồi lâu. Vợ Lập nói: Hai tấc gỗ lát anh mua đem về từ hồi còn ở đồn biên phòng Lao Cai, còn để đấy. Mấy hôm nữa sẽ gọi lão Ngộ thợ mộc, ở xóm Bốn, đến đóng cho bộ xa lông. Nói xong lại hỏi: anh có biết lão Ngộ không? Cái lão hãm hiếp rồi bóp cổ giết em dâu, bị tù hai mươi năm mới được tha năm ngoái ấy! Lập đáp: Anh biết. Hồi ở trại lão là tổ trưởng tổ mộc. Ra tù lão không về quê. Lão xin ở lại xã này vì vợ lão đã bỏ lão. Lão này già nhưng còn máu mê lắm. Vợ Lập gật, thêm: Người gì mà dáng hình điệu bộ thô lỗ như trâu. Trông đã phát tởm! Chuyện chìm đi trong giấc ngủ. Sáng sau, Lập trở dậy, từ biệt vợ, về Trại, hẹn vợ ngày kia, tức thứ bẩy sẽ tranh thủ về, hẹn xong lại còn ghé tai vợ thì thầm: “Lại cho anh yêu như đêm qua nhé”. Nghe vậy, vợ Lập hất tay chồng, nguýt chồng một cái rõ thật tình tứ: “Thôi đi, ông tướng, chết khiếp với ông cả đêm qua rồi, ông đi đi cho tôi còn được nghỉ”. Lập cười, thơm nhẹ má vợ rồi nhảy lên xe. Cách nhà chừng bẩy cây số, nghĩa là xe đạp đã guồng được gần một giờ đồng hồ, Lập sực nhớ, mở túi dết ra xem mới biết còn để quên khẩu súng ngắn giấu dưới gối ở trong buồng hồi đêm. “Rõ thật mê lú chưa!”. Anh tự nhạo mình và vui vẻ quay xe đạp trở lại nhà.

Gần giờ sau, Lập dựng xe ở bờ tường hoa cạnh cái bể nước trước nhà. Đã định hăm hở bước qua sân, nhảy vào nhà, ú òa cho vợ giật mình, bỗng như có linh tính mách bảo, vội dừng chân ngậm miệng. Có con chim sâu đang rúc trên bẹ cau mới nở, ngó xuống, kêu chíp chíp một hồi. Tim Lập đập dội lên như mách bảo điều bất thường. Cửa ra vào khép hờ, cạnh cái cột hiên dựng một chiếc cưa và dưới đất lăn lóc bộ tràng đục của ai đó.

Mặt nong nóng, Lập rụt rè bước lên bậc tam cấp, tiến đến hai cánh cửa còn đang khép hờ, đặt tay vào quả đấm cửa, đinh kéo giật ra, liền rụt tay như bị điện giật, người cứng đơ.

Trong nhà, có tiếng một chiếc thang giường gẫy đánh rắc và tiếng người phụ nữ trẻ cười khe khẽ rồi hổn hển: “Khiếp quá thôi mất, làm cái gì mà hung đồ thế! Cứ như là phải nhịn cả tháng không bằng. Từ từ thôi, em không thở được đây này!”. Như bị nện trúng đầu, Lập lảo đảo chực ngã. Trời, người phụ nữ trẻ vừa cất tiếng là vợ Lập. Lập muốn hét lên mà không còn hơi sức. Đứng ở ngoài hiên lúc này chỉ là cái thân xác vô hồn của Lập. Còn ở trong căn buồng sau cánh cửa khép hờ kia của vợ chồng Lập, oái oăm quá, lại đang diễn ra cuộc làm tình trơ tráo cuả vợ Lập và lão thợ mộc tên Ngộ. Ôi, người vợ yêu quý của Lập! Ôi, lão Ngộ, tên tội phạm dâm ác, lão tù nhân mới hết hạn giam cầm. Lúc này lão Ngộ đen trũi, trần trụi hình tướng con trâu đực, đang bế người đàn bà là vợ Lập nồng nỗng một thân hình trơn truội, từ trên chiếc giường gẫy thang xuống nền nhà đá hoa. Người đàn bà ấy co người lại kêu: lạnh lưng em, nhưng lại nghển lên vít cổ con trâu đực xuống ngực mình và giọng khê nồng vì phấn hứng, hối thúc nó tiếp tục cuộc tính giao. Trời! Đôi gian phu dâm phụ quấn chặt nhau. Chúng tranh đua với nhau. Chúng nựng nọt nhau. Chúng phô diễn thói dâm cuồng bằng cách thét thật to những lời thô tục. Và ở phút cao trào của sự thô bỉ, lão già gào: “Nhàn, có yêu anh không? Nói to lên”. Lập tức, vợ Lập như giẫy lên vì sung sướng, nức nở và ngọt ngào, đáp rõ to: “Có, em yêu anh Ngộ”.

Cái gì đã xảy ra thế? Chân guồng xe rối rít, tay lái rung đảo bần bật, Lập tự hỏi và không hiểu mình đang đi về đâu? Đi về đâu mà anh chợt dừng chân đạp, mặt đang tái dại chợt đỏ phừng. Ta sẽ phải cho con dâm phụ, thằng gian phu kia một bài học. Nghĩa là sẽ có hai mũi dao đâm thẳng vào trái tim chúng. Vì đây là nỗi đau nhân thế, bại hoại cả tâm thể ta. Đây là sự sỉ nhục quá nặng nề ta không chịu nổi. Khốn nạn, đểu giả đến thế là cùng. Và ta đã là một kẻ quá ư hèn đớn, bạc nhược vì lẽ ra ngay lúc ấy ta phải xông ngay vào. Ta phải làm như bao kẻ khác đã làm. Không cho chúng mặc quần áo, ta trói gô chúng lại. Chúng run rẩy, chúng nước mắt ngắn dài, dập đầu van lạy ta, ta cũng chỉ nhếch cười: “Sao, sự lừa dối ghê tởm nhất thế gian cũng biết đến liêm sỉ ư?”. Phải rồi, đây là sự vô liêm sỉ nhơ nhuốc nhất trần gian. Vợ chồng là thứ sở hữu thiêng liêng, cả hai có bổn phận phải giữ gìn. Ái tình vợ chồng là ái tình dành riêng cho nhau. Tầm hồn chẳng những thuộc về nhau mà cả thể xác cũng đã hoàn toàn giao phó cho nhau. Da thịt là của nhau. Niềm khoái lạc cũng chỉ là bữa tiệc chỉ để dành riêng cho nhau. Tuyệt đối là riêng tư, cá nhân, không được chia sẻ. Từ lúc thoát khỏi đời muông thú đã là thế! Từ lúc ký vào tờ hôn thú là thế! Cuộc tính giao được lệ luật và đôi bên coi như là một hành vi yêu đương mang tính người bí ẩn, độc đáo, là bất khả xâm phạm đối với người thứ ba, dẫu kẻ đó có tước vị, quyền lực, tài sản như thế nào. Huống hồ, kẻ nọ lại là một lão thợ mộc hết hạn tù, một tên vô lại, một lão già dâm đãng, một kẻ ở tầng đáy của xã hội, một thứ cặn bã đáng bị khinh miệt!

Chao ôi, trong tình huống này, Lập có quyền nhân danh kẻ bị tước đoạt, kẻ bị nhục mạ mà ra tay trừng phạt chứ! Ớ đơn vị anh hồi ấy, có người bạn anh rơi vào hoàn cảnh này. Bạn anh đã xông vào, túm cổ áo tên đàn ông nọ, dựng nó lên. Mặc y lõa lồ, lẩy bẩy van xin, anh đã rút con dao nhỏ, đặt vào tai y: “Tôi xin anh một cái tai làm kỷ niệm”. Cái tai cụt như chứng chỉ về thói dâm đãng của gã nọ ngày ngày phô bầy trước con mắt thiên hạ khiến bạn anh hả hê ngấm ngầm. Còn ở vùng núi nơi anh đóng đồn trước đây, những vụ tương tự xảy ra chẳng ít, và người chồng bị cắm sừng đã chẳng ngần ngại nã súng giết chết tên đàn ông dâm dật ngay khi y còn đang lõa thể trên giường. Vậy thì Lập có thể xông vào, lật cái gối lên, nhấc khẩu súng đạn đã lên nòng, chĩa vào ngực tên đàn ông gian dâm nọ lắm chứ! Chỉ có vậy anh mới bộc lộ được nỗi đau đời đang cào xé trái tim anh. Thế đó, dứt khoát là anh phải trả thù. Anh phải trừng phạt. kể cả với người vợ của anh nữa. Anh có thể đánh đập cô, chửi rủa cô, hành hạ cô mà cô không được phép chống trả. Cũng không thể thanh minh. Vì mi đã lừa dối, mi nói một đằng, nghĩ một nẻo, vì mi thay lòng đổi dạ, vì tâm địa mi đen tối. Vì tội lỗi này ê chề quá, nhơ bẩn quá, thú vật quá. Thật thế! Mi là đồ tiện dâm. Mi là con quái nữ. Ta có thể đưa mi trả về bố mẹ mi. Ta sẽ nói cho hai đứa con biết, rằng mẹ chúng là một con đĩ, một con đĩ trăm thằng. Thời trung đại, ở nhiều nước trên thế giới, người ta xẻo mũi, chọc mù mắt, buộc đá trôi sông người đàn bà ngoại tình. Ở ta, trong nhiều làng bản, người ta gọt trọc đầu, giong người đàn bà hư đốn trên đường để mọi người sỉ vả. Bạn Lập, đã có người hành động như thế. Có người bắt người đàn bà bội bạc viết kiểm điểm, đọc lời tự thú vào băng ghi âm và đêm đêm bật mở cho cả nhà cùng nghe. Chao ôi! Nghe nói ông Hói cũng đã gặp tình cảnh trớ trêu này ở người vợ trước. Và ông đã xử sự rất quái ác. Vậy thì Lập cũng có thể như thế. Anh sẽ quay về, gọi cái con đàn bà hiếu dục trơ tráo đó lại và bắt đầu tiến hành cuộc hành hạ tinh thần thị.

Óc rối loạn, chiếc xe không điều khiển sa xuống một cái hố bên đường, Lập ngã dập mặt xuống đất. Ngồi dậy, nắn lại tay lái xe, đáng lẽ cứ thẳng đường đạp về nhà, anh lại quành bánh xe trước, ngược đường về Trại. Không, anh không thể thực hiện được bất cứ hành vi trừng phạt nào đối với cặp đàn ông đàn bà dâm loàn kia. Nhìn căn nhà ấy anh đã thấy sợ hãi, kinh tởm rồi. Để đau đớn biến thành cơn điên loạn của con thú, anh không thể. Anh là một con người. Nỗi đau này lớn quá, không thể diễn tả bằng một hành động nào, nó là nỗi đau của một con người!

Đóng chặt cửa, Lập nằm lì ở trong buồng. Đã tưởng sau đó anh sẽ nuốt mấy viên thuốc ngủ cho khuây quên sự đời. Thì thấy lát sau, của buồng mở và người giám thị sắc phục chỉnh tề, một khối câm lặng đi ra, bước xuống mặt đường, chìm vào bóng đêm đang tỏa từ những khối núi đá sừng sững vây quanh khu Trại.

Đêm đen mờ, lạnh lẽo.

Xa xa, những ngọn đèn lấp láy trong các căn hộ giống như các lỗ thủng nho nhỏ. vẳng lại trong hơi gió hoang, mùi gạch nướng khét lẹt, tiếng rì rầm của côn trùng, và tiếng kêu nho nhỏ của những loài muông thú ăn đêm. Đôi lúc chợt giật thét lên ngay bên lối Lập đi một tiếng kêu não nùng của một con vật bị vồ bắt. Đó đây lượt xượt những vệt cỏ bị xẻ đôi vì cú lao mình hốt hoảng của một con thú nhỏ. Giun dế rên ri và cơn hứng dục của lũ mèo hoang phát ra những tiếng gầm ghì gai góc khiến khung cảnh đã âm u càng thêm u ám ghê rợn.

Trong đêm, khu trại giam phình to, rô ráp và thật lạ mắt. Có lẽ hơi sương đã biến dạng nó. Hay là vì ở trên đỉnh bức tường vi mới được căng thêm một đường dây kẽm điện bảo vệ. Trốn trại chưa bao giờ thôi là căn bệnh kinh niên của những kẻ bị giam giữ.

 “Chào thủ trưởng ạ”. Người lính gác cổng dậm chân lập nghiêm, cất tiếng khe khẽ. Lập không đáp, nín lặng, khom lưng, chui qua cái cửa vòm, lặng lẽ bước lên bậc thang chiếc chòi gác.

Cửa chiếc chòi gác cao nhất trại giam là nơi Lập đứng lại. Chống tay vào hàng lan can, mắt anh như mắt thú săm soi. Dưới mắt anh là những dẫy nhà giam một tầng im lìm như những luống đất kẻ vệt song song. Anh biết, lúc này đây trong những căn nhà có sàn xi măng làm giường ngủ, có cửa ra vào ốp thanh sắt lớn khóa trái nọ có đủ hai nghìn linh một phạm nhân đang ở trong giấc ngủ giam cầm. Đủ hai nghìn linh một tội lỗi. Đủ hai nghìn linh một phạm nhân, chia thành hai phân trại, nam và nữ. Đủ hai nghìn linh một sự trừng phạt!

Làng Lập có một ngôi chùa lớn. Ở ngôi chùa ấy có tòa thượng điện uy nghi, lung linh hình Phật Bà ngự tòa sen và Đức Phật thuở ấu nhi tay chỉ đất, tay chỉ trời, biểu hiện tư tưởng duy ngã độc tôn. Nơi ấy có hàng tượng Kim Cương, La Hán sơn son thếp vàng sống động từ mỗi nếp áo, nét nhăn đời thường. Nơi ấy, đặc biệt có Thập điện Diêm Vương tái hiện cảnh tượng hãi hùng nơi âm ti địa phủ. Địa phủ! Con người ta khi chết, tất cả đều phải đi theo một con đường dẫn xuống đây! Địa phủ! Tới đây, cửa địa phủ có quỷ đầu trâu mặt ngựa đứng canh gác, mọi linh hồn sẽ được phân loại. Ai là người lương thiện thì được đi theo con đường lên trời, hưởng phúc lộc sung sướng ở một kiếp sống khác. Còn những kẻ phạm trọng tội, thảy đều bị dẫn vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, ba nẻo ác đạo. Ôi! Lập đã sởn tóc gáy vì nhìn thấy cái cảnh kẻ mắc trọng tội bị leo cầu vồng. Vòng cầu vồng thì vừa cong vừa trơn, vừa cao, nhìn xuống dưới chỉ thấy con sông lửa sùng sục và đàn chó ngao nghển cổ, nhe hàm răng nhọn hoắt đón chờ. Nhẹ nhất trong bọn đại ác này là kẻ bị quỷ sứ đặt lên bàn chông tua tủa cả trăm cái đinh nhọn chổng ngược. Còn lũ cướp của giết người, thì nhiều lúc Lập không dám mở mắt nhìn cảnh chúng bị trừng trị, vì khiếp hãi quá; bọn người này bị lũ quỷ sứ vứt vào vạc dầu đang sôi cuồn cuộn. Cũng có kẻ bị ấn vào cối đá để chúng đâm chầy xuống giã như giã giò. Khủng khiếp nữa, có kẻ bị dằn ngửa trên một phiến đá dưới một lưỡi cưa to tướng do hai tên quỷ sứ cầm hai đầu kéo đẩy. Liệt vào hạng đại gian đại ác đã có tới mười lăm loại. Đó là những kẻ sát nhân, dục lạc, dâm ô, hôn loạn, buông lung, nịnh hót, dối trá, trộm cướp, rượu chè bài bạc, giông giở, hủy báng đạo đức. Chao ôi, tội lỗi! Tội lỗi có cả nghìn gương mặt! Kể từ thói tệ tham lam để lấp cả lương tri đến đớn hèn, nhút nhát mà mắc tội đồng lõa. Kể từ khờ dại lù đù tới tư cách đê tiện. Kể từ hay cãi cọ với xóm giềng tới thói ngang tàng, ngạo mạn. Kể từ kẻ ác khẩu hại người tới đứa bôi mật vào lưỡi dao xui trẻ con liếm. Kể từ kẻ xảo ngôn lệnh sắc, nói năng ngọt xớt mà lòng không thực thà, tới kẻ độc thiện, nghĩa là chỉ giữ cho bản thân mình được thanh khiết, không hại ai, nhưng cũng chẳng giúp được ai.

Tội ác nhiều lắm. Xưa đã vậy. Nay xem ra con người càng đổ đốn hơn, vì mỗi bước tiến lên của nền văn minh vật chất thì đồng thời với nó là bước giật lùi về đạo đức nhân phẩm và khu trại giam giữ này liệu đã là một lát cắt phẫu thuật? Ở đây, phạm tội nhẹ nhất, xếp theo nguyên tắc của linh hồn, nhẹ trên, nặng dưới thì ở lớp trên cùng là những kẻ chỉ vì ham mê đồng tiền bất nghĩa, vì hoàn cảnh thúc bách hoặc nông nổi mà lạc lối vào việc làm bất chính. Thể tất cho tất cả những trường hợp do hèn yếu hoặc do sự thằng thúc của nghèo nàn mà sa sẩy tư cách. Như một ông giáo làng vừa nhập Trại với án tù năm năm do phạm tội vận chuyển một bánh thuốc phiện để lấy tiền mua thuốc chữa bệnh hiểm nghèo cho bà vợ già. Như cô Thảo xinh xắn người nhà của Khanh, kẻ vô tình gây ra cái chết cho cô bạn cùng nghề phe vé. Ớ lớp này, có vị trung tá về hưu sống trong cảnh nghèo túng, vì mối lời triệu bạc mà chuyển hộ tên trùm buôn thuốc phiện lậu, một túi hàng quốc cấm chục cân. Cũng có thể xếp cả vào đây những người do không kiềm chế được lòng tham, do không hiểu biết pháp luật mà rơi vào cạm bẫy, vô hình tiếp tay cho bạo ngược.

Dưới lớp này là bọn trộm cắp. Đây là một đám đông phức tạp vì bao gồm từ đứa trẻ móc túi tới gã đàn ông cắt trộm đường dây điện đồng, số lợi tức bọn họ thu được chẳng đáng là bao, hơn nữa, họ cũng chỉ là những kẻ hành nghề nghiệp dư. Tách ra khỏi lớp này là bọn trộm cắp chuyên nghề, đã biến thành lưu manh chuyên nghiệp. Bọn cướp giật trên ô tô, trên tầu hỏa. Bọn chôm chỉa có băng nhóm, đường dây. Lũ bất nghĩa vô lương có tổ chức. Ví dụ, bọn ôm bom, tức bọn người tụ tập ở các tụ điểm bến tầu bến xe thừa cơ nẫng đồ đạc của hành khách rồi chuyên tay nhau tẩu tán. Bọn chân gỗ, lợi dụng mọi cơ hội, trấn lột người qua đường. Bọn ma cô, mặc rô, cò mồi, cửu vạn, lũ bảo kê, vệ sĩ, chăn dắt gái điếm, bọn buôn bán phụ nữ, lũ Tú bà Tú ông chủ ổ nhện, động mại dâm. Xếp cả vào đây bọn chủ đề, chủ hụi quen thói lừa lọc và bọn a dua a tòng theo voi ăn bã mía. Anh chủ Kơn trọc đứng đầu băng Nhà hàng Đại Dương, chưa hiểu vì lý do gì mà thoát án tử hình, tất nhiên là thành phần xuất sắc trội bật của lớp này. Đây là lớp cặn gỉ, chúng làm ô uế xã hội, chúng gây bất bình, sợ hãi và buồn nản cho con người. Chúng khiến cho cuộc sống thiếu hẳn đi sự mạch lạc, an toàn.

Ở đây có tên Văn Khiền đầu lĩnh lưu manh trên tuyến đường sắt phía Nam, liền hai chục năm trời. Xuất thân thợ xây nhưng lười biếng quen thói, lại nghiện ngập từ nhỏ, một lần giật được chiếc túi đựng cả một tháng lương của một đại đội chiến sĩ, sắm được một ti vi và một chiếc Babetta, từ đó y rắp tâm theo đuổi việc bất nghĩa. Khiền lập ra một băng nhóm gồm mười tên, toàn là thợ dệt, thợ máy, lái xe bị các cơ sở thi hành kỷ luật. Sáu giờ tối, cả bọn lên tầu. Hoạt động trộm cắp từ ga Nam Định đến ga Ninh Bình, tiếng nhà nghề bọn họ gọi là xô bè ngắn. Còn xô bè dài là tiếng lóng chỉ việc cướp giật hành khách trên chặng đường dài hơn, đến tận ga Vinh. Chúng có lớp ngôn ngữ nhà nghề riêng, như ghếgái, xếxe, nhốpkính, độngđồng hồ, bốc chỉ là thủ đoạn lấy trộm khi giả vờ mua hàng. Chúng có tổ chức, có hệ thống thủ đoạn riêng. Chẳng hạn, khi người bị móc túi kêu cứu thì cả bọn xô lại ra cái vẻ quan tâm hỏi han, nhằm mục đích giữ chân họ, hoặc vờ vĩnh đuổi theo tên kẻ cắp vô hình khiến khung cảnh đã rối loạn càng thêm rối loạn. Có khi sử dụng thủ thuật lấy thịt đè người, vừa ăn cướp vừa la làng, chúng xúm lại vu cáo và đánh đập ngay chính nạn nhân của chúng. Mỗi đêm một tên thường móc được từ 10 đến 30 chiếc ví, đa phần là của chiến sĩ quân đội. Vì đó là con đường ra trận của họ. Ngọc Khiền sống phè phỡn, mua đài, mua xe, thậm chí xây nhà cửa bằng tiền lấy cắp được từ họ. Khốn nạn! Chúng xúc phạm đến cả những người sẵn sàng hy sinh máu xương cho chúng. Hiện bọn Ngọc Khiền này đang bị giam giữ ở căn nhà B2 kia.

Bọn tham nhũng xếp riêng một lớp đặc thù. Lũ này là sản phẩm của lòng tham, sự sơ hở của chế độ chính sách, tình trạng độc quyền và sự bao che của quyền lực, một biểu hiện của thói lưu manh có tính lịch sử. Các chủ tịch, chủ nhiệm, giám đốc, kế toán... hà lạm công quỹ, đục khoét của kho, bóp nặn kẻ dưới. Không kể vào đây hạng người xé mắm mút tay, thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ. Ở đây không kể tới con mèo mướp ăn vụng cá trong mâm cơm bà nội. Đây là bọn dựa vào quyền chức, bọn tân cường hào táng tận lương tâm, ăn chặn cả tiền tuất của mẹ tử sĩ, bớt xén cả tiền trợ giúp trẻ em bị nhiễm chất độc điôxin, người già cô đơn, ăn cắp tiền quyên góp giúp đồng bào vùng bị lũ lụt thiên tai. Ở đây có bọn côtilưa, mượn đầu heo nấu cháo, moi tiền nhà nước, bọn chủ hụi xù nợ dân lành. Ở đây có tên đã ngoắc ngoặc với nhân viên ngân hàng làm thế chấp giả, lấy của nhà nước cả ngàn tỉ đồng. Ai dám nói ở đây không có mối liên hệ ngoài quốc gia và dám chắc là chúng không biết cách rửa tiền như bọn mafia quốc tế đã gửi qua các ngân hàng thế giới đến một nửa số đô la thu được bằng con đường bẩn thỉu, để tái hiện như những đồng tiền sạch sẽ, ngang nhiên đầu tư vào các công cuộc làm ăn chân chính.

Bọn buôn lậu ma túy được xếp riêng một lớp. Không phải vì số lợi nhuận khổng lồ chúng thu được. Mà vì tính chất nguy hiểm của tội ác. Vì lợi quyền ích kỷ, chúng đang tâm hủy diệt con người, giống nòi, dân tộc. Chúng gieo cái chết ngấm ngầm, đồng loạt.

Tội ác mang tính chất chó má là bọn hiếp dâm phụ nữ. Xếp vào loại này không chỉ những kẻ dùng vũ lực chiếm đoạt thân xác người đàn bà. Ở đây cần phải nghiêm khắc lên án một hình thái mới ở tội ác này: tưởng là thông dâm, mà kỳ thực là sự hiếp dâm bằng quyền lực và đồng tiền; ở đây, có cả kẻ lợi dụng sự nhẹ dạ và kích dục ham muốn của đàn bà. Bọn này là loại người đểu cáng nhất. Chúng gây nên nỗi nhục nhã cho đàn bà. Chúng hạ thấp nhân phẩm người phụ nữ. Cưỡng bức người đàn bà, chiếm đoạt người đàn bà bất hợp pháp, tên đàn ông dâm đãng gây nên cả nỗi đau đớn cho những người thân của họ, chúng xúc phạm đến người tình, người chồng của họ. Tiết hạnh đàn bà được quan niệm là thiêng liêng, với chính họ và người chồng, kẻ sở hữu duy nhất. Lão Ngộ, phạm tội lỗi vô cùng xấu xa này đã nhận án tù hai mươi năm ở trại này. Lão già đen đúa, bẩn thỉu, hôi hám này đã hãm hiếp hai thiếu nữ, một bà già và sau đó đã cưỡng hiếp em dâu mình và bóp cổ cô ta. Ôi, làm sao có thể nghĩ được rằng sẽ có lúc con ác quỷ dâm cuồng gớm guốc kia lại ôm ấp cái thân hình ngọc ngà, thơm tho của Nhàn và Nhàn lại nấc nghẹn sung sướng vì được hiến dâng lạc thú cho hắn!

Con người là vô luân, vô nhân cách từ bản tính và nó không bao giờ có ý thức sửa chữa, nó không thích đạo đức. Nó thù hận với con người chân chính. Nó say máu giết người. Cùng với bọn hiếp dâm phụ nữ, xếp vào tội đại ác, ờ tầng dưới cùng của địa ngục tội lỗi là bọn sát nhân. Đây là tội ác man rợ nhất. Vì chúng coi đồng loại là kẻ thù, chúng hủy diệt con người và sự sống. Chúng là di chứng của thời tiền sử. Nếu bọn hiếp dâm người phụ nữ là chó má thì chúng là lang sói, hổ báo, lợn lòi. Sát nhân giả tử, luật ấy có từ thời Bao Thanh Thiên nhà Tống nước Trung Hoa. cần phải khai trừ vĩnh viễn chúng ra khỏi cộng đồng người!

Điều đáng buồn là những năm gần đây, số tội phạm giết người càng ngày càng tăng lên và các vụ sát nhân ngày càng trở nên man rợ hơn, tàn bạo hơn. Ngoài súng, dao, lựu đạn, tạt acid, còn là đổ xăng đốt cháy. Là lóc thịt, lột da, mổ bụng. Là giết người cả loạt.

Con người đang ngày càng trở nên hung tợn, đang ở bước thoái hóa cuối cùng là đánh mất toàn bộ nhân tính. Con người đang bước vào thời đại mạt thế chăng, như lời người hành khách trung niên nói với Điền đêm nào trên chuyến tầu xuôi về thành phố? Nên chỉ vì một câu nói chạm lòng tự ái mà một tên là Sùng Trư người Mông bản Tả Chải tỉnh Lai Châu đã thọc dao đâm chết bạn. Vì một điếu thuốc lá, gã trai hai mươi tuổi học sinh một trường cấp ba thành phố có thể cầm vỏ chai đập chết một em nhỏ. Chúng cũng giống mụ Thị Chấn lĩnh án tù chung thân tại đây sau khi đã gây ra năm mươi chín vụ án, trong đó có sáu vụ giết người. Đi chiếc Honda màu xanh cổ vịt, từ Bắc vô Nam, cứ tối đến là y thị xin vào nương nhờ cửa Phật. Sư ông, sư bà, sư cô, sư thầy, y cũng chẳng tha. Y đổ thuốc mê cho họ, đầu độc họ và vù xe sau khi đã khoắng hết tiền nong của nhà chùa. Ở trại này có tên thiếu niên mười sáu tuổi giết anh lái xe Honda Điền bắt từ Lao Cai về. Ở đây có gã thợ quét vôi đã cưỡng hiếp, rồi dùng bàn là đập chết cô nữ sinh xinh đẹp ở phố Phồn Hoa hồi nào. Ở đây có Kơn trọc ở Nhà Hàng Đại Dương, Kơn trọc không chỉ mắc tội tống tiền. Y còn phạm tội đâm người thành thương và có can hệ đến sáu vụ thủ tiêu người ở Mátxcơva, Béclin. Ở trại này còn có thằng Mồm lệch, thằng Thanh rụt, lũ tay chân của Kơn trọc...

Ở trại này, dẫu đã vào sinh ra tử, giáp mặt nhiều lần với tội ác, Lập vẫn thấy ghê ghê khi tiếp xúc với tên Kơn trọc. Nó là cái ác độc tiên thiên. Nó là cái hung hãn bạo liệt của thời đại thực dụng, vô nhân. Hồ sơ tội lỗi của nó dầy hai gang tay. Không hiểu sao nó chỉ chịu án tù chung thân. Hôm nhập trại, quản giáo tìm được mảnh lưỡi cưa nó giấu trong mũ nó. Ngay đêm đầu ở trại nó đã lấy mảnh chai cắt động mạch cổ tay tự tử. Cứu sống nó, hỏi, nó đáp: để các người biết ta là ai! Nó là thằng bất trị. Nó lười biếng, bây bửa, trơ tráo. Nó gây sự cả với cảnh vệ. Thường xuyên nó bị phạt cùm chân. Nó cười: “Cùm gông, tường vây, dây điện giăng, lính gác là cái nghĩa lý đ. gì”.

Đêm tối đã nhuộm đen hoàn toàn cái thế giới tội phạm trong tầm mắt Lập. Chưa bao giờ suy tưởng của anh đạt đến sự bao quát như thế. Cái ác là nỗi sỉ nhục lớn nhất đối với con người, anh đã từng hiểu vậy. Giờ đây, anh đau đớn nhận ra điều ghê rợn hơn. Đạo đức là thứ xa lạ với con người. Còn cái ác thì dường như là một sức mạnh tự nhiên có sẵn ở trong con người, sản sinh cùng với sự hình thành của con người. Nó đã, đang, sẽ tồn tại và anh đã hoàn toàn bất lực trước nó. Khổ đau, tủi hổ, để mặc hai dòng nước mắt chảy ròng ròng trên hai gò má, Lập nghiến chặt hai hàm răng.

Ý thức về bổn phận, nghĩa vụ đã giữ Lập lại bên bờ vực buồn nản hoang mang. Tối ấy trở về là tối thứ mười anh thức trắng đêm. Trời sáng, anh ra vườn hoa. Mấy người lao công đang tưới hoa thấy anh, liền như giật mình, rồi lấm lét cúi gằm mặt. Chẳng lẽ mọi người đã biết hết chuyện của ta? Cắn môi, quay trở về phòng làm việc, anh nghĩ, phải dìm mình vào công việc. Thì vừa lúc chuông điện thoại reo. Đặt ống nghe xuống; anh hấp tấp đi xuống khu giam giữ. Vừa có vụ tự sát thê thảm ở buồng 6, nhà B5.

Hiện trường còn giữ nguyên, vì sự việc vừa mới xảy ra chưa đầy mười lăm phút. Giữa nhà, trên nền xi măng lạnh, hai xác tù nhân đàn ông nằm sõng sượt. Một nằm sấp đã chết hẳn. Một nằm ngửa đang co giật hấp hối. Cổ họng người đang hấp hối này đã bị cắt rời, máu sủi bóng phập phồng, trong khi bàn tay anh ta còn nắm con dao nhọn mỏng như cái lá lúa. Chính là người này đã tự cắt cổ mình sau khi đã đâm ngập tim kẻ đang nằm cạnh mình, tên Mùi đầu gấu. Mùi là tên lưu manh đại ác vô cùng hung tợn, đời hắn là một chuỗi nối tiếp tội ác hiếp, giết, cướp, không hiểu sao lại thoát án tử hình, vào đây chịu án tù hai mươi năm. Ở trại này, mặc dù đã nhiều lần bị trừng phạt, hắn vẫn chứng nào tật ấy, hết hành hạ, sỉ vả, đánh đập dã man, lại ăn chặn, trấn lột tàn bạo bạn tù. Đồng bọn hắn đã có lần dùng đá định đập đầu giết chết hắn mà không thành. Lần này thì hắn đã bị đền tội!

Đó là kẻ bị giết. Còn người giết hắn và sau đó tự sát? Người này tên Doãn. Lập nhớ mặt, nhớ tên, biết rõ lai lịch, án tù anh ta. Mới ba mươi tuổi khi vào đây nhận án tù chung thân, Doãn là một thiếu úy công binh phục viên sau chiến tranh. Thuở niên thiếu, Doãn là một trò giỏi, bạn tốt, đội viên chăm. Lúc ở quân ngũ anh đã được thưởng huân chương chiến công hạng hai. Trở về làng quê, gia đình, Doãn phát hiện ra điều khủng khiếp: vợ anh, một phụ nữ tươi đẹp, người anh thương nhớ thiết tha suốt những năm dài chiến tranh đã phản bội anh. Chị có quan hệ tình ái mặn nồng với gã chủ tịch xã, một kẻ trốn nghĩa vụ quân sự, dựa thế bố là chủ tịch tỉnh, có một tài sản kếch xù và thường dùng tiền của để mồi chài đàn bà. Quy mọi lỗi lầm cho hoàn cảnh chiến tranh, Doãn bỏ qua mọi chuyện, nén mình, hàn gắn vết nứt rạn, tạo lập cuộc sống êm thuận của vợ chồng. Buồn thay, ái tình vụng trộm là bùa mê thuốc lú, cuộc dan díu vẫn tiếp tục ngựa theo đường cũ vì ân ái vô luân là khoái cảm mây mù mê muội không cởi thoát được của bọn chúng. Doãn bắt quá tang cuộc hành lạc của hai đứa ngay trên cái giường vợ chồng trong buồng mình. Quái quỷ, đã không biết tội lỗi, tên đàn ông chủ tịch xã lại cậy quyền hung hăng lật ngược tình thế, đặt điều vu vạ, định hãm hại Doãn, uất tức đổ máu mắt, Doãn vung chiếc đòn gánh đang cầm trong tay. Tên chủ tịch xã đạp cửa chạy biến. Chiếc đòn gánh đập trúng đầu vợ Doãn. Ngườỉ đàn bà vừa là tội phạm vừa là nạn nhân ngã quay lơ, chết ngay tại chỗ. Đau đớn kinh hoàng, ân hận vò xé, Doãn lấy dao tự cắt cổ, kết liễu đời mình. Thanh đới sắp đứt lìa, đúng lúc ấy, tên chủ tịch xã dâm dê gọi công an tới, Doãn bị bắt. Mang án tù chung thân, ở trại này, Doãn lầm lũi như một cái bóng không hồn. Không nói không rằng, hiền lành như một kẻ tu hành, Doãn nghiêm chỉnh chấp hành mọi quy định và rất chịu khó lao động. Doãn có thói quen không bao giờ ngẩng mặt. Dường như anh muốn dùng cái cằm để che giấu vết dao cắt đã thành sẹo ở cổ mình. Cái gì đã xảy ra trong quan hệ giữa Doãn và tên Mùi đầu gấu? Cũng đơn giản thôi. Và nói làm gì nữa. Mùi đã chết đáng đời. Còn Doãn? Lần tự cắt cổ thứ hai này không thể chữa chạy được nữa. Tấn bi kịch đã kết thúc bằng cơn cuồng sát.

Lập cúi xuống, vuốt mắt cho Doãn, gương mặt vuông vức rắn rỏi thường ngày của anh vạc những đường nét kinh hoàng ở hai bên cánh mũi và góc miệng.

- Chôn cất anh ấy cho tử tế!

Giọng lạc hẳn một cung bậc, Lập nói khe khẽ và cúi đầu đi ra ngoài.

Con người là vậy ư? Nó là một thế giới bỏ ngỏ, một thực thể chưa hoàn thành? Hay nó là một quái thai đẻ non, thiếu năm thiếu tháng? Vì vậy, nó là mảnh đất thuận lợi cho vi khuẩn độc hại, là bản chất ẩn náu với chính nó nên nó không tự nhận ra mình trong các hoạt động của bản thân. Nó chỉ nhận ra nó ở cái bóng ở đằng trước nó và ở phía sau nó. Nó không có khả năng chế ngự được bản tính thông thường của nó, nó yếu hèn lắm. Chao ôi! Thế mà nó lại phải sống giữa các cực giằng xé, trong những hoàn cảnh vô cùng éo le. Nó thiếu kinh nghiệm. Nó bất lực. Nó mặc cho bản năng chỉ bảo. Thầy hướng đạo cho nó là nhu cầu dục vọng. Khốn nạn thân kiếp nó chưa!

Đang ngồi tê dại và xót xa với những ý nghĩ trên, Lập bỗng đùng đùng nổi cơn thịnh nộ khi có người hạ sĩ tên Thịnh bước vào báo cáo khẩn cấp: có một tên phạm vừa bỏ trốn.

- Đứa nào?

- Báo cáo thủ trưởng, đó là tên Hùng, biệt hiệu Mồm lệch.

- Nói đi! Ngắn thôi!

- Báo cáo thủ trưởng. Tôi phụ trách tốp làm cỏ ngô ở hẻm núi Đường Tăng. Tên Mồm lệch hay díu lại cùng với tên Thanh rụt ở đội 3. Tôi vẫn luôn để mắt đến nó.

- Vậy mà nó lại mọc cánh để thăng thiên và mọc vuốt để độn thổ được?

- Báo cáo, tôi có lỗi.

Cú đập bàn đã bật dậy khỏi ghế cả tấm thân nặng nề, vạm vỡ của Lập. Lập nổi cơn giận dữ. Anh cảnh vệ trẻ mặt non choẹt, cao lêu nghêu như con sào, lúng túng giãi bầy rằng Mồm lệch là thằng bất trị. Rằng tranh ăn, nó đánh bạn tù chảy máu mũi. Rằng đi xúc cát, nó ăn gian khối lượng nghiệm thu. Vừa rồi bắt được nó giấu dưới chiếu hai thanh sắt phi 6 dài hai mươi xăngtimét một đầu nhọn, một đầu bẹt, và một lưỡi cưa, chứng tỏ nó có âm mưu vượt ngục. Lần trước nó dùng kế độn thổ nhưng không trốn thoát. Và đây là lần đầu, anh bị nó lừa. Trên đường đi làm về, nó kêu đau bụng xin phép đi đại tiện, rồi rúc bụi chạy. Lúc ấy anh đang giải quyết vụ tên Thanh rụt gây gổ với thằng bé giết anh lái xe Honda ôm ở Lao Cai và nói thật cũng sơ ý, để hồn bay bổng việc khác. Mặc, Lập không một chia sẻ: “Nghe đây! Bắn súng không nên thì đền đạn. Anh hãy bỏ tiền túi ra mà đi bắt nó về. Không bắt được nó thì vào ngồi tù thay nó!”.

Chỉ còn lại Lập trong căn buồng rộng. Ngoài cửa sổ, dông núi đã lẫn vào mây chiều và những thung lũng lầy thụt đã lãng đãng khói sương. Mấy con cò trắng từ những thửa ruộng mới khai khẩn cất cánh bay, chúng bay đi đâu mà thoáng cái đã mất hút những cặp cánh trắng xóa nhỏ nhoi đến vô nghĩa và khung cảnh đang mất dần sinh lực, trở nên vô hồn. Ngày đang lụi tàn trong cô quạnh, trong lòng Lập. Lập rùng mình. Đã buột ra khỏi tay Lập một cái gì đó thật hệ trọng, thật thiết tha. Mất mát này lớn lao quá. Vì đó không phải chỉ là hạnh phúc mà dường như là toàn bộ cuộc sống, niềm tin tưởng và chính bản thân mình.

- Báo cáo thủ trưởng, Trung Tâm đưa đến một phạm mới.

Chiều ấy, lúc ba giờ, sĩ quan thường trực bước vào buồng Lập, đặt lên bàn anh một cặp hồ sơ. Ngoài bì hồ sơ là những dòng chữ đậm. Họ tên: Đỗ Văn Túc, số nhà 18, ngõ 442, phố Thanh Hòa, Thành phố. Tội danh: Đánh người trọng thương. Mức án: Tù giam tám năm.

Cầm cặp hồ sơ lên, đọc lý lịch của tội phạm tên Túc này, Lập liền gọi điện thoại cho phòng lưu trữ, bảo cô nhân viên mang ngay đến cho anh hồ sơ của nữ phạm nhân Đỗ Thị Thảo. Trí nhớ của anh không tồi. Thảo và Túc đúng là cùng mẹ, khác cha. Anh nhớ tới Khanh nữ diễn viên xinh đẹp duyên dáng. Tinh thần bổn phận lại gọi anh về từ cơn lao lung buồn thảm.

« Lùi
Tiến »