Benjamin Franklin - Cuộc Đời Một Người Mỹ

Lượt đọc: 1807 | 4 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
nổi loạn london, 1771-1775 những kỳ nghỉ năm 1771

Khi mùa hè năm 1771 đến gần, Franklin quyết định tạm thời từ bỏ thế giới của công vụ. Ít nhất là vào lúc này, ông đang lúng túng trong tất cả nhiệm vụ chính trị của mình: cuộc chiến chống lại giới nghiệp chủ và sau đó là Quốc hội, theo đuổi việc cấp đất và sự bổ nhiệm của hoàng gia. Nhưng ông vẫn chưa sẵn sàng trở về. Vì thế, thay vào đó, ông lẩn tránh các áp lực chính trị theo cách ông ưa thích nhất: thực hiện một chuỗi chuyến đi kéo dài cho đến cuối năm. Ông đã đến vùng công nghiệp trung du của nước Anh, tới thăm điền trang của một người bạn vào tháng Sáu và trở lại vào tháng Tám, sau đó đến Ireland và Scotland vào mùa thu.

Trong một chuyến ngao du vô định vào tháng Năm, Franklin ghé thăm làng Clapham, nơi có một chiếc ao lớn. Đó là một ngày gió và nước động mạnh, vì thế ông quyết định thử nghiệm lý thuyết về tác dụng làm dịu của dầu. Chỉ với một thìa dầu, ông kinh ngạc chứng kiến nó “tạo ra sự tĩnh tại ngay lập tức”. Dầu dần loang ra khiến “một phần tư mặt ao, có diện tích đến nửa mẫu, trở nên phẳng lặng như gương soi.”

Dù vẫn tiếp tục nghiên cứu tác động của dầu đối với nước một cách nghiêm túc, Franklin cũng tiêu khiển bằng cách biến nó trở thành một trò ảo thuật. “Từ đó, tôi chủ ý mang theo mình một chút dầu chứa ở khớp rỗng bên trên của cây gậy tre bất cứ khi nào tôi về miền quê,” ông viết. Trong một chuyến thăm nhà Ngài Shelburne, khi đang đi bộ bên dòng suối cùng một nhóm bạn bè trong đó có diễn viên nổi tiêng David Garrick và nhà triết học người Pháp lừng danh Abbé Morellet, ông nói với họ rằng ông có thể làm lặng các con sóng. Ông đi về phía đầu nguồn, vung cây gậy của mình ba lần: dòng suối trở nên yên tĩnh. Sau đó ông mới khoe cây gậy và giải thích trò ảo thuật.1

Chuyến thăm miền trung và miền bắc nước Anh với hai nhà khoa học cộng sự giúp Franklin có cơ hội nghiên cứu cuộc Cách mạng Công nghiệp đang nổ ra ở đây. Ông đến thăm một nhà máy sắt và thiếc ở Rotherham, các cửa hiệu bán đồ kim loại đúc ở Birmingham và một nhà máy lụa ở Derby nơi 63.700 cuộn sợi luôn xoay liên tục “và quá trình xoắn được coi sóc bởi những đứa trẻ dăm bảy tuổi”. Ở Manchester, ông lên một chiếc thuyền ngựa kéo xa hoa do Công tước Bridgewater sở hữu. Đúng như tên của chủ nhân, chiếc thuyền đưa ông lên một chiếc cầu máng cắt qua dòng sông trước khi kết thúc ở một mỏ than. Tới gần Leeds, họ đến thăm khoa học gia Joseph Priestley, người đã làm một số thí nghiệm về điện rất hay cho họ xem, sau đó mô tả rất nhiều loại khí mà ông đã phát hiện.

Franklin lên án hệ thống luật pháp kinh doanh có tính trọng thương của nước Anh, vốn được đặt ra để trấn áp sản xuất ở các thuộc địa, bằng cách lập luận (hơi thiếu thành thật) rằng, nước Anh không bao giờ phải e sợ nước Mỹ sẽ trở thành đối thủ về công nghiệp. Tuy nhiên, trong các thư tín mà ông gửi đi từ chuyến đi năm 1771, ông đưa ra lời khuyên chi tiết về việc lập ra các ngành công nghiệp sản xuất vải vóc, quần áo và kim khí để giúp các thuộc địa tự cung tự cấp được. Trong thư gửi Thomas Cushing, người bạn ở Massachusetts, ông “càng lúc càng tin vào” tính “bất khả thi” của việc nước Anh sẽ đáp ứng kịp nhu cầu hàng may mặc ngày càng gia tăng ở Mỹ. “Vì thế, tình thế cần kíp lẫn thận trọng sẽ sớm khiến chúng ta phải tìm kiếm nguồn lực từ trong chính các ngành sản xuất của mình.”

Franklin trở về London trong khoảng thời gian ngắn ngủi vào đầu tháng Sáu, “kịp để lên triều dự tiệc sinh nhật của nhà vua”, ông viết trong thư gửi Deborah. Dù bất đồng với chính sách thuế của Quốc hội, ông vẫn là một người trung thành ủng hộ Vua George III. “Trong khi chối bỏ quyền lực tự xưng của Quốc hội, tôi mơ ước được thấy sự gắn kết đầy tôn kính với đức vua và hoàng gia được duy trì bền bỉ giữa chúng ta”, ông viết cho Cushing vào tuần đó.2

Sau nửa tháng ở London, Franklin lại lên đường về miền nam nước Anh. Ông đến thăm người bạn Jonathan Shipley tại trang viên của ông ở Twyford, ngay bên ngoài thành Winchester. Là một giám mục Anh giáo ở xứ Wales, song Shipley dành phần lớn thời gian của ông ở Twyford với vợ và năm cô con gái đầy sức sống. Đó là một chuyến thăm viếng thật vui sướng (Franklin hẳn đã định nghĩa từ vui sướng như một ngôi nhà vùng quê, đầy kích thích trí tuệ với năm cô gái trẻ tươi vui) đến mức ông than thở khi phải rời đi sau một tuần để giải quyết đám thư tín đã chất đống ở London. Trong thư cảm ơn gửi nhà Shipley, kèm theo món quà là những trái táo Mỹ sấy, Franklin than thở rằng ông phải “miễn cưỡng hít thứ khói bụi của London” và mong sẽ được trở lại với bầu không khí ngọt ngào của Twyford trong một chuyến thăm dài hơn vào mùa hè đó.3

TỰ TRUYỆN

Ở tuổi 65, Franklin đã bắt đầu nghĩ về công việc gia đình nhiều hơn. Ông cảm nhận được tình cảm đối với tất cả họ hàng của mình, bất luận - hoặc bởi vì, như chính ông suy đoán - việc ông tiếp tục sống xa cách họ. Vào mùa hè đó, trong một lá thư dài hơn gửi cho người em duy nhất còn sống, ông khen ngợi vì bà đã sống hòa thuận với con dâu con rể tại Philadelphia. Trong một đoạn hé lộ nhiều điều, ông suy nghĩ về việc những người họ hàng luôn dễ dàng thân thiện hơn nhiều khi ở xa nhau. “Cha chúng ta, người luôn rất khôn ngoan, đã từng nói rằng, chuyện xa thơm gần thối là chuyện cơm bữa; khi người ta ở xa nhau thì yêu thương nhau , khi ở gần thì bới lông tìm vết để không ưa nhau.” Một thí dụ sờ sờ ra đấy, ông nhận định, là mối quan hệ giữa cha ông và Benjamin Lớn. “Dù lúc đó còn nhỏ, anh vẫn nhớ rõ thư từ của họ nồng nàn tình cảm thế nào” khi mà Benjamin Lớn vẫn ở Anh. Nhưng khi ông bác Benjamin chuyển đến Boston, họ bắt đầu vướng vào các “tranh cãi và hiểu lầm”.

Franklin cũng viết thư cho Jane kể về Sally Franklin, một cô bé 16 tuổi đã gia nhập gia đình thứ hai của ông trên Phố Craven. Sally là con duy nhất của một người anh em họ, người vẫn duy trì công việc nhuộm vải của dòng họ Franklin ở Leicestershire. Đi cùng lá thư là một phả hệ chi tiết cho thấy họ đều là hậu duệ của Thomas Franklin vùng Ecton và nhấn mạnh Sally là người cuối cùng ở Anh còn mang họ này.

Niềm yêu mến gia đình của ông được kích thích hơn khi ông tình cờ ghé qua một trong những hiệu sách cũ ưa thích ở London. Người buôn sách cho ông xem một bộ sưu tập các cuốn sách nhỏ về đề tài chính trị, trên đó đầy kín chú thích. Franklin kinh ngạc nhận ra chúng từng thuộc về ông bác Benjamin. “Tôi cho là bác ấy đã phải xa chúng khi rời nước Anh,” Franklin viết trong một lá thư gửi một người họ hàng khác. Và ông lập tức mua chúng.4

Vì thế, cuối tháng Bảy, khi cuối cùng ông cũng thảnh thơi để trở về Twyford trong một kỳ nghỉ dài hơn tại nhà Shipley, ông rơi vào trạng thái trầm tư. Sự nghiệp đang dậm chân tại chỗ và lịch sử gia tộc chiếm lĩnh tâm trí ông. Đó là bối cảnh được dựng lên cho đợt đầu tiên trong nỗ lực bền bỉ nhất của ông, Tự truyện Benjamin Franklin.

“Con trai yêu quý”, ông mở đầu như thể câu chuyện mà ông thuật lại là một lá thư gửi William, người ông bảy năm chưa gặp. Chiêu bài đội lốt thư tín cho phép ông tán gẫu và dễ dãi trong lời văn. Ông giả vờ, ít ra là lúc đầu, rằng đây chỉ là một thư tín cá nhân chứ không phải tác phẩm văn chương. “Tôi đã từng viết một cách bài bản hơn”, ông nói trong một đoạn được ông thêm vào sau khi đọc lại những sự lạc đề lan man về phả hệ mà ông đã thảo ra trong ngày đầu tiên. “Song người ta không ăn mặc để đi họp hội kín giống như đi dự vũ hội.”

Liệu cuốn tự truyện có thật chỉ dành cho hội kín của con trai ông? Không. Rõ ràng là ngay từ đầu Franklin đã muốn viết cho công chúng. Thứ thông tin gia đình có thể khiến con trai ông thích thú đã bị bỏ qua hoàn toàn: danh tính và mô tả về mẹ đẻ của William. Franklin cũng không viết thư trên thứ giấy thông thường; thay vào đó, ông sử dụng nửa bên trái của những tờ giấy đôi khổ lớn, chừa lại nửa bên phải trống để sửa chữa và bổ sung.

Bắt đầu ngày viết thứ hai của mình, ông dừng lại để phác họa toàn bộ sự nghiệp, điều đó cho thấy ý định xây dựng một ghi chép đầy đủ. Cũng trong sáng hôm đó, ông sử dụng cột trống bên phải của các trang đầu tiên để viết thêm một phần dài biện hộ cho sự phù phiếm của ý định “nuông chiều xu hướng rất tự nhiên ở những người già cả, đó là nói về chính họ”. Ông tuyên bố mục tiêu của ông là kể lại quá trình vươn lên từ tối tăm tới nổi bật để cung cấp một số gợi ý hữu ích về cách ông đã thành công. Ông cũng bày tỏ hy vọng, những người khác có thể thấy chúng phù hợp để học theo.

Điều này rõ ràng hướng đến đối tượng độc giả xa hơn con trai mình, người khi đó đã 40 tuổi và là thống đốc của New Jersey. Tuy nhiên, có một ẩn ý nhằm vào anh ta: William làm ra vẻ ta đây từ khi trở thành thống đốc và anh ta còn chết mê chết mệt về tầng lớp quý tộc và tổ chức đoàn thể hơn rất nhiều so với cha mình. Cuốn tự truyện sẽ là một lời nhắc nhở về nguồn cội khiêm nhường của họ và là một bài tán ca về sự cần mẫn, tùng tiệm, những đức tính của người chủ hiệu và vai trò của tầng lớp trung lưu cần cù vốn chống lại hơn là noi theo sự giả tạo của tầng lớp tinh hoa dòng dõi.

Trong gần ba tuần, Franklin viết vào ban ngày và sau đó đọc to vài đoạn cho nhà Shipley vào buổi tối. Bởi tác phẩm được viết như một bức thư và còn được đọc to, văn phong của Franklin mang giọng điệu của một ông lão kể chuyện đáng mến. Thiếu vắng sự bóng bẩy của ngôn từ, hầu như không có một ẩn dụ hay thi ca hoa mỹ nào, câu chuyện trôi chảy như một sợi dây của những giai thoại khôi hài và những bài học dạy dỗ. Đôi lúc, tự thấy mình quá kiêu ngạo khi viết về một sự việc, ông đã sửa lại bằng việc thêm vào một nhận xét có tính tự chế giễu hoặc mỉa mai từ bên ngoài, giống như lối một người kể chuyện sau bữa tối giỏi thường làm.

Kết quả là, một trong những tác phẩm văn chương lôi cuốn nhất của Franklin đã ra đời: bức chân dung tự họa về tuổi trẻ của ông. Tiểu thuyết gia John Updike từng gọi đây là “tác phẩm thờ ơ một cách bốc đồng, đầy rẫy mâu thuẫn tươi vui và nút thắt hài hước - một cái ngoái nhìn đầy trìu mến về chính bản thể trẻ tuổi hơn, đem lại cho chàng trai trẻ cực kỳ tham vọng thứ quyền lợi của sự thư thái đến từ một ông lão.”

Pha trộn giữa sự tách biệt khôi hài và sự tự nhận thức thích thú, Franklin có thể giữ cho tác phẩm của mình đôi chút xa cách để vừa tự khiêm tốn bày tỏ vừa không quá sa đà vào việc đó. Trong tất cả các giai thoại có tính giáo huấn, ông chỉ thêm vào chút ít dấu hiệu của nỗi đau đớn bên trong, không hề có sự đấu tranh của tâm hồn hoặc sự suy tưởng tâm linh sâu kín hơn. Sự hồi tưởng phong phú hơn là sâu sắc của ông đem lại một góc nhìn tươi vui, và hé lộ ở tầng nghĩa sâu hơn về một cách tiếp cận cuộc sống giản dị mà ông tìm thấy trong việc phục vụ đồng loại và qua đó là Thiên Chúa của mình. Những gì ông viết ít có mưu cầu nào khác ngoài mong muốn chọc cười tất cả mọi mưu cầu. Đó là tác phẩm của một con người có tính cộng đồng, thích kể lại những câu chuyện và biến chúng thành những truyện ngụ ngôn mộc mạc để có thể dẫn tới một cuộc đời tốt hơn và đào sâu vào chỗ nông cạn của những bài học giản đơn.

Với một số người, sự đơn giản này chính là điểm thất bại của nó. Nhà phê bình văn học vĩ đại Charles Angoff tuyên bố “nó thiếu gần như mọi thứ đề trở thành một tác phẩm văn học thật sự vĩ đại: sự uyển chuyển trong cách thể hiện, sự lôi cuốn của tính cách và sự bay bổng của trí tuệ”. Song chắc chắn sẽ thật bất công nếu nói nó thiếu sự lôi cuốn của tính cách. Sử gia Henry Steele Commager chỉ ra, “chính sự đơn giản phi nghệ thuật, sáng suốt, lối dùng thành ngữ giản dị, sự tươi tắn và hài hước đã khiến nó luôn tươi mới với mỗi thế hệ độc giả”. Thực tế, nếu được đọc với một con mắt không hằn học, nó thuần túy là một niềm hân hoan và là nguyên mẫu của văn chương bình dân Mỹ. Qua hàng trăm ấn bản ở gần như mọi ngôn ngữ, nó được định sẵn đề trở thành cuốn tự truyện nổi tiếng nhất thế giới.

Trong thời đại của hồi ký ăn liền này, một điều quan trọng cần ghi nhớ là, Franklin đã tạo ra một thứ tương đối mới ở thời đại ông. Tự bạch của Thánh Augustine chủ yếu kể về chuyện cải giáo của ông, còn Tự bạch của Rousseau vẫn chưa được xuất bản. “Gần như chưa từng có cuốn tự truyện nổi tiếng nào trước Franklin, nên ông không có bất cứ khuôn mẫu nào”, Carl Van Doren viết. Điều đó không hoàn toàn đúng. Trong số những người đã xuất bản một kiểu tự truyện nào đó có Benvenuto Cellini, Ngài Herbert vùng Cherbury và Giám mục Gilbert Burnet. Nhưng, Van Doren đã chính xác khi nói rằng Franklin “viết cho tầng lớp trung lưu, vốn ít có sử gia riêng. Cuốn sách của ông là kiệt tác đầu tiên dưới dạng hồi ký viết bởi một con người tự lập”. Mẫu hình gần nhất mà ông có, xét về văn phong tường thuật, là một trong các cuốn sách mà ông yêu thích - kể về giấc mơ có tính phúng dụ của John Bunyan, Tiến trình của kẻ hành hương. Song câu chuyện của Franklin kể về một kẻ hành hương có thật, dù là một kẻ lầm lỗi, trong một thế giới có thật.

Khi rời Twyford vào giữa tháng Tám, ông đã hoàn tất phần đầu tiên trong số bốn phần của cuốn Tự truyện nổi tiếng sau này. Nó đưa ông qua những năm tháng khi còn là một thợ in trẻ say mê những nỗ lực công dân và kết thúc với việc thành lập thư viện Philadelphia cùng các chi nhánh vào năm 1731. Ông chỉ để một nhận định về chính trị len vào những dòng chữ cuối cùng. Ông viết: “Các thư viện này đã làm cho các thương gia và nông dân bình dân cũng thông tuệ như hầu hết quý ông đến từ các quốc gia khác và có lẽ đã đóng góp ở một mức độ nào đó vào lập trường phổ quát khắp các thuộc địa trong cuộc đấu tranh bảo vệ các đặc quyền của họ.” Nếu đó là 13 năm về trước, theo sự thúc giục của bạn bè, ông sẽ tâng bốc phần này của câu chuyện.5

Luôn háo hức tạo ra một gia đình bất cứ nơi nào ông có thể, Franklin kèm cặp Kitty, cô con gái út của Shipley, khi đó 11 tuổi, và đưa cô lên xe cùng ông trở về London, nơi cô sẽ theo học. Dọc đường đi, hai người trò chuyện về mẫu đàn ông mà mỗi cô con gái nhà Shipley sẽ lấy làm chồng. Kitty cảm thấy tất cả chị gái đều xứng đáng với một thương gia hoặc một quý tộc giàu có. Về phần mình, Kitty duyên dáng thừa nhận “cháu thích một ông già, thật sự là như vậy. Theo cách này hay cách khác, tất cả những người đàn ông lớn tuổi đều hấp dẫn cháu”. Franklin gợi ý rằng có lẽ cô nên cưới một người đàn ông trẻ tuổi hơn, “và để anh ta già đi trên tay cháu, vì cháu sẽ thích anh ta hơn sau mỗi năm khi mà anh ta già đi”. Kitty đáp rằng cô thích cưới một người nào đó đã có tuổi “và bác biết đấy, cháu có thể trở thành một góa phụ trẻ giàu có”.

Một công cuộc tán tỉnh suốt đời nữa lại bắt đầu. Ông nhờ vợ gửi một con sóc từ Philadelphia để làm thú cưng cho các cô gái nhà Shipley. Một năm sau đó, khi con vật bị kết liễu không đúng lúc trong hàm của một con chó, ông đã soạn một đoạn văn bia hoa mỹ và sau đó thêm mấy câu thơ giản dị hơn, về sau trở nên nổi tiếng: “Nơi đây/ Skugg nằm khoan khoái/Như một con rận/ Trên tấm thảm.” Tình cảm của Franklin với Kitty trở nên bất diệt 15 năm sau, khi ở tuổi 80, ông viết cho cô một tiểu luận ngắn có tiêu đề “Nghệ thuật có được những giấc mơ êm dịu.”

Vào buổi tối cuối cùng ở Twyford, nhà Shipley khăng khăng muốn tổ chức một bữa tiệc sinh nhật vắng mặt cho Benjamin Franklin Bache, đứa cháu trai 2 tuổi của ông ở Philadelphia. Khi nâng cốc chúc mừng, bà Shipley đã nói: “Mong cháu có thể giỏi giang như ông ngoại!” Franklin đáp, thật lòng ông hy vọng Benny sẽ giỏi giang hơn mình nhiều. Tới đây, Giám mục Shipley nói thêm: “Chúng ta sẽ dàn xếp việc này và hài lòng nếu cậu bé không tỏ ra giỏi giang được đến vậy".6

Điều kỳ lạ trong mọi tình cảm dành cho Benny này là việc Franklin chưa bao giờ gặp cậu và cũng chưa từng thể hiện ý muốn này. Ông thậm chí còn chưa gặp cha của cậu bé. Vào lúc đó, Richard Bache đang đến Anh để thực hiện sứ mệnh tìm gặp người cha vợ nổi tiếng. Bache xuất hiện không báo trước ở Phố Craven, nơi bà Stevenson vui vẻ đón anh. Tuy vậy, Franklin đã lên đường chỉ sau hơn một tuần ở London để thực hiện một kỳ nghỉ kéo dài khác.

IRELAND VÀ SCOTLAND

Đi du lịch với Richard Jackson, một đại diện khác của Pennsylvania ở Anh, Franklin rời London vào cuối tháng 8 năm 1771 và dành ba tháng ở Ireland và Scotland, hy vọng tìm hiểu, liệu mối quan hệ mà các nước này đang cố gắng củng cố với Đế chế Anh có thể trở thành kiểu mẫu cho nước Mỹ hay không. Có một số tín hiệu khả quan. Khi đến thăm Quốc hội Ireland, Jackson được quyền ngồi trong phòng bởi ông là nghị sĩ của Quốc hội Anh. Khi nhìn thấy ngài Franklin lừng danh, người phát ngôn đề nghị rằng, bởi lẽ ông đại diện cho các cơ quan lập pháp của Mỹ, ông cũng nên được hưởng biệt đãi tương tự. “Cả Hạ viện đồng loạt reo hò nhất trí,” Franklin kể lại với Cushing. “Tôi xem đó là dấu hiệu kính trọng đất nước chúng ta.”

Mặt khác, nhiều điều ông quan sát được ở Ireland lại khiến ông rầu rĩ. Nước Anh kiểm soát rất hà khắc thương mại của Ireland, còn các địa chủ người Anh vắng mặt bóc lột các tá điền người Ireland. “Họ sống trong những ngôi nhà khốn khổ đắp bằng bùn và rơm, quần áo rách rưới và tồn tại chủ yếu nhờ khoai tây,” ông nhận xét. Cú sốc về sự chênh lệch giàu nghèo khiến ông thêm tự hào vì nước Mỹ đã xây dựng một tầng lớp trung lưu lớn mạnh. Ông viết, sức mạnh của nước Mỹ nằm ở các chủ thái ấp và các thương nhân kiêu hãnh, những người có quyền bỏ phiếu về những vấn đề công cộng và có dư cơ hội để lo cho gia đình đủ ăn, đủ mặc.7

Khi ở Dublin, Franklin tình cờ gặp kẻ thù của mình, Ngài Hillsborough, người có điền sản gia đình ở phía bắc Ireland. Điều bất ngờ là Hillsborough nhất định mời ông và Jackson ghé qua trên đường đi Scotland. Trong lòng Franklin rất mâu thuẫn. Ông viết cho một người bạn: “Vì đây có thể là cơ hội để nói gì đó về những sự việc ở Mỹ, tôi quyết định nghe theo lời mời của ông ta.” Sau đó, ông lại viết cho con trai mình, nói rằng ông quyết định không đi. Nhưng vì Jackson nhất quyết muốn đi, mà Franklin lại không tìm được một cỗ xe khác, vì thế ông phải theo gót.

Đó là một chuyến thăm thân tình đến mức đáng kinh ngạc. Tại nhà của Hillsborough, Franklin bị “giữ chân bởi cả ngàn điều lịch sự” suốt gần một tuần. Vị bộ trưởng “có vẻ chú ý tới mọi thứ sao cho thời gian tôi lưu lại nhà ông ấy thật thoải mái.” Điều đó thậm chí bao gồm cả việc “đặt chiếc áo choàng của ông ấy lên vai tôi khi tôi ra ngoài, để tôi không bị cảm lạnh”.

Khi bàn về sự nghèo khổ của Ireland, Hillsborough đổ lỗi cho nước Anh vì hạn chế việc sản xuất tại đây. Franklin hỏi, chẳng phải điều này cũng đúng khi nói về chính sách của Anh với Mỹ hay sao? Điều khiến Franklin hài lòng là việc Hillsborough đáp rằng “nước Mỹ không được phép bị hạn chế sản xuất”. Ông ta thậm chí còn đề xuất trợ cấp cho ngành công nghiệp lụa và rượu của Mỹ, đồng thời rất vui lòng lắng nghe ý kiến và lời khuyên của Franklin về vấn đề này, cũng như cách thức thiết lập chính quyền ở Newfoundland. Liệu Franklin có xem xét tới những điều này và “ủng hộ ông ta bằng tình cảm của mình” khi trở về London?

“Lẽ nào con không thấy tất cả những điều này thật lạ lùng?” ông viết thư cho con trai. Trong thư gửi Thomas Cushing, ông cho rằng có thể có một cách giải thích thô lỗ hơn. Lối hành xử của Hillsborough có thể chỉ có nghĩa là “việc vỗ về, vuốt ve con ngựa, khiến nó nhẫn nại hơn khi dây cương siết chặt hơn và gót giày thúc sâu hơn vào hai bên sườn”. Hoặc có lẽ “ông ta hiểu rõ một trận bão đang đến gần và mong muốn hạn chế sớm số kẻ thù mà ông ta đã quá lơ đễnh tạo ra”.8

Franklin tới Edinburgh muộn vào một ngày thứ Bảy sau những cơn bão và trận lụt và có một đêm “trú chân thảm hại” ở một quán trọ. “Nhưng người Ki-tô hữu xuất sắc David Hume, tin theo giới luật của phúc âm, đã tiếp đón người lạ và cha hiện đang ở nhà ông ấy”, Franklin kể lại vào ngày tiếp theo. Người bạn cũ Hume đã dựng một ngôi nhà mới và tự hào rằng món súp đầu cừu do gã đầu bếp của ông nấu là ngon nhất châu Âu. Câu chuyện bên bàn ăn cũng thật đáng ghen tị: triết học (Hume gần đây đã kết bạn với Rousseau ở Paris), lịch sử, và tình thế của các thuộc địa Mỹ.

Sau 10 ngày, Franklin lên đường đi về phía tây để tới Glasgow gặp Ngài Kames, một triết gia Scotland khác mà ông yêu thích. Kames cũng là một nhà sinh vật học vĩ đại: ông trồng các lùm gồm nhiều loài cây. Những cây mà Franklin trồng trong chuyến thăm này đến nay vẫn còn sống. Trên đường trở về Edinburgh, Franklin dừng chân ở xưởng sắt Carron, nơi James Watt* đang chế tạo động cơ hơi nước, để tiếp tục nghiên cứu về công nghiệp hóa. Trong số các vũ khí đang được đúc mà họ thấy, một số sẽ được sử dụng để chống lại các thuộc địa vài năm sau đó - những khẩu súng thần công nặng tới 32 tấn.

Trở lại nhà Hume tại Edinburgh, Franklin dành thêm ít ngày để tận hưởng vòng tròn trí tuệ ở đây. Ông gặp gỡ Adam Smith, người được thuật lại là đã cho ông xem vài chương đầu của cuốn Sự giàu có của các quốc gia khi đang viết dở. Có lẽ vì ngờ rằng họ sẽ không bao giờ còn được gặp lại người bạn Mỹ này, Hume tổ chức một bữa tối chia tay, trong đó có mặt đông đảo những học giả và cây bút người Scotland mà Franklin yêu mến, kể cả Ngài Kames.9

GẶP BACHE

Franklin định ở lâu hơn với Hume, song có hai lá thư tìm đến ông khi ông đang ở đây. Một là của con rể ông, Richard Bache. Vì lỡ không gặp Franklin ở London, Bache đã về thăm mẹ đẻ ở Preston, một thành phố về phía bắc nước Anh, gần Manchester. Lá thư kia là của Polly. “Anh Bache đang ở Preston, nơi anh ấy vui lòng chờ đợi với hy vọng gặp bác khi bác trở về. Mọi người đều rất hài lòng về anh ấy.” Vì thế Franklin vội thu xếp trở về London và quyết định gặp chàng rể mới trên đường đi.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi mà tại Philadelphia, Sally Franklin Bache, đang phiền muộn không biết chồng và cha cô sẽ hòa thuận ra sao. “Nếu mọi thứ không thân mật như em mong ước,” cô viết cho Richard, “em biết khi anh nghĩ tới việc ông là cha em, lòng tốt và tình cảm của anh dành cho em sẽ khiến anh muốn cố gắng một chút để giành lấy sự yêu mến và tình bạn của ông.” Nhưng hóa ra, nỗi lo sợ của cô là không có căn cứ. Bache vui vẻ viết thư cho Deborah: “Con có thể vô cùng mãn nguyện nói với mẹ rằng, cha đón tiếp con bằng đôi cánh tay mở rộng với một mức độ tình cảm mà con không hề ngờ tới.” Anh đặc biệt hài lòng khi mọi người đều nói anh trông giống Franklin.

“Con lấy làm vui mừng nếu được giống cha về mọi khía cạnh”, Bache nhiệt tình nói.

Thực tế, ông lão quyến rũ này gây ấn tượng với mọi người trong gia đình Bache, nhất là mẹ anh, Mary Bache, một góa phụ 68 tuổi “oai vệ” và “nghiêm túc”, từng sinh hạ 20 đứa trẻ trong đời mình. Trong suốt chuyến thăm, bà thức đến nửa đêm nói chuyện với Franklin. Vài tuần sau đó, Franklin gửi cho bà một lá thư cảm ơn và vài con hàu cùng bức chân dung của chính ông (thói phù phiếm của ông chưa hoàn toàn bị chế ngự). Bà Bache mang nó đi lên đi xuống từ phòng khách tới phòng ăn để có thể nhìn thấy nó mọi lúc. “Nó giống bản gốc đến mức ông không thể tưởng tượng được niềm vui thích của chúng tôi khi ngắm nó, vì chúng tôi có thể cảm nhận được trong đó sự tương đồng với cả con trai tôi và với chính ông.”10

Bache trở về London cùng Franklin, ở với ông một thời gian tại Phố Craven và nỗ lực làm ông hài lòng. “Lối cư xử của cậu ta ở đây khiến anh bằng lòng”, Franklin kể với Deborah. Song tình cảm của ông không mở rộng đến mức trao cho Bache sự giúp đỡ mà anh ta đang tìm kiếm để được bổ nhiệm một vị trí trong bộ máy công quyền, ví dụ thanh tra hải quan. “Cha cho rằng bất cứ nghề nghiệp nào một con người đã được đào tạo đều đáng làm hơn là một chức vụ... phụ thuộc vào sự bất thường của bề trên.” Thay vào đó, ông khuyên Bache trở về nhà, trở thành một thương nhân và “chỉ bán hàng đổi lấy tiền tươi” và “luôn gần gũi” vợ mình. Cần phải nhớ rằng lời khuyên này đến từ một người đàn ông sống cách vợ một đại dương trong gần 15 năm và luôn đeo đuổi việc được hoàng gia bổ nhiệm vào vị trí giám đốc bưu điện.

Về phần Sally, ông khuyên rằng cô nên học kế toán (chủ đề muôn thuở) để trợ giúp chồng mình. “Trong việc chăm lo cửa hiệu, nếu đó là nơi con cư trú, con có thể hỗ trợ chồng như cách mẹ con đã làm cho cha; vì con không thiếu khả năng và ta hy vọng con không quá tự mãn.” Vợ chồng Bache, vốn luôn cẩn trọng, sau cùng đã sống trong ngôi nhà của Deborah và mở một cửa hiệu tại một trong những tòa nhà của Franklin trên Phố Chợ. Họ quảng cáo “chỉ nhận tiền mặt” khi buôn bán các thứ vải lụa. Và như Bache than phiền với Frankin, khi cửa hàng này trở thành một “mối quan tâm đáng thương”, anh ta đã chuyển sang “kinh doanh rượu và rau quả” và cũng làm ăn kém. Địa vị và hoàn cảnh đó không phải lỗi của người có học vấn như Sally và có tham vọng như Bache, song họ tuân thủ mệnh lệnh của Franklin về việc không nên quá tự mãn.11

Deborah rất thường xuyên cho viết thư Franklin kể về cháu trai Benny của họ đến nỗi người ta có thể nhận ra một dấu hiện răn đe trong những thư hồi âm của ông: “Anh nhận thấy em rất yêu thằng bé và niềm hạnh phúc của em gói trọn trong nó.” Ông khen ngợi bà vì đã không can dự vào một cuộc cãi vã khi Sally tìm cách dạy dỗ Benny: “Từ sự yêu quý của em dành cho cháu, anh sợ rằng nó sẽ quá được chiều chuộng và có thể hư hỏng.”

Tuy thế, ông lại nghĩ khác về việc làm hư cậu con trai của Polly Stevenson, William Hewson, mới chào đời vào mùa xuân đó. “Cầu chúc cho cậu bé có được mọi thứ nó thích”, ông viết thư cho Polly. “Điều đó đem lại cho lũ trẻ một nét tươi vui và gương mặt chúng nhờ đó mà đẹp đẽ hơn cả.” Cũng trong lá thư này, ông lạc quan đáp lại việc Polly trêu chọc rằng mẹ cô đã có một người bạn trai mới. “Ta đã quen với việc có đối thủ”, Franklin đáp “và hiếm khi ta có một người bạn hoặc tình nhân nào trong đời mà người khác lại không ưa thích như chính bản thân ta.”

Trong vòng hai năm, Billy Hewson đã trở thành cháu trai thay thế của Franklin. Trả lời một lá thư khác của vợ kể về cháu ruột, ông nói: “Đáp lại câu chuyện về cháu trai của em, anh sẽ kể cho em chút ít về con trai đỡ đầu của anh. Thằng bé 21 tháng, rất khỏe mạnh và bắt đầu biết nói bập bẹ, thậm chí biết hát. Tuần trước, nó mới ở đây cùng mọi người ít ngày, nó rất thích anh và sẽ không chịu ngồi xuống dùng bữa sáng mà không bật tiếng gọi Cha.” Tuy vậy, ông chủ ý nói thêm rằng ngắm nhìn Billy “khiến anh mong được ở nhà để chơi cùng Ben”.12

NHIỀU KHOA HỌC VÀ PHÁT MINH HƠN

Khi đổ thìa dầu trên mặt ao ở Clapham và nhận thấy nó loang ra nửa mẫu, Franklin đã đến gần với một khám phá mà phải một thế kỷ sau mới được thực hiện: xác định kích thước của phân tử. Nếu lấy dung tích của chiếc thìa cà phê (2 cm3) và chia cho diện tích nửa mẫu mà nó bao phủ (2.000 m2), Franklin hẳn đã đạt đến con số 10-7 cm (độ dày của một phân tử dầu). Charles Tanford đã nhận định trong cuốn sách tuyệt vời có tựa đề Ben Franklin làm lặng sóng. “Franklin thực sự là người đầu tiên xác định chính xác quy mô của kích thước phân tử nhưng ông không hề biết điều này.”

Franklin luôn giỏi ứng dụng thực tế hơn phân tích lý thuyết. Thay vì suy đoán kích thước của phân tử, ông tìm cách vận dụng thí nghiệm về dầu và nước của mình. Liệu có thể giúp tàu bè tránh sóng dữ bằng cách đổ dầu xuống biển? Cùng ba người bạn đến từ Học viên Hoàng gia, ông đã đến cảng Portsmouth để xem xét. Franklin kể lại: “Thí nghiệm không thành công như chúng tôi mong đợi.” Các gợn sóng bề mặt trở nên êm ả, song lực của lớp sóng bên dưới thì không (có lẽ đây lại là một ẩn dụ khác). Tuy vậy, báo cáo về việc thí nghiệm thất bại của ông được coi là đủ hữu ích để đăng trên Kỷ yếu Triết học của Hội Hoàng gia.13

Trong suốt quãng thời gian ở Anh, bất cứ khi nào có thể thoát khỏi các đòi hỏi chính trị, ông lại tiếp tục với các truy vấn khoa học của mình. Sau khi ông lắp đặt vài cột thu lôi trên Nhà thờ chính tòa Thánh Paul, những người canh gác đạn dược hoàng gia cũng yêu cầu ông đề xuất cách chống sét cho các tòa nhà của họ. Điều này một lần nữa lôi kéo Franklin vào cuộc tranh cãi về việc các cột thu lôi nên có mũi nhọn hay tròn. Franklin nhất định muốn mũi nhọn, song (có thể vì lý do chính trị), Vua George đã chuyển chúng thành mũi tròn sau cuộc Cách mạng Mỹ. Franklin cũng thiết kế hệ thống ống nước nóng để giữ ấm cho Hạ viện.

Những chuyến phiêu lưu vào khoa học và phát minh khác của ông trong những năm tháng ở London gồm có:

• Nguyên nhân của chứng cảm cúm: Dù vi khuẩn và vi rút chưa được phát hiện, Franklin là một trong những người đầu tiên lập luận rằng cảm cúm có thể lan truyền do lây nhiễm hơn là do không khí lạnh. “Đi du lịch trong mùa đông khắc nghiệt của chúng ta, tôi thường phải chịu cái lạnh cực độ đến mức chỉ thiếu nước đóng băng, song điều đó không khiến tôi bị cảm”, ông viết cho thầy thuốc Benjamin Rush ở Philadelphia vào năm 1773. “Người ta thường lây cảm cúm từ người khác khi bị nhốt chung vào những căn phòng, toa xe chật chội,... và khi ngồi gần trò chuyện để phải hít vào mồ hôi của người khác.” Phương thức bảo vệ tốt nhất là không khí trong lành. Suốt cuộc đời mình, Franklin thích sự thông thoáng và những cửa sổ rộng mở, ngay cả giữa mùa đông.14

• Nghiên cứu về việc tập thể dục: Ông lập luận rằng, một cách để ngừa cảm lạnh là tập thể dục thường xuyên. Theo ông, cách tốt nhất để đo lường việc tập luyện không phải thời gian mà “dựa trên độ ấm nó tạo ra cho cơ thể”. Đây là một trong các lý thuyết đầu tiên kết nối việc tập luyện với calo nhiệt. Ví dụ, ông giải thích, đi bộ một dặm lên xuống cầu thang tạo ra nhiệt độ cơ thể gấp năm lần so với đi bộ một dặm trên đường bằng. Franklin tính toán rằng việc tập tạ làm mạch của ông tăng từ 60 lên 100 nhịp mỗi phút. Một lần nữa, ông nhận định chính xác rằng “độ ẩm của cơ thể làm gia tăng tốc độ của mạch”.15

• Ngộ độc chì: Là một thợ in, Franklin nhận thấy việc xử lý các khuôn chì nóng thường gây hội chứng cứng tay chân hay tê liệt. Ông cũng nhận thấy những người ở một số ngành nghề thường dễ mắc chứng bệnh nghiêm trọng gọi là “đau bụng khô”. Một người bạn đưa thêm chứng cứ bằng việc nhận xét rằng những người uống rượu rum cất từ những bình có sử dụng các cuộn kim loại cũng mắc bệnh này. Trong vai trò một nhà dịch tễ học, Franklin trở thành một trong những người đầu tiên khám phá nguyên nhân của bệnh này. “Nó ảnh hưởng tới các thương nhân có tiếp xúc với chì, dù ngành nghề của họ khác nhau đến đâu, thí dụ thợ tráng men, thợ đúc khuôn, thợ sửa ống nước, thợ gốm, người sản xuất chì trắng và họa sĩ.” Bên cạnh những điều khác, ông đề xuất rằng, cuộn ống trong các bình cất rượu nên được làm từ thiếc nguyên chất thay vì hợp kim có chứa chì.16

Tàu thuyền trên các dòng kênh: Khi đến thăm Hà Lan, Franklin và bạn ông, Ngài John Pringle, chủ tịch Hội Hoàng gia, được cho biết tàu thuyền đi qua các con kênh nước nông di chuyển chậm hơn khi đi qua các con kênh nước sâu. Franklin suy đoán nguyên nhân là do khi một con tàu di chuyển một khoảng cách nhất định, nó sẽ thay thế một lượng nước đúng bằng thể tích vỏ tàu chiếm chỗ dưới mặt nước. Lượng nước này khi đó sẽ phải chạy qua bên cạnh hoặc bên dưới chiếc tàu. Nếu lối đi bên dưới bị hạn chế vì nước nông, một khối nước lớn hơn sẽ phải đi qua hai bên sườn chiếc tàu, vì thế làm nó chậm lại. Đây là một lý thuyết khoa học có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Vì thế, ông đã phản ứng phù hợp. “Tôi quyết định làm một thí nghiệm về vấn đề này”, Franklin viết cho Pringle. Ông đã đóng một máng gỗ dài 4 m, rộng và sâu 16 cm, bên trong đặt một chiếc thuyền nhỏ kéo bằng một dây lụa. Sợi dây mắc qua một chiếc ròng rọc và được kéo bởi trọng lượng của một đồng xu nhỏ. Ông tính toán nhiều lần tốc độ mà chiếc thuyền mô hình di chuyển khi mực nước có các độ sâu khác nhau. Kết quả cho thấy: phải mất thêm 20% sức lực và thời giờ để di chuyển tàu thuyền qua một con kênh nông so với một con kênh sâu.17

Độ mặn của đại dương: Vào thời đó, ý kiến chủ đạo về việc tại sao nước biển lại mặn cho rằng ban đầu chúng đều chứa đầy nước ngọt, nhưng qua thời gian, chúng tích trữ muối và khoáng đổ về từ các dòng sông. Trong lá thư gửi anh trai Peter, Franklin đã suy đoán rằng cũng có đủ bằng chứng cho một giả thuyết khác: “Ban đầu, nước trên khắp hành tinh này đều mặn; và nước ngọt mà chúng ta thấy ở các sông suối là sản phẩm của chưng cất.” Về sau, người ta biết Franklin đã sai trong trường hợp này. Qua hàng thế kỷ, nước biển ngày càng mặn hơn.18

Đàn armonica: Một trong các phát minh thú vị nhất của ông là thứ nhạc cụ được ông gọi là armonica. Nó bắt nguồn từ việc quan sát hành vi của các vị khách sau bữa tối buồn chán (và một vài nhạc sĩ) đã tạo ra một âm thanh cộng hưởng bằng cách rê ngón tay ướt quanh vành của chiếc ly. Franklin đã dự một buổi hòa nhạc tại Anh, ở đó âm nhạc được trình diễn trên các ly rượu. Vào năm 1761, ông hoàn tất ý tưởng bằng việc lấy 37 chiếc bát thủy tinh gồm nhiều kích cỡ khác nhau và gắn chúng vào một trục xoay. Ông dựng một bàn đạp chân và bánh đà để xoay ngược, điều đó cho phép tạo ra nhiều âm điệu nhờ nhấn những ngón tay ướt trên các mảnh thủy tinh. Trong một bức thư gửi cho một nhà kỹ thuật điện người Ý, Franklin mô tả tường tận thứ nhạc cụ mới. Ông nói: “Đây là một nhạc cụ đặc biệt được thiết kế phù hợp với âm nhạc của Ý, nhất là loại nhạc êm dịu và ai oán.” Đàn armonica của Franklin đã có lúc là một cơn sốt. Hoàng hậu Pháp Marie Antoinette đã từng học qua về nó, Mozart và Beethoven cũng viết một số tác phẩm cho nó và những âm điệu ám ảnh của nó trở nên phổ biến tại các lễ cưới. Nhưng nó có xu hướng gây ra chứng u uất, có lẽ từ việc ngộ độc chì, và cuối cùng hết được ưa chuộng.19

TRIẾT LÝ XÃ HỘI

Sau nhiều năm, Franklin đã hình thành một góc nhìn xã hội với sự pha trộn của các tư tưởng tự do, dân túy và bảo thủ. Nó sẽ trở thành khuôn mẫu cho triết lý của tầng lớp trung lưu Mỹ. Ông ca ngợi tính chăm chỉ, sự dấn thân cá nhân, tính cần kiệm và tự lực. Mặt khác, ông cũng thúc đẩy sự hợp tác công dân, lòng từ tâm xã hội và những kế hoạch phát triển cộng đồng tự nguyện. Ông không tin cả giới tinh hoa lẫn đám đông, không tin việc trao quyền lực cho nhóm thân thế hay đám đông vô kỷ luật. Với các đức tính của một người chủ cửa hiệu, ông thu mình lại trước cuộc đấu tranh giai cấp. Niềm tin vào tính biến đổi của xã hội vào các giá trị nội tại của sự vươn lên nhờ làm ăn cần cù đã khắc vào xương tủy của ông.

Chủ nghĩa bảo thủ thiên bẩm của ông đối với sự can thiệp của nhà nước và phúc lợi thể hiện qua chuỗi câu hỏi ông đặt ra cho Peter Collinson vào năm 1753. Khi đó, ông đã hỏi, liệu việc luật pháp “bắt buộc người giàu phải chu cấp cho người nghèo phải chăng đã khiến họ trở nên phụ thuộc” và “khuyến khích sự lười nhác”.20

Đối với Collinson, những điểm này được nêu lên như những câu hỏi. Song trong các tiểu luận của ông vào cuối thập niên 1760, đầu thập niên 1770, Franklin khẳng định sự bảo thủ của mình một cách mạnh mẽ hơn. Đáng chú ý nhất là một bài viết nặc danh có tiêu đề “Bàn về tầng lớp lao động nghèo khổ,” trong đó ông ký tên “Medius,” gốc Latin của từ “middle” (trung gian) và đăng tải trên Tạp chí Quý ông vào năm 1768. Trong tiểu luận đó, ông lên án các nhà văn khuấy động quần chúng khi tuyên bố người nghèo bị người giàu áp bức. “Anh có cho phép tôi nói đôi điều từ phía bên kia của vấn đề?” ông chất vấn. Ông lập luận điều kiện sống của người nghèo tại Anh là tốt nhất châu Âu. Tại sao? Vì ở Anh có luật lệ hỗ trợ người nghèo. “Luật lệ này không do người nghèo làm ra. Các nhà làm luật đều là những người giàu có... Họ tình nguyện để tài sản của mình và của người khác phải chịu thuế để duy trì cuộc sống cho người nghèo.”

Các luật này có tính bác ái, nhưng ông cảnh báo rằng chúng có thể có hệ lụy khôn lường và cổ vũ cho thói lười nhác: “Tôi e rằng việc để con người phụ thuộc vào bất cứ sự hỗ trợ nào khi già cả hay bệnh tật, ngoài tính cần cù và căn cơ khi còn trẻ khỏe, đều có xu hướng nuông chiều sự lười nhác tự nhiên của chúng ta, khuyến khích thói hoang phí, từ đó cổ vũ và gia tăng sự nghèo túng, vốn chính là cái xấu xa mà nó được dự định cứu chữa.”

Ông không chỉ cảnh báo sự phụ thuộc vào phúc lợi mà còn đưa ra phiên bản lý thuyết kinh tế nhỏ giọt xuống (trickle-down) của chính mình. Tầng lớp giàu có và toàn xã hội càng làm ra nhiều tiền thì sẽ càng có nhiều tiền xuống đến người nghèo. “Người giàu không làm thuê cho kẻ khác. Mọi thứ mà họ hoặc gia đình họ sử dụng và tiêu thụ là sản phẩm của tầng lớp lao động nghèo khổ.” Người giàu dùng tiền của họ theo một cách có lợi cho tầng lớp lao động nghèo khổ: quần áo, đồ đạc và nhà ở. “Tầng lớp lao động nghèo khổ của chúng ta hàng năm nhận được toàn bộ thu nhập sạch của quốc gia.” Ông cũng bóc trần ý nghĩ áp đặt mức lương tối thiểu cao hơn: “Có thể ra luật để tăng lương cho họ; song, nếu hàng sản xuất quá đắt đỏ, chúng không thể bán được ở nước ngoài.”21

Tuy vậy, chủ nghĩa bảo thủ về kinh tế của ông được cân bằng với niềm tin đạo đức căn bản rằng mỗi hành vi cần được đánh giá qua lợi ích mà nó đem lại cho thiện ích chung. Các chính sách khuyến khích làm ăn cần cù là tốt, nhưng không phải bởi chúng dẫn tới sự tích lũy tài sản cá nhân, mà bởi chúng làm tăng sự giàu có của cộng đồng và phẩm giá của mỗi cá nhân. Những ai nhận được nhiều tài sản hơn mức họ cần có nghĩa vụ giúp đỡ người khác và kiến tạo các tổ chức công dân để hỗ trợ sự thành công của người khác. “Lý tưởng của ông là của tầng lớp trung lưu phát đạt, những người sống đời giản dị với sự bình đẳng dân chủ,” James Campbell viết. “Những người may mắn gặp thành công kinh tế lớn hơn trong cuộc sống có trách nhiệm giúp những người thực sự cần; song những người không thể nhấc nổi thân mình vì thiếu đạo đức không thể mong chờ sự tương trợ của xã hội.”22

Franklin bổ sung thêm sự ủng hộ ngày càng nhiệt tình các giá trị Anh quốc truyền thống về quyền lợi và tự do cá nhân vào tổ hợp triết lý này. Tuy vậy, ông vẫn chưa hoàn toàn tiến bộ trong câu hỏi đạo đức lớn về chế độ nô lệ. Là đại diện cho một số thuộc địa, trong đó có Georgia, ông nhận thấy bản thân mình đang bảo vệ nước Mỹ một cách vụng về và kém thuyết phục trước sự công kích của người Anh, rằng chế độ nô lệ là một sự nhạo báng đối với đòi hỏi quyền tự do của dân chúng thuộc địa.

Năm 1770, ông xuất bản giấu tên một cuốn sách có tựa đề “Cuộc thảo luận về chế độ nô lệ”, trong đó người Mỹ cố gắng tự bảo vệ bản thân trước những cáo buộc về thói đạo đức giả. Chỉ “một trong một trăm gia đình” Mỹ có nô lệ, trong đó “đa phần đều đối xử rất nhân đạo với nô lệ của họ”. Ông cũng lập luận rằng, điều kiện của giới lao động nghèo khổ ở Anh “dường như có chút gì đó tương tự chế độ nô lệ”. Có lúc, thậm chí lập luận của ông sa vào sự phân biệt chủng tộc: “Có thể các vị tưởng rằng người da đen là loại người tính khí mềm mỏng, dễ bảo. Một số người thì thật sự như vậy, nhưng phần lớn họ đều đầy âm mưu, đen tối, sưng sỉa, ác độc, thù hằn và tàn nhẫn ở mức độ cao nhất.”23

Trong nỗ lực bảo vệ nước Mỹ bằng mọi giá, Franklin đã đưa ra một trong các lập luận tồi tệ nhất ông từng viết. Kể cả dữ kiện đưa ra cũng sai. Tỷ lệ gia đình sở hữu nô lệ ở Mỹ không phải 1% mà gần 1/9 (vào năm 1790, 47.664 trên tổng số 410.636 gia đình Mỹ sở hữu nô lệ). Điều làm cho lập luận của ông yếu cả về đạo đức và tính xác thực là bởi kể cả khi cố gắng tranh cãi rằng sở hữu nô lệ là một sự lầm đường, chính nhà Franklin cũng nằm trong số các gia đình nuôi nô lệ. Dù hai nô lệ cùng ông tới Anh trong chuyến đi đầu tiên không còn ở với ông nữa, vẫn có một hoặc hai nô lệ sống tại nhà của Deborah ở Philadelphia.24

Tuy thế, các quan điểm của ông vẫn đang hoàn thiện. Hai năm sau khi viết “Cuộc thảo luận”, Franklin bắt đầu liên lạc với Anthony Benezet, nhà đấu tranh bãi bỏ chế độ nô lệ ở Philadelphia. Ông dùng một vài lý lẽ của Benezet trong một bài viết năm 1772 cho Biên niên ký London. Ông chỉ trích bằng ngôn ngữ mạnh hơn bao giờ hết, “sự giết chóc liên tục của loài người vì thông điệp ghê tởm lây lan trong thể xác và tâm hồn”. Ông thậm chí tiến dần đến lập luận của Benezet cho rằng bản thân chế độ nô lệ - không chỉ riêng việc nhập cảng thêm nô lệ - phải bị bãi bỏ. “Tôi vui mừng khi biết quan điểm chống lại chế độ nô lệ ngày càng trở nên phổ biến ở Bắc Mỹ”, ông viết cho Benezet. “Tôi mong cuối cùng nó sẽ bị đưa ra xem xét và bị bãi bỏ bằng luật pháp.”

Franklin viết trong một mạch tương tự cho người bạn ở Philadelphia, thầy thuốc Benjamin Rush. “Tôi hy vọng cuối cùng những bạn hữu của tự do và nhân đạo sẽ chiến thắng một tập quán đã khiến cho dân tộc và tôn giáo của chúng ta phải hổ thẹn quá lâu.” Song, cần lưu ý rằng, với cả Benezet và Rush, Franklin đều sử dụng cùng một cụm từ định tính: “cuối cùng”. Theo Franklin, việc bãi bỏ hoàn toàn việc sở hữu nô lệ (chứ không chỉ việc chấm dứt nhập cảng nô lệ) sẽ chỉ đến sau cùng, chỉ đến sau Cách mạng.25

ĐÁNH BẠI HILLSBOROUGH

Sự ấm áp ân cần của Ngài Hillsborough ở Ireland - điều khiến Franklin rất băn khoăn - cuối cùng đã tan vỡ. Franklin viết cho con trai: “Sau khi đã trở về London một thời gian, cha đợi ông ta để cảm ơn về sự lịch thiệp khi ở Ireland.” Tên giữ cửa thông báo cho Franklin biết ngài bộ trưởng không có ở nhà. Franklin để lại danh thiếp và trở lại vào một ngày khác để nghe cùng một lời đáp, mặc dù Franklin biết thật ra Hillsborough có tiếp khách vào hôm đó. Ông thử lại tuần sau, rồi tuần sau nữa nhưng vô ích. “Lần cuối cùng là vào một ngày đãi tiệc, có nhiều cỗ xe đậu trước cửa nhà ông ta. Người xà ích của cha đánh xe lên, bước xuống và đang mở cửa thì tên giữ cửa nhìn thấy cha. Hắn bước ra và cau có mắng người xà ích vì mở cửa trước khi hỏi đức ông có ở nhà không. Sau đó hắn quay sang cha và nói: ‘Ông chủ tôi không có ở nhà.’ Từ đó cha không bao giờ tới gần ông ta và hai chúng ta chỉ mạt sát nhau từ xa.”

Hillsborough “vứt cha đi như một quả cam hết nước, có vắt nữa cũng không ích gì”, Franklin than phiền. Ông lại nghĩ đến việc trở về Philadelphia. “Cha bắt đầu nhớ nhà”, ông viết cho William. Song vẫn có một yếu tố ngăn cản việc ông rời nước Anh trong giận dữ. Bất chấp tất cả, ông vẫn hy vọng có thể đảm bảo cho bản thân (và bè bạn, gia đình, đồng nghiệp) được cấp một mảnh đất về phía tây, dọc sống Ohio.26

Để đạt mục đích này, ông đã tham gia rất nhiều công ty, trong đó có Công ty Illinois Company, sau đó là Công ty Indiana, vốn đã thất bại trong việc giành sự ủng hộ ở London. Mùa hè năm 1769, Franklin giúp tổ chức một tập đoàn lớn đến mức ông tin rằng nó có thể vượt mặt Ngài Hillsborough. Công ty Grand Ohio (Ohio Đại), đúng như tên gọi của nó, là bộ sưu tập những cái tên giàu nhất và xuất chúng nhất ở London, nổi bật nhất là Thomas và Richard Walpole. Đã có lúc, dường như tập đoàn này, được biết đến với cái tên Công ty Walpole, sắp thành công. Nhưng vào mùa hè năm 1770, Hillsborough đã tìm cách đặt kế hoạch này lên bàn để nghiên cứu thêm.

Tuy nhiên, tập đoàn Walpole có thể giữ được những triển vọng của nó nhờ phân chia cổ phần cho một loạt bộ trưởng hàng đầu, trong đó có Quan Chưởng ấn và Chủ tịch Cơ mật Viện. Mùa xuân năm 1772, Hillsborough không thể trì hoãn vấn đề lâu hơn nữa. Chính nhà vua cũng cho Hillsborough biết ngài muốn vấn đề phải được xem xét. Vào tháng Tư, ủy ban Thương mại gửi tờ đơn xin cấp đất tới Cơ mật Viên với đề xuất nó nên bị bác bỏ. Nhưng hai tháng sau, Cơ mật Viện tự tổ chức buổi điều trần của họ. Franklin, Walpole và nhiều cổ đông có ảnh hưởng của họ cũng tham dự. Hillsborough dọa sẽ từ chức nếu nó được tán thành, một viễn cảnh có khả năng khiến ông ta bị tổn thất vì nhiều người trong Cơ mật Viện rất háo hức “hành xác ông ta”, chữ của Franklin. Và họ đã làm thế. Việc cấp đất được tán thành và Hillsborough từ chức.

Franklin và bạn ông không bao giờ có được mảnh đất vì những căng thẳng gia tăng giữa nước Anh và các thuộc địa đã can thiệp vào. “Việc cấp đất tiến triển nhưng chậm chạp”, ông viết thư cho một người bạn vào năm sau. “Tôi bắt đầu có lối suy nghĩ của một thủy thủ khi họ kéo một sợi cáp từ nhà kho lên tàu và một trong số họ nói: ‘Sợi cáp thật dài và nặng. Tôi ước chúng ta có thể thấy điểm cuối của nó.’ ‘Mẹ kiếp’, một người khác nói, ‘nếu tôi tin nó có điểm cuối nào đó; thì chẳng qua có ai đó đã cắt nó.'"

Nhưng Franklin vẫn thành công trong việc lật đổ kẻ thù của mình. “Cuối cùng, chúng ta đã kết liễu được Ngài Hillsborough”, ông say sưa nói với William. Để đáp lại, Hillsborough gọi Franklin là “một trong những kẻ tà tâm nhất nước Anh”. Tuy vậy, họ có cách che đậy kỳ lạ sự thù hằn với nhau bằng lối thân mật giả tạo. Hai người đã làm hòa khi tình cờ gặp nhau ở Oxford vào mùa hè năm sau. Hillsborough làm cử chỉ cúi mình và khen ngợi Franklin. Ông kể với William: “Để đáp lễ sự thừa thãi này, cha tâng bốc màn biểu diễn tại nhà hát của con trai ông ta, dù thật ra nó không có gì khác ngoài vô vị; nhờ đó bài toán được giải quyết. Người ta thường nói khi họ tức giận: ‘Nếu hắn đánh tôi, tôi sẽ đánh trả’; cha đôi khi nghĩ rằng đúng hơn phải nói là: ‘Nếu hắn nịnh tôi, tôi sẽ nịnh lại hắn.'"27

NHỮNG BỨC THƯ CỦA HUTCHINSON

“Rơi vào tay tôi gần đây là một phần của các thư tín mà tôi có lý do để tin rằng, chính chúng đặt nền móng cho hầu hết, nếu không phải tất cả, nỗi bất bình hiện thời của chúng ta.” Với những lời lẽ định mệnh gửi tới người ủng hộ ông ở Massachusetts vào tháng 12 năm 1772, Franklin đã khuấy lên một cơn bão sẽ dẫn đến sự tuyệt giao hẳn của ông với nước Anh. Đi kèm theo nó là một xấp thư từ, và sáu bức trong số đó là của thống đốc Massachusetts, Thomas Hutchinson - một thương gia Boston xuất thân từ một gia đình Thanh giáo cũ. Thomas từng là bạn của Franklin khi họ cùng thảo Kế hoạch Albany vì sự thống nhất thuộc địa vào năm 1754. Những bức thư này được một nghị sĩ giấu tên trong Quốc hội lén lút trao cho Franklin. Ông chuyển tiếp nó cho Cushing với mệnh lệnh không được để chúng lọt ra ngoài.

Những bức thư của Hutchinson chứa đầy lời khuyên về cách thức dập tắt sự bất ổn ở các thuộc địa. “Phải có sự hạn chế đối với cái được gọi là các quyền tự do của người Anh”, ông ta viết. Khi được xuất bản ở Boston (được sự đồng ý của Thomas Cushing, John và Samuel Adams đã cho đăng tải chúng bất chấp đề nghị của Franklin), chúng thổi bùng lên cơn giận dữ ngày càng lớn của các nhà yêu nước cấp tiến tại đây.

Điều đó đi ngược với dự định của Franklin. Mục đích của ông là xoa dịu những tình cảm nổi loạn bằng việc chỉ riêng cho Cushing và một số lãnh đạo khác thấy rằng, các chính sách sai lầm của nước Anh đã sinh ra từ những lời khuyên tồi tệ từ những người như Hutchinson, thay vì từ sự ghét bỏ nước Mỹ vô cớ. Ông tin rằng, những lá thư này thậm chí sẽ cổ vũ “xu hướng hướng tới hòa giải”, điều về sau ông thừa nhận rằng, “tôi tha thiết mơ ước.”28

Thực tế, hầu hết các thư từ của Franklin vào đầu năm 1773 được viết ra để giảm căng thẳng. “Tôi trông chờ vào sự chăm sóc tuyệt vời để giữ cho dân chúng trật tự, vì kẻ thù không mong gì hơn việc chúng ta nổi dậy. Khi đó, họ sẽ có một cái cớ tốt để tăng cường quân đội và đặt chúng ta dưới sự quản thúc nghiêm ngặt hơn”, ông viết thư cho Cushing vào tháng Ba. Tương tự, khi Hội đồng Lập pháp Massachusetts thông qua quyết nghị rằng nó không phục tùng Quốc hội, ông cũng khuyên nước Anh không phản ứng thái quá. “Theo quan điểm của tôi, sẽ tốt hơn và thân trọng hơn nếu ta không để ý đến nó”, ông viết cho Ngài Dartmouth, Quốc vụ khanh phụ trách thuộc địa thay thế Hillsborough. “Đó chỉ là lời nói mà thôi!”29

Để đưa ra quan điểm mà không khuấy động thêm sự thù oán, Franklin trở về tình yêu thời trẻ của ông đối với lối châm biếm qua hai bài viết truyên truyền ẩn danh ông viết cho các tờ báo Anh vào tháng 9 năm 1773. Bài thứ nhất có nhan đề “Những quy tắc khiến một đế chế lớn bị thu hẹp thành nhỏ”. Nhận định rằng “một nhà hiền triết cổ đại” (đó là Themistocles, đô đốc và nhà thống trị Hy Lạp) đã từng khoe rằng ông ta biết cách biến một thành phố nhỏ thành một thành phố vĩ đại, tiểu luận liệt kê ra 20 cách để đảo ngược lại một đế chế. Trong số đó gồm có:

Đầu tiên, thưa quý vị, các ngài phải nhìn nhận một đế chế lớn giống như một chiếc bánh lớn, dễ bị thu nhỏ nhất từ ngoài viền.

Hãy “chăm lo” đặc biệt để các tỉnh không bao giờ hợp nhất với mẫu quốc sẽ không được hưởng các quyển lợi chung, các biệt đãi tương tự trong thương mại và chúng phải được cai trị bằng luật lệ hà khắc hơn, toàn bộ do các ngài ban hành và không để họ có quyền dự phần trong việc lựa chọn các nhà làm luật.

Dù các thuộc địa của các ngài có quy thuận chính quyền một cách hòa bình đến đâu, thể hiện tình cảm đối với quyền lợi của các ngài ra sao và kiên nhẫn chịu đựng nỗi bất bình đến mức nào, các ngài phải giả định rằng họ luôn có xu hướng làm loạn và phải đối xử với họ tương ứng. Hãy cắt đặt quân đội trông coi họ, sao cho sự xấc láo của lính tráng của họ có thể kích động đám đông nổi dậy... Như người chồng khiến vợ hắn phát ốm vì nghi ngờ, các ngài cuối cùng có thể biến sự hoài nghi của mình thành sự thật.

Bất cứ khi nào những người bị tổn thương đến thủ đô mang theo lời than van... hãy trừng phạt những kẻ cầu cạnh đó bằng sự trì hoãn dài, chi phí lớn và một phán quyết cuối cùng nghiêng về phía những kẻ áp bức.

Quyết tâm bóc lột họ bằng các sắc thuế tân kỳ. Có thể họ sẽ phàn nàn với Quốc hội rằng họ bị đánh thuế bởi một cơ quan mà trong đó không có đại diện của họ và điều này đi ngược lại quyền phổ quát... Hãy để Quốc hội coi thường các cáo buộc của họ... và đối xử với những người thỉnh nguyện với sự khinh bỉ nhất.

Danh sách này phản ánh sự những sự đê tiện đã xảy đến với nước Mỹ còn kéo dài nữa: gửi cho họ “những kẻ hoang phí” và “những luật sư cãi bướng” để cai trị, “gây phiền nhiễu thương mại của họ với những quy định bất tận”, chỉ định những nhân viên thuế vụ “hỗn láo” và đồn trú những đoàn quân trong nhà họ thay vì biên giới - nơi quân đội có thể hữu ích. Tiểu luận kết luận: nếu làm theo các quy tắc này để làm thu hẹp các thuộc địa, các ngài sẽ “thoát khỏi sự phiền toái của việc cai trị chúng”. Bài viết được ký tên “Q.E.D.,” viết tắt của cụm từ tiếng Latin quod erat demonstrandum (điều phải chứng minh), được dùng ở cuối một cuộc tranh luận triết lý đề nhấn mạnh rằng quan điểm đã được làm sáng tỏ.30

Hai tuần sau, Franklin thậm chí còn đăng tải một tác phẩm châm biếm rộng hơn về cách nước Anh đối xử với Mỹ, Một sắc lệnh của nhà vua xứ Phổ. Như một trò đánh lừa được ngụy trang qua loa, nó có nội dung là một chỉ dụ của Vua Frederick II. Trong khi người Đức đã đến cư trú ở Anh từ lâu và gần đây tham gia bảo vệ nước Anh trong cuộc chiến tranh với nước Pháp, họ đã quyết định rằng “nên thu một khoản lợi tức từ các thuộc địa đã được nhắc đến ở Anh.” Vì thế Phổ đang áp mức thuế 4,5% lên tất cả hàng hóa xuất, nhập khẩu, đồng thời ngăn cấm việc mở thêm các cơ sở sản xuất ở Anh. Sắc lệnh nói thêm rằng, nên phóng thích trọng phạm trong các nhà tù của Đức và đưa họ sang Anh “để làm cho đất nước này đông dân hơn”. Tránh trường hợp có người tăm tối đến mức không hiểu điểm này, nó kết lại bằng việc lưu ý rằng, tất cả những biện pháp này đều “công bằng và hợp lý” ở Anh vì nó được sao chép từ các luật lệ mà Quốc hội Anh áp đặt lên các thuộc địa ở Bắc Mỹ.31

Khi Sắc lệnh của ông xuất hiện, Franklin đang có vinh dự tới làm khách tại thái ấp ở quê của Ngài Le Despencer. Với cương vị tổng giám đốc bưu điện Anh, Le Despencer chính là cấp trên của Franklin và đã trở thành bạn ông. Theo Van Doren, Le Despencer là một “tội nhân già dày dạn”. Người ta đồn đại ông đã khôi phục một tu viện cũ để tập hợp bạn bè phóng đãng, tiến hành các nghi lễ báng bổ và thỉnh thoảng tổ chức chè chén say sưa. Franklin kết bạn với ông vào năm 1772, khi Le Despencer đã trở nên khả kính hơn một chút, và giúp ông soạn một phiên bản giản lược và hữu thần của Sách cầu nguyện thống nhất. (Với lòng nhiệt thành cải cách của mình, Franklin gần đây đã viết một phiên bản Kính lạy Cha chính xác hơn.)

Khi Franklin đang trò chuyện tại phòng ăn sáng cùng Le Despencer và vài người khác, một vị khách “xuất hiện và chạy về phía chúng tôi, thở không ra hơi”, trên tay là mấy tờ báo buổi sáng và kêu to: “Nhà vua xứ Phổ đòi hỏi quyền lợi với vương quốc này!” Franklin tỏ ra vô tội khi câu chuyện được đọc lớn.

“Chết tiệt! Ông ta quả là không biết xấu hổ!” một vị khách đang có mặt tại đó chửi thề.

Song đến gần cuối, một vị khách khác bắt đầu hiểu ra trò đùa. “Hãy treo cổ tôi nếu đây không phải một chuyện cười kiểu Mỹ của ông về bọn tôi”, vị này nói với Franklin. Franklin cho biết, việc đọc “dừng lại với tràng cười lớn và một kết luận chung rằng đây là một đòn đích đáng”.

Franklin mô tả đầy tự hào về hai tác phẩm giễu nhại trong bức thư gửi William. Ông nói mình thích bài viết về Các quy tắc hơn bởi “số lượng và sự đa dạng của vấn đề bao hàm bên trong và một lối kết thúc hăng hái cuối mỗi đoạn” song người khác lại thích Sắc lệnh hơn. Ông ba hoa: “Cha không bị ai nghi ngờ là tác giả, trừ một, hai người bạn và đã được nghe người ta nói về Sắc lệnh bằng những từ ngữ cao nhất: một tác phẩm sâu sắc nhất và sâu cay nhất từng xuất hiện ở đây lâu nay.”

Tuy vậy, lá thư của ông gửi cho William không hoàn toàn vui vẻ. Một cách chậm chạp và không tránh khỏi, sự rạn nứt đang mở rộng giữa vị đại diện cho nước Mỹ ngày càng cấp tiến và vị thống đốc hoàng gia với các bạn hữu và tham vọng của tầng lớp trên. Franklin lập luận trong thư: “Quốc hội không có quyền ban hành bất cứ luật nào có tính ràng buộc các thuộc địa... Cha biết về các vấn đề này, tình cảm của con khác cha. Con hoàn toàn là một con người của chính quyền.”32

TRONG SÂN ĐÁ GÀ

“Tôi rất muốn biết luật trà đó được đón nhận ra sao,” Franklin viết cho một người bạn vào năm 1773 trong tâm trạng đầy lo âu. Quốc hội đã gia tăng sự đê tiện của luật thuế trà vốn vẫn được duy trì bằng việc thông qua những quy định mới giúp cho Công ty Đông Ấn độc quyền thật sự về thương mại. Franklin kêu gọi sự bình tĩnh, nhưng các nhân vật cấp tiến ở Boston do Sam Adams và Những đứa con của tự do dẫn đầu thì không. Vào ngày 16 tháng 12 năm 1773, sau khi tụ tập đông người tại Nhà thờ Old South, khoảng 50 nhà ái quốc đóng giả là những người Anh-điêng Mohawk đã tới bến tàu và vứt 342 hòm trà, trị giá 10.000 bảng, xuống biển.

Franklin bất ngờ trước “hành động có tính bất công bạo lực của phe ta.” Sự cảm thông của ông với tính chính nghĩa thuộc địa không đủ để vượt qua tư tưởng bảo thủ căn bản về đám đông vô trật tự. Các cổ đông của Công ty Đông Ấn “không phải kẻ thù của chúng ta”, ông tuyên bố. Việc “phá hoại tài sản riêng tư” là một sai lầm.33

Khi Boston đang có bữa tiệc trà, nước Anh lại bị chọc phá bởi những lời trách cứ từ việc phát tán những lá thư bị mất cắp của Hutchinson. Franklin đã bày tỏ sự bất ngờ khi “không có ai nhắc đến tên tôi” trong mối quan hệ với vụ việc và nói thêm rằng, ông mong “nó tiếp tục được giữ kín”. Song vào tháng Mười hai, có hai người đàn ông liên can tới một cuộc đấu bất phân thắng bại ở Công viên Hyde, sau một người buộc tội người kia để lộ những lá thư. Khi một trận tái đấu dường như sắp xảy ra, Franklin cảm thấy ông phải bước lên phía trước. “Chính tôi là người sở hữu và chuyển những lá thư đó tới Boston”, ông viết cho tờ Biên niên ký London vào ngày lễ Giáng sinh. Song, ông không xin lỗi. Đây không phải “những thư tín riêng giữa bạn bè với nhau”, ông tuyên bố. Chúng “được viết bởi các công chức cho những người có địa vị công” và được viết ra để “khiến mẫu quốc nổi giận với các thuộc địa”.34

Vai trò của Franklin trong việc công bố các bản sao bị mất cắp đã “đổ thêm dầu” vào những người Anh vốn xem ông là kẻ gây rắc rối. Đầu tháng Một, ông bị triệu tập tới Cơ mật Viện trong căn phòng nổi tiếng có tên là Cockpit (Sân đá gà), bởi những cuộc chọi gà từng được tổ chức tại đây suốt thời vua Henry VIII. Lý do giả mạo là để nghe trình bày về thỉnh nguyện thư đòi loại bỏ Hutchinson khỏi ghế thống đốc từ Hội đồng Lập pháp Massachusetts. Tuy vậy, việc tra hỏi nhanh chóng tập trung vào việc liệu những lá thư của Hutchinson - vốn được Franklin đưa ra làm bằng chứng - có riêng tư không và làm sao ông có được chúng.

Franklin kinh ngạc nhận thấy tại buổi điều trần, viên tổng cố vấn pháp lý, Alexander Wedderburn, một công tố viên bẩn thỉu và tham vọng, kẻ đã bỏ phiếu chống hủy bỏ Đạo luật Tem và sở hữu “một lương tâm dễ dãi” (theo lời Thủ tướng North). Rõ ràng, họ đang biến vấn đề chính trị của thỉnh nguyện thư chống lại Hutchinson thành một vụ việc pháp lý chống lại Franklin vì đã công bố thư tín của ông ta. Wedderburn nói một cách sắc nhọn: chính quyền “có quyền hỏi ông đã có được chúng bằng cách nào”?

“Tôi nghĩ đây là một vấn đề chính trị chứ không phải pháp luật nên tôi không đi cùng luật sư”, Franklin nói với Cơ mật Viện.

“Tiến sĩ Franklin có thể có trợ giúp của luật sư hoặc tiếp tục mà không cần nó, ông được quyền chọn”, một vị bộ trưởng trong Cơ mật Viện lên tiếng.

“Tôi muốn có luật sư”, Franklin đáp. Khi họ hỏi ông cần bao lâu để chuẩn bị cho vụ việc, Franklin trả lời: “Ba tuần!”

Đây không phải ba tuần vui vẻ với Franklin. Tin tức về Bữa tiệc trà Boston đã đến Anh, làm sa sút hơn nữa sự cảm thông cho nước Mỹ. Ông bị gọi là “kẻ đốt nhà” và như ông nhận xét, “báo chí phủ đầy lời thóa mạ chống lại tôi”. Thậm chí có tin đồn bóng gió rằng ông có thể bị bỏ tù. Các cổ đông bạn hữu của ông trong tập đoàn Walpole tỏ ra lo sợ rằng sự liên đới của ông sẽ ảnh hưởng tới việc cấp đất, nên ông viết cho họ: “Tôi mong quý vị hãy gạch tên tôi khỏi danh sách các cộng sự.” (Cần lưu ý lá thư này được viết khéo léo để ông không thật sự từ chức; ông vẫn là một cổ đông bí mật không có quyền bỏ phiếu.)35

Khi Cơ mật Viện tái triệu tập ông đến phòng Cockpit vào ngày 29 tháng 1 năm 1774, trận đấu khiến mục đích sử dụng ban đầu của căn phòng dường như trở nên phù hợp. “Tất cả cận thần đều được mời như thể đến một đại tiệc”, Franklin viết. Đám đông chen chúc gồm các ủy viên và khán giả đủ thành phần từ Giám mục Canterbury cho đến đức ông khao khát trả thù Hillsborough. Rất ít bạn bè của Franklin có mặt để ủng hộ ông về mặt tinh thần, trong đó có Edmund Burke, Ngài Le Despencer và Joseph Priestley. Về sau này, Franklin nói hôm đó giống như một “trận đấu bò”.

Wedderburn - con người có miệng lưỡi sắc bén tỏ ra vừa khôn khéo lẫn hung dữ trong bài phát biểu dài cả giờ của mình. Ông ta gọi Franklin là “chất dẫn chủ đạo” của sự sốt sắng chống lại chính quyền Anh - một cách ám chỉ sự nổi tiếng của ông trong lĩnh vực điện học. Thay vì tập trung vào thỉnh nguyện thư của Massachusetts, ông ta lại xoáy vào những lá thư bị đánh cắp. “Thư tín cá nhân từ trước tới nay luôn được xem là thiêng liêng”, ông ta giận dữ. “Ông ấy đã vứt bỏ tất cả sự kính trọng của xã hội và của con người.” Với một sự khéo léo uyển chuyển, ông ta nói thêm: “Bởi thế ông ấy sẽ gọi đó là sự phỉ báng khi bị gọi là văn nhân.” Bên cạnh sự khôn khéo, nó còn có thừa tính công kích. Burke gọi đòn tấn công của Wedderburn là một “diễn văn giận dữ”, và một khán giả khác gọi nó là “tràng mạt sát cay độc”.

Giữa cơn thịnh nộ ấy, Wedderburn ghi được một vài điểm có giá trị. Nhạo báng lập luận của Franklin cho rằng mong muốn giữ bí mật những lá thư của Hutchinson là sự thú nhận ông ta có gì đó phải che giấu, viên cố vấn đã nhận xét xác đáng rằng Franklin đã giữ kín việc bản thân ông liên đới đến vụ việc suốt gần một năm. “Ông ấy giữ kín như bưng cho đến tận khi suýt giết chết” một người vô tội, Wedderburn nói, có ý đề cập tới cuộc đấu ở Công viên Hyde. Đập chiếc bàn của Viện cho đến khi nó “rên rỉ dưới đòn tấn công” (theo lời Jeremy Bentham), ông ta kết tội, Franklin đang muốn trở thành thống đốc.

Đám đông cổ vũ và la ó, nhưng Franklin không để lộ chút xúc động nào dù nhỏ nhất khi ông đứng ở rìa phòng trong một bộ đồ toàn bằng nhung xanh vùng Manchester. Edward Bancroft, một người bạn của Franklin (người sau này do thám ông ở Paris), tả lại hành vi này: “Ông tiến sĩ mặc nguyên bộ đồ nhung Manchester, đứng thẳng để ai cũng thấy. Ông không cử động bất cứ bộ phận nào trên cơ thể dù nhẹ nhất. Các cơ trên gương mặt ông đã được xếp đặt trước để có thể thể hiện một diện mạo điềm tĩnh và ông không để nó biến đổi dù nhẹ nhất.”

Cuối bài phát biểu, Wedderburn cho gọi Franklin lên phía trước như một nhân chứng và tuyên bố: “Tôi đã sẵn sàng điều tra ông ấy.” Các ghi chép chính thức trong biên bản ghi nhận: “Tiến sĩ Franklin khi đó có mặt, vẫn giữ im lặng, song luật sư của ông tuyên bố ông không đồng ý bị điều tra.” Im lặng thường là vũ khí mạnh nhất của ông, khiến ông có vẻ khôn ngoan, lành tính và thản nhiên. Lần này, nó khiến ông trông mạnh mẽ hơn kẻ thù mạnh của mình, khinh bỉ hơn là ăn năn, hạ mình hơn là quỵ lụy.36

Như được kỳ vọng, Cơ mật Viện đã bác thỉnh nguyện thư của Massachusetts chống lại Hutchinson, gọi đây là một thứ “vô căn cứ, khó chịu và tai tiếng”. Ngày kế tiếp, Franklin được thông báo bằng thư rằng, ông bạn cũ, Ngài Le Despencer, “thấy cần thiết” phải loại bỏ ông khỏi vị trí giám đốc bưu điện Mỹ. Điều này khiến ông nổi giận: ông tự hào vì đã gây dựng được một hệ thống bưu chính hiệu quả và sinh lợi ở thuộc địa. Ông viết một lời nhắn ngắn gọn cho William, đề nghị con từ bỏ vị trí thống đốc và trở về làm nông dân. “Đó là một nghề nghiệp trung thực và đáng trân trọng hơn vì nó độc lập hơn.” Với em gái Jane, ông viết tư lự hơn: “Anh đã mất nhiệm sở. Đừng để điều này khiến em có chút bận lòng. Em và anh đã đi gần trọn đường đời; chúng ta giờ chẳng còn cách nhà bao xa và có đủ tiền túi để trả cho chuyến xe trạm.”37

Sợ rằng ông có thể bị bắt hoặc các giấy tờ của ông bị tịch thu, vài ngày sau buổi điều trần ở Cockpit, Franklin đi xuống sông Thames gần Phố Craven. Mang theo chiếc rương đựng tài liệu, ông đón một chiếc tàu đi ngược sông tới nhà một người bạn ở Chelsea, nơi ông trú ẩn vài ngày. Khi nguy hiểm đã qua, ông trở về Phố Craven và tiếp tục đón khách. “Tôi không thấy mình mất đi bất kỳ bạn hữu nào sau vụ này”, ông nhận xét. “Tất cả đều ghé thăm tôi lần này tới lần khác với sự đảm bảo bằng tình cảm về một lòng kính trọng không đổi thay.” Do đề nghị của họ, ông viết một bài tường trình chi tiết về vụ Hutchinson, nhưng sau đó không đăng tải vì nhận định rằng “nói chung, tôi cho qua những lời phê bình như vậy trong im lặng”.38

Tuy vậy, ông tiếp tục viết chuỗi bài báo vô danh. Dù muốn không đề tên nhưng với mong muốn khoe khoang có thể hiểu được do hoàn cảnh, ông viết một bài báo ký tên Homo Trium Literarum (Văn nhân*) - cách chơi chữ xúc phạm mà Wedderburn đã ném vào ông. Bài viết tuyên bố: “Những người ngưỡng mộ Tiến sĩ Franklin ở Anh rất bàng hoàng khi ông Wedderburn gọi ngài là kẻ cắp.” Ông lưu ý, người Pháp cũng gọi ông là kẻ cắp trong lời tựa của các bài báo khoa học đăng tải tại đây: “Ông ấy đã dạy cách ăn cắp ngọn lửa thiêng từ thiên đàng.” Trong một bài tường thuật không ký tên về các cuộc điều trần ở Cockpit, đăng tải trên một tờ báo ở Boston, Franklin tự khẳng định: “Tiến sĩ nhận được những lá thư này trong danh dự, ngài có mục đích đạo đức khi gửi chúng đi: để giảm bớt mối bất hòa giữa nước Anh và các thuộc địa.”39

Sự châm biếm và mỉa mai của ông trở nên cay nghiệt hơn bao giờ hết. Trong tiểu luận được viết sau khi Tướng Gage được điều sang thay thế Hutchinson làm thống đốc Massachusetts, ông đề xuất nước Anh cần “không chậm trễ dựng lên ở Bắc Mỹ một chính quyền tuyệt đối và hoàn toàn có tính quân sự”. Điều đó sẽ “dọa nạt người Mỹ đến mức” họ vui lòng chấp thuận mọi loại thuế khóa. Ông nói thêm, “khi dân chúng thuộc địa bị tận thu đến đồng bạc cuối cùng, họ nên bị bán cho nhà thầu trả giá cao nhất”, như Tây Ban Nha hay Pháp. Trong một bài viết khác, ông đề xuất một chính sách để Tướng Gage đảm bảo các cuộc nổi dậy không nổ ra ở Mỹ: “Hãy thiến tất cả đàn ông ở đó!” Một biện pháp hữu hiệu là những kẻ chủ mưu như John Hancock và Sam Adams “nên bị cạo đầu”. Ông nói thêm rằng, bên cạnh các lợi ích khác, nó sẽ có ích cho nhạc kịch và làm giảm số người di cư từ Anh sang Mỹ.40

Một lần nữa, câu hỏi lại xuất hiện: Tại sao cuối cùng ông vẫn chưa về nhà? Vợ ông sắp lìa đời, còn ông là một chính trị gia bơ vơ. Một lần nữa, ông quyết tâm trở về. Ngay khi bàn giao xong sổ sách bưu điện, ông báo tin cho bè bạn; vào tháng Năm, ông hứa hẹn với Richard Bache. Và một lần nữa, rốt cuộc ông vẫn ở lại. Suốt phần còn lại của năm 1774, Franklin ở Anh, hầu như không làm gì cả: không có nhiệm vụ chính thức nào để tiến hành và cũng chẳng có bộ trưởng nào để vận động. Kể cả nhà vua cũng tò mò về việc đó.

“Tiến sĩ Franklin đang ở đâu?” Nhà vua hỏi Ngài Dartmouth vào mùa hè đó.

“Thưa Hoàng thượng, thần tin ông ấy ở trong thành phố. Ông ấy sắp sửa về Mỹ, nhưng thần thiết nghĩ ông ấy vẫn chưa đi.”

“Ta nghe nói ông ấy sắp sang Thụy Sĩ”, nhà vua nói.

“Thần nghĩ,” Ngài Dartmouth đáp, “đã có báo cáo về việc đó.”

Thực tế, ông sống gần Phố Craven, hiếm khi ra ngoài và chủ yếu chỉ gặp bạn bè thân thiết. Như ông viết cho em gái vào tháng Chín: “Anh đã không gặp bất cứ bộ trưởng nào từ tháng Một, kể cả liên lạc nhỏ nhất với họ cũng không.”41

BẤT HÒA VỚI WILLIAM

Cuộc đụng độ sắp xảy ra giữa Anh và Mỹ tất yếu báo trước mối bất hòa cá nhân giữa Franklin và người con trai bảo hoàng của ông. Đau đớn vì viễn cảnh trước, Franklin vẫn sắt đá về việc sau.

Mặt khác, William cũng đau đớn hết sức vì anh đã cố gắng cân bằng bổn phận của một người con với nghĩa vụ của một thống đốc hoàng gia tại New Jersey. Trong các thư từ gửi cho cha sau cuộc chiến ở Cockpit, anh hy vọng tìm kiếm sự ủng hộ qua việc nịnh nọt, trấn an và dỗ dành ông trở về. “Tiếng tăm của cha ở đất nước này, kể cả khi từ bờ bên kia, cũng đã vượt xa so với trước đây”, William viết vào tháng Năm. “Khi về đây, cha có thể tùy ý được tiếp đón bằng mọi chỉ dấu của sự trân trọng và thương mến.” Tuy vậy, anh thể hiện rõ mình không có ý định từ chức, dù cha anh thỉnh thoảng lại đề xuất việc đó.

Mắc kẹt ở giữa là chủ nhà in William Strahan, một trong những người bạn thân nhất của Franklin ở Anh; và cũng đã trở thành người tâm phúc của Franklin trẻ. Ông hối thúc William hãy là chính mình, kiên định lập trường bảo hoàng và để các bộ trưởng biết rằng anh sẽ không để những quan điểm của cha mình ảnh hưởng tới lòng trung thành của anh đối với chính phủ mà anh phục vụ.

William để ý lời khuyên này. Chẳng bao lâu sau khi viết lá thư đầy lo âu cho cha mình, anh gửi một lá thư tới Ngài Dartmouth, Quốc vụ khanh thuộc địa. “Đức vua có thể tin tưởng rằng tôi sẽ không bỏ qua điều gì trong thẩm quyền của mình để giữ cho tỉnh bang này yên bình”, anh hứa hẹn. Sau đó, anh nói thêm thật sắc nhọn: “Không mối ràng buộc hay liên kết nào có thể khiến tôi rời bỏ nhiệm vụ mà tôi đảm nhận.” Điều đó có nghĩa là: sự hiếu đễ với cha mình sẽ không kéo anh ra khỏi lòng trung thành với mẫu quốc. Ngài Dartmouth nhanh chóng đáp với lời xác quyết: “Ta sẽ đối xử bất công với chính tình cảm của mình về tính cách và hành vi của anh nếu hoài nghi rằng anh có thể vì bị dẫn dụ bởi bất cứ ý nghĩ nào mà rời bỏ bổn phận mà anh mang nợ nhà vua.”

William đi xa hơn việc chỉ đơn thuần đưa ra những lời tuyên bố trung thành. Anh bắt đầu thứ mà anh gọi là một mối liên lạc “bí mật và tối mật” với Ngài Dartmouth để cung cấp thông tin về tình cảm của người Mỹ. Anh đã cảnh báo sự ủng hộ đang gia tăng khắp các thuộc địa để hỗ trợ cho Massachusetts trong phản ứng chống lại quyết định phong tỏa cảng Boston của nước Anh. Một cuộc gặp mặt của các đại biểu thuộc địa, vốn thường được biết với tên gọi Quốc hội Lục địa Đệ nhất, đã được lên kế hoạch tổ chức tại Philadelphia vào tháng Chín. William tỏ rõ anh đứng về bên nào. Anh tuyên bố, việc đề xuất cuộc họp này “nếu không vi hiến thì cũng bất hợp lệ” và anh nghi ngờ nó có thể dẫn tới một cuộc tẩy chay tập thể đối với hàng hóa Anh quốc.42

Trên mọi phương diện, cha anh đều nghĩ khác anh. Ông đã đề xuất một Quốc hội lục địa từ hơn một năm nay và cảm thấy hết sức rõ rệt rằng nó nên kêu gọi một cuộc tẩy chay và tin tưởng nó sẽ làm được việc đó. Ông hân hoan viết cho William, trong trường hợp này “nội các hiện nay chắc chắn sẽ phải thức tỉnh”. Ông cũng mắng mỏ William vì bám vào chiếc ghế thống đốc. Như thường lệ, ông nhìn vấn đề dưới cả khía cạnh tiền bạc lẫn chính trị. Franklin nói, một khi vẫn phụ thuộc vào lương bổng của thống đốc, anh sẽ không bao giờ trả được món nợ với ông. Thêm vào đó, đời sống chính trị thay đổi đồng nghĩa với việc “con sẽ thấy mình không còn ở trong tình thế thoải mái nữa, lúc đó con sẽ ước gì đã giải phóng bản thân sớm hơn.” Lá thư được ký giản dị: “B. Franklin.

Dù ông biết thư tín của mình bị chính quyền Anh mở ra và đọc trước, Franklin vẫn mạnh mẽ kêu gọi các đồng minh ở Mỹ giữ vững lập trường. Ông viết, Quốc hội Lục địa phải bỏ phiếu “ngay lập tức để ngừng mọi hoạt động thương mại với nước này, cả xuất và nhập khẩu, cho đến khi các vị đạt được sự điều chỉnh”. Mấu chốt là vấn đề lớn: “liệu người Mỹ và các thế hệ về sau có được hưởng các quyền phổ quát của con người hay còn tệ hơn những kẻ nô lệ phương Đông.”

Vào thời đó, khi có thể mất hai tháng để một lá thư đi qua đại dương, có rất nhiều thư tín đan chéo nhau. William tiếp tục cố gắng thuyết phục cha mình rằng quốc hội lục địa là một ý tưởng tồi tệ. “Không ai nhìn trước những hệ lụy có thể xảy đến từ một quốc hội như thế”. Thay vào đó, người Boston nên bồi thường cho số trà họ đã phá hủy và sau đó “cảng của họ có thể được mở lại sau ít tháng”.

Vài tháng trước đó, thực sự Franklin đã bày tỏ những cảm xúc tương tự về việc nếu khôn ngoan thì người Boston nên trả tiền bồi thường cho bữa tiệc trà của họ. “Một bước đi như thế sẽ xóa bỏ mọi định kiến hiện nay nhắm vào chúng ta” - ông viết cho Cushing vào tháng Ba. Tuy nhiên, ông nổi giận khi bị con trai lên lớp về việc này.

Do đó, vào tháng Chín, ông viết một thư hồi đáp đầy khinh miệt, phản biện William từng điểm một. Nước Anh đã cưỡng đoạt nhiều nghìn bảng từ các thuộc địa một cách vi hiến. “Về số tiền này, họ phải đền bù.” Lập luận này kết thúc bằng một lời sỉ nhục: “Song con là một cận thần triệt để, chỉ nhìn mọi thứ bằng con mắt của chính quyền.”

Franklin viết thư cho con trai một lần nữa vào tháng Mười, đưa ra các lập luận đa phần là tương tự, sau đó lái sang vấn đề cá nhân: ông chua chát nhấn mạnh con trai ông chậm trả số tiền ông cho vay đã nhiều năm và khó có khả năng trả được nếu vẫn là thống đốc hoàng gia.44

Bẵng đi một thời gian, không có hồi âm gì khác. Sau đó, vào đêm Giáng sinh năm 1774, William gửi cho cha một lá thư buồn đau khủng khiếp. Deborah đã lìa đời khi Franklin không có mặt ở nhà.

“Con đã đến đây từ thứ Năm để dự tang lễ của người mẹ già tội nghiệp, bà ấy đã qua đời vào thứ Hai”, ý nhắc đến người mẹ kế.

Người vợ phục tùng và nhẫn nhịn của Franklin đã hao mòn kể từ khi bị đột quỵ năm năm trước đó. “Em thấy mình yếu đi rất nhanh”, bà viết vào năm 1772. Suốt năm 1774, bà yếu đến mức không thể viết được gì. Bởi không biết nên Franklin tiếp tục gửi những lời nhắn ngắn ngủi cho bà - một số có tính gia trưởng và một số khác có tính công việc, trong đó nhắc qua về sức khỏe của chính ông, gửi lời chúc của gia đình Stevenson và trách móc bà vì đã không viết thư cho ông.

“Một số lượng cư dân rất đáng nể đã đến dự tang lễ,” William tiếp tục. Rõ ràng muốn cha mình thấy tội lỗi, anh kể lại chuyến viếng thăm Deborah lần cuối vào hồi tháng Mười. “Mẹ nói với con rằng mẹ chẳng mong được gặp lại cha nữa trừ phi cha trở về vào mùa đông đó, vì bà không chắc có thể sống được đến mùa hè năm sau. Con thật tâm ước cha đã tình cờ về thăm mẹ vào mùa thu bởi con nghĩ chính nỗi thất vọng đã đeo bám tinh thần của mẹ.”

Cuối thư, William chuyển giọng ta thán khi cầu khẩn cha rời nước Anh. “Cha bị người ta nhìn bằng con mắt tội lỗi và sống trong mối đe dọa không nhỏ ở đất nước đó. Cha có thể gặp rắc rối vì các hành vi chính trị của mình”, William cảnh báo. “Chắc chắn cha nên về khi còn có thể chịu nổi sự mệt mỏi của chuyến hải hành đưa cha về với đất nước nơi dân chúng kính trọng cha.” Anh cũng đau đáu chờ gặp con trai ruột Temple, giờ đã 14 tuổi, và van nài Franklin đưa cậu bé về Mỹ. “Con mong được gặp cha cùng thằng bé vào mùa xuân. Ước gì cha sẽ đến ở với chúng con một thời gian.”45

MẬT ĐÀM VỚI HOWE-CHATHAM

Trong khi vợ ông đang hấp hối vào tháng Mười hai năm đó, Franklin đang tận hưởng những cuộc cờ đầy bông lơn với một người phụ nữ hợp thời trang ông mới gặp ở London. Nhưng cuộc chơi không chỉ có tính xã giao. Chúng là một phần của một nỗ lực sau chót của một số thành viên đảng Whig nước Anh nhằm ngăn chặn một cuộc cách mạng nổ ra ở các thuộc địa.

Quá trình này đã bắt đầu từ tháng Tám, khi ông được yêu cầu đến gặp Ngài Chatham, trước đây là William Pitt Lớn, người từng có hai nhiệm kỳ trên cương vị thủ tướng và được gọi là “Thường dân Vĩ đại” mãi cho đến tận khi dại dột chấp nhận tước hiệu quý tộc Bá tước Chatham. Nhà diễn thuyết vĩ đại của đảng Whig này là một người cương quyết ủng hộ nước Mỹ. Năm 1774, ông đang đau ốm và không còn thuộc nội các nhưng đã quyết định tái can dự vào chính sự, trong vai trò là đối thủ công khai của Ngài North cùng chính sách đàn áp thuộc địa của ông ta.

Ngài Chatham đón tiếp Franklin thân tình, công khai ủng hộ hoàn toàn sự phản kháng của các thuộc địa về chế độ thuế khóa của Anh quốc và nói ông “mong họ sẽ tiếp tục kiên định.” Franklin đáp lại bằng việc hối thúc Ngài tham gia cùng nhóm “Người Khôn ngoan” khác của đảng Whig trục xuất “nhóm bộ trưởng lính quýnh hiện tại” và thành lập một chính phủ mới có thể khôi phục “sự thống nhất và hài hòa giữa nước Anh và các thuộc địa”.

Chatham nói điều đó khó xảy ra. Có quá nhiều người Anh cảm thấy rằng không thể nhượng bộ hơn nữa bởi vì “nước Mỹ đang hướng đến việc xây dựng một nhà nước độc lập cho riêng nó.”

“Nước Mỹ không có ý định giành độc lập”, Franklin tuyên bố. “Vì đã từng đi gần như từ đầu này tới đầu kia của châu lục, có vô số bạn đồng hành, ăn uống và chuyện trò với họ một cách cởi mở, tôi đảm bảo rằng chưa từng nghe thấy trong bất cứ cuộc trao đổi nào, từ bất cứ người nào, dù tỉnh hay say, một sự biểu đạt nhỏ nhất của ước mơ được chia tách.”

Franklin không hoàn toàn thẳng thắn. Đã 10 năm kể từ khi ông đi khắp nước Mỹ, và ông biết quá rõ rằng, một nhóm dân chúng thuộc địa cấp tiền tuy số lượng nhỏ nhưng đang gia tăng, cả tỉnh và say, đã mong muốn được độc lập. Thậm chí, ông bắt đầu tự vui thích với khả năng đó. Josiah Quincy Jr., một nhà ái quốc sốt sắng ở Boston và là con trai một người bạn cũ của Franklin, ghé thăm ông mùa thu đó và thuật lại rằng họ đã thảo luận về cuộc “tổng giải phóng” các thuộc địa như một kết quả càng lúc càng có khả năng xảy ra.46

Màn tiếp theo trong vở kịch bắt đầu với một lời mời đầy hiếu kỳ từ một mệnh phụ có quan hệ xã hội tốt. Bà ta cho biết mình thích chơi cờ với Franklin. Mệnh phụ đó là Caroline Howe, chị của Đô đốc Richard Howe và Tướng William Howe. Sau cùng họ sẽ trở thành các nhà lãnh đạo hải quân và lục quân của nước Anh trong thời gian diễn ra Cách mạng, nhưng vào lúc này cả hai đều có gì đó cảm thông với chính kiến của nước Mỹ. (Bà chị là góa phụ của một người họ hàng xa, Richard Howe, vì thế được gọi là bà Howe.)47

Khi Franklin tới thăm bà Howe vào đầu tháng Mười hai, ông nhận thấy bà là người “có lối nói chuyện hợp lý và hành vi vừa lòng”. Họ thưởng thức vài ván cờ và ông “gần như sẵn sàng” chấp nhận lời mời chơi thêm sau vài ngày. Lần này, cuộc trò chuyện đi xa hơn. Họ thảo luận về niềm yêu thích toán học của bà, điều mà Franklin nhận định là “có chút bất thường ở phụ nữ”; sau đó bà Howe chuyển sang đề tài chính trị.

“Cần phải làm gì trước mâu thuẫn giữa nước Anh và các thuộc địa?” bà hỏi.

“Họ nên ôm hôn và làm bạn”, Franklin đáp.

“Tôi thường nói rằng tôi mong chính phủ sẽ trọng dụng ông để giải quyết mâu thuẫn này”, bà nói. “Tôi tin chắc không ai có thể làm tốt đến vậy. Ông không nghĩ việc đó là khả thi sao?”

“Không có gì phải nghi ngờ thưa bà, nếu hai bên có ý định hòa giải”, ông đáp. “Hai đất nước thật sự không có xung đột lợi ích.” Đó là một vấn đề mà những người có lý trí có thể giải quyết trong nửa giờ. Tuy vậy, ông nói thêm, “các bộ trưởng không bao giờ nghĩ đến việc trọng dụng tôi vào việc tốt lành đó, thay vào đó họ chọn hành hạ tôi.”

“Ah,” bà đồng tình, “họ đã cư xử thật đáng hổ thẹn với ông. Và thật sự một vài người trong số họ giờ đây đã bắt đầu tự lấy làm hổ thẹn.”

Cuối buổi chiều đó, Franklin ăn tối với hai người bạn cũ, các tín hữu Quaker, John Fothergill và David Barclay. Họ đưa ra lời khẩn cầu tương tự về việc ông đứng ra làm người hòa giải. Họ thúc giục ông hãy lấy giấy bút và soạn một kế hoạch hòa giải.

Ông đã làm vậy. Tác phẩm Những gợi ý cho một cuộc thảo luận của ông gồm 17 điểm, trong đó: Massachusetts sẽ đền bù số trà bị phá hoại, thuế trà sẽ bị bãi bỏ, các quy định về sản xuất ở thuộc địa sẽ được xem xét lại, tất cả số tiền thu được từ thuế quan thương mại phải nộp vào kho bạc thuộc địa, các binh đoàn không được đóng ở thuộc địa nếu không có sự chấp thuận của cơ quan lập pháp, và tất cả quyền thu thuế sẽ thuộc về cơ quan lập pháp thuộc địa thay vì Quốc hội Anh. Bạn bè ông xin phép trình nó cho một số “bộ trưởng ôn hòa”, và Franklin đồng ý.

Những cuộc đàm phán bí mật này bị ngắt quãng vào giữa tháng Mười hai, khi cuối cùng Franklin nhận được các nghị quyết mà Quốc hội Lục địa Đệ nhất thông qua. Cuộc họp ở Philadelphia kéo dài cho đến tận cuối tháng Mười. Hội đồng còn sót lại đã tái khẳng định lòng trung thành của nước Mỹ với nhà vua chứ không phải với Quốc hội Anh. Ngoài ra, nó còn bỏ phiếu tẩy chay hàng hóa từ Anh quốc nếu Quốc hội không hủy các đạo luật có tính cưỡng ép.

Nhiều đại diện thuộc địa tại London từ chối làm bất cứ điều gì với nghị quyết này khi chúng đến nơi. Bởi thế, Franklin và các đại diện khác đến từ Massachusetts phải đảm nhận việc chuyển chúng tới Ngài Dartmouth, người “nói với chúng tôi rằng đây là một thỉnh nguyện thư tử tế và phù hợp và vui vẻ nhận việc trình nó lên nhà vua”.

Vào ngày Giáng sinh, Franklin đến thăm bà Howe để đánh một ván cờ khác. Khi ông vừa đến, bà nói rằng em trai bà, Đô đốc Richard Howe, muốn gặp ông. “Ông cho phép tôi đi ra ngoài đề tìm cậu ấy?” bà hỏi.

Franklin lập tức đồng ý; ngay sau đó ông nhận được trận mưa lời khen từ Ngài Howe. “Không ai có thể làm gì nhiều hơn để hóa giải sự khác biệt giữa chúng ta”, đô đốc nói với Franklin và đề nghị ông có một số đề xuất để sau đó tìm cách truyền đạt tới các bộ trưởng thích hợp.

Franklin, mệt mỏi vì bị mắc kẹt ở giữa, nhận xét rằng Quốc hội Lục địa đã chỉ rõ những gì các thuộc địa mong muốn. Song, ông đồng ý sẽ có một buổi thảo luận bí mật khác vào tuần sau, lại một lần nữa dưới vỏ bọc một cuộc viếng thăm để chơi cờ với bà Howe.

Lần này, cuộc gặp gỡ không thân mật lắm. Vị đô đốc hỏi Franklin, liệu ông có cho rằng nước Anh nên phái một gián điệp tới Mỹ để tìm kiếm một sự điều đình. Điều đó “hẳn sẽ có ích lợi lớn”, Franklin đáp, miễn đó là người có “địa vị và phẩm giá”.

Bà Howe bồi thêm bằng việc tiến cử em trai mình vào vai trò này, tinh tế lưu ý rằng đã có thảo luận về việc phái người em trai còn lại, vị tướng quân đội, làm một sứ mạng ít hòa bình hơn. Bà nói: “Chị mong chính em được phái đến đó để phục vụ một sứ mệnh như vậy. Chị thích việc này hơn nhiều so với việc Tướng Howe sắp sửa qua đó đề chỉ huy quân đội.”

“Thưa bà, tôi nghĩ họ phải trao cho Tướng Howe một nhiệm vụ nào vinh dự hơn”, Franklin nói sắc bén.

Sau đó, ngài Howe lôi ra một mảnh giấy và hỏi liệu Franklin có biết về nó. Đó là bản sao của Những gợi ý cho một cuộc đối thoại do ông thảo ra. Franklin nói vai trò của ông trong việc soạn tài liệu này cần được giữ bí mật, song ông sẵn sàng thừa nhận mình là người khởi tạo nó. Howe đáp rằng ông thấy khá tiếc khi biết các quan điểm trong đó là của Franklin, bởi lẽ không có khả năng nào các bộ trưởng sẽ chấp nhận chúng. Ông hối thúc Franklin xét lại các đề xuất và đưa ra một kế hoạch có thể dễ chấp nhận hơn. Bà Howe có thể tự tay chép lại để danh tính tác giả được giữ kín. Khi Franklin làm thế, ông có thể “mong đợi bất cứ sự tưởng thưởng nào mà chính phủ có quyền trao cho”, Ngài Howe nói bóng gió.

Franklin nổi giận trước ngụ ý hối lộ. “Đối với tôi, điều này giống như việc mà người Pháp gọi là ‘khạc nhổ vào bát súp’” - về sau ông nhận xét. Tuy nhiên, Franklin thấy bản thân mình tin tưởng Ngài Howe nên quyết định chơi đến cùng. “Tôi ưa cung cách của ông ấy và cảm thấy bản thân tôi có trách nhiệm đặt niềm tin lớn lao nơi ông ấy”, Franklin nói.

Tài liệu ông gửi cho bà Howe ngày hôm sau không có nhượng bộ căn bản nào. Thay vào đó, nó chỉ đơn giản khẳng định lại quan điểm của người Mỹ và tuyên bố đó là những điều cần thiết “để thắt chặt sự thống nhất thân ái”. Dù các cuộc trao đổi với Howe tiếp tục một cách thất thường đến tháng Hai - chủ yếu xuất phát từ tham vọng của vị đô đốc nhằm được chọn làm đặc sứ, họ không bao giờ đến thật gần với giải pháp.

Trong lúc đó, Franklin tham gia vào một loạt các cuộc trò chuyện và đàm phán cửa sau khác, nổi bật nhất là với Ngài Chatham. Vị cựu thủ tướng mời ông đến nhà để chỉ cho ông xem một loạt đề xuất mà ông dự định trình bày trước Quốc hội, sau đó đến thăm ông ở Phố Craven trong vòng hai giờ để thảo luận sâu hơn. Sự hiện diện của Ngài Chatham ở ngôi nhà trọ khiêm nhường của Franklin - gã đánh xe của ông đứng đợi một cách rất lộ liễu ở con phố chật hẹp bên ngoài cửa - gây khá nhiều xáo động cho dân chúng xung quanh. “Chuyến thăm của một con người vĩ đại đến vậy, về một công việc trọng đại đến vậy, tâng bốc thói hư danh của tôi không nhỏ”, Franklin thú nhận. Đây là việc đặc biệt tốt đẹp bởi nó diễn ra đúng dịp kỷ niệm một năm ngày ông bị nhạo báng ở Cockpit.

Sự thỏa hiệp mà Chatham đề xuất khi hai người ngồi với nhau trong phòng khách nhỏ của bà Stevenson sẽ cho phép Quốc hội điều tiết thương mại của đế quốc và phái quân đội sang Mỹ. Nhưng chỉ cơ quan lập pháp thuộc địa mới có quyền thu thuế và Quốc hội Lục địa sẽ được trao một vị thế chính thức và lâu dài. Dù không tán thành tất cả khía cạnh của nó, Franklin lập tức đồng ý hỗ trợ bằng việc ông sẽ hiện diện khi Ngài Chatham trình bày kế hoạch trước Thượng viện vào ngày mùng 1 tháng 2.

Bằng tài hùng biện, Ngài Chatham đã đưa ra lời giải thích về các đề xuất của mình. Ngài Dartmouth thay mặt nội các phản hồi rằng, chúng có “trọng lượng và tầm vóc đáng để xem xét thấu đáo”. Đã có lúc, Franklin cảm thấy tất cả những cuộc thảo luận và vận động cửa sau của ông có thể đơm hoa kết trái.

Sau đó, Ngài Sandwich - người khi còn đứng đầu hải quân đã có đường lối cứng rắn về các vấn đề thuộc địa - lên nhận diễn đàn. Trong “bài phát biểu hờn dỗi và kịch liệt”, ông ta đả kích dự thảo của Chatham và sau đó quay sang xoáy vào Franklin. Ông ta nói mình không thể tin kế hoạch này ra đời từ ngòi bút của một đồng sự người Anh. Trái lại, dường như đây là tác phẩm có ít nhiều tính Mỹ. Như Franklin thuật lại cảnh này: “Quay mặt về phía tôi, Sandwich nói ông ta mường tượng được trong mắt mình kẻ đã soạn thảo ra nó: một trong những kẻ thù cay nghiệt nhất và ác tâm nhất mà đất nước này từng biết. Điều này thu hút về phía tôi ánh mắt của nhiều quan chức; nhưng tôi giữ diện mạo của mình bất động như thể các đường nét đều làm bằng gỗ.”

Chatham đáp đó là kế hoạch của chính ông, song ông không hổ thẹn khi tham khảo ý kiến của “một con người hiểu biết hoàn hảo về toàn bộ những sự vụ ở Mỹ mà quý ông đây ám chỉ đến và sỉ nhục.” Sau đó, ông tiếp tục ban lời khen ngợi Franklin như một con người “được cả châu Âu đánh giá cao về kiến thức và trí tuệ, sánh ngang với những Boyle và Newton của chúng ta; là nỗi vinh dự của không chỉ dân tộc Anh mà của cả nhân loại”. Franklin về sau viết cho con trai mình - có lẽ với một chút khiêm tốn giả tạo: “Cha thấy khó chịu đựng lời khen ngợi thừa thãi này hơn là sự nhục mạ thừa thãi không kém trước đó.”48

Song Chatham không chỉ hết quyền lực, ông còn cắt đứt quan hệ. Ngài Dartmouth nhanh chóng chối bỏ sự cởi mở ban đầu và đồng ý với Ngài Sandwich, rằng dự thảo này nên bị bác ngay lập tức - và điều đó đã diễn ra. “Dự thảo của Chatham bị đối xử với sự khinh bỉ không khác gì thứ họ có thể tỏ ra với bản nhạc do một gã thợ thuyền nghêu ngao khi say rượu”, Franklin viết thư cho một người bạn ở Philadelphia.49

Vài tuần sau, Franklin tham gia vào một cơn mưa rào các cuộc gặp khác được sắp xếp để cứu vãn một số thỏa hiệp. Song vào đầu tháng 3 năm 1775, khi ông cuối cùng cũng chuẩn bị rời nước Anh, sự kiên nhẫn của ông đã cạn kiệt. Ông soạn ra một thỉnh nguyện thư xấc xược gửi cho Ngài Dartmouth yêu cầu nước Anh đền bù về việc phong tỏa cảng Boston. Khi ông đưa nó cho người bạn cùng ông thương thảo về đất đai, Thomas Walpole, “ông ta nhìn tôi vài lần như thể thấy tôi mất trí”. Franklin tỉnh táo trở lại và quyết định không gửi thỉnh nguyện thư nữa.

Thay vào đó, ông góp một vai trò nhỏ vào một trong những lời cầu khẩn cuối cùng và hùng hồn nhất cho hòa bình. Ông dành buổi chiều ngày 19 tháng 3 cho triết gia và nhà diễn thuyết tài ba của đảng Whig, Edmund Burke. Ba ngày sau, Burke xuất hiện trước Quốc hội để trình bày bài phát biểu nổi tiếng song vô ích Về việc hòa giải với nước Mỹ. “Một đế chề lớn và những đầu óc nhỏ nhen sẽ suy vi cùng nhau”, ông cảm thán.

Vào lúc đó, Franklin đã ở trên con tàu hướng về phía tây từ Portsmouth để trở về Philadelphia. Ông dành trọn ngày cuối ở London với người bạn già, đồng thời là cộng sự khoa học, Joseph Priestley. Priestley viết, những người không biết Franklin đôi khi sẽ thấy ông kín đáo, thậm chí lạnh lùng. Nhưng vào ngày đó, khi họ thảo luận về cuộc chiến tranh đang lờ mờ đến gần và đọc tin từ báo chí, ông trở nên rất xúc động. Có lúc, nước từ khóe mắt khiến ông không thể đọc nổi.50

« Lùi
Tiến »