Bêu Đầu Vua Mạc

Lượt đọc: 6132 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Náo động trong dinh Trấn-Thủ (3)

Từ dưới lầu, tiếng gào thét tung lên như sấm sét giữa một trời giông tố. Đoàn ưu hình, bị kích thích đến cực độ trước cái chết đột ngột thảm thương của chủ tướng, chúng bắt đầu hè nhau tràn lên lầu như những đợt sóng hung hăng.

Lê Thế Hùng sau một hồi được rảnh rang, bây giờ lại phải ra tay đối phố.

Đứng chận đón đường sẵn tại thang lầu, chàng giơ cao thanh kiếm, lăm lăm toan chém xuống đám người sắp nhô lên, thì Văn Khuê chợt bảo chàng rằng:

- Quân địch đông đảo quá, chúng ta không thể phí sức kháng cự lại lâu hơn nữa. Đã đến lúc phải chạy thoát thân.

Dứt lời, chàng lực sĩ ôm thi hài của Thái Ngột ném mạnh

xuống đầu đám binh sĩ của Trịnh Tùng đang liều lĩnh leo lên trước nhứt.

Bọn nầy bị sức mạnh của cái xác chết, thình lính phóng lên mình chúng đều cả kinh buông tay té ngửa ra phía sau, đứa này ngã chồng lên đứa kia, nối tiếp nhau lăn nhào xuống dất như những trái cây chín rụng.

Nhưng loạt ưu binh nầy ngã, loạt thứ hai đã khởi sự hùng hổ leo lên, Văn Khuê thản nhiên chờ cho chúng vượt quá nửa cầu thang và gần đến nơi, thì chàng dùng lưỡi kiếm chặt đứt phăng đoạn cầu thang nối liền với từng lầu thứ nhứt.

Sau một tiếng ‘‘rắc’’ cầu thang bị tách rời, đổ ập sang một bên, quăng luôn bọn lính gồm trên mấy chục tên, nằm la liệt ngổn ngang đầy mặt đất.

Nhưng đoàn ưu binh, trùng trùng điệp điệp, vẫn nhứt quyết không chịu buông tha hai chàng hiệp sĩ.

Mất cầu thang, chúng bèn xử dụng tới những cuộn dây gai đầu có móc sắt để leo lên lầu. Một bọn chạy đi lấy câu liêm để giựt cho hai vị anh bừng từ trên lầu cao té xuống.

Thừa lúc chúng đang lăng xăng, Văn Khuê thúc giục bạn:

- Hiền đệ hãy theo ta, chúng ta sẽ leo lên mái nhà rồi tùy liệu tìm phương tẩu thoát.

Chàng nói đoạn, lao mình vào phía trong, nhún chân nhảy lên bực cửa sổ. Thế Hùng cũng làm theo. Trong chớp mắt cả hai người bíu lấy cánh cửa rồi cất mình trèo lên cao.

Áp ngực sát vào bức vách, họ Lê bảo chàng lực sĩ:

- Đại ca cứ đạp lên vai tiểu đệ mà lên trước rồi sẽ kéo tiểu đệ theo sau.

Văn Khuê gật đầu cho là phải. Hai chưn dùng vai của Thế  Hùng làm bàn đạp, chàng vươn mình, hai tay nắm chặt lấy được cái rui nhà rồi lanh lẹ đu mình, và chỉ trong chốc lát chàng đã nằm gọn gàng trên mái ngói. Kế đó, chàng chỉ còn đưa hai tay kéo Thế Hùng leo lên sau.

Tấn trò xiếc tài tình trên đây diễn ra rất mau lẹ trước hàng vạn cặp mắt ngạc nhiên của đám binh sĩ triều đình bất lực. Khắp tứ bề, những tiếng hô hoảng hỗn độn vang lên inh ỏi:

- Bớ anh em ơi ! Hai thằng nghịch tặc đã leo lên mái lầu rồi!

- Hãy coi chừng, đừng để cho chúng trốn thoát.

Vài tên ưu binh sực nhớ ra, vội vàng đề nghị:

- Mau mau lấy cung tên bắn cho chúng nó rơi xuống.

Nhưng những người khác cản ngăn:

- Khoan đã! Các bạn đồng đội của chúng la đang leo lên lầu truy đuổi. Nếu ta đứng dưới nầy nhắm bắn địch thủ thì ắt không khỏi sẽ trúng nhầm họ và gây nhiều trở ngại hệ trọng cho quân ta. Chi bằng chỉ giao cung tên cho những người lên được trên lầu thì hơn.

Đề nghị sau này được toàn thể ưu binh tán thành. Lúc ấy, nhờ dùng dây gai có móc sắt ở đầu mũi, lối ba chục binh sĩ đã trèo lên được trên lầu. Sau lưng chúng, vô số binh sĩ khác đeo sẵn cung tên trên vai lần lượt đua nhau nối gót leo lên. Nhưng khi tới khung cửa sổ, nơi Văn Khuê và Thế Hùng vừa rồi đã do đó mà vượt lên mái nhà một cách dễ dàng, thì không ai dám mạo hiểm cả.

Trọn một lũ đứng ngơ ngác lặng nhìn nhau tự hỏi thầm trong đám chúng có kẻ nào dám tình nguyện liều lĩnh thử một phen xem ra sao cho biết.

Rốt cuộc, không ai dám thử và thật ra cũng không biết xoay trở cách nào để bắt chước hai chàng hiệp sĩ.

Nhận thấy đứng đó cũng không ích gì, vì mái ngói đã che khuất, không cho chúng thấy hình bóng của hai gã lái buôn lợi hại kia nữa, cả bọn đành bảo nhau kéo xuống lầu kêu mọi người túa hết ra ngoài đường cái, nổi đuốc lên sáng rực, rồi đưa nhau giương cung lắp tên mà bắn vãi lên nóc Hoàng hạc Lâu.

Hằng trăm mũi tên thi nhau bay vèo trong không khí nhưng hình như không một mũi nào trúng đích. Vì dưới ánh đuốc tỏ như ban ngày, mọi người không ai nhận thấy một bóng nào trên mái lầu Hoàng hạc cũng như trên các nóc nhà lân cận.

Hằng ngàn cặp mắt trố ra tìm kiếm, xoi bói khắp nơi. Thiên hạ đều kinh dị tự nhũ thầm: ‘‘ Lạ thay! Hai tên nghịch tặc đã biến mất tự hồi nào’‘?

Trong lúc ấy áp bụng vào mái gói như loài bò sát, Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng vận dụng cả hai tay lẫn hai chân, lần lần di chuyển trên nóc lầu Hoàng hạc.

Vì nóc lầu cao, và vì mái ngói uốn cong theo kiến trúc cũ kỹ thời xưa, nên ánh đuốt hừng cháy rực rỡ từ mặt đất, không thể nào soi sáng đến tận phía trên.

Nhờ thế, và lần nương theo bóng tối, hai chàng hiệp sĩ không sợ bọn ưu binh của Trịnh Tùng trông thấy.

Tuy nhiên, không phải do lẽ ấy mà họ đã tự coi là vừa thoát được hiểm nghèo. Vì liền đó, hàng trăm mũi tên thi nhau bắn tủa lên, khiến Văn Khuê và Thế Hùng phải cẩn thận đề phòng, nép mình xuống sát hơn nữa để tránh.Như vậy, dưới trận mưa tên dữ dội trên đầu họ, cả hai tiếp tục bò đến tận mút mái kia, thì ngừng lại.

Tại đây, những khó khăn mới khởi sự hiện ra. Hai chàng hiệp sĩ do dự phân vân vì họ phải vượt qua một khoảng không để nhảy xuống một mái nhà lân cận thấp hơn và cách xa đó chừng năm sáu thước.

Nên biết rằng lúc bình thường gặp trường hợp nầy, Văn Khuê và Thế Hùng sẽ trổ tài phi thân vượt qua dễ như bởn. Nhưng ở đây, họ lại phải đối phó với hai trở lực hết sức lớn lao: Một là khoảng không phân cách 2 mái nhà không ngớt bị vô số mũi tên từ dưới đất bắn lên vi vút. Băng qua các rừng tên đạn ấy là làm một việc cực kỳ mạo hiểm vì không thể nào tránh khói bị trọng thương. Hai là mái nhà mà họ định đáp xuống sẽ rất bất lợi

vì thấp hơn khiến ánh đuốc dưới đất có thể soi thấu, và do đó, họ sẽ dễ dàng trở nên cái đích cho một cuộc xạ kích ráo riết của quân sĩ triều đình.

Trong nháy mắt, hai chàng hiệp sĩ đã ước lượng được hai mối hiểm nguy vừa kể rõ trên đây. Ước lượng xong, họ quyết định liền.

Văn Khuê bảo Thế Hùng .

- Cũng may là chúng chỉ bắn có một phía chớ không phải hai. Như thế chúng ta cố thể vượt qua bằng cách vừa nhảy vừa múa gươm vùn vụt để che chở lấy thân mình. Đến khi đáp xuống rồi chúng ta sẽ liệu.

Chàng thanh niên gật đầu khen phải.

Sau một cái liếc mắt ra hiệu của họ Bùi, cả hai một loạt vùng đứng dậy. Đồng thời hai thanh kiếm trong tay họ bắt đầu quay tít về một phía như chong chóng, gieo muôn ngàn ánh bạc lấp lánh trong bóng tối mập mờ. Hai thanh kiếm ấy, kể từ giờ phút đó, đã biến thành hai bức tường kiên cố để bảo vệ họ một cách đắc lực và ngăn cản không cho một mũi tên nào qua lọt.

Văn Khuê và Thế Hùng nhún chân cùng một lượt như hai chiếc én nhẹ nhàng, buông mình nhảy xuống mái nhà kế cận.

Tức thì, như họ đã chờ đợi trước từ dưới mặt đất bỗng tung lên những tiếng la inh ỏi:

- Bớ anh em ơi! Xem kìa, hai tên cướp đây rồi!

- A ha! Chúng nó đang từ nóc tửu lầu phi thân qua nóc nhà bên hữu. Hãy nhắm về phía ấy mà bắn bớ anh em!

Những tiếng hô trên đây chìm trong muôn tiếng hò hét hỗn độn của đám binh sĩ triều đình. Bao nhiêu bó đuốc đều cố gắng đưa cao lên. Bao nhiêu mũi tên bay vù vù đều đổ dồn về một hướng.

Trên mái nhà thấp, nơi họ vừa đặt chưn xuống, Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng biết rằng mình đã trở nên cái mục tiêu cho cuộc tấn công tới tấp bằng cung tên, nên luôn luôn tiếp tục múa kiếm vùn vụt như chớp nhoáng vạch thành một vòng tròn hào quang óng ánh che kín họ từ đầu chí chân, khiến hàng ngàn mũi tên và chạm vào đó đều bị đánh bật ra tán loạn.

Thủ đoạn oanh liệt trên đây khiến cho toàn thể ưu binh của Trịnh Tùng và dân chúng hiếu kỳ đứng xen phía dưới đều phải tắm tắc khen thầm.

Ngoài việc tự vệ chống lại cuộc xa tiễn, trước mặt hai chàng hiệp sĩ nầy, bây giờ những trở lực đã giảm bớt. Các mái nhà xấp xỉ đều nhau và nằm san sát cái nọ liên tiếp gần khít với cái kia, sẽ giúp họ dễ bề thoát thân.

Vững dạ với ý nghĩ ấy, Bùi văn Khuê và Lê thế Hùng vừa bình tỉnh đỡ tên đạn, vừa kéo nhau chạy. Lanh lẹ như những con vượn, họ thoăn thoắt chuyền từ nóc nhà nọ qua nóc nhà kia.

Nhưng đồng thời, ở dưới đất, đám quân sĩ cũng rùng rùng đuổi theo, giăng lưới bủa vây ra khắp các mặt và trên khắp các nẻo đường. Ấy là chưa kể cuộc xạ kích càng lúc càng tăng gia thêm mãnh liệt.

Để tránh khỏi bị theo dõi, hai chàng hiệp sĩ rời bỏ dãy nhà dài theo lề đường cái mà quay vào phía trong, nơi nhô lên những mái ngói lúp xúp của các căn nhà nhỏ hẹp. Họ mong tìm thấy ở đó một ngõ hẻm sẽ cứu thoát họ ra khỏi trùng vây.

Nhưng họ phải thất vọng mà nhận ra rằng, bất luận là ở ngõ hẻm nào, bất luận là tại ngã tư, ngã ba nào, đâu đâu quân của Trịnh Tùng cũng gian ra đông nghẹt, và đâu đâu họ cũng bị đón chào bằng những lời hò hét và những loạt tên dầy đặc tua tủa như mưa.

Rốt cuộc, chỉ vì rủi ro vấp chân, suýt té, Lê thế Hùng không kịp đề phòng bị hai mũi tên hay tới cắm phập rất sâu vào Iưng và bên vai trái của chàng.

Tuy vị công tử cắn răng chịu đau, không thèm thoát ra một tiếng suýt xoa nhưng Văn Khuê ở bên cạnh, chợt trông thấy kịp, liền vội vàng kéo bạn nằm sát xuống để lo tìm phương giải cứu.

Chàng lực sĩ đưa tay thong thả rút mũi tên ra. Từ nơi hai vết thương, máu tươi theo cái mũi tên trào ra linh láng. Văn Khuê chưa kịp tính đến việc xé một vạt áo để tạm băng bó cho bạn, trên đầu chàng cuộc xạ kích lại tiếp diễn dữ dội hơn.

Chàng vội vàng khom mình xuống, dìu Thế Hùng lần tiến tới.

Nhưng nửa chừng, họ Bùi bỗng lo lắng ngừng lại. Chàng nghe rõ phía trước có tiếng reo hò càng lúc càng gần của đoàn ưu binh. Trong khi đó thì hai vết thương của bạn chàng ra máu quá nhiều. Giữa cơn nguy cấp và bối rối, chàng lực sĩ cau mày dáo dác liếc nhìn tứ phía, rồi như vừa nẩy ra một quyết định gì táo bạo, chàng thình lình ghé vai cõng Thế Hùng đứng lên, rồi lần theo mái ngói, nhảy phóc xuống một căn nhà nọ ở dưới chân mình.

Một tiếng hét thất thanh tiếp đón Bùi văn Khuê. Đó là tiếng hét của một bà lão, ăn mặc nâu sòng, dáng chừng là một vú già hoặc người ở trong căn nhà lạ mà chàng vừa đáp xuống.

Mặt tái xanh, toàn thân run cầm cập, bà lão đứng sửng gần chết điếng. Bà la toan hét to lên một lần nữa rồi xây lưng bỏ chạy, nhưng liền bị chàng lực sĩ cản lại.

Tuy nhiên những tiếng la, tìếng động vừa xảy ra đã làm cho những người ở nhà trên chú ý.

Vì liền đó, có tiếng chân người tất tả chạy xuống và đồng thời, ánh một ngọn đèn lồng càng lúc càng gần, chiếu sáng về phía Bùi văn Khuê.

Trên vai vẫn cỏng bạn bị thương, chàng lực sĩ buông bà lão ra, và hồi hộp đợi chờ. Trước mặt chàng, trong khuôn cửa hình chữ nhựt vừa xuất hiện hai người đàn bà phục sức rất phong lưu sang trọng.

Người đi trước là một bà cụ dung mạo phương phi, hiền hậu, trạc độ ngũ tuần.

Người đi sau là một thiếu phụ hay thiếu nữ chừng ngoài hai mươi tuổi, hìnnh dáng tầm thước và nhan sắc xinh đẹp lạ lùng.

Văn Khuê nghĩ bụng: ‘‘ Có lẽ đó là hai mẹ con gia chủ’’. Nhưng ý nghĩ nầy cũng không làm chàng bớt lo một chút nào. Vì thoạt trông qua, vẻ đài các trang nhã trong cách bày trí, chàng có thể đoán mình đang ở trong một ngôi nhà quyền quý. Nếu đây là một chỗ ngụ của một triều thần thuộc về phe của Trịnh Tùng, thì chàng và Lê thế Hùng phen nầy ắt khó lòng thoát hiểm. Song Văn Khuê hơi lấy làm lạ tự hỏi tại sao không thấy một người đàn ông nào trong nhà chạy ra. Không lẽ ở đây chỉ vỏn vẹn có ba phụ nữ mà chàng vừa được gặp.

Qua phút kinh ngạc đầu tiên, bà cụ và nàng thiếu phụ diễm lệ dường như đã tìm thấy lại sự bình tĩnh. Dừng chân trong khuôn cửa, bà cụ vừa đưa cánh tay hơi run run, nâng cao ngọn đèn lồng để soi tỏ kẻ lạ mặt đối diện với mình, vừa nghiêm nghị cất tiếng hỏi:

- Gã kia, sao giữa lúc đêm hôm khuya khoắt dám to gan dám leo tường lẻn vào đây? Nhà ngươi có phải là kẻ gian phi, định giở trò cướp bóc chăng?

Chàng lực sĩ cau mày, tuy khó chịu, nhưng không chấp trách câu nói trên đây của bà cụ. Chàng dõng dạc và lễ phép đáp lại để phá tan một hiểu lầm :

- Xin lỗi cụ, cụ lầm rồi, tôi không phải là gian nhân hay đạo tặc, cụ cứ xem người bạn bị trọng thương mà tôi cỏng trên vai này thì biết. Thưa cụ, hẳn cụ đã nghe những tiếng hò hét xôn xao của quân sĩ triều đình vang dậy ngoài kia chứ ? Tôi xin thú thật với cụ rằng tôi và bạn tôi chính là những kẻ đang bị họ lùng bắt đó. Chúng tôi bị coi là phản loạn vì vừa rồi đã dám đương đầu và đánh tan lũ thuộc hạ của Trịnh Tráng và bọn ưu binh. Rốt cuộc, quả bất địch chúng, anh em tôi phải nhảy lên mái nhà tìm đường thoát thân. Chẳng mai nửa chừng, em tôi trúng tên trọng thương, tôi buộc lòng phải đáp xuống đây xin ẩn núp nhờ chốc lát để cấp cứu.

Điều phát giác bất ngờ trong câu trả lời trên đây của Văn Khuê làm cho gia chủ vô cùng khủng khiếp. Thì ra người lạ mặt đang đứng trước mặt bà còn nguy hiểm gấp trăm, gắp ngàn lần một kẻ gian phi, vì người ấy chính là kẻ thù của chúa Trịnh của đoàn ưu binh, một tên phản nghịch mà quân sĩ triều đình đang lùng kiếm. Ấy vậy mà vào giờ nầy, kẻ ấy lại đột nhiên có mặt trong nhà mình!

Mồ hôi bà cụ toát ra đầy trán vì kinh sợ đến cực độ. Bà xua tay lia lịa. miệng ấp úng gần như nói không ra tiếng :

-  Trời ơi ! Các anh định đến đây gieo họa cho tôi à ? Nếu đức Bình an Vương biết được rằng tôi chứa chấp các anh thì nhà cửa sự nghiệp nầy sẽ tan nát ra tro và cái đầu bạc của tôi cũng lìa khỏi cổ. Vậy các anh hãy đi ngay, đi lập tức! Tôi van các anh đừng chậm trễ ! Nhược bằng không, tôi buộc lòng đi báo nhà chức trách bắt các anh.

Bà cụ vùng vằng toan nói nữa, nhưng bị người thiếu phụ xinh đẹp đứng bên cạnh cản lại. Bằng một giọng ôn tồn chậm rải, nàng cất tiếng oanh nhỏ thỏ thẻ :

- Thưa mẹ, những lời mẹ phân giải rất là chí lý, song đây là một trường hợp hết sức khẩn bách, vì con nhận thấy rằng người tráng sĩ này đang nóng lòng tìm một chỗ trú ẩn để săn sóc cho bạn trọng thương, sắp nguy đến tánh mạng, Vậy con thiết tưởng, vì lòng nhân đạo, mẹ con ta nên giúp đỡ họ một phen.

Bà cụ quay lại, trừng mắt nhìn con gái và gắt gỏng:

- Ô hay, con nói nghe dễ dàng quá! Lỡ may chuyên nầy đổ bể, liệu triều đinh sẽ có nhơn đạo với chúng ta không?

Vẫn bình tỉnh, thiếu phụ âu yếm nhìn bà cụ và đáp:

- Thưa mẹ, con chắc rằng sẽ không xảy chuyện đáng tiếc như thế đâu. Vả lại, nếu vạn nhứt sự cứu giúp này có rủi ro bị phát giác chăng nữa, thì con sẽ dùng thế lực của con để bảo vệ

cho gia quyến, xin mẹ cứ yên tâm.

Thái độ cương quyết của cô gái khiến bà cụ lặng thinh và đồng thời cũng làm cho Bùi văn Khuê rất mừng thầm và cảm phục. Không những cảm phục mà thôi, chàng lực sĩ còn rất ngạc nhiên về một cử chỉ mà chàng không ngờ lại có thể có ở nơi một cô gái yêu kiều như thế. Nhứt là vừa rồi họ Bùi nghe nàng nhắc đến hai tiếng ‘‘thế lực’’. Văn Khuê lấy làm lạ, không hiểu nàng muốn nói đến ‘‘thế lực gì’’.

Vả chăng trước hết thân thế nàng ra sao? Nàng là ai? Tên nàng là chi ? Ngôi nhà nầy của vị quan nào? v…v... Ngần ấy câu hỏi đều là hoàn toàn bí mật đối với Văn Khuê. Chàng lực sĩ chỉ biết rằng thoạt đầu, trong một cái liếc mắt thoáng qua, thiếu phụ đã chinh phục được ngay lòng thiện cảm của chàng, Về phần chàng có lẽ cũng thế, vì chàng nhận thấy từ nãy tới giờ, người đẹp đã chăm chú nhìn chàng, ngấm nghía từ đầu chí chân, và có lẽ đã để ý đến cái tướng mạo quắc thước hiên ngang của một trang anh hùng dõng sĩ.

Văn Khuê muốn thốt vài lời để tạ ơn nàng vì đã rộng lượng cho mình tạm tá túc giữa cơn nguy biến, song chàng ngượng nghịu, không nói được. Chàng chỉ đành lặng lẽ trao đổi cùng nàng một cái nhìn thành thật, chứa chan cảm động và tri ân.

Có lẽ đoán biết được ý nghĩ ấy cũng như nỗi lòng thầm kín của chàng lực sĩ, thiếu phụ mỉm cười nhỏ nhẹ bảo chàng:

- Tráng sĩ cứ đem nạn nhơn xuống nhà dưới mà săn sóc thuốc men. Tại đó có giường chiếu sẵn sàng để cho người bịnh nghỉ ngơi. Chúng tôi sẽ đem đến cho tráng sĩ tất cả những thức cần dùng khác, ở đây rất kín đáo, nhờ từ người nhà đến tôi tớ đều hiếm hoi, vỏn vẹn chỉ có hai mẹ con tôi và một vú già. Vậy sự hiện diện của quý vị sẽ không sợ bị tiết lộ. Xin tráng sĩ cứ an lòng.

Dứt lời, nàng gọi người vú già dặn dò rất kỹ, rồi dẫn Bùi văn Khuê xuống nhà dưới, nơi tiện lợi nhứt để cho chàng bắt tay vào công cuộc điều trị hai vết thương nặng của Thế Hùng.

Trong phòng kín, chàng lực sĩ yên tâm săn sóc cho người bạn đồng sanh đồng tử vớí mình.

Công cuộc điệu trị các vết thương diễn ra mau chóng và dễ dàng, nhờ có đủ các phương tiện thuận lợi. Với môn thuốc bột gia truyền quí giá mà chàng không quên đem theo mình với nước sôi, vải trắng do chủ nhà ân cần cung cấp, chỉ trong nháy mắt, Văn Khuê đã nhanh nhẹn chùi rửa, xức thuốc và băng bó các thương tích của nạn nhân.

Lê thế Hùng ngất lịm đi vì mất máu nhiều bây giờ đã lần lần hồi tỉnh. Nằm trên một chiếc giường gỗ êm ấm, chàng từ từ mở mắt ra nhìn bạn như muốn dọ hỏi nhưng bị chàng lực sĩ xua tay gạt đi.

- Hiền đệ hãy nằm nghỉ cho khoẻ khoắn đã. Rồi đây ta sẽ thuật chuyện cho hiền đệ nghe...

Nhưng thật sự thì Bùi văn Khuê cũng chẳng biết gì hơn bạn mình để thuật chuyện như chàng vừa hứa hẹn. Người thiếu phụ xinh đẹp vừa rồi là ai ? Chủ nhà này thuộc hạng người gì ? Đó là hai câu hỏi mà chàng đang băn khoăn mong chờ được giải đáp.

Giờ đây rảnh rang, ngồi trong phòng kín, chàng lấy làm bực bội khó chịu và có cảm tưởng như chính mình đang bị giam cầm. Chàng lực sĩ nghĩ vẩn vơ và không khỏi nhếch mép mỉm

cười. Thiệt không còn gi oái oăm mai mỉa cho bằng lúc này, chàng đành phải phú thác số phận, tánh mạng của mình và của bạn trong bàn tay của ba phụ nữ mà chàng chưa hề quen biết.

Người con gái diễm lệ và hai bà lão kia có ác tâm gì đối với chàng chăng? Họ sẽ có thể hoặc nhẹ dạ non lòng, hoặc vì độc sâu nham hiểm, đi tố giác với nhà chức trách sự hiện diện của chàng và Thế Hùng để lãnh những phần thưởng to tát mà mọi người đều ham muốn?

Văn Khuê phân vân lo lắng, song chỉ một lát sau chàng lại yên tâm, vì chàng sực nhớ lại những lời đã thốt ra của người thiếu phụ và sự can thiệp của nàng khi bà lão yêu cầu chàng phải đi lập tức.

Họ Bùi tin ở lòng tốt của người đàn bà đẹp vì tấm lòng tốt đó đã cố dịp được tỏ ra bằng sự thi ân của nàng đốí với chàng. Văn Khuê không cần tìm hiểu xem bên trong thiếu phụ ấy có nhắm một dụng ý thầm kín gì không? Và lạ thay! Không hiểu vì sao chàng rất nóng lòng muốn gặp mặt thiếu phụ ấy, muốn tiếp xúc với nàng ? Phải chăng là để hiểu rõ về cái cảnh tù túng tạm bợ đang giam hãm chàng trong hiện tại?

Thình lình, dòng tư tưởng trên đây bị gián đoạn. Chàng lực sĩ chợt nghe có tiếng động nhè nhẹ của bước chân người mỗi lúc mỗi gần rồi cánh cửa phòng ở trước mặt chàng từ từ hé mở.

Dưới ánh sáng của cây đèn bạch lạp, chàng thấy người vú già hiện ra trong khuôn cửa, với trên tay một mâm đầy rượu và thực phẩm nóng sốt đang bốc khói lên nghi ngút. Khệ nệ tiến đến gần cái bàn gỗ kê chính giữa gian phòng, mụ thong thả đặt mâm cơm xuống bàn rồi lễ phép chắp tay ngỏ lời với Văn Khuê:

- Kính thưa tráng sĩ, tiểu chủ nhân tôi xin mời tráng sĩ dùng tạm bữa cơm sơ sài thanh đạm này cho đỡ đói lòng!

Ba tiếng ‘‘tiểu chủ nhân’’ nhắc cho chàng lực sĩ, liên tưởng đến người thiếu phụ mỹ miều xinh đẹp, một nữ cứu tinh, đã thâu hút trọn vẹn cảm tình và lòng quý mến của chàng.

Bùi văn Khuê vội vã đứng dậy, thành thật và nhã nhặn xin phép khước từ :

- Chết nỗi - chàng nói - Chúng tôi đâu dám quấy nhiễu và vượt quá giới hạn như vầy. Trong khi lỡ bước được quý chủ nhân thương tình cho dừng chơn tạm tá túc ở đây, còn giúp đỡ các phương tiện để săn sóc kẻ bị thương ngộ nạn, đối với ơn nặng ấy chúng tôi đang bối rối không biết lấy gì đền đáp thì nay lại thêm được khoản đãi cơm nước trọng hậu như hạng quý khách, quả thật chúng tôi áy náy vô cùng, vì tự thấy mình không có gì xứng đáng để thọ lãnh ân huệ ấy. Vậy xin lão bả bẩm lại với chủ nhơn cho phép chúng tôi được từ nan...

Người vú già lắc đầu cười và vui vẻ pha trò:

- Không được đâu! Xin tráng sĩ cứ dùng cơm thiệt tình rồi sửa soạn an nghỉ vì đêm đã khuya rồi. Tráng sĩ nên biết rằng ‘‘Tiểu chủ nhơn tôi vốn không thích những người hay khách sáo. Vả chăng, tráng sĩ hẳn chưa quên rằng lúc nãy khi tráng sĩ mới từ trên trời ‘‘rơi’’ xuống nhà nầy, làm cho chúng tôi kinh sợ gần chết đìếng đi thì tráng sĩ có quấy nhiễu ai đâu, và có khách sáo chút nào đâu !’’

Câu nói diễu cợt và hóm hỉnh ấy khiến cho chàng lực sĩ phải bật cười.

Rốt cuộc, Văn Khuê phải nhận, mặc dầu chàng thấy bụng còn hơi no sau buổi tiệc đã dùng với Thế Hùng tại Hoàng hạc  Lâu. Chàng nhận là vì chàng không muốn làm trái ý ‘‘tiểu chủ nhơn’’, người thiếu phụ xinh đẹp và dễ yêu, đã không sợ hiểm nguy có thể xảy đến cho nàng, mà vẫn sốt sắng lo hậu đãi những ‘‘người khách bất đắc dĩ’’ từ không trung sa xuống.

Bà vú già xin kiếu, lui ra, để lại chàng lực sĩ trong gian phòng với mâm cơm thịnh soạn và người bạn bị thương nằm thiêm thiếp ngủ.

Lặng lẽ ngồi ăn và rót rượu uống một mình, Bùi văn Khuê bâng khuâng nghĩ ngợi miên man. Chàng phác họa ra trong trí óc một kế hoạch thoát ly mà chàng định nội đêm nay sẽ đem ra thi hành.

Theo như kinh nghiệm mà chàng đã từng thâu hoạch với thứ thuộc gia truyền hết sức hiệu nghiệm này, thì chỉ trong vòng hai giờ đồng hồ, hai vết thương của Thế Hùng có thể híp miệng và hết đau đớn ngay. Lúc đó, vị công tử có thể rán sức lên đường theo Văn Khuê để thoát thân ra khỏi Tây đô. Lẽ tự nhiên là chàng sẽ tránh hết thảy mọi cuộc chạm trán và luôn luôn phải được Văn Khuê chở che, bảo vệ.

Như thế Văn Khuê còn phải chờ ít nhứt là 2 tiếng đồng hồ nữa, trong gian phòng kín đáo này.

Ngoài ra còn một sự chờ đợi nữa, gần như hão huyền mà đợi lúc chàng chỉ hơi thoáng nhận thấy lờ mờ, không rõ rệt. Ấy là sự chờ đợi... bóng giai nhân.

Nhưng lúc ấy Văn Khuê cảm thấy như có một luồng gió mát êm, dịu dàng phe phẩy lướt qua tâm giới.

Thình lình chàng nghe ở ngoài kia, có lẽ tận trước sân của ngôi nhà nầy, nổi lên những tiếng quát tháo xôn xao ầm ĩ.

Tiếp theo đó là những tiếng đấm cửa rầm rầm. Chàng lực sĩ cau mày, bỏ đũa vùng đứng dậy. Từ nhà trên một bóng người vội vả chạy xuống và qua khung cửa thoáng hiện ra trước mắt chàng. Đó là nàng thiếu phụ diễm lệ mà nãy giờ chàng đang ước mơ được gặp lại dung nhan.

Thiếu phụ bước vào phòng dường như mang theo với mình cả một vùng hương thơm phảng phất. Nét mặt nàng không có vẻ hốt hoảng nhưng hơi lo lắng và nghiêm nghị.

Cố giữ thái độ điềm tĩnh không phù hạp chút nào với trường hợp nguy ngập lúc nầy, nàng ôn tồn bảo với Bùi văn Khuê một tin quan trọng:

- Xin tráng sĩ tha thứ cho sự đường đột của thiếp. Bên ngoài, quân triều đình hiện đang kéo đến nơi và đập cửa đòi vào xét nhà. Trong lúc cấp bách, thiếp vừa nghĩ ra một kế mọn. Ấy là mời nhị vị tráng sĩ vào tạm ẩn núp trong kho lúa ở trong nhà bếp kế cận nầy. Nơi đó kín đáo hơn nhiều và chắc chắn là bọn ưu binh sẽ không để ý tới.

Văn Khuê nghiêng mình kính cẩn đáp:

-   Anh em chúng tôi đội ơn tiểu thư... à quên nương nương nhiều lắm. Chúng tôi xin hoàn toàn vâng theo mọi sự định đoạt của nương nương.

Sự xưng hô hơi lúng túng của chàng lực sĩ không khỏi làm cho thiếu phụ mỉm cười:

- Xin tráng sĩ đừng gọi thiếp là tiểu thơ vì thiếp không phải con quan. Vả chăng, thiếp đã có... đôi bạn.

Nụ cười chúm chím trên cặp môi son duyên dáng ấy nửa chừng, thình lình biến mất. Vì phía trước, sau một hồi im lặng, những tiếng quát tháo và dộng cửa ầm ầm, bỗng trở lại mãnh liệt gấp bội phần. Dưới sức mạnh của hàng chục bàn tay, bàn chân vạm vỡ và cứng rắn đang xô đạp dữ dội, ngươi ta nghe rõ cánh cửa lớn chuyển răng rắc, cơ hố gần sụp đổ.

Nhanh như cắt, Bùi văn Khuê vội chụp lấy cây gươm đeo lủng lẳng bên sườn, tuốt ra khỏi vỏ và trừng trừng nhìn về phía trước. Cử chỉ ấy chỉ là một sự đề phòng tự nhiên, một hành động do bản năng tự vệ, nhưng nó không khỏi làm cho thiếu phụ kinh hãi, lo sợ rằng tánh nóng nảy của chàng lực sĩ sẽ làm hư hỏng mọi sắp đặt toan tính của nàng.

Vì vậy, nàng chụp lấy cánh tay mặt của họ Bùi, cản ngăn và khẩc khoản:

-   Ấy chết ! Tráng sĩ cất võ khí đi. Nên cẩn thận kẻo lỡ công chuyện thì nguy to.

Dứt lời, nàng rút tay về, mặt ửng đỏ vì bẽn lẽn và hơi hối hận rằng trong một lúc quá hấp tấp và lo ngại nàng đã vô tình vượt qua hàng rào ‘‘nam nữ thọ thọ bất thân’’ của nền lễ giáo và luân lý nghiêm khắc Đông Phương.

Vẻ ngỡ ngàng, sự thay đổi trên diện mạo của người đẹp không lọt qua khỏi cặp mắt Bùi văn Khuê. Như nàng, chính chàng lực sĩ cũng vừa trải qua những giây khắc bối rối rung động, những cảm giác êm dịu thư thái, cảm giác ấy lướt qua mau, bây giờ chàng lực sĩ trở về với sự bình tĩnh và sực nhớ rằng mình cần phải tuân theo ý muốn của nàng thiếu phụ và đối phó với tình hình nguy cấp hiện thời.

Ngoan ngoãn, chàng tra thanh gươm vào vỏ ngỏ lời tạ lỗi với mỹ nhơn, rồi xin phép nàng, trước khi đến lay gọi Lê Thế Hùng thức dậy.

Vừa mở mắt ra, Thế Hùng rất ngạc nhiên được mục kích trong gian phòng nầy sự hiện diện bất ngờ của một thiếu phụ cực kỳ xinh đẹp. Chàng chưa kịp hỏi thì đã bị Văn Khuê thúc giục:

- Hiền đệ hãy ngồi lên và ôm chặt lấy cô ta. Anh em ta phải dời sang một căn buồng khác vì lẽ ưu binh của Chúa Trịnh sắp vào đây lực xét.

Đoạn hướng về phía thiếu phụ, chàng tiếp để giới thiệu với bạn:

- Nương nương đây chính là ân nhân của chúng ta. Hiền đệ làm lễ yết kiến đi.

Vừa gượng ngồi dậy, chàng công tử toan cúi đầu chào thì thiếu phụ vội cản lại:

- Thôi ! Xin quí vị đừng khách sáo thái quá, không nên. Thời giờ gấp rút lắm rồi. Nào! Xin mời nhị vị hãy đi theo thiếp.

Dứt lời, nàng xoay lưng bước ra, chàng lực sĩ cõng bạn lên vai, cùng nối gót theo nàng.

Thiếu phụ vói tay lấy một ngọn đèn lồng treo gần đó, rồi tiến lên trước dẫn đường. Họ không phải đi xa lắm. Vòng qua nhà bếp và bỏ một căn nhà nhỏ hẹp dùng làm chỗ nghĩ ngơi riêng cho gia nhân, trong chốc lát họ đã dừng chơn trước cái kho lúa cửa đóng kín mít.

Gọi là ‘‘kho lúa’’ cho to chuyện chứ thật ra đây chỉ là một gian phòng chứa đầy lúa gạo mà các nhà giàu thời bấy giờ thường có thói quen tích trữ sẵn để đề phòng những vụ mất mùa và loạn lạc. Người thiếu phụ đẩy cửa bước vào và giơ cao ngọn đèn lồng lên để soi sáng buồng trước đó đã chìm trong nóng tối âm u, dầy đặc.

Văn Khuê cõng bạn bước vào sau, liếc nhìn khắp tứ bề rồi đặt Thế Hùng nằm xuống trên một đống lúa ở phía bên tả, un Iên cao gần tới ngực.

Đoạn chàng quay lại cười, bảo mỹ nhân:

- Thưa nương nương, chỗ nầy quả là một nơi ẩn núp rất tốt và rất tiện. Lát nữa nếu bọn tay sai của Trịnh Tùng có vào đây khám xét thì anh em chúng tôi sẽ trốn xuống phía dưới hoặc chui vào mấy cái bao gạo kia để tránh cho chúng không trông thấy.

Thiếu phụ chưa kịp trả lời thì một tiếng ‘‘ầm’’ dữ dội vang lên từ phía ngoài, báo hiệu cánh cửa lớn vừa bị xô ngã và sụp đổ.

Biến sắc, nàng vội dặn dò Văn Khuê và Thế Hùng vài lời chót:

- Lũ ưu binh đã phá xong cửa và đã bắt đầu tràn vào nhà rồi, thiếp phải chạy ra lo đối phó với chúng. Vậy nhị vị tráng sĩ hãy yên tâm ẩn mình tại đây và xin nhớ nên hết sức giữ gìn, thận trọng.

Dứt lời, không chờ cho Văn Khuê đáp, nàng đã thoăn thoắt xách lòng đèn bước ra, đóng chặt cửa kho lại, rồi hối hả chạy lên nhà trên.

Còn lại trong kho với bóng tối mịt mù bao phủ quanh mình Bùi văn Khuê và Lê Thế Hùng cố lặng yên lóng tai nghe ngóng. Bây giờ giữa gian phòng kín, như hai kẻ bị cầm tù, họ chỉ còn biết nhờ thính quan để tìm hiểu và theo dõi những việc quan trọng sắp định đoạt tánh mạng của họ.

Thiếu phụ kiều diễm và mảnh mai kia, sẽ làm thế nào để đương đầu với bọn ưu binh ?

Lũ tay sai của chúa Trịnh kia sẽ khám phá ra được chỗ trú ẩn bí mật này chăng?

Hai câu hỏi ấy khơi sự hiện ra và quay cuồng trong đầu óc của hai chàng hiệp sĩ. Tuy nhiên người băn khoăn và lo lắng hơn hết chính là Bùi văn Khuê.

Vì ngoài số phận của mình, của bạn mình, họ Bùi còn bận tâm về số phận của vị nữ cứu tinh, của người đàn bà đẹp đã vì chàng mà nát tan nhà cửa và rồi đây biết đâu sẽ không vì chàng mà nguy hại đến sanh mạng, đến hạnh phúc gia đình.

Bỗng nhiên, chàng giựt mình sửng sốt. Chàng vừa nghe rõ tiếng la hét the thé của thiếu phụ đang quát mắng nguyền rủa đám binh sĩ của Trịnh Tùng.

Quả đúng như sự nghe ngóng của Bùi văn Khuê bên ngoài, việc xảy ra biến thành một vụ bất ngờ cho mọi người và nhất là đám binh sĩ của Trịnh Tùng.

Vì sau khi phá tan cánh cửa lớn, bọn này hùng hổ, tràn vào nhà như một lũ hùm beo. Chúng gồm lối trên 20 đứa, tay lăm lăm cầm mỗi đứa một thanh mã tấu và mặt mày dữ tợn như những hung thần.

Vào nhà, chúng xô ngã, đá đổ, đập bể tất cả những chướng ngại gì mà chúng gặp, và độc ác thay, cho đến bà lão chủ nhân và mụ vú già đang đứng run như cầy sấy cũng không được chúng dung tha. Bất đếm xỉa tới tuổi tác của họ, chúng hất cả hai té nhào xuống đất rồi ào ào toan túa vào phía trong để tiếp tục phá phách và lục soát.

Giữa lúc ấy, nàng thiếu phụ từ nhà dưới tất tả chạy lên.

Thoạt trông thấy một người đàn bà đẹp đang hầm hầm tiến thẳng tới trước mặt chúng, bọn Kiêu binh lấy làm ngạc nhiên, bèn dừng bước lại.

Không ai bảo ai, cả lũ đồng trố mắt ra nhìn nàng một cách vừa thèm muốn vừa tò mò.

Nhưng chúng càng kinh ngạc hơn khi thấy thiếu phụ nổi cơn thịnh nộ, cất giọng lanh lảnh mắng nhiếc chúng một cách tối ư thậm tệ:

- Ô hay! Bọn đầu trâu mặt ngựa, bọn cẩu trệ này! Ai cho phép chúng bây đến đây phá hủy nhà ta? Hành hung mẫu thân ta? Chúng bây là quân cướp bóc, quân sát nhân, một lũ người tán tận lương tâm không hơn gì loài cầm thú. Rồi đây chúng bây sẽ phải đền tội một cách xứng đáng!

Sự giận dữ nhuộm hồng khắp gương mặt của thiếu phụ càng làm tăng thêm bội phần vẻ mỹ miều kiều diễm của nàng.

Viên đội chỉ huy đoàn ưu binh, sau một phút đứng ngây người ra như tượng gỗ để ngắm nghía nàng, bây giờ thình lình như chợt tỉnh, vì sực nhớ rằng mình đang bị nàng nặng lời nhục mạ.

Hắn điên tiết lên và nghiến răng trèo trẹo:

- A, con bé nầy to gan thiệt! Dám trêu ghẹo và nguyền rủa đến chúng ông nữa à? Có lẽ ‘‘con’’ đã đến lúc tận số rồi ‘‘con’‘ ạ!

Dứt lời,hắn quay lại toan truyền cho thuộc hạ bắt trói thiếu phụ nhưng không hiểu nghĩ sao hắn bỗng đổi ý, trở lại tươi cười nham nhở một cách rất khả ố và bảo nàng:

-  Cô bé kháu khỉnh kia ơi ! Lão gia đây định trừng trị ‘‘em’’ thật nặng về cái tội nói năng hỗn xược, song vì thấy ‘‘em’’ xinh đẹp và dễ yêu quá nên tạm tha cho làm phước đó. Vậy bây giờ ‘‘em’’ nên ngoan ngoãn dẫn lão gia đi lục xét trong nhà nầy để xem hai tên phản tặc của triều đình có ẩn núp tại đây chăng?

Vừa nói hắn vừa vã lả bước lại, toan nắm lấy tay thiếu phụ nhưng liền bị nàng ném vào mặt một tiếng quát đột ngột:

- Đồ khốn kiếp! Bộ mi đui mù hay sao nên không biết ta là ai à?

Viên đội ngừng lại, hai lay chống nạnh, cất lên một chuổi cười sằng sặc rồi thốt giọng mỉa mai, kiêu hãnh:

- Là ai à? Lão gia đây không cần biết hay không thèm biết đến. Nhà ngươi đừng tưởng lão gia đây lại đi run sợ trước thế lực của bọn tiểu thơ đài các xoàng xỉnh như nhà ngươi. Nhà ngươi nên hiểu rằng đoàn ưu binh bách chiến này trên đầu chỉ biết có Bình an Vương và Thái phó Nguyễn hữu Liên, còn ngoài ra bất kỳ ai, dầu là quan lại của triều đình hay ngay cả vua Lê nữa, chúng tớ đây vẫn coi thường mà.

Câu nói trên đây phản chiếu rất đúng cái tâm lý của toàn thể ưu binh về thời bấy giờ.

Vốn được Trịnh Tùng biệt đãi và đã lập được nhiều công trong việc chinh chiến cũng như trong việc cũng cố uy quyền độc tài của Chúa Trịnh, chúng hay cậy thế làm càn, a dua theo chủ để hiếp đáp lương dân và xâm phạm đến những người, những bực triều thần thuộc phe đối lập.

Trịnh Tùng tuy biết rõ những hành động ngang tàn ấy song vẫn làm ngơ, dung túng cho chúng tha hồ tự tung tự tác. Bởi lẽ ấy trong công cuộc lục soát khắp thành phố đêm nay để lùng bắt hai chàng hiệp sĩ, bọn ưu binh lại được một dịp hoành hành, thẳng tay phá nhà cửa của dân lành không chừa bất luận tư dinh của một vị quan lớn nào mà chúng không tự do xông xáo.

Thảng hoặc có vị đại thần nào phản đối thì chúng quắc mắt trả lời : ‘‘Chúng tôi thừa lịnh của Bình an Vương’’. Như chúng ta đã thấy, ngôi nhà trên đây có thiếu phụ xinh đẹp, đã bị chúng xâm phạm, mặc dầu chúng đã dư biết rằng chủ nhơn ngôi nhà sang trọng ấy hẳn thuộc về hàng thượng lưu quý phái. Hơn nữa viên đội vô lễ chỉ huy tốp ưu binh kia, vẫn không chút sợ sệt lùi bước trước những lời nguyền rủa và dọa nạt của mỹ nhơn. (Hắn nghĩ rằng bất quá nàng chỉ là một cô gái con quan và như thế, hắn vẫn có quyền chọc ghẹo mà không lo bề trên quở phạt).

Một lần nữa viên đội toan sấn tới, giơ bàn tay vạm vỡ, thô lỗ của mình, chụp lấy vai người thiếu phụ, thình lình bị một tên lính nắm lấy vạt áo sau của hắn cản lại:

- Ấy chết ! Đội trưởng hãy khoan ! Tôi nhớ ra người đàn bà này là ai rồi?

Viên đội trưởng cặp mắt tròn xoe, xây lại nhìn kẻ thuộc hạ :

- Ô hay! Nhà ngươi bảo sao? Nhà ngươi nhớ ra người đàn bà nầy là ai rồi à? Nhưng ta nói rằng dầu nó là công chúa con của vua Lê đi nữa, ta cũng bất kể mà!

Trái với thái độ tự đắc và khinh khỉnh của viên đội, tên lính rành chuyện tỏ vẻ rất lo lắng và nghiêm nghị. Như đê cố cứu vãn một sự lỗi lầm rất quan trọng và nguy hiểm mà chính hắn cũng có dự vào, hắn tiếp rất nhanh:

- Phải! Tôi nhớ rõ đã gặp người đàn bà... à quên phu nhơn đây hôm kia khi tới phiên tôi được cắt cử vào hầu hạ trong phủ Chúa. Quả đúng như vậy. Đây chính là Nguyễn phu nhơn, ái thiếp của Bình an Vương. Chết rồi ! Đội trưởng ôi !

Viên đội điếng hồn, biến sắc, đầu choáng váng, toàn thân lảo đảo như muốn ngã.

Đồng thời, phía trước hắn, tiếng cười của thiếu phu vụt nổi lên, lanh lảnh ghê rợn như những lời gay gắt tuyên án tử hình:

- Phải đấy! Một đứa trong bọn bây chưa đến nổi mù hẳn nên nhận được ta, nhưng đã chậm lắm rồi! Chính ta là Nguyễn phu nhơn đây, tối nay ta đã mục kích tận mắt tất cả những hành động vũ phu tàn bạo đốn mạt của lũ khốn kiếp là bọn chúng bây. Ngày mai, ta sẽ thuật hết với Bình an Vương và đầu của chúng bàâ ắt sẽ phải rời khỏi cổ!

Bỗng nàng ngừng lại, rồi bằng một giọng hách dịch, quát hỏi kẻ đối thoại:

- Nhà ngươi tên là gì? ở trong cơ binh nào?

Viên đội run rẩy, vẻ mặt thiểu não, ấp úng đáp:

- Bẩm phu nhơn, kẻ hèn mọn nầy là Đội trưởng Huỳnh Như, trong cơ binh thứ ba, thuộc quyền chỉ huy của quan Nguyễn Thái phó.

Thiếu phụ cắt ngang:

- Được rồi! Bây giờ chúng bây cứ việc làm phận sự. Ta cho phép bọn chúng bây được tự tiện lục xét khắp nơi trong nhà nầy, thử xem tư thất của ta có chấp chứa bọn phản tặc của triều đình, kẻ thù của đức Bình an Vương chăng?

Câu nói sau này, nàng thiếu phụ nhấn mạnh bằng một giọng mai mỉa, khiến cho lũ ưu binh càng thêm lạnh mình khiếp đảm.

Viên đội sợ hãi đến cực độ, lẽ tự nhiên là không còn dám nghĩ đến việc lục soát để truy tầm ‘‘thủ phạm’’ nữa. Vả chăng, ai lại điên rồ đến nỗi đi xúc phạm đến tư gia của nàng ái thiếp của chúa Trịnh để rồi phải rước lấy sự trừng phạt hết sức ghê gớm, nặng nề?

Trái hẳn với vẻ hống hách, nghinh ngang lúc nãy, bấy giờ trông viên đội tiu nghỉu như mèo bị cắt tai.Hơn thế, hắn còn tỵ tiện tự hạ mình, chấp hai tay vái nàng thiếu phụ như... tế sao, van lơn khẩn khoản nàng không ngớt miệng!

-   Trăm lạy phu nhơn, ngàn lạy phu nhơn, kẻ hèn mọn nầy vì ngu muội, có mắt như mù, lỡ xúc phạm đến tôn nhan, nay biết ân hận thì sự đã rồi. Vậy cúi xin phu nhơn rộng lượng hải hà dung thứ cho một phen.

Thiếu phụ bĩu môi, cười lạt:

- Thì ra bọn chúng bây chỉ biết làm ác mà lại trốn tránh khi phải đền tội! Chúng bây quả là một lũ hèn nhát. Tuy nhiên, đối với hạng người khiểp nhược như chúng bay, ta cũng lấy lòng khoan dung nhơn từ mà tha thứ cho một phen. Ta sẽ bỏ qua không phúc bẩm lại vụ nầy với Bình an Vương. Nhưng một lần nữa, ta cảnh cáo cho mà biết: Từ rầy về sau, nếu ta thấy chúng bây còn tái diễn thói hung hăng, hiếp đáp, xăm phạm đến bá tánh lương dân, thói nào tật nấy không chừa, thì lúc đó, ắt là chúng bây không còn toàn tánh mạng nữa, nghe chưa?

Viên đội, và lũ ưu binh cả mừng đưa mắt nhìn nhau sung sướng như những kẻ sắp chết đuối vừa được cứu sống.

Đồng một loạt, chúng reo lên:

- Đội ơn phu nhơn! Vạn tạ phu nhơn. Chúng tôi xin hứa

sẽ không bao giờ dám quên những lời vàng ngọc phu nhơn vừa căn dặn.

Dứt lời, chúng lăng xăng chia nhau, đứa thì lo dọn dẹp lại các đồ đạc trong nhà đã bị chúng đập bể và phá phách, đứa thì lo nâng bà cụ và mụ vú già đã bị chúng xô ngã ngồi dậy.

Thiếu phụ dường như vẫn chưa nguôi cơn giận và không dằn nổi sự bất mãn trước vẻ sốt sắng và thái độ ăn năn giả trá bề ngoài của chúng, bèn xua tay gạt đi:

- Thôi được! Chúng bây cứ để đó cho ta rồi lo cút khỏi nhà này cho mau! Ta không còn muốn thấy mặt của chúng bây nữa. Chúng bây nhớ dặn những đứa khác: Nếu tên ưu binh nào còn bén mảng đến đây thì liệu hồn.

Không dám cãi lời, chúng dạ rân một tiếng, chắp lay xá thiếu phụ luôn mấy xá, rồi lấm lét đưa mắt ra dấu cho nhau, trước khi rút lui theo thứ tự.

Bọn quân sĩ của Trịnh Tùng đi rồi, nàng thiếu phụ vội vã bước lại phía bà lão (đã được bọn ưu binh vực lên đặt nằm trên chiếc trường kỷ). Nàng đưa tay sờ trán mẹ và lo lắng hỏi thăm:

- Thưa mẫu thân! mẫu thân có sao không?

Bà cụ lắc đầu, ồn tồn đáp:

- Không sao cả con ạ! Mẹ chỉ bị chúng xô ngã sơ sài mà

thôi. Cũng may là con ra can thiệp kịp, nếu không thì tất cả đồ đạc trong nhà nầy đã bị chúng phá tan tành hết rồi !

Giơ tay chỉ đống sành đổ nát ngổn ngang trên sàn nhà bà cụ chép miện tiếp:

- Kìa con xem ! Cái lọ độc hình cổ quý giá nhất mà phụ thân con để lại, bây giờ đã ra thế đấy, tức quá ! Chính mẹ đã đoán trước việc nầy và bảo con rồi. Con coi lại có đúng không? Chứa chấp những hạng người nguy hiểm kia là một mối họa, mà chúng ta tự rước vào mình Con thử nghĩ, nếu   như chúng không nhận ra được con nhân vật trọng yếu trong phủ Chúa, thì không biết sự tai hại sẽ đến thế nào?

Thiếu phụ cúi đầu làm thinh giây lâu, như để chăm chú nghe kỹ và nhận lãnh những lời giáo huấn của mẹ già, rồi thỏ thẻ giãi bày:

-   Thưa mẫu thân, con xin cam chịu lỗi. Nhưng con thiết nghĩ, đây là một trường hợp đặc biệt mà chúng ta phải để lòng bác ái, và tình nhơn đạo lên trên. Chúng ta phải làm phúc cứu người, không cần biết họ là bọn người gì, chỉ biết đó là kẻ cô thế, sa cơ ngộ nạn. Vả chăng, hai gã nam nhi đang ẩn tránh trong nhà chúng ta, tuy bị buộc tội là ‘‘phản tặc của trào đình’’, nhưng sự thật, theo con mắt nhận xét của con, thì họ là những kẻ thù riêng của chế độ hà khắc, độc tài của Chúa Trịnh.

Như vậy, cái cảnh ngộ của họ cũng tương tợ như cảnh ngộ của con, vì chính con đây cũng là nạn nhơn của Trịnh Tùng, cũng bị hắn dùng quyền thế uy hiếp bắt lấy làm hầu thiếp, khiến con phải uổng phí một đời xuân xanh, tan vỡ những hoài bão thiết tha về tương lai hạnh phúc. Con cũng căm hờn oán hận Trịnh Tùng, nhưng trót lỡ sanh làm phận nữ nhi, nên đành bó tay không làm gì được.Hôm nay, nhân được phép về thăm nhà, gặp dịp may cứu giúp được hai kẻ địch của họ Trịnh, tức là kẻ đồng hội, đồng thuyền với mình, lòng con sung sướng như vừa được gián tiếp báo thù và làm vơi đi mỗi căm hờn đang luôn luôn đè nặng trên tâm trí.

Giọng nói thành thật và chứa chan xúc động của thiếu phụ làm cho bà lão hơi hoảng sợ. Bà liếc mắt lo ngại nhìn ra phía cửa ngoài mấy lượt, rồi xua tay bảo nàng:

- Thôi đi ! Con đừng nói nữa ! Con làm mẹ hồi hộp quá. Ở đây tuy nhà ta kín đáo, nhưng mà tai vách mạch rừng nếu có người thứ ba nghe được thì nguy hiểm cho mẹ con ta biết là chừng nào.

Bà lão vừa dứt lời, thì bỗng sau lưng có tiếng chân rón rén. Cả hai mẹ con biến sắc, đều giựt mình quay lại.

Thì ra, quả thật một người thứ ba đã rình nghe rõ những điều bí mật và quan trọng mà thiếu phụ vừa thốt ra trên đây.

Thiếu phụ suýt rú lên một tiếng kêu kinh khủng. Trước mặt nàng, nghiễm nhiên đứng sửng một viên tướng ưu binh, trẻ tuổi diện mạo hung ác, không biết đã độn nhập vào đây từ lúc nào, mà chẳng ai hay.

Viên tướng ưu binh nầy chắc đã nghe rõ tất cả những điều bí ẩn mà nàng vừa thốt ra, chắc đã biết rõ việc nàng chứa chấp hai chàng tráng sĩ.

Thế là hành động của nàng hoàn toàn bị tiết lộ. Toàn thân của mỹ nhơn muốn run lên khi nàng chợt nhận ra kẻ lạ mặt đang đối diện với nàng, và nhìn nàng chòng chọc với một nụ cười kiêu hãnh và đắc thắng.

Tuy nhiên, là một người lanh trí và quả quyết, thiếu phụ trấn tỉnh lại ngay, giả vờ ngạc nhiên và nghiêm giọng quát hỏi:

- Ô hay ! Tướng quân là ai? Ai cho phép tướng quân bí mật độn nhập vào nhà nầy, và với tư cách gì?

Hai tay khoanh trước ngực, với dáng điệu hiu hiu tự đắc, gã lạ mặt mai mỉa đáp:

- Kính chào phu nhơn. Hẳn phu nhơn đã quên rồi nên không nhớ ra tiểu tướng là ai chớ. Vậy xin tự giới thiệu lại: tiểu tướng là Võ vệ tướng quân Nguyễn Bạch, con của quan Thái phó Nguyễn hữu Liên.

Viên tướng tưởng rằng nghe xưng hô danh hiệu của mình, thiếu phụ sẽ phải nao núng và kiêng nể. Không ngờ nàng vẫn giữ thái độ nghiêm nghị lạnh lùng. Nàng cười lạt:

- À, té ra tướng quân đây chính là Nguyễn công tử. Như vậy công tử lại càng phải có tư cách lễ độ hơn nữa để xứng đáng là con một vị đại thần chứ! Đàng này công tử đã cư xử một cách trái ngược hẳn chẳng khác gì phường tiểu nhơn, vả lại đang đêm lẻn vào nhà đàn bà con gái, thử hỏi công tử có dụng ý gì? Rồi việc này đến tai Bình an Vương thì sẽ tính sao ?

Những lời bắt bẻ và buộc tội trên đây của người thiếu phụ tuy chỉ là một cách thị oai để tìm kế hoãn binh và đủ thì giờ gỡ rối, nhưng cũng làm cho Nguyễn Bạch hơi chột dạ. Hẳn dư hiểu rằng dù sao nàng cũng là một ái thiếp đang được chúa Trịnh thương yêu, và hắn phải dè dặt hết sức khi phải đương đầu với thế lực của nàng. Vì vậy, Nguyễn Bạch tự thấy cần phải giải thích sự hiện diện của mình trước khi ra tay hành động gấp để bắt quả tang một vụ chứa chấp quan hệ hầu lập đại công.

- Hãy khoan, xin phu nhơn đừng dùng lời vu cáo vội, vì vu cáo không che đậy, giấu giếm được sự thật đâu. Phu nhơn muốn biết mục đích gì đã khiến tiểu tướng buộc lòng bí mật đặt chân vào đây ư? Giản dị và rõ rệt lắm. Này nhé, trước đây non một giờ đồng hồ đã xảy ra một vụ đại náo khủng khiếp ở Hoàng hạc Lâu. Hai tên phản nghịch là Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê, sau khi giết thác đại tướng Thái Ngột và nhiều binh sĩ của triều đình đã nhảy lên nóc nhà và thừa đêm tối, chuyền từ mái này qua mái kia tẩu thoát. Không ai có đủ thủ đoạn cao cường để rượt theo chúng, trừ phi một mình tiểu tướng đây mà thôi. Tiểu tướng đã mạo hiểm đuổi chúng từ trên nóc Hoàng hạc Lâu, song vì chúng có thuật phi hành rất mau lẹ, nên gần đến đây thì mất dấu.

Trong lúc đang vơ vẫn tìm kiếm trên mái nhà này, tiểu tướng được chứng kiến vụ xung đột giữa phu nhơn và toán ưu binh vào lực xét. Tiểu tướng nhảy xuống toan can thiệp, không dè tình cờ nghe những lời quan hệ do chính miệng phu nhân đã thốt ra.

Những lời ấy tố giác rằng phu nhơn là một kẻ - xin phép cho tiểu tướng dùng danh từ thích đáng- đã phản bội Bình  an Vương, đã che chở những kẻ nghịch của Ngài. Sự thật phát giác hiển nhiên như thế, bây giờ liệu phu nhơn còn hống hách, buông lời nguyền rủa, còn chối cãi tội lỗi được nữa không?

Ngừng lại một lát, ngắm nghía thiếu phụ đang đứng sững như một pho tượng, mặt xanh ngắt không còn chút máu, Nguyễn Bạch mỉm một nụ cười nham nhiểm xoa hai tay ra dáng khoan khoái vô cùng. Và vẫn với giọng giễu cợt, châm biếm của kẻ thắng thế, hắn tiếp:

- Thôi, lần này ‘‘kẻ vô lại’’ là tiểu tướng đây xin khuyên phu nhơn đem hai tên phản nghịch mà phu nhơn đang chứa chấp ra nạp cho rồi. Để tiểu tướng đi gọi thêm binh sĩ vào bắt chúng trối lại giải về phủ Chúa cho Bình an Vương định đoạt.

Dứt lời, hắn hăm hở toan bước thẳng ra phía cửa thì thình lình bị một bàn tay vạm vở nắm chặt lấy vai hắn mà kéo lại. Đồng thời một tiếng quát dõng dạc, chỉ vừa đủ nghe, vang lên bên tai hắn như một lịnh truyền:

- Nhà nguơi đừng hòng ra khỏi đây vô ích!

Nguyễn Bạch giựt mình quay lại. Người thiếu phụ cũng ngước mặt lên. Cả hai đều ngạc nhiên khi nhận ra người có bàn tay vạm vỡ vừa xuất hiện đột ngột kia không phải ai khác hơn là chàng tráng sĩ họ Bùi.

Phải, người ấy chính là Bùi văn Khuê. Nguyên trước đó, chúng ta đã biết, Văn Khuê vẫn kín đáo ẩn núp trong kho lúa với Lê thế Hùng, theo như lời khuyên dặn của nàng thiếu phụ.

Tại đó, chàng đã nghe rõ và theo dõi tất cả những việc xảy ra ở nhà trên, nhứt là vụ xung đột giữa nữ ân nhân của chàng và bọn ưu binh đã kéo vào phá phách và đang lục soát. Những câu đối đáp trao đổi giữa hai bên, đã giúp cho Bùi văn Khuê biết được điều mà chàng khát khao muốn biết: ấy là thân thế của nàng giai nhơn.

Quả thật là một sự phát giác đột ngột và bất ngờ! Chàng hiệp sĩ không ngờ rằng kẻ cứu tinh đang giúp mình trong cơn hoạn nạn lại chính là nàng ái thiếp tin yêu của chúa Trịnh, kẻ thù bất cộng đái thiên của chàng và bạn chàng. Và, tự nhiên, không hiểu vì sao, một mối thất vọng âm thầm dâng lên tràn ngập lòng người hiệp sĩ. Giấc mơ, một giấc mơ êm ái nhưng quá ngắn ngủi và quá hiếm hoi trong đời một khách múa kiếm giang hồ, bỗng vụt biến tan đi trong nháy mắt vì phải va chạm với thực tế não nùng...

Văn Khuê đang cố tìm hiểu đích xác nguyên do nỗi buồn thoáng qua, vơ vẩn của chàng thì bỗng nhiên chàng nghe có tiếng chuyển động răng rắc rất khẽ trên mái ngói. Lỗ tai vốn quen phân biệt của chàng nhận rõ được ngay đó là tiếng những bước chân đang từ trên đầu chàng dời lần về phía nhà trên.

Đoán chắc đó là một tay dọ thám của Trịnh Tùng đang đi truy tầm dấu vết của mình, Văn Khuê bèn ra hiệu cho Thế Hùng cứ nằm yên đó mà chờ đợi, còn chàng thì lần mò ra ngoài để dò xét tình hình.

Cánh cửa kho lúc ấy đã bị khóa chặt. Văn Khuê phải leo vách và chỉ trong chốc lát, chàng đã đu mình trên chiếc rui nhà rồi bíu lấy mái ngói mà từ từ bò lên...

Dưới ánh sáng mơ hồ của muôn sao lấp lánh, chàng nhận thấy đàng kia, một bóng đen đang lay hoay di động. Sợ hắn để ý đến chàng, họ Bùi bèn thu mình nằm sát xuống, hầu dễ bề quan sát và theo dõi hắn.

Chàng thấy cái bóng đen ấy nằm yên như đang nghe ngóng và rình rập. Nhưng thình lình, hắn rời bỏ chỗ ấy, vùng đứng dậy và nhón chân nhảy xuống đất rất nhẹ nhàng. Văn Khuê tức thì tiến lên thêm một chút nữa đễ xem thử hắn sắp giở thủ đoạn gì...

Thấy cái bóng đen bước nhanh về phía thiếu phụ đang đứng đàm đạo với thân mẫu nàng, Bùi Văn Khuê bắt đầu hơi lo ngại cho tánh mạng của nữ ân nhân mình. Không thể nán chờ lâu, hơn nữa chàng cũng vội rời khỏi mái ngói, nhón chơn nhảy xuống đất và nhẹ nhàng rón rén nép sát vách hành lang mà lần tới.

Dưới ánh đèn, bây giờ chàng lực sĩ mới nhận ra được hình dáng của kẻ lạ mặt. Bộ võ phục sang trọng mà hắn đang khoác trên mình chứng tỏ đó là một viên tướng ưu binh có thanh thế.

Khi hắn vừa dừng lại trước mặt nàng thiếu phụ và khởi sự lên tiếng hăm dọa nàng thì Văn Khuê đã lặng lẽ ẩn mình sau một bức màn nhung gần đó. Thành thử chàng đứng cách xa Nguyễn Bạch chỉ có vài bước mà hắn tuyệt nhiên không hề hay biết.

Thế rồi chàng tráng sĩ chờ cho đến lúc ra tay. Ấy là lúc mà viên tướng ưu binh toan bước ra ngoài kêu gọi viện quân để hiệp lực với hắn vào bắt hai  người lánh nạn.

Như trên đã nói, Nguyễn Bạch chưa kịp quay đi thì thình lình bị Bùi văn Khuê vụt nhảy xổ ra nắm chặt lấy vai hắn giữ lại.

Giựt mình, hắn ngoái cổ liếc nhìn và vô cùng kinh dị. Biết rằng mình phải đối đầu với một địch  thủ cực kỳ lợi hại, một địch thủ vừa oanh liệt chém binh giết tướng tại Hoàng hạc Lâu, Nguyễn Bạch không dám nghĩ tới sự kháng cự mà chỉ lo tìm phương tẩu thoát. Vì vậy, hắn cố vùng một cái rồi lẹ tay rút thanh kiếm ra khói vỏ và quay lại chém nhầu chàng lực sĩ.

Hắn định chém bừa một lát trước khi co giò chạy song Văn Khuê đã tiên đoán được ý định ấy của hắn. Bởi thế khi tay chàng vừa buông vai hắn ra thì đồng thời chàng cũng lách mình sang một bên để né tránh rồi thuận tiện, chàng phóng chân đá tạt ngang vào hông hắn lẹ như chớp.

Không kịp đề phòng, Nguyễn Bạch té nhào sang một bên, Văn Khuê thừa thế nhảy tới, một cái đá thứ nhì của chàng tiếp liền, khiến thanh kiếm do viên tướng ưu binh đang cầm tức khắc rời khỏi tay hắn và văng ra xa non mười thước.

Vì đau đớn và có lẽ cũng vì muốn tri hô cho người ngoài nghe tiếng để vào tiếp cứu, Nguyễn Bạch há họng ra toan rú lớn, nhưng chàng lực sĩ lẹ làng đã nhảy chồm lên mình hắn, trong khi hai đầu gối và chân chàng đè nặng lên bụng và ngực hắn, thì bàn tay chàng bụm chặt lấy miệng cậu con trai của Thái phó Nguyễn hữu Liên. Một cuộc vật lộn diễn ra, song sau một phút đồng hồ kháng cự ngắn ngủi, viên tướng ưu binh trẻ tuổi cam khuất phục trước sức mạnh phi thường của đối thủ.

Bị nhiều quả đấm liên tiếp và dữ dội như búa bổ rơi xuống giữa mặt, giữa trán và trên đỉnh đầu mình, Nguyễn Bạch kiệt sức, nằm thoi thóp mê  man. Tuy nhiên, lo ngại rằng lát nữa hắn có thể tỉnh lại và tri hô lên làm náo động tới bên ngoài và vùng kế cận, Văn Khuê yêu cầu người thiếu phụ ra gài chặt cửa lại.

Nàng ái thiếp của chúa Trịnh làm theo ý muốn của chàng lực sĩ rồi quay bước trở vào. Từ nẩy đến giờ nàng đã được chứng kiến cuộc chiến đấu sôi nổi và mục kích tận mắt sự toàn thắng quá dễ dàng của Bùi văn Khuê.

Nàng có dịp được thưởng thức và thán phục tài nghệ tuyệt luân cùng sức mạnh vô song của chàng tráng sĩ.

Nhưng điều làm cho thiếu phụ vui mừng hơn hết, sung sướng hơn hết và cảm động hơn hết ấy là việc chàng vừa giải cứu cho nàng khỏi một tình thế nguy kịch, hiểm nghèo. Ví thử Văn Khuê không can thiệp kịp để Nguyễn Bạch chạy thoát thân ra ngoài, tất nhiên sự chứa chấp bi mật của nàng sẽ bị tiết lộ, và nàng sẽ không tránh khói bị cha con Nguyễn hữu Liên tố giác với Trịnh Tùng vụ âm mưu phản bội của nàng.

Như vậy, từ địa vị của một kẻ chịu ơn chàng lực sĩ kia bây giờ đột nhiên biến thành ân nhân của nàng, vì hiện chàng đang nắm được trong tay kẻ thù ghê gớm đã hăm dọa làm tan tành đổ vỡ số phận nàng vậy.

Phải làm sao đối phó với kẻ thù ghê gớm ấy?

Muốn loại hẳn ra khỏi phạm vi tác hại thì phải làm thế nào?

Đó là hai câu hỏi mà chính thiếu phụ đã tự đặt ra và đó cũng là vấn đề cấp bách mà Bùi văn Khuê đang chờ nàng định đoạt. Thật vậy, sanh mạng của viên tướng ưu binh nầy không phải tùy thuộc ở chàng lực sĩ mà chính là tùy thuộc ở một lời nói, một dấu hiệu nhỏ của khách giai nhơn.

Thấy lời nói và dấu hiệu kia chậm đến, thấy thiếu phụ đang ngần ngại, do dự, Văn Khuê bèn thúc giục nàng:

- Thưa phu nhơn, tôi mong được biết quyết định của phu nhơn về tên Nguyễn Bạch. Hẳn phu nhơn cũng dư biết rằng nếu để cho hắn sống sót ra khỏi nhà nầy thì ắt là tai họa Iớn lao sẽ xảy tới cho phu nhơn. Vì vậy. chúng ta buộc lòng phải giết hắn để giữ cho mọi bí mật quan trọng khỏi bị tiết lộ. Đó là một sự vạn bất đắc dĩ. Chẳng hay phu nhơn nghĩ sao?

Thiếu phụ đưa mắt nhìn chàng tráng sĩ và khẽ gật đầu tán thành. Trong hai tia mắt gặp nhau, dường như dạt dào một niềm thông cảm. Nàng bảo Bùi văn Khuê:

- Tráng sĩ dạy chí phải. Đây là một trường hợp vạn bất đắc dĩ. Giữa hai bên, kẻ thù và ta phải một người mất, một người còn. Ta cần phải chọn lựa, phải quyết định. Nhưng đây nào phải chỉ riêng vì chúng ta. mà là vì tiền đồ của quốc gia đang ngửa nghiêng dưới bàn tay sắt của chúa Trịnh, vì đời sống tương lai của dân chúng, đang lầm than, đau khổ trước bao nhiêu áp bức bóc lột, hà khắc của cha con Thái phó Nguyễn hữu Liên nên chúng ta phải ra tay trừ hại. Vậy thiếp xin tráng sĩ cứ chiếu theo công lý mà tùy tiện làm phận sự. Còn thiếp là phận nữ nhi, chân mềm tay yếu luôn luôn vẫn run sợ trước cảnh máu đổ thịt rơi.

Bùi văn Khuê đáp vắn tắt:

- Phu nhơn sẽ được hài lòng.

Dứt lời, chàng giơ bàn chân đè lên cổ của viên tướng ưu binh để chận đứt hơi thở của hắn. Một lát sau khi chàng rút chân về, thì Nguyễn Bạch chỉ còn là một xác không hồn.

Vốn không quen chứng kiến những cảnh giết chóc ghê rợn, thiếu phụ mặt tái méc, lo lắng hỏi chàng lực sĩ:

- Bây giờ phải làm cách nào để phi tang tử thi nầy? Vì để trong nhà ắt không tránh khỏi bị phát giác.

Văn Khuê điềm tĩnh trả lời:

- Phu nhơn chớ lo. Tôi đã có cách giải quyết rất mau chóng và rất gọn. Xin phu nhơn cho phép tôi vắng mặt chừng vài phút đồng hồ. Đến khi tôi trở lại tức là công việc hoàn thành.

Giữa sự ngạc nhiên của mỹ nhân, chàng cúi xuống, xốc cái thây ma của Nguyễn Bạch đặt lên vai, đoạn bước nhanh xuống nhà bếp. Tại đây, chàng dừng lại một cái sân rộng, nhún chân nhảy lên mái ngói và mất hút vào trong bóng tối.

Vừa đi, Bùi văn Khuê vừa nghĩ thầm: ‘‘Ta phải đem vứt xác chết cho thật xa để bọn ưu binh không chú ý đến vùng nầy và sẽ không bố trí cuộc canh phòng nghiêm nhặt, bất lợi cho sự thoát thân của chúng ta về sau’’.

Vượt qua chừng vài mái nhà, như sực nhớ ra điều gì quan trọng, chàng lực sĩ bỗng dừng bước lại rồi đặt cái thây ma của Nguyễn Bạch nằm ngửa xuống. Đoạn chàng lột bộ binh phục của hắn ra và khoác vào mình, sau khi đã trút bỏ bộ áo quần lái buôn mà chàng đang mặc. Công việc thay đổi nầy diễn ra rất nhanh, gần như trong nháy mắt.

Bây giờ, dưới lốt cải trang mới, Bùi văn Khuê đã nghiễm nhiên biến thành một viên tướng ưu binh. Chàng lại cúi xuống nâng cái tử thi đặt lên vai rồi tiếp tục tiến trên các mái ngói và qua bóng đêm u ám.

Nhận thấy mình đã rời cách xa nhà của mỹ nhơn chừng vài trăm thước, chàng lực sĩ bèn dừng lại. Dưới chân chàng, cạnh nóc một ngôi nhà trên đó chàng đang đứng là một cây bàng to, cành lá sầm uất rườm rà, mọc bên lề một con đường hẻm tối om.

Chuyền qua thân cây kia, là một việc quá dễ dàng đối với chàng. Văn Khuê chỉ cần giơ tay vịn lấy một nhánh cây bền chắc, rồi đu mình leo sang.

Chàng cố ý đặt cái xác chết của Nguyễn Bạch nằm trên cành cây để khỏi liên lụy đến ai và nhứt là để khỏi bị phát giác sớm. Vì vậy chàng mới chọn lựa chỗ vắng vẻ nầy.

Nhưng sau khi bỏ lại cái thây ma nằm vắt ngang trên mấy nhánh cây, Bùi văn Khuê toan quay về chỗ cũ, thì bỗng nghe phía dưới có tiếng động.

Giựt mình, chàng vội ngồi thu hình lại, nín thở cúi xuống nhìn xem. Trong đêm đen, cặp mắt tinh anh của chàng cũng phân biệt được hình dáng một tên vu binh đang xăm xăm tiến tới. Đó là một tên lính lẻ loi, có lẽ đã lạc lối sau cuộc truy nã sôi nỗi vừa rồi. Tay hắn cầm đoản đao và dáng đi của hắn rất hấp tấp.

Văn Khuê bỗng nẩy ra môt ý. Chàng đang cần tìm một bộ võ phục ưu binh nữa để cho Lê thế Hùng dùng làm lốt cải trang. Như vậy tên lính sắp đi qua đây là một cơ hội tốt đối với chàng.

Họ Bùi thận trọng liếc mắt nhìn khắp tứ bề. Chàng không thấy một bóng người nào trừ phi tên lính nói trên. Dưới mắt chàng con đường hẻm đen ngòm như mực và vắng ngắt đến ghê rợn, quả thật là một trường hợp rất thuận tiện.

Đợi cho tên ưu binh vừa tới nơi, chàng lực sĩ tức thì buông tay và rơi lên trên mình hắn. Bị bắt chợt thình lình, tên lính không kịp đối phó. Hắn bị Văn Khuê vật ngã nhào xuống đất và đồng thời, bị hất văng ngọn đao mà hắn đang cầm. Hắn toan kêu cầu cứu nhưng một bàn tay vạm vỡ đã đè lên miệng hắn.

Tên lính vùng vẫy tay chân, chống lại kịch liệt nhưng vô hiệu. Một cái thoi như thiên lôi giáng gieo xuống đầu hắn, chấm dứt mọi sự kháng cự và làm cho hắn hôn mê bất tỉnh.

Chàng lực sĩ lật đật lột bộ quần phục của nó ra như chàng làm lúc nẩy khi đoạt lớp nhung trang nơi tử thi của Nguyễn Bạch. Kế đó chàng kéo hắn lại, bỏ nằm trên một đám có hoang bên lề đường.

Văn Khuê nghĩ bụng rằng ít ra, lối một giờ sau, tên lính nầy mới hồi tỉnh lại và chàng rất yên lòng vì lần nầy đã tránh khỏi phải giết thác một người vô tội.

Đoạt được điều mình dự tính, họ Bùi lật đật bỏ trở lên mái ngói, rồi thoăn thoắt theo đường cũ, quay về nhà người thiếu phụ.

Tại đây. ngước đầu nhìn lên, nãy giờ nàng ái thiếp của chúa Trịnh đã nóng ruột trông chờ. Thoạt đầu, thiếu phụ giựt mình kinh sợ vì tưởng là một viên tướng ưu binh.

Nhưng sau nhận ra đó là Văn Khuê trá hình, nàng mỉm cười mừng đón người lực sĩ. Nàng thấy chàng đã đúng hẹn. Chàng chỉ vắng mặt trong vài phút đồng hồ và trở về bình yên với trên tay một bộ võ phục vừa đoạt được.

Không đợi người đẹp lên tiếng hỏi, Văn-Khnê ‘‘báo cáo’’ ngay với nàng về nhiệm vụ của mình

- Thưa phu nhơn ! Tôi vừa thi hành xong điều đã hứa với phu nhơn. Xác Nguyễn Bạch đã bị ném tại một nơi cách đây rất xa. Phu nhơn sẽ không còn phải lo ngại gì về chuyện ấy nữa.

Bằng giọng nói thành thực và với nụ cười duyên dáng phảng phất trên môi, thiếu phụ đáp:

- Thiếp rất đa tạ ơn nặng của tráng sĩ nếu như không có tráng sĩ, tánh mạng của thiếp và luôn cả số phận của gia đình thiếp sẽ phải lâm nguy.

Họ Bùi vội gạt đi:

- Ấy ! Chết nỗi ! Nương nương...à quên, phu nhơn dạy quá lời! Chính anh em tôi đây mới là kẻ chịu ơn trọng của phu nhơn và cũng là một kẻ suýt nữa đã gây cho phu nhơn thảm họa tầy trời.

Mỹ nhơn cười xòa, khôi hài:

- Nếu thế thì tráng sĩ và thiếp, cả đôi bên đều mang ơn lẫn nhau. Như vậy, giản tiện hơn là chúng ta xí xóa đi, nghĩa là hai đàng không ai chịu ơn của ai nữa cả.

Văn Khuê vẫn giữ vẻ nghiêm nghị:

- Thưa phu nhơn, kẻ hèn mọn không dám nhận lãnh cái vinh hạnh ấy. Thôi xin phu nhơn cho phép tôi vào thăm xem bịnh tình của em tôi ra sao vì đã sắp đến lúc mà chúng tôi phải lên đường.

- Tráng sĩ cứ tự tiện.

Dứt lời, thiếu phụ theo gót họ Bùi đi thẳng về phía kho lúa, nơi Lê thế Hùng đang nằm hồi hộp đợi chờ.

Trong bóng tối, Thế Hùng bắt đầu cố duỗi hai tay, hai chơn và khẽ cứ động. Chàng rất lấy làm lạ, cảm thấy trong mình khỏe khoắn dễ chịu và sự đau đớn, nhức nhối vừa rồi nơi vết thương đã biến đi đâu mất.

Vị công tử sung sướng nhận thấy mình đã bình phục nhờ món thuốc gia truyền quý giá và công hiệu của Bùi Văn Khuê. Khó chịu vì đã bị bó buộc phải nằm yên gần trót một giờ đồng hồ, Thế Hùng từ từ ngồi dậy trên đống lúa. Chàng cố lắng tai nghe nhưng không phân biệt nổi những tiếng động xa xôi, hỗn độn bên ngoài. Sự vắng mặt hơi lâu của Văn Khuê làm cho chàng lo ngại bứt rứt và liên tưởng đến những nguy cơ đang phảng phất đâu đây.

Thình lình, chàng vùng đứng lên, rút lẹ thanh kiếm đeo bên lưng ra khỏi vỏ trong điệu bộ của người giữ thế thủ. Chàng vừa chợt nghe có tiếng những bước chân đều đều đang tiến về phía kho lúa một lúc mỗi gần. Thề rồi một ánh đèn lóe lên và càng lúc càng sáng tỏ.

Tiếng bước chân ngừng lại trước kho trong khi các tia sáng nhảy nhót khởi sự xuyên qua các khe cửa nhỏ. Kế đó Thế Hùng nghe rõ tiếng chìa khóa lách cách quay trong ổ khóa.

‘‘Ai mở cửa ?’’ Vị công tử hồi hộp tự hỏi như thế và trả lời: ‘‘Có thể là chủ nhân của nhà nầy, và cũng có thể là bọn ưu binh. Vậy ta cần phải hết sức đề phòng trong trường hợp phải đương đầu với quân sĩ của Trịnh Tùng’’.

Nhưng mối lo lắng trên đây của chàng tiêu tan ngay khi cánh cửa kho dần dần hé mở, nhường chỗ cho Bùi văn Khuê và người thiếu phụ tuyệt sắt bước vào.

Thấy Thế Hùng tay cầm gươm, trong dáng điệu oai phong lẫm liệt của một kẻ sẵn sàng chiến đấu, cả hai đều sửng sốt. Họ tưởng chờ gặp trong kho lúa này một bịnh nhơn yếu đuối đang nằm tĩnh dưỡng không ngờ họ lại phải đứng trước một chiến sĩ lành mạnh và hăng hái khác thường.

Văn Khuê lên tiếng trước nhứt tỏ sự ngạc nhiên của mình:

- Ô hay! Hiền đệ đã bình phục chưa mà dám cử động và đứng dậy như thế?

Thế Hùng vội tra gươm vào vỏ, vui vẻ đáp:

- Thưa đại ca, đệ đã khỏe nhiều, và các vết thương đã lành hẳn, không còn gì đáng lo ngại nữa.

Đoạn xây về phía mỹ nhơn chàng tiếp:

- Xin ân nhân thứ lỗi cho về cử chỉ thất lễ vừa rồi của kẻ chịu ơn nầy.

Thiếu phụ mỉm cười:

- Công tử cứ tự nhiên. Sá gì việc nhỏ mọn ấy mà công tử phải bận tâm.

Rồi nàng quay qua phân bua với họ Bùi sau khi đã ngắm nhìn kỹ Thế Hùng:

- Lê công tử quả thật là xứng đáng giòng giõi của một vị khai quốc công thần. Hèn chi lời tục vẫn thường nói: ‘‘Hổ phụ sinh hổ tử’’.

Lời phê bình trên đây làm cho hai chàng tráng sĩ rất đỗi kinh ngạc, nhứt là Lê thế Hùng.

Chàng không hiểu vì sao thiếu phụ lại biết rõ tông tích của mình và tự hỏi sự phát giác nầy có sắp gây cho chàng những hiểm nghèo quan trọng gì chăng ?

Họ Bùi tuy không nghĩ như thế, song không khỏi lấy làm lạ về chỗ thông thạo của mỹ nhơn. Chàng giả vờ bảo người thiếu phụ:

- Xin lỗi phu nhơn, có lẽ phu nhơn đã nhìn lầm anh em chúng tôi.

Mỹ nhơn cất tiếng cười dòn dã, trong như tiếng suối reo:

- Thiếp nhìn lầm ư? Thôi xin nhị vị tráng sĩ đừng giấu thiếp nữa. Nay nhé, để thiếp nói cho mà nghe: ngay từ khi nhị vị đặt chơn xuống đây, thiếp đã rõ nhị vị là ai rồi. Nhị vị chính là kẻ thù không đội chung trời của chồng thiếp, tức Bình an Vương Trịnh Tùng vậy.

Những tiếng cuối cùng buông rơi khỏi cửa miệng của thiếu phụ khiến Lê thế Hùng giựt mình biến sắc, song Bùi văn Khuê vẫn thản nhiên vì chàng đã nghe lốm được sự bí mật ấy lúc nãy, khi chàng đứng rình viên tướng ưu binh Nguyễn Bạch.

Sau khi ngẫm nghĩ giây lát, thiếu phụ lại tiếp:

- Tuy nhiên như nhị vị tráng sĩ đã thấy, mặc dầu là người của chúa Trịnh, nhưng thiếp không hề tán thành hay phụng sự chánh sách khắc nghiệt bạo ngược của kẻ độc tài, đã gây ra biết bao nhiêu điêu đứng khốc hại cho lê dân. Vì nghịch cảnh khiến xui từ bấy lâu nay thiếp đành dấn thân vào một cuộc đời tù hãm, nhưng luôn luôn thiếp vẫn tự nhủ rằng mình có phận sự phải tận tâm giúp đỡ những trang anh hùng nghĩa sĩ đang đứng bên hàng ngũ của dân chúng bị bốc lột, bị áp bức để chống lại cường quyền. Đó chính là một cách để thiếp cố chuộc tội lỗi của mình vậy.

Giọng nói chân thành và cảm động của mỹ nhơn cũng như dung nhan diễm lệ của nàng quả thật có một mãnh lực chinh phục vô hình đối với hai chàng hiệp sĩ. Nhìn nàng, nghe nàng giải rõ những nỗi u uẩn, trái ngược của lòng, Bùi Văn Khuê và Lê Thế Hùng cảm thấy bâng khuâng, bùi ngùi vô hạn.

Đồng thời, họ không giấu được một niềm kính trọng xen lẫn mến thương đối với nàng, người thiếu phụ kỳ dị có một tâm hồn thanh cao, khẳng khái, mà đây là lần thứ nhứt, họ được gặp trên bước đường phiêu bạt giang hồ.

Trong khi nhị vị công tử đứng sửng sờ trước những tiết lộ hết sức bất ngờ, thì họ Bùi ngỏ lời với nàng:

- Anh em chúng tôi xin thành thật khen tặng phu nhơn. Lòng tri ân của chúng tôi tặng thêm nặng nề sâu xa hơn khi biết rõ cảnh ngộ éo le mà phu nhơn vừa bày giải. Bây giờ đây, trước khi xin phép từ giã lên đường, anh em chúng tôi rất mong mỏi được phu nhơn cho biết quý danh để về sau mãi mãi ghi vào tâm khảm kỷ niệm không phai mờ của một ân nhân, một cứu tinh, và hơn nữa một người cùng chung chí hướng...

Mân mê tà áo một cách uyển chuyển và duyên dáng, thiếu phụ đáp:

- Tráng sĩ đã có lòng hỏi đến, thiếp đâu dám từ nan. Nhưng thiếp yêu cầu quý vị một điều là xin đừng nhắc nhở đến vấn đề ân nghĩa nữa. Tiện thiếp họ Nguyễn tự là Thúy Loan, xuất thân con nhà danh giáo. Phụ thân thiếp trước đây làm quan đến chức tri phủ, bị kẻ gian dèm pha nên bị lưu đày, phải bỏ mình nơi chốn rừng thiêng nước độc. Bơ vơ không nơi nương tựa, mẹ con thiếp đưa nhau trở về Tây đô tìm kế sanh nhai, không ngờ lại gặp lũ tay sai của Trịnh Tùng dòm ngó. Thấy thiếp có chút nhan sắc, chúng bắt thiếp đem nạp cho chủ chúng. Thế là từ đó thiếp bắt đầu một cuộc sống thừa, tủi nhục kéo dài cho đến ngày nay.

Nói đến đây, hai giọt lệ bất giác rưng rưng hai bên khóe mắt của người thiếu phụ...

Ngừng một lát, Thúy Loan (tên nàng thiếu phụ) tiếp:

- Kiếp sống thừa của thiếp càng âm u khó thở hơn vì kể từ ngày đặt chân vào trong phủ Chúa, mắt thiếp phải mục kích rõ bộ mặt thật kinh tởm của Trịnh Tùng, có thể bảo con người đó là hiện thân của Bạo tàn Gian ác. Quanh năm suốt tháng cùng với một bọn tay sai xu nịnh, Trịnh Tùng chỉ lo bày mưu thiết kế để diệt trừ những bực trung thần, giết hại đức Vua tự tiện thi hành việc phế lập, hạ lịnh đầu độc kẻ mầy, thắt cổ kẻ kia, gây ra biết bao nhiêu, tội tày trời trong cung cấm... Trước cảnh tượng ấy, thiếp tuy sống trên bạc vàng nhung lụa, mà vẫn có cảm tưởng rằng mình đang đắm chìm trong một cảnh địa ngục ghê rợn, hãi hùng. Tại đó dường như phảng phất vô số oan hồn, cứ đêm đêm hiện lên đòi mạng. Phẫn uất vì bị kích thích, đôi khi thiếp cũng muốn lợi dụng địa vị của mình, toan liều một thác, hạ thủ Trịnh Tùng để vì nước vì dân trừ hại, song, khốn nỗi, thiếp chỉ là một nữ nhi, chơn yếu tay mềm, thiếu hẳn can đảm và nghị lực.

Ấy là chưa kể hiện thời thiếp còn bị những kẻ xung quanh dò xét, nghi ngờ. Điều may mắn là tối nay, xin phép về đây thăm mẹ già, thiếp hân hạnh được hội ngộ cùng nhị vị tráng sĩ mà thiếp đã nghe danh và rất tán thưởng lòng yêu nước cùng những thủ đoạn siêu quần xuất chúng. Vậy thiếp cầu mong rằng nhị vị sẽ sớm thành công trong việc lật đổ họ Trịnh và phá tan cái ách chuyên chế đang đè nặng lên toàn dân... Về phần thiếp, thiếp xin cam đoan rằng, từ này về sau, bất luận gặp cơ hội nào mà nhị vị cần đến, thiếp xin luôn luôn sẵn sàng góp chút sức hèn của mình vào nhiệm vụ chung...

Bùi văn Khuê lễ phép và ôn tồn đáp:

- Những điều phu nhơn vừa thốt ra có giá trị của những lời chỉ giáo mà anh em chúng tôi xin thọ lãnh. Bây giờ đã đến lúc mà chúng tôi xin giã từ phu nhơn để ra đi. Lẽ tự nhiên là chúng tôi sẽ không thể nào quên được cái ân sâu của một vị nữ cứu tinh mà chúng tôi mong sẽ có ngày báo đáp...

Nàng Thúy Loan hơi ngạc nhiên:

- Ô hay ! Nhị vị tráng sĩ định khởi hành sớm thế à? Sao không đợi đến khuya hãy đi, ít nguy hiểm hơn.

Vả chăng Lê công tử hình như chưa được khóe khoắn lắm.

Họ Bùi mỉm cười:

- Đa tạ lòng tốt của phu nhơn. Anh em chúng tôi không sợ hiểm nguy vì đã có sẵn lốt cải trang này rồi.

Vừa nói chàng vừa giơ tay chỉ bộ nhung phục ưu binh đang khoác trên mình.

Lê thế Hùng vội vã nối lời bạn:

- Riêng tôi, nhờ ơn phu nhơn cho tạm nghĩ tại đây và nhờ thần dược của đại ca tôi, nên hai vết thưong đã lành hẳn. Vậy đã tới lúc anh em chúng tôi tự thấy không còn dám quấy nhiễu phu nhơn hơn nữa. Thôi, chúng tôi xin cúi chào phu nhơn ở lại bình an.

Văn Khuê cũng nghiêng mình, tiếp:

- Và chúng tôi xin kính gởi lời chào từ biệt và tỏ lòng tri ân cùng lịnh mẫu.

Lòng bâng khuâng, man mác, người thiếu phụ đáp lễ lại hai chàng tráng sĩ.Nàng cảm thấy hơi nghẹn ngào vì không cầm giữ được họ lâu hơn và luyến tiếc những giây phút hội kiến quá phù du, ngắn ngủi.

Một áng mây buồn đột nhiên giăng qua vầng trán của nàng. Thẩn thờ, Thúy Loan buông rơi mấy tiếng:

- Thôi thiếp cũng chúc nhị vị lên đường gặp nhiều may mắn và hy vọng rằng dịp tái ngộ sẽ không xa.

Giọng nói run run vì xúc động của nàng như thoáng xen một vài tiếng nấc. Thiếu phụ từ từ ngước mặt lên. Đôi mắt của nàng gặp gỡ một lần cuối đôi mắt của Bùi văn Khuê. Hai người nhìn nhau yên lặng, sự yên lặng bao hàm biết bao lời trao đổi chứa chan.

Nhưng Thế Hùng đã nắm tay bạn thúc dục, kéo chàng lực sĩ trở về với thực tại:

- Nhanh lên đại ca. Kể từ lúc tiểu đệ bị thương, chúng ta đã mất nhiều thì giờ quý báu lắm rồi.

Như chợt tỉnh, Văn Khuê bèn trao bộ võ phục ưu binh đã đoạt được cho vị công tử. Đoạn cả hai từ giã Thúy Loan lần chót rồi dẫn nhau bước ra giữa sân. Tại đó, họ nhảy lên mái nhà và lẫn mình vào trong đêm tối...

 

Khác hẳn lệ thường, tuy đã hết giờ Hợi qua giờ Tý, mà tất cả đèn đuốc trong phủ Chúa đều sáng rực như ban ngày. Trước cửa và xung quanh phủ, các vệ sĩ dàn ra canh gác rất nghiêm nhặt, làm thành một bức hàng rào gươm đao tua tủa, khiến người ngoài trông thấy phải lạnh mình.

Trong phủ. từng hồi, những tiếng quát nạt lại vang như sấm chuyển, xen lẫn với tiếng vỗ bàn ầm ầm và tiếng đồ đạc bị hất đá, xô đẩy.

Đó là những tiếng quát the thé của Bình an Vương, những tiếng quát mà người ta thường nghe mỗi khi vị chúa tệ của Tây đô nỗi cơn thạnh nộ.

Tuy nhiên, đây là lần thứ nhứt mà trận lôi đình của ông đã lên đến cực độ. Trước vẻ khủng khiếp, run sợ của tất cả thuộc hạ hiện diện trong Phủ, Trịnh Tùng vừa hầm hầm gào thét, vừa vùng vằng chạy qua chạy lại như một con hổ dữ bị thương.

Ông ta đấm thình thịch gần nát mặt bàn và xô ngã, ném bể bất cứ vật gì mà ông ta gặp.

Tất cả các võ quan và binh sĩ đứng hầu hai bên, kể cả Thái phó Nguyễn hữu Liên, đều lặng lẽ cúi mặt hứng lấy cơn giận giữ ghê gớm đang trút lên đầu họ.

- Các ngươi có biết không? Chúa Trịnh hét- Cả lũ các ngươi chỉ là phường ăn hại. Thật uổng phí cho ta đã tốn bao nhiêu công của để tập luyện cho các ngươi, làm nở mày nở mặt các ngươi bằng cách gia ban tước nầy, phẩm nọ. Ấy thế mà các ngươi đành bỏ tay bất lực trước hai tên phiến loạn nhái con là Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê để cho chúng ngang nhiên đại náo kinh thành, chém binh giết tướng như ở chỗ không người thì còn gì thế thống của ta, của triều đình nữa! Nầy! Hãy chổng tai lên mà nghe, nếu ví thử hai tên giặc kia có lẻn vào đây mà thích khách ta, chắc các ngươi cũng sẽ chỉ giương mắt ếch lên mà nhìn, có phải vậy không?

Dứt lời, Trịnh Tùng lần lượt nhìn khắp mọi người như muốn ăn tươi nuốt sống cái đám thủ hạ kém cói, bất tài ấy và lặp lại:

- Có phải vậy không? Hởi lũ khốn kiếp?

Lẽ tự nhiên, không ai dám đáp lại những lời nguyền rủa đay nghiến, ray rứt của Trịnh Tùng. Một bầu không khí nặng nề, khó chịu bao trùm lấy đám đông người, đầu cuối gầm, đang đứng sửng như những pho tượng gỗ.

Bỗng nhiên, bên ngoài, tiếng vó ngựa lộp cộp vọng vào, phá tan cảnh trầm ngâm, im lặng ngắn ngủi vừa rồi. Đó là những trinh sát viên có phận sự theo dõi cuộc hành binh truy nã, đang lần lượt đem tin tức về phi báo.

Thoạt thấy họ, bao nhiêu cặp mắt đều hướng nhìn ra. Vẻ hồi hộp, trông ngóng hiện rõ trên các khuôn mặt sa sầm và mệt mỏi.

Trịnh Tùng là người nóng nảy, nôn nao muốn biết kết quả

cuộc truy đuổi hơn ai hết thảy. Không đợi chờ hai thám tử vượt qua ngưỡng cửa và đặt chưn vào phòng, ông đã lớn tiếng quát hỏi :

- Thế nào ? Quân ta đã nắm cổ được hai tên phản nghịch đó chưa ?

Một trinh sát viên đáp:

- Bẩm thiên tuế, chưa. Hai tên giặc ấy, sau khi giết thác tướng Thái Ngột đã rời khỏi Hoàng hạc Lâu và nhảy lên mái nhà tẩu thoát.

Chúa Trịnh nghiến răng, giậm chơn thình thịch:

- Cha chả! Chúng nó tẩu thoát rồi à? Tại sao lũ ưu binh ăn hại kia lại để cho chúng thoát thân? Tại sao không có lấy một đứa nào nhảy theo kịp lên mái nhà để bắt chúng?

Viên thám tử run sợ, vội thưa:

- Dạ, bẩm Thiên tuế, có. Trong khi quân ta từ dưới mặt đất, mở cuộc xạ kích ráo riết, thì một mình Võ vệ tướng quân Nguyễn Bạch phi thân lên mái ngói, quyết theo dấu vết của hai tên phiến loạn.

Nghe nhắc đến mấy tiếng ‘‘Võ vệ tướng quân Nguyễn Bạch’’, Thái phó Nguyễn hữu Liên giựt mình, biến sắc. Đồng thời, ông linh cảm thấy một nguy cơ ghê gớm xẩy đến cho đứa con yêu dấu của mình.

Vị Thái phó không còn lạ gì tài nghệ của Bùi văn Khuê mà ông đã từng chứng kiến trước đây tại Nghệ an, trong vụ cướp phá tù xa khiến Trương Bảo phải bỏ mạng.

Trương Báo và Thái Ngột, là những tay anh hùng vốn nổi danh siêu quần, bạt tụy mà còn bị họ Bùi hạ thủ một cách dễ dàng, huống hồ là một gã thiếu niên võ nghệ còn non nớt như Nguyễn Bạch.

Quả lo lắng cho sự dại dột, liều lĩnh của con mình, sự liều lĩnh sẽ đưa đến một cái chết không tránh khói, chỉ suýt nữa, Nguyễn hữu Liên đã quên, không chú ý đến lời khen của chúa Trịnh. Vì lúc ấy, Bình an vương đang hăm hở phán rằng:

- Hay lắm! Các ngươi đã thấy? Nguyễn công tử, con trai của quan Thái phó đây, thật đáng làm gương cho hàng vạn kẻ khiếp nhược, tham sinh húy tử.

Đoạn xây về phía viên thám tử, Trịnh Tùng hỏi tiếp:

- Rồi sao nữa? Cuộc truy nã hiện đang tới đâu rồi?

Gã trinh sát viên ấp úng, bối rối:

- Bẩm Thiên tuế, thừa lúc đêm tối, hai tên phiến loạn đã mất hút vào trong bóng đen nên không tài nào theo dấu chúng được nữa...

Chúa Trịnh gầm lên:

-   Nhà ngươi bảo sao? Chúng nó mất dạng rồi à? Thế còn Nguyễn Bạch?

- Bẩm Thiên tuế - viên thám tử đáp - Nguyễn tướng quân cũng đã mất tích luôn. Liền theo đó, quân ưu binh đã nỗ lực tìm kiếm và mở cuộc khám xét tại khắp các ngôi nhà ngay trong vòng kế cận đó.

Bình an Vương hầm hầm nét mặt:

- Cuộc lục soát ấy có thâu hoạch được mảy may kết quả gì không?

- Bẩm, quân ta tuyệt nhiên không nhận thấy dấu vết gì hết. Chẳng rõ hai tên giặc ấy đã làm thế nào để thoát thân trong khi binh sĩ triều đình đã bao vây khắp bốn mặt thành? Không lẽ hiện thời, chúng còn ẩn núp trên các mái nhà? Thât là khó hiểu.

Trịnh Tùng thở hắt ra, ném thẳng một câu vào mắt kẻ đối thoại :

- Đối với lũ khốn kiếp như chúng bây, cái gì mà chẳng khó hiểu ? Thôi! Cút ngay cho khỏi bẩn mắt ta.

Bị mắng oan, hai viên trinh sát lặng lẽ và lủi thủi bước ra như hai cái bóng, vẻ mặt nhẫn nhục và đành phận của họ chứng tỏ rằng họ đã quá quen với tính bất thường và bất công của vị chúa tể Tây đô.

Khi họ đi rồi, chúa Trịnh bèn hỏi Nguyễn hữu Liên:

- Theo ý quan Thái phó thì hai tên phản nghịch Lê thế Hùng và Bùi văn Khuê đã trốn thoát khỏi kinh thành chưa? Và bằng cách nào?

Hữu Liên suy nghĩ một lát và đáp:

- Bẩm Thiên tuế, ty chức đoán rằng chúng có thể thoát khỏi bằng cách trá hình làm thường dân hay binh sĩ. Căn cứ vào thủ đoạn của chúng mà xét thì ngày giờ nào chúng còn ở ngoài vòng pháp luật, tất nhiên chúng còn tiếp tục gây rối quan trọng cho Triều đình. Vì Vậy, tới tối hôm nay, nếu Thế Hùng và Văn Khuê chưa sa lưới, thì điều khẩn yếu mà chúng ta phải lo để phòng là việc rước đệ tam Hoàng tử Duy Đàm từ huyện Thùy Nguyên về đây.

Chắc Thiên Tuế, còn nhớ rằng chính hai tên giặc đó đã cướp mất hai hoàng tử con của vua Anh Tôn, tại Nghệ an hôm nọ. Lẽ tất nhiên, hôm nay, chúng cũng sẽ không tha hoàng tử thứ ba. Vả chăng, sự xuất hiện bất thần của chúng ở Tây Đô đúng vào lúc Thiên tuế phái quân đi nghinh đón Thái tử Duy Đàm là một hành động cố ý, đã được trù tính trước, chớ không phải là chuyện tình cờ.

Chột dạ, Trịnh Tùng lo lắng, gục gặt đầu:

- Ừ nhỉ! Quan Thái phó không nói thì ta quên mất. Chắc Văn Khuê và Thế Hùng liều lĩnh đột nhập kinh thành là để phá hỏng kế hoạch ‘‘tôn quân’’ của chúng ta. Vậy, bây giờ phải làm thế nào?

Nguyễn hữu Liên đáp:

- Bẩm, không khó lắm! Xin Thiên tuế cứ gấp rút hạ lịnh cho đoàn quân đi đón đệ tam Hoàng tử phải thình lình thay đổi lộ trình và giờ phút khởi hành tại huyện Thùy Nguyên. Lẽ tất nhiên, sự đảo lộn chương trình đó sẽ làm cho hai tên phiến loạn kia phải lạc lối và rốt cuộc, chúng hết phương phá hoại.

Chúa Trịnh mỉm cười, khen ngợi:

- Hay lắm ! Thật là diệu kế.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của hải âu