Vụ án mạng tại tòa nhà y học chỉ có thể dùng từ "không thể tưởng tượng nổi" để hình dung. Nếu Lục Sóng không tận mắt chứng kiến, e rằng trên đời này chẳng ai tin chuyện quái đản như vậy lại xảy ra.
Cảnh sát cũng không rõ tại sao thi thể nữ giới trong phòng lưu trữ lại xuất hiện bên ngoài tủ đông. Lời giải thích duy nhất là nhân viên trực ca, ông Trương, đã dọn thi thể ra ngoài, trong quá trình đó vô tình bị Lục Sóng phát hiện, khiến ông ta hoảng sợ đến mức đột tử vì bệnh tim. Giả thuyết này vừa được công bố, cả tòa nhà y học liền xôn xao bàn tán về một vấn đề: Tại sao ông Trương lại đi đụng vào thi thể đó?
Phe phái thảo luận chia làm hai luồng ý kiến nam nữ. Phe "tám chuyện" chủ yếu là nam giới, họ suy luận từ bản tính của chính mình và nhất trí cho rằng ông Trương nảy sinh tà niệm với thi thể xinh đẹp kia. Chuyện xảy ra sau bữa tối, "no cơm ấm cật sinh nhàn", nên ông Trương độc thân mới đi vào con đường lầm lạc.
Phe còn lại là "phái Nga Mi", chủ yếu là các nữ nhân viên bệnh viện. Đối với họ, hôn nhân cũng khó khăn như tu hành, họ thường cho rằng kết hôn chẳng khác nào xem phim người lớn, người trong cuộc chưa chắc đã thấy sướng như vẻ ngoài. Vì thế, họ tin rằng chỉ có tiền mới là hạnh phúc nhất. Theo tư duy quán tính đó, họ quả quyết ông Trương dời thi thể là để lấy cắp nội tạng bán lấy tiền.
Cuộc chiến giữa hai phe diễn ra kịch liệt, nhưng Lục Sóng lại trở thành nạn nhân của cả hai luồng dư luận. Bởi lẽ, chìa khóa duy nhất của phòng lưu trữ thi thể nằm trong tay hắn, nếu ông Trương muốn động vào thi thể, trước hết phải lấy được chìa khóa. Thế nhưng, trên thi thể ông Trương lại không tìm thấy chìa khóa dự phòng nào.
Một sự việc kỳ quái đã xảy ra: từ hai suy luận mơ hồ, lại đẻ ra một giả thuyết xác định. Cả hai phe đều cho rằng Lục Sóng đã bỏ bê nhiệm vụ, chính hắn đã lấy lại chìa khóa từ thi thể ông Trương rồi mới báo cảnh sát.
Trần Tuấn, người đến điều tra, không hề bận tâm đến những chuyện thị phi trong bệnh viện. Người chết là do hoảng sợ mà qua đời, còn chuyện "xác chết vùng dậy" thì anh ta hoàn toàn không tin. Vụ án này được định tính là hủy hoại vật chứng, kẻ phá hoại đã chết, nên vụ án coi như khép lại.
Tâm trí anh hoàn toàn đặt vào việc tại sao thi thể nữ này lại xảy ra vấn đề. Để hoàn tất báo cáo, Trần Tuấn đã thẩm vấn Lục Sóng, nhân chứng duy nhất tại hiện trường. Kết quả, những gì Lục Sóng kể càng nghe càng giống chuyện ma quỷ. Đúng lúc này, Trần Tuấn nhận được điện thoại từ cảnh sát Gia Cát: tối hôm qua, cư dân đối diện tòa nhà chung cư của người chết đã nhìn thấy có người đi lại trong nhà nạn nhân. Gần như cùng lúc đó, tại nhà nghi phạm cũng có động tĩnh.
Trần Tuấn hỏi: "Sự việc xảy ra lúc mấy giờ?"
Nhận được câu trả lời là 10 giờ 15 phút.
Trần Tuấn hỏi tiếp Lục Sóng: "Sự việc ở bệnh viện xảy ra lúc mấy giờ?"
Lục Sóng trả lời chính xác: "11 giờ." Lý do là lúc đó hắn đang đăng bài trên diễn đàn, trên đó có ghi lại thời gian đăng.
Trần Tuấn, người vừa mới coi chuyện xác chết vùng dậy là nhảm nhí, giờ đây bắt đầu thấy căng thẳng. Từ bệnh viện đi bộ đến chung cư mất khoảng nửa tiếng, thời gian hoàn toàn khớp nhau. Chẳng lẽ người chết chết không nhắm mắt, hồn về nhà?
Hai sự việc tưởng chừng không liên quan này dường như lại tồn tại một mối liên hệ đặc biệt nào đó. Sau khi rời bệnh viện, Trần Tuấn thẳng tiến đến chung cư của người chết. Nếu thật sự là "nàng" hoặc "nó" đã về nhà, chắc chắn sẽ để lại dấu vết. Bởi lẽ, cửa phòng người chết chính tay Trần Tuấn đã dán niêm phong.
Khi Trần Tuấn đến đường Quang Vinh, cảnh sát Gia Cát đã nắm rõ tình hình và đang đợi anh tại nhà nghi phạm. Tấm thông báo tìm người dán xiêu vẹo dưới lầu khiến anh cảm thấy rất khó chịu. Vừa bước lên lầu, anh đã thấy gương mặt ủ rũ của cảnh sát Gia Cát. Gia Cát cho biết, hôm qua điều tra không thấy camera, hôm nay nó lại tự xuất hiện, chứng tỏ tối qua có người đã vào căn hộ này.
Trần Tuấn hỏi: "Có nhân chứng không?"
Cảnh sát Gia Cát lắc đầu: "Không có ai tận mắt nhìn thấy, chỉ nghe thôi. Hộ dân tầng này nghe thấy tối qua trong phòng có tiếng người đi lại và trò chuyện."
"Vậy cũng không biết là ai lẻn vào sao?"
"Tuy không biết là ai, nhưng có thể khẳng định, camera chắc chắn không phải do nghi phạm vứt lại."
"Cảnh sát, sao anh khẳng định như vậy?" Thái độ của Trần Tuấn rất gay gắt, anh cảm thấy cảnh sát Gia Cát luôn cố tình thiên vị nghi phạm vì một lý do nào đó.
"Camera là vật chứng quan trọng như vậy, nghi phạm cần gì phải mạo hiểm mang trả lại? Chắc chắn có kẻ muốn đổ tội cho nghi phạm. Hãy để bộ phận kỹ thuật lấy ảnh từ camera ra, chúng ta sẽ phân tích thêm!" Cảnh sát Gia Cát khéo léo né tránh sự công kích của Trần Tuấn.
Trần Tuấn chỉ tay ra ngoài cửa sổ: "Vậy niêm phong ở chung cư đối diện có bị phá hủy không?"
Đây chính là điều khiến cảnh sát Gia Cát đau đầu nhất: niêm phong vẫn còn nguyên, nhưng tối qua lại có bóng người chớp động trong phòng, nghe nói ngoại hình cực kỳ giống người chết.
"Chẳng lẽ người chết đã trở về thật sao?" Trần Tuấn hạ giọng hỏi.
Cảnh sát Gia Cát kinh ngạc nhìn anh: "Tại sao anh lại nghĩ vậy?"
Trần Tuấn kể lại chuyện lạ ở bệnh viện cho cảnh sát Gia Cát nghe. Cảnh sát Gia Cát xoa gương mặt tròn trịa của mình, hai hàng lông mày nhíu chặt thành hai dấu chấm hỏi.
"Dạo này toàn gặp chuyện kỳ quái." Cảnh sát Gia Cát tự giễu.
"Anh cũng gặp sao? Hôm nay ngày mấy?" Trần Tuấn hỏi.
"14 tháng 11, hỏi cái này làm gì?"
"Tôi cứ tưởng hôm nay là rằm tháng bảy, ngày hội của ma quỷ."
Cảnh sát Gia Cát dở khóc dở cười, cơ mặt rung lên: "Cư dân tòa nhà này thấy cảnh sát đến liền đổ hết vấn đề két nước lên đầu tôi. Xem ra chiều nay phải phục vụ nhân dân rồi, anh có muốn đi cùng không?"
Trần Tuấn giơ tay đầu hàng: "Anh tha cho tôi đi! Thợ sửa ống nước không phải sở trường của tôi, tôi dùng cái này để kiếm cơm." Anh chỉ vào thái dương mình, "Không phải dùng đôi tay cần lao."
"Xem ra tôi phải chiến đấu một mình rồi." Cảnh sát Gia Cát đi ra cửa, xách thùng dụng cụ lên, đùa rằng: "Sửa ống nước làm tôi nhớ đến những ngày đi làm thuê cho nhà mẹ vợ, coi như ôn lại tuổi trẻ vậy."
"Đợi đã." Trần Tuấn nghiêm túc gọi lại.
"Sao? Anh có manh mối?"
Trần Tuấn nhận lấy thùng dụng cụ: "Anh biết đấy, tôi cũng luôn không biết cách hòa thuận với mẹ bạn gái, có lẽ ngày nào đó tôi nên đi phá hỏng đường cống nhà họ."
Cảnh sát Gia Cát cười: "Anh cũng nên biết, phí dịch vụ thợ ống nước là tính theo giờ đấy."
"Bữa tối nay tôi mời."
"Thành giao!" Cảnh sát Gia Cát bắt tay anh, "Chào mừng gia nhập khoa tiêu hóa thành phố."
"Ý gì?"
"Lát nữa chúng ta sẽ giúp nó súc ruột."
2.
Vết sẹo trên lưng Trình Chấn đã gần lành hẳn. Sau khi đến bệnh viện kiểm tra, bác sĩ bảo đó là vết thương do vật nhọn đâm vào, có thể là hình xăm, nhưng hình xăm thường phải có họa tiết, còn vùng da đó vẫn nguyên vẹn. Báo cáo chẩn đoán nói không có gì đáng ngại, bác sĩ kê một tuýp thuốc mỡ lớn bảo anh về nhà bôi dần.
Trong gương, lưng Trình Chấn vẫn như cũ. Người phụ nữ bí ẩn dùng kim đâm anh vì lý do gì? Ban đầu, Trình Chấn chỉ nghĩ cô ta có xu hướng bạo dâm, vết thương nhỏ này không đáng bận tâm. Nhưng sau khi Jane bị sát hại, hung thủ dường như muốn tìm kiếm thứ gì đó trên cơ thể cô, khiến Trình Chấn nghi ngờ liệu người phụ nữ bí ẩn có để lại dấu vết gì trên lưng mình không. Và mối quan hệ giữa Jane với người phụ nữ đó khiến hung thủ tưởng rằng dấu vết nằm trên người Jane.
Loại trừ khả năng châm cứu, Trình Chấn cũng nghĩ như bác sĩ: chỉ có thể là xăm mình. Còn tại sao không có hình vẽ, anh nghi ngờ người phụ nữ đó quên bôi mực lên kim.
Nếu muốn biết đó là hình gì, xem ra chỉ có thể nhờ cậy tiệm xăm chuyên nghiệp. Trình Chấn tìm trên mạng một tiệm xăm lâu đời, đặt lịch hẹn để kiểm tra xem rốt cuộc trên lưng mình bị xăm cái gì.
Tiệm xăm nằm ở con phố sầm uất, nhưng mặt tiền lại rất khiêm tốn, trông như một căn hầm. Trình Chấn đứng ngoài cửa mười phút, phát hiện khách hàng ở đây đều có đặc điểm chung: ai nấy đều vạm vỡ, cố tình mặc áo chật hơn một size, trông như sắp làm rách áo đến nơi. Người đi xăm thường chia làm hai kiểu: một là dân thể hình, huấn luyện viên; hai là dân xã hội đen, yakuza. Trình Chấn cũng học theo, cởi hai cúc áo, hùng hổ bước vào.
Trong tiệm bật điều hòa rất ấm. Một cô nhân viên lễ tân ăn mặc sặc sỡ nhiệt tình chào đón: "Anh ơi, lần đầu đi xăm ạ?"
Trình Chấn cười đầy ẩn ý: "À... tôi có hẹn kỹ sư, có thể sắp xếp xăm ngay được không?"
Cô lễ tân nhìn đèn chỉ thị ở bàn làm việc: "Hiện tại chưa được, anh cần chọn mẫu đã. Khoảng hai mươi phút nữa, thợ xăm phòng số 3 sẽ làm cho anh."
Trong lúc chờ đợi, Trình Chấn lật xem các mẫu hình xăm. Anh thấy mấy hình này nhìn lâu rất chán, nếu muốn dọa người, thà xăm chữ "Dũng" trước ngực, chữ "Tốt" sau lưng còn hơn. Nghĩ vậy, anh không nhịn được cười, nếu khách hàng thấy mấy chữ này khi anh đang làm việc, chắc chắn đó chính là trạng thái của anh lúc đó.
Đến giờ, cô lễ tân dẫn Trình Chấn đi sâu vào trong. Tường sơn đỏ như máu, trần nhà đen kịt, môi trường áp lực thế này rất dễ khiến người ta bỏ tiền ra làm những chuyện ngu ngốc. Một gã béo vừa từ phòng số 3 đi ra, trông rất tức giận với thợ xăm.
Trình Chấn hồi hộp đẩy cửa phòng kính. Nhìn thấy thợ xăm, anh nghĩ thầm: gã này không chết vì AIDS đúng là vạn hạnh.
Phòng số 3 rất đơn sơ, thoang thoảng mùi thịt thối. Thợ xăm còn rất trẻ, để kiểu tóc người ngoài hành tinh, mặc áo phông in chữ "ILOVENAKED", cánh tay xăm đầy những hình thù sặc sỡ. Trình Chấn thấy họ chính là minh chứng cho sự tiến bộ của xã hội, vì thành quả của họ hiện rõ mồn một, muốn xóa cũng không xong.
"Xăm gì?" Thợ xăm thái độ không tốt lắm, có lẽ vẫn còn bực gã béo lúc nãy.
"Tôi muốn nhờ anh xem giúp cái lưng tôi..."
"Lưng đúng không! Cởi áo ra, bò lên ghế." Chưa để anh nói hết, thợ xăm đã cắt ngang.
Trình Chấn cởi áo, định bò lên ghế thì thấy trên đó vẫn còn vết máu chưa khô, liền nói: "Trên ghế có máu, sao nằm được?"
Thợ xăm cầm dụng cụ như máy khoan, loay hoay tìm kim, rồi mất kiên nhẫn vứt đồ xuống, dùng tay quệt sạch máu, giục: "Nhanh lên!"
Điều kiện vệ sinh này còn tệ hơn cả xưởng dầu lậu. Trình Chấn cắn răng bò lên. Thợ xăm cầm dụng cụ lên, vặn nút, hỏi: "Xăm hình gì?"
"Tôi không xăm..."
"Chữ à?"
"Không phải." Trình Chấn xua tay, "Tôi muốn nhờ anh giúp một việc."
Thợ xăm tắt máy, cảnh giác: "Anh là đàn em của Béo Hổ à?"
"Béo Hổ là ai?" Trình Chấn ngơ ngác.
"Cái gã béo mới ra ngoài ấy." Nhắc đến người này, thợ xăm càng nổi cáu. "Gã béo chết tiệt đó bắt tôi xăm bản đồ ngân hàng lên người. Xăm xong gã đi cướp ngân hàng, kết quả nhầm phòng bảo vệ thành kho tiền, còn trách tôi xăm thiếu phòng bảo vệ. Cướp thất bại lại quay sang đổ lỗi cho tôi."
Trình Chấn nhớ đến một bộ phim Mỹ, có người vì cứu anh trai trong tù mà xăm bản đồ nhà tù lên người. "Vậy cuối cùng anh có xăm cho hắn không?"
"Vô nghĩa!" Thợ xăm giải thích, "Bản đồ quá lớn, xăm mất hơn ba tháng. Gã béo đó trong thời gian này tăng 20 cân, hình phòng bảo vệ ở bụng bị thịt che mất. Sao trách tôi được?" Thấy hợp ý, thợ xăm chủ động hỏi Trình Chấn cần giúp gì.
Trình Chấn bịa chuyện: "Mấy hôm trước tôi đi xăm, ai ngờ hình vẽ biến mất, tôi muốn kiểm tra xem sao."
Thợ xăm bôi một lớp nước thuốc lạnh lên lưng anh, vỗ vỗ mười mấy phút mà không thấy gì. Anh ta nói: "Lỗ kim trên lưng anh không đều, sâu cạn khác nhau. Người xăm cho anh chắc đang vội? Tôi nghĩ anh không phải xăm hình, mà là xăm chữ Hán."
"Là chữ gì?" Trình Chấn chợt nhớ đến chữ "Dũng" và "Tốt".
Thợ xăm lấy chai cồn trên bàn, rót nửa ly đưa cho Trình Chấn: "Uống đi."
"Anh bảo tôi uống cồn sát trùng?"
Thợ xăm uống trước một ngụm: "Thực ra đây là rượu trắng pha nước, mở tiệm đến giờ vẫn dùng chai này. Yên tâm, không sao đâu!"
Trình Chấn uống cạn, quả nhiên như lời hắn, chẳng có cảm giác gì. Nhưng thợ xăm lại phát hiện: "Anh dùng không phải mực thường, mà là máu bồ câu. Loại hình xăm này cứ uống rượu là hiện lên. Chữ trên lưng anh hình như là chữ 'Ngục' trong nhà tù."
Trình Chấn thấy khó chịu, chẳng lẽ người phụ nữ bí ẩn muốn mình giúp cô ta vượt ngục? "Không đúng, cũng có thể là chữ 'Sư' trong sư tử." Thợ xăm sửa lại.
"Rốt cuộc là chữ gì?"
Thợ xăm ít học nên không phân biệt được, bèn dùng điện thoại chụp lại cho Trình Chấn xem. Trên tấm lưng đỏ ửng là một chữ "Sư" hơi biến dạng. Tại sao cô ta lại xăm chữ này lên lưng mình? Vì chữ này mà Jane bị sát hại dã man.
Thấy Trình Chấn đau khổ, thợ xăm an ủi: "Hình xăm có thể sửa. Hay tôi giúp anh xăm thêm mấy chữ, tạo thành một thành ngữ?"
"Thành ngữ gì?"
"Dương nhập sư khẩu (Dê vào miệng sư tử)." Nói xong, thợ xăm bật máy, tiếng kêu "tư tư" vang lên. Dù không phải thành ngữ, nhưng Trình Chấn thấy nó rất hợp với tình cảnh hiện tại.
Anh lấy cớ đi vệ sinh, mặc áo vào rồi chạy biến dưới ánh mắt đầy ẩn ý của cô lễ tân. Nếu phải dùng một chữ để hình dung những gì mình gặp phải, chỉ có thể là chữ "Nghiệt". Một người đàn ông trong lòng nghĩ về một người phụ nữ, gọi là "Ái như thủy triều". Một người đàn ông trong lòng nghĩ về một người đàn ông và một người phụ nữ, gọi là "Tại sao anh lại giấu em yêu người khác". Còn bây giờ, Trình Chấn ngoài việc thương nhớ người phụ nữ bí ẩn và gã sát nhân đã giết Jane, còn bị ám ảnh bởi một chữ, giống như chuyện tình người và ma bên Tây Hồ. Chỉ là bây giờ Trình Chấn không biết mình là Pháp Hải hay Hứa Tiên?
3.
Tôi và Hạ Tịch đi dạo trên phố đi bộ Nam Kinh để tìm tung tích kẻ trộm. Tôi vẫn luôn nghi ngờ về gia thế của Hạ Tịch, bèn dò hỏi: "Chị gái cô tên Hạ Mỹ, theo lý cô phải tên là Hạ Lệ chứ!"
Hạ Tịch đáp: "Vốn tôi tên Hạ Lệ, nhưng hồi tiểu học, khắp nơi đều gọi 'xe taxi Harry', ngày nào cũng nghe người ta gọi tên mình, phiền quá nên tôi đổi tên."
"Cô ngày nào cũng thay quần áo khác nhau, bố cô tốn không ít tiền nhỉ."
Hạ Tịch bình thản: "Số tiền đó với ông ấy chẳng là gì."
"Bố cô làm nghề gì?"
Hạ Tịch suy nghĩ: "Người ta hay gọi ông ấy là 'cá sấu bất động sản'."
Hèn gì ông chủ tiệm "Mary" nói tôi sau này sẽ có phúc, chắc ông ta tưởng tôi tán được tiểu thư nhà giàu này.
Tôi lén nhìn gương mặt nghiêng của cô ấy. Cô ấy có nhan sắc không kém gì Hạ Mỹ, so với vẻ vũ mị của Hạ Mỹ, sự thanh thuần của Hạ Lệ càng làm tôi mê mẩn. Cộng thêm gia cảnh giàu có này, đối tượng tôi thầm thương trộm nhớ dần chuyển từ người chết nhà họ sang người sống.
Hai chúng tôi tìm mãi không thấy tên trộm đâu. Hạ Tịch hỏi: "Sao không thấy trộm nhỉ?"
"Vô nghĩa, trộm đâu có viết nghề nghiệp lên trán. Cô mà nhìn ra ai là trộm thì đội phản tặc đã mời cô lâu rồi."
Hạ Tịch lo lắng: "Vậy làm sao bây giờ? Sách chị tôi để lại mà mất thì tôi có lỗi với chị ấy lắm."
Tìm trong biển người ở phố Nam Kinh chẳng khác nào mò kim đáy bể. Tôi chợt nảy ra kế: "Thay vì đi tìm trộm, chi bằng làm cho trộm tìm chúng ta."
"Làm sao để chúng tìm?"
"Chúng ta lấy điện thoại của chị cô làm mồi, để trên người cô, không quá mười phút, đảm bảo trộm sẽ theo dõi cô. Trộm cũng có tổ chức, tìm được một thành viên là biết đồ bị trộm ở đâu. Đợi lúc chúng ra tay, tôi sẽ 'bọ ngựa bắt ve, chim sẻ rình sau', thế là xong."
"Liệu có được không?"
Tôi định nói cô sơ ý thế này, trộm không lấy đồ của cô mới là lạ. Nhưng nghĩ đến kế hoạch "tài sắc vẹn toàn", tôi sửa lời: "Người ta nói, chưa qua Thái Lan chưa biết nhân yêu, chưa qua Hàn Quốc chưa biết phẫu thuật, chưa qua Quảng Châu chưa biết bị cướp, chưa qua Thượng Hải chưa biết bị trộm. Nên cô cứ yên tâm, trộm chắc chắn sẽ theo dõi cô."
Tôi vừa nói vừa lục túi tìm điện thoại, lộn ngược túi cũng không thấy đâu. Vài bước phía trước, một gã đang cầm điện thoại của tôi chạy bán sống bán chết trong đám đông.
Tôi hét lớn: "Bắt trộm!" rồi cắm đầu đuổi theo.
Thượng Hải xưa kia khắp nơi là vàng, nay khắp nơi là người. Người trên phố Nam Kinh dạt ra, nhường đường cho chúng tôi, còn đứng hai bên xem kịch. Tôi và tên trộm rượt đuổi gần hết con phố. Tuy tôi chạy không chậm, nhưng chỉ bùng nổ được trăm mét đầu, sau đó thể lực đuối dần, bị tên trộm bỏ xa.
Đúng lúc hắn định rẽ vào ngõ nhỏ, một ông lão bảy mươi tuổi giơ cây gậy gỗ ra. Tên trộm tránh không kịp, vấp chân, người bay lên không trung, làm một động tác trượt như cầu thủ ăn mừng bàn thắng, ngã sấp mặt xuống đất.
Đám đông ùa lên, kẻ chửi bới, người nhổ nước miếng, kẻ đá bụng, thể hiện sự nhiệt tình quá mức. Như đang xem biểu diễn, tôi phải cố hết sức mới chen vào được. Lấy lại điện thoại, tôi hỏi tên trộm có biết vài giờ trước có cô gái bị mất quyển sách ở đâu không.
Hắn ngẩng khuôn mặt đầy máu hỏi: "Cô gái nào?"
Câu này đúng là đáng ăn đòn, đám đông lại một phen "chiêu đãi" hắn nhiệt tình. Vì quá ồn, tôi phải ghé sát tai hắn nói: "Chính là vụ làm ăn nhẹ nhàng nhất của các người sáng nay đấy."
Mắt tên trộm sáng lên: "Nhớ rồi, vụ đó thằng em họ tôi làm. Ví tiền thì cất đi, còn quyển sách thì anh đến thùng rác gần phố Thái Bình tìm xem!"
Tôi vỗ vai hắn: "Đa tạ, huynh đệ."
Tôi chợt thấy ánh mắt đám đông thay đổi, họ như đang cân nhắc xem có nên "chiêu đãi" cả tôi, một người Thượng Hải, hay không. Đột nhiên, một giọng nữ phía sau hét lớn: "Mọi người mau vỗ tay cho ông lão dũng cảm vì nghĩa nào!"
Mọi người đồng thanh vỗ tay, kẻ xách đồ thì dùng tay kia vỗ, người xách cả hai tay thì dùng chân vỗ. Tôi nhân cơ hội chuồn ra ngoài, dẫn Hạ Tịch đi về phía phố Thái Bình.
Lúc này, tiếng còi cảnh sát vang lên, không hiểu sao trong lòng tôi dấy lên nỗi bất an khó tả.
Phố Thái Bình cách phố đi bộ vài bước, là con ngõ yên tĩnh giữa Bến Thượng Hải và phố đi bộ. Đường hẹp, hai bên không trồng cây mà thay bằng các thùng rác inox phân loại. Vì học vấn thấp, tôi không hiểu rác phân loại thế nào, liền hỏi Hạ Tịch.
Cô tiểu thư này lại lên mặt, chê tôi không có tinh thần ham học hỏi. Tôi bảo tôi đang hỏi cô đây. Cô ấy vỗ vỗ tay: "Không phải cứ hỏi bừa trên đường là học được kiến thức đâu."
Tôi mỉa mai: "Rõ ràng là cô cũng không biết."
Cô ấy hừ một tiếng: "Tất nhiên tôi biết. Nói vậy chỉ để tăng ấn tượng cho lần học này của anh thôi." Cô ấy chỉ vào thùng rác có nhãn hướng dẫn: "Thấy không, đây là rác tái chế và không tái chế. Thủy tinh, nhựa có thể tái chế thì ném vào đây, loại khác ném thùng kia. Anh nói xem tên trộm sẽ ném sách vào thùng nào?"
"Chắc là không tái chế được."
"Tại sao?"
Hạ Tịch nghiêm túc: "Anh nghĩ xem, giấy đầy chữ thế kia ai còn dùng để nháp được?"
Nghe cũng có lý. Tôi nhìn các thùng rác, nhãn dán hoa hòe hoa sói, mười mấy loại rác, với tôi còn khó hơn việc phân biệt xem nữ diễn viên nào đã ngủ với đạo diễn nào. Tôi hỏi tiếp: "Nếu tôi thật sự không nhớ nổi nên ném thùng nào thì sao?"
"Vậy thì ném vào thùng không tái chế, như vậy công nhân vệ sinh đỡ phải tốn công phân loại lại."
Vừa nói chúng tôi vừa tìm quyển sách trong các thùng rác. Một chiếc xe rác chạy tới, công nhân vệ sinh nhanh nhẹn nhảy xuống, không nói không rằng, đổ tất cả rác vào một cái thùng đen lớn trên xe.
Hạ Tịch thở dài: "Thấy chưa, người như anh quá nhiều, công nhân vệ sinh vẫn phải tự mình về phân loại lại thôi."
Tôi ấm ức: "Ít nhất như tôi thì cô ấy không cần phân loại rác tái chế nữa! Giờ đổ hết vào thế này, chúng ta phân loại làm gì cho phí công."
Hạ Tịch phản bác: "Chính vì không phân loại kỹ nên người ta mới phải phân lại đấy."
Cuộc tranh luận cứ thế xoay quanh vấn đề con gà và quả trứng. Nhưng anh hùng khó qua ải mỹ nhân, Thổ Hành Tôn cuối cùng cũng không địch lại Đặng Ngọc Ve. Tôi đành thuận theo ý cô ấy, nhất trí rằng việc nâng cao ý thức phân loại rác thải của bản thân quan trọng hơn cả.
Khi chúng tôi thảo luận xong những việc quan trọng nhất, chiếc xe thu gom rác cũng đã quét sạch mọi thùng rác trên đường Thái Bình. Cơ hội tìm thấy cuốn sách kia coi như hoàn toàn chấm dứt.
Tôi không khỏi nghi ngờ, liệu Hạ Mỹ có khả năng tiên tri hay không? Phải chăng cô ấy dùng tiêu đề cuốn sách này để ám chỉ rằng hai người chúng tôi - tôi và Hạ Tịch - cuối cùng cũng chẳng làm nên trò trống gì?
Hạ Tịch ngẩn ngơ nhìn chiếc xe rác khuất bóng, tôi cũng chẳng còn tâm trí đâu mà an ủi cô ấy, liền ngồi phịch xuống bậc thang lối đi bộ.
Đối diện, dưới đất có một gã ăn mày đang ngồi. Quần áo hắn rách rưới, đôi chân đen nhẻm trần trụi trong gió lạnh. Ánh mắt hắn đầy vẻ khiêu khích, giống như một con sói đang bị xâm phạm địa bàn.
Một vệt màu đỏ thoắt ẩn thoắt hiện trong tay gã ăn mày. Hắn đang cầm một cuốn sách, xé một mảnh giấy rồi hung hăng hỉ mũi vào đó.
Tôi kéo Hạ Tịch lao tới, giật lấy cuốn sách trên tay hắn. Vừa nhìn thấy dòng chữ trên bìa, đúng là cuốn sách chúng tôi đang tìm.
Gã ăn mày bị cướp mất "giấy vệ sinh" thì nổi giận, đôi bàn tay bẩn thỉu lao thẳng về phía cổ tôi.
Tôi từng nghe người ta nói "đầu trọc không sợ bị nắm tóc", hôm nay mới thực sự thấm thía. Dù tôi cao hơn hắn cả cái đầu, gã ăn mày vẫn chẳng hề sợ hãi mà lao vào.
Hạ Tịch như một trọng tài quyền anh, đứng giữa ra hiệu tạm dừng rồi nói với gã: "Đừng đánh! Cuốn sách này tôi mua, ông nói bao nhiêu tiền!"
Nghe đến tiền, gã ăn mày lập tức đổi thái độ, vỗ vỗ vai tôi, trên mặt nở nụ cười còn khó coi hơn cả khóc: "Có tiền là dễ nói chuyện! Có tiền là dễ nói chuyện!"
Hạ Tịch nói: "Cho ông mười nghìn, cuốn sách này thuộc về chúng tôi."
Gã ăn mày nhắm mắt lắc đầu nguầy nguậy: "Sách mới thế này, không có hai con số thì tôi không bán."
"Nhưng sách đã bị ông xé nát rồi, huống hồ sách mới tinh cũng chẳng bán đến hai con số!" Tôi thực sự không nhịn được, phải lên tiếng trước kiểu hét giá vô lý này.
Gã ăn mày đáp: "Hỏng mới đáng giá, cô cậu có biết thế nào là vẻ đẹp của sự khiếm khuyết không?"
Tôi thực sự muốn đánh cho gã tàn phế vì cái thói thiếu đạo đức này.
Hạ Tịch ra hiệu tôi bình tĩnh, để cô ấy xử lý.
"Giá chốt, mười lăm nghìn." Hạ Tịch trả giá rất dứt khoát, vị đại tiểu thư này đã hoàn toàn quên mất chuyện mình vừa bị mất ví.
Gã ăn mày lau nước mũi, ra giá: "Hai mươi nghìn."
"Chốt." Hạ Tịch vẫy tay với tôi, "Trả tiền đi."
Gã ăn mày cợt nhả chìa bàn tay bẩn thỉu ra, mặt dày chờ tôi thanh toán.
Số tiền tôi mượn từ cậu học sinh tiểu học lúc nãy chỉ còn lại mười sáu nghìn. Tôi đếm đi đếm lại ba lần, vẫn chỉ là mười sáu nghìn.
Gã ăn mày thừa lúc tôi không để ý, cướp lấy tiền nhét vào túi, cười khẩy: "Khỏi đếm, mười sáu nghìn không sai. Này, trả lại cậu một nghìn."
Gã ăn mày huýt sáo rồi nghênh ngang bỏ đi, hôm nay hắn đã hoàn thành chỉ tiêu kiếm tiền.
Hạ Tịch đắc ý khoe khoang khả năng đàm phán, còn tôi thì chỉ muốn chết. Trong tình cảnh hai người chỉ còn đúng một nghìn đồng, không trốn vé thì đi đâu cũng khó.
Thế đạo thay đổi thật rồi, tôi đi trấn lột học sinh tiểu học mà cứ như đang đi xin ăn, còn gặp người xin ăn thì lại giống như bị trấn lột.
Sách tuy đã lấy được, nhưng những dòng chữ Hạ Mỹ viết bên trong vẫn không rõ nghĩa. Hạ Tịch hỏi tôi: "Anh có quen ai có trình độ ngữ văn cao hơn hai chúng ta không?"
Tôi rà soát lại tất cả những người mình quen, kể cả cô phục vụ ở nhà ăn trường mẫu giáo cũng không bỏ sót, cuối cùng cũng tìm ra một người có thể giúp đỡ.
Nhưng muốn tìm được người này, lộ phí lại là một vấn đề.
Hạ Tịch bảo tôi đưa điện thoại của Hạ Mỹ cho cô ấy. Cô ấy gọi một cuộc, vài phút sau, một chiếc taxi đã đỗ xịch trước mặt.
Hạ Tịch bảo tôi cùng lên xe, nói rằng tiền cước sẽ do công ty của bố cô ấy chi trả.
Xem ra nhà cô ấy nghèo đến mức chỉ còn lại tiền, chắc chẳng thiếu thứ gì, chỉ thiếu một người con rể.
Tất nhiên, lời này tôi không dám nói ra vì quá sỗ sàng. Địa vị của tôi trước mặt Hạ Tịch vốn đã thấp, làm người thì không nên quá thấp kém.
Tài xế hỏi chúng tôi đi đâu.
Tôi đọc tên trường đại học của mình.