Bí Mật Tàu Ngầm Ecsoplora

Lượt đọc: 58 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CON ĐƯỜNG “GIA VỊ”

Người ta quen gọi Lơn-đơn là thành phố sương mù: đúng thật! Khách tung chăn, sờ tay ra xung quanh, chỗ nào cũng dính nhơm nhớp. Cửa trong phòng đã đóng kín hai lần mà sương mù vẫn ùa vào khắp nơi. Từ cửa sổ nhìn ra, Crip thấy cả người Lơn-đơn lẫn xe cộ đều chập chờn như những bóng ma, quyện vào lớp sương mù đùng đục.

Vừa lúc đó, một bóng người rón rén đi qua hành lang. Đó là Bốp. Anh hầu phòng này rất sợ tiếng chân của mình phá mất giấc ngủ của vị thượng khách mới đến trọ ở đây có vài hôm mà đã gây xôn xao cả khu Lê-xe-xtơ. Thật ra khách sạn Xa-bơ-lon-ni-e đâu phải loại thường, khách thượng lưu tứ xứ tới trọ không phải ít, nhưng gần đây nơi này bỗng nhiên trở thành nơi hội tụ của nhiều nhà quý tộc công nghiệp Anh. Chủ khách sạn quý vị khách thượng lưu này đã đành, mà Bốp lại càng quý hơn. Không ngày nào là Bốp không được tiền thưởng, chỉ cần Bốp khẽ cúi đầu đỡ lấy tấm áo khoác treo lên mắc áo cho khách, hoặc mở cửa, đưa mũ, Bốp đều nhận được món tiền thưởng rất hậu.

Một vị khách Anh ở nước ngoài về - không rõ là từ Ấn Độ hay châu Phi - nhưng chắc chắn ông ta đã từng sống ở một xứ sở giàu có.

Thật thà mà nói bất cứ ai, thoáng gặp Crip lần đầu cũng dễ thấy hấp dẫn bởi dáng dấp phong lưu mã thượng của người khách trọ này. Ăn mặc sang trọng, toàn loại hàng đắt tiền đã đành, Crip lúc nào cũng đi một đôi ủng bóng lộn có cựa. Chỉ riêng một đôi ủng cũng đủ chứng tỏ nhà quý tộc Anh trẻ tuổi này đã từng phi trên mình ngựa băng qua những đồng cỏ xanh rì, để lại trong lòng các hiệp sĩ ở kinh đô nước Anh tiếng vó ngựa phi dồn dập pha trộn với tiếng gươm khua nơi chiến địa.

Trước cửa phòng trọ vẫn treo ngay ngắn tấm biển A. Crip, Bốp đưa mắt, ngó vào: à, ông khách đã dậy. Bốp gõ cửa rồi trịnh trọng đưa vào một cái khay chất đầy các danh thiếp đặt lên bàn, nhận xong mấy đồng tiền thưởng, Bốp quay ra.

Crip cầm danh thiếp lên, lướt qua rất nhanh, loại bỏ gần hết chỉ giữ lại độ dăm, sáu cái. Crip khẽ vươn vai, đứng dậy bước lại gần cuốn lịch. Từ ngày rời Đức sang hòn đảo này, Crip hầu như không ăn tại khách sạn. Hết chỗ này đến chỗ kia mời! Trừ một số nhà quyền quý có con gái đẹp mà theo phép xã giao không thể từ chối được, Crip chỉ giao du chủ yếu với giới công nghiệp Anh. Hắn rất chú ý đến các nhà luyện kim, những xưởng đúc thép, đặc biệt là những công trình đang nghiên cứu ở Anh về thép.

Crip đang lúi húi ghi chép vào cuốn sổ tay thì Bốp lại gõ cửa bước vào, trịnh trọng đưa tới một tấm danh thiếp của một nam tước, chủ một ngân hàng ở khu Xi-ty mời đến dự tiệc.

- Ta sang đây đâu phải chỉ ăn cho béo bụng!

Nói xong, Crip thấy mình là vô lý đối với người hầu phòng xa lạ, Bốp lủi thủi quay ra, đoán mãi không sao hiểu nổi ông “khách thượng lưu” giàu có này hôm nay lại khó tính đến thế vì như Bốp, giá có ai mời dự tiệc thì xa mấy Bốp cũng cố đi, huống hồ bữa tiệc này lại đặt ngay tại một khách sạn cỡ quốc tế ở chốn kinh đô sầm uất này.

Chiều hôm đó, trong lúc các nhà quyền quý tưởng ngài Crip đang dự tiệc ở chỗ này, chỗ nọ thì Crip lại đang hướng về Mít-lan, một trung tâm than đá tập trung tới hai chục thành phố chế tạo da, tơ, len, đồ sứ, cao su,... Crip hướng tới thủ đô sắt thép Bớc-min-ham, lần theo một đường dây ghi trong địa chỉ. Sau đó, Crip quay về Lơn-đơn, trong bộ quần áo lem luốc bẩn thỉu, Crip len lỏi giữa những khu ổ chuột ở It-en [1] tìm vào một căn nhà rách nát, ẩm thấp, hôi hám bụi bặm tìm một ông lão hom hem, tên là Hin-đơn. Ông lão vừa nói vừa ôm ngực ho sù sụ. Không một ai có thể ngờ rằng: hai mươi năm về trước, Hin-đơn đã từng là một tay thợ luyện thép tài năng, vóc người vạm vỡ, cánh tay rắn chắc như thép. Câu chuyện nhỏ to diễn ra không lâu. Chỉ biết lúc kết thúc, ông lão nhận một ít tiền và cúi đầu cảm ơn Crip.

*

Bác xà ích Cra-xi ngồi trên xe ngựa, hút đã gần tàn một điếu thuốc mà chẳng thấy ai gọi xe cả: Chẳng lẽ đêm nay không có khách vào khu Oét-min-xơ để xem hát. Bác đã toan ra roi cho ngựa kéo đi về hướng công viên Hai-đơ-pác thì chợt thấy từ trong bụi cây tối om, một anh chàng rách rưới đang vẫy tay ra hiệu gọi xe đến.

“Thằng cha thất nghiệp chắc đang định xin mình điếu thuốc đây! Rõ xúi quẩy! Đêm nay toàn gặp chuyện rủi.” Cra-xi đang định cho xe quay đi thì anh chàng rách rưới nọ gọi, giọng hách dịch, gần như quát:

- Đưa ta về khách sạn Xa-bơ-lon-ni-e, nhanh lên!

- Mười lăm xtéc-linh, xin tiền trước!

Không đợi bác xà ích nhắc tới lần thứ hai, anh chàng rách rưới quẳng ra một tờ hai chục xtéc-linh.

Đôi mắt bác Cra-xi sáng hẳn lên, bác ta vội gò cương cho đôi ngựa kéo xe đến sát bụi cây để khách nhảy lên, tay khách vẫn ôm khư khư một cái bọc kỹ.

- Khu Lê-xe-xtơ, biết rồi chứ?

Nghe khách nói, bác Cra-xi cúi đầu rối rít đáp:

- Dạ, biết rồi ạ! Ở khách sạn ấy có một vị khách giàu lắm, chân lúc nào cũng đi ủng bóng lộn có cựa.

- Thôi, nhanh lên!

Thật ra thì chẳng đợi khách giục, bác Cra-xi đã quất roi đen đét cho đôi ngựa lao đi. Cỗ xe song mã chạy được một đoạn bỗng vấp phải một tảng đá: kênh hẳn một bên bánh tưởng đổ xe, bác Cra-xi hốt hoảng quay lại và tưởng như trong truyện thần thoại, ngồi trong xe không phải là anh chàng rách rưới bẩn thỉu lúc nãy mà hắn ta đã thay quần áo thành một vị khách phong lưu mã thượng, quần áo sang trọng và hình như ông ta cũng đi ủng, đôi ủng bóng lộn, còn như cựa sắt có hay không thì tối quá bác xà ích không nom thấy.

Đêm hôm đó, đưa khách về nơi nghỉ, bác Cra-xi may mắn còn được anh chàng hầu phòng tốt bụng đãi một cốc rượu đầy. Trời đã khuya rồi mà hai bên vẫn đánh cược với nhau xem ngài Crip là người giàu sang hay người nghèo. Dĩ nhiên Bốp vẫn khẳng định với Cra-xi đó là một “ông hoàng vàng”... Còn Cra-xi thì lại quả quyết đó là một anh chàng nghèo kiết xác đang cố đóng vai một người giàu để âm mưu một cái gì đây. Ở châu Âu trong cơn sốt điên loạn của thế giới tư bản, những vụ “thủ mưu” như thế đâu phải chuyện lạ!

*

Trong lịch sử xa xưa, có con đường tơ lụa, đường hạt tiêu, đường hương liệu thì đối với An-phrê Crớp con đường từ Đức sang Anh phải gọi là con đường “gia vị”.

Không hoàn toàn đúng như nhận xét của bác xà ích Cra-xi tinh đời, An-phrê Crớp tuy chưa hẳn là anh chàng nghèo kiết xác nhưng cũng là người đang mắc nợ khá nhiều. Trước hết là món nợ do ông bố để lại khoảng chín triệu Phrăng, sau đó là một cái gia tài “khổng lồ” ở thành phố Ét-xen: Công ty sản xuất thép Anh và các chế phẩm, trong đó dù có sự hùn vốn của một số họ hàng thân thuộc, sản phẩm bán ra ậm ịch không tiêu thụ nổi.

An-phrê rất thương bố. Theo hắn, F. Crớp, bố A. Crớp xứng đáng là con người thép. Hắn nhớ từ hồi nhỏ đã được nghe kể lại: một thời châu Âu xôn xao về tin vua Pháp hứa trao giải thưởng ba vạn phrăng cho bất cứ ai sản xuất được thép Anh, bất kể là phát minh của chính mình hay đánh cắp được bí mật kỹ thuật của Anh. Chất lượng thép Anh có một thời không những thua Đức, Tây Ban Nha mà còn thua cả Ý, Bỉ. Song sau khi ăn cắp bí mật luyện thép của những nước này thì nước Anh lại vượt lên, đứng đầu châu Âu. Ở nước Đức những tay rèn dao nổi tiếng ở thành phố Xô-lanh-gien đã tụ tập lại thành lập hẳn một hội “Những nhà phát minh ở Xô-lanh-gien” để cử những con người ưu tú nhất sang Pháp giật giải. Các tay luyện kim bậc thầy ở Bỉ, Thuỵ Sĩ cũng có mặt nhưng đều thất bại. Theo dư luận người có khả năng giật giải chính là ông bố của An-phrê nhưng F. Crớp lại đùng đùng bỏ về Đức, sau khi... đã đánh cắp được phương pháp chế tạo thép của Anh và mua lại của bọn gián điệp kỹ thuật quốc tế khá nhiều những công thức bí mật.

Công ty sản xuất thép Anh và các chế phẩm ra đời ở thành phố Ét-xen ngày 20 tháng 11 năm 1811, đúng lúc “con người thép” đó tròn hai mươi bốn tuổi. Nhưng tiếc thay mang tiếng là thép Anh, nhưng thật ra chất lượng thép của F. Crớp còn thua xa thép Anh nên nhà máy phải đóng cửa, rồi hoạt động trở lại và đóng cửa một lần nữa. Nợ nần, nghèo túng chồng chất.

Ngày mồng 8 tháng 10 năm 1826, ở cái tuổi ba mươi chín, trước lúc chết, F. Crớp đã di chúc lại cho con “Bằng bất cứ cách nào, phải lấy được toàn bộ kỹ thuật sản xuất thép của Anh và vượt xa họ.”

- Có lẽ ta thua họ là bởi các “gia vị” - F. Crớp nói nhưng thấy An-phrê chưa hiểu, ông lại cố giảng giải thêm:

- Trong nghệ thuật nấu bếp, phải có gia vị để làm món ăn thêm ngon. Muốn luyện được loại thép có chất lượng cao, mang được những tính chất quý giá, người nấu thép phải pha thêm những nguyên tố hợp kim khác nhau vào đó.

Thấy con trai đã hiểu ra, F. Crớp vui vẻ nói tiếp:

- Rắc hạt tiêu, cho thêm tí ớt vào cốt làm cho món ăn cay, có thứ gia vị cho vào để làm thơm tho và hấp dẫn, có những thứ thì cải tiến phẩm vị món ăn. Tóm lại mỗi thứ gia vị đều có một mục đích của nó. Và thật khó có thể kể hết ra đây những công dụng của mọi thứ gia vị.

Mấy hôm sau F. Crớp chết, vừa tròn ba mươi chín tuổi.

Qua làn nước mắt nóng hổi, An-phrê cũng còn đủ sáng suốt để nhận ra được: thép sẽ có tất cả các tính chất đặc biệt nếu như được pha thêm các “gia vị” - những nguyên tố hợp kim khác.

*

Crip giơ tay xem đồng hồ: còn mười phút nữa. Sáng nay Bốp ăn mặc chỉnh tề, đứng chờ dưới cổng khách sạn từ nửa tiếng rồi. Theo lời “ông hoàng vàng” dặn thì đúng chín giờ, Bốp có nhiệm vụ đón một vị lão bá tước từ cỗ xe tứ mã bước xuống rồi đưa thẳng về phòng ngài Crip, sau đó trở lại cổng khách sạn để cùng với người xà ích canh phòng cỗ xe thật cẩn mật.

Bốp chú ý lắng tai nghe, đón chờ từng tiếng vó ngựa nhưng Lơn-đơn sáng nay, ở cái khu Lê-xe-xtơ này chỉ có tiếng lá rơi xào xạc, tiếng vó ngựa thỉnh thoảng cũng có đấy nhưng mà toàn loại xe song mã tầm thường.

Trên tầng cao khách sạn, lúc này Crip cũng đang đi đi lại lại trong phòng. Tập tiền đã gói sẵn đặt trong ngăn kéo. Nếu mua được tên thứ “gia vị” này thì Crip rút ngắn được rất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, đỡ phải mày mò đi xa. Nghe nói ở nước Nga có nhà luyện kim lỗi lạc P. P. A-nô-xốp đã đạt được những thí nghiệm thành công đầu tiên trong việc tìm ra điều bí ẩn nằm trong lưỡi gươm của bọn võ sĩ đạo Nhật Bản. Lưỡi gươm rất sắc, đúng là chém sắt như chém bùn. Bất cứ một hiệp sĩ nào thời nay cũng đều mơ ước có được một lưỡi gươm như thế.

Từ bao đời nay, trên đất nước Phù Tang, thứ thép quý đó đã được dùng để chế tạo các vũ khí trang bị cho các hiệp sĩ từ dòng họ này sang dòng họ khác. Thế mà tại nhiều nước trên thế giới, biết bao nhiêu nhà luyện kim đã tốn khá nhiều công sức mà vẫn không sao luyện ra được một loại thép như thế.

Sau A-nô-xốp, ở Anh tại thủ đô sắt thép Bớc-min-ham người ta đã tìm ra điều bí ẩn đó. Dĩ nhiên việc lọt được vào nước Nga băng tuyết xa xôi kia khó khăn hơn nhảy vào nước Anh nên Crip đã nán chờ Hin-đơn. Hắn nghe nói: thông thường độ cứng tăng lên thì tính dòn cũng tăng theo, nhưng nếu có thêm “gia vị” thích hợp thép sẽ nâng cao cả độ cứng và độ dẻo của kim loại.

Chính sự kết hợp độ cứng cao cùng với độ dẻo là vô cùng cần thiết đối với thép để bọc. Khá nhiều nước đang mơ ước trong quân sự có được những cỗ xe bọc thép dày để chống đạn, nhưng nếu vớ được loại thép cứng và dòn thì đạn vẫn có thể dễ dàng xuyên qua được. Nếu có được vỏ thép bọc ngoài kết hợp được độ cứng cao cùng với độ dẻo thì vỏ không cần dày, xe chạy được nhanh mà vẫn chống được đạn xuyên thủng. Crip nghe nói đâu: thứ “gia vị” [2] này kìm hãm sự lớn lên của hạt thép trong quá trình kết tinh cứng và chính vì thế làm cho thép có cấu tạo mịn hạt và đồng nhất đảm bảo cho kim loại có được phép màu nhiệm đó.

Theo Crip thì thứ thép lý tưởng này đâu chỉ có dùng làm vỏ bọc. Nòng đại bác và súng trường, một số chi tiết máy móc, nồi hơi, dụng cụ cắt và cả lưỡi dao cạo nữa, đều có thể làm từ thứ thép quý này ra.

Crip nghĩ đến đây thì có tiếng gõ cửa phía ngoài. Hắn sửa lại quần áo từ từ bước ra. Cánh cửa vừa hé mở, Bốp đã thò cái đầu vào nhăn nhó nói:

- Thưa ngài chủ kính mến, đã quá hẹn một giờ vẫn chưa thấy có vị khách quý của ngài. Nhưng lại có tin: một cỗ xe tứ mã đổ cách đây ba dặm, khách đi xe bị thương nặng, vào nhà thương, tỉnh lại, khách kêu mất một cái cặp tài liệu quý.

Crip nhíu lông mày lại:

- Gọi xe ngựa đưa ta đến nhà thương đó gấp.

“Chẳng lẽ công việc của mình lại bị lộ?”. Không! Hoàn toàn là ngẫu nhiên, sau khi đến nhà thương xem xét kỹ về cái chết của lão Hin-đơn, Crip đã kết luận như vậy. Nhưng không vì thế mà Crip lơ là việc giữ bí mật hành tung của mình.

Crip xem lại cuốn sổ tay, ghi tên khách đến thăm mình kể từ khi đặt chân tới Anh, hắn thấy: ngoài một số nhà quyền quý ra, hầu hết là các ông chủ trong giới công nghiệp, một giám đốc công ty than xuất khẩu ở thành phố Niu Cát-xơn thuộc khu Noóc-tưm-bớc-lan, một phó giám đốc Liên hiệp mỏ than thuộc khu xứ Gan ở thành phố Các-đíp. Con gái một chủ mỏ than vừa chết ở mỏ Mác-đi rồi một số chủ các nhà máy chế tạo da, tơ, len, đồ sứ, cao su ở vùng Mít-lan, một trung tâm than đá ở Anh, nhưng có lẽ tấp nập nhất là các vị khách ở thủ đô sắt thép Bớc-min-ham...

Vừa lúc này, một cái đầu thò vào, Crip vội quát:

- Ta đã dặn, phải xin phép mới được vào...

Bốp đỏ mặt đáp:

- Thưa ngài, con đã gõ cửa tới mấy lần, chắc ngài không nghe thấy, vả lại ngài có dặn con tìm hộ ngài địa chỉ một người thợ chuyên sản xuất dao cạo hiện đang làm việc ở xưởng luyện thép...

- À, à... Ta nhớ ra rồi! - Crip chuyển sang giọng nói ôn tồn - Thế đâu?

Bốp đáp:

- Xuôi dọc theo sông Thêm-dơ, rồi chạy men dưới chân dãy đồi Noóc-thơ Đao, có một làng nhỏ, trong làng có bác thợ rèn Hân-bơ rèn dao cạo nổi tiếng: lưỡi dao mỏng như lá lúa, xanh biếc ánh thép, một sợi tóc chạm phải đứt đôi. Những tay thợ cạo từ Lơn-đơn, Ô-xpho hoặc Kem-brít cũng phải mò về đây để mua dao cạo và quả quyết rằng: dao của Hân-bơ sắc không kém gì lưỡi gươm Đa-mát ở Xy-ri hoặc gươm võ sỹ đạo ở Nhật Bản. Các tay thợ rèn trong vùng đồn rằng Hân-bơ nắm được bí quyết gia truyền về luyện thép, chẳng hạn như những tảng quặng phải ngâm xuống dòng sông đủ một trăm ngày; phơi dưới ánh trăng cũng... một trăm ngày! Trước lúc luyện thép phải kiêng ăn thị mỡ, uống rượu!

Crip mỉm cười rút túi tờ năm mươi xtéc-linh ra đưa cho Bốp:

- Đây ta thưởng cho anh cái mồm khéo tán.

Bốp láu lỉnh nói:

- Như vậy là công của con ngài chưa tính đâu nhé!

- Được rồi! Ta đâu có phải là người keo kiệt, giờ Hân-bơ hẳn vẫn sống sung túc ở làng quê chứ?

- Đâu có vậy! Một lão chủ công ty thép ở Bớc-min-ham đã cho người về tán tỉnh Hân-bơ lên làm ăn ở thủ đô thép. Bên có của, bên có công, họ sẽ hùn nhau lập ra một công ty chuyên sản xuất lưỡi dao cạo gửi ra bán khắp thế giới. Cho tới khi moi hết bí mật của Hân-bơ rồi, lão chủ biến Hân-bơ thành một tay thợ cả và dĩ nhiên là lĩnh lương thợ. Hân-bơ cay lắm, uất ức phát ốm, rồi biết bao tai hoạ đến với tay thợ nhẹ dạ cả tin này. Hắn căm thù lão chủ nhưng đành bó tay...

- Ta rất muốn gặp Hân-bơ.

Bốp lần túi áo trong, hai tay đưa lên một mẩu giấy nhỏ cho Crip:

- Thưa ngài, đây là địa chỉ của Hân-bơ.

Crip mở ví đưa cho Bốp hai tờ giấy một trăm Xtéc-linh rồi bảo:

- Đây là tiền thưởng ban đầu.

- Xin cảm ơn ngài! - Bốp kính cẩn đỡ lấy hai tờ giấy bạc rồi mới vui vẻ nói - Vì ngài rất tốt với con, nên nhân đây con muốn thưa với ngài một chuyện.

- Cứ nói, nếu giúp được, ta sẽ cố...

- Dạ, thưa ngài, thế này ạ, tuần trước có một ngài giám đốc nhà máy... để con tìm tên ông ta.

Thấy Bốp loay hoay mãi, lộn trái cả hai túi áo ra vẫn không tìm thấy gì, Crip vội giục:

- Thôi cứ kể đi!

- Ông ta hứa sẽ thưởng tiền cho con nếu điều tra xem có phải cụ thân sinh ra ngài là một bá tước có cổ phần ở công ty gì bên Ấn Độ phải không ạ?

Crip cười:

- Rồi sao nữa?

Bốp khẽ gãi tai:

- Có người thì đoán chừng ngài có rất nhiều cổ phần ở một công ty thăm dò khai thác kim cương ở Nam Phi, có người cho biết ngài đứng đầu một công ty khai thác quặng sắt ở Li-bê-ri-a rồi các mỏ thiếc, măng-gan, mô-lip-đen ở tận nước Ca-mơ-run trên miền duyên hải vịnh Ghi-nê và cả Rô-đê-di nữa, đúng là ngài có mỏ vàng ở đấy rồi. Con nghe nói, muốn tìm vàng dân ở đó chỉ việc ra suối mà đãi.

Crip gật gù nói:

- Thôi được rồi! Cứ mặc cho họ muốn suy nghĩ gì về ta cũng được chỉ biết từ mai, ta sẽ đi vắng ít hôm, có ai hỏi thì nói là ta cùng nam tước Loóc Bớc-li đi săn tại lâu đài của nam tước ở thung lũng Rôn-đa nhé!

- Xin vâng ạ! - Bốp khẽ gãi tai - nhưng thưa ngài, con sẽ trả lời các ông các ông giám đốc đến hỏi con ra sao ạ?

Crip ngẩng lên:

- Thế họ có cho tiền anh không đã?

Bốp gật đầu đáp:

- Dạ có chứ ạ!

Crip cười hóm hỉnh đáp:

- Thế thì ta cho anh cái quyền: muốn kể về ta thế nào cũng được, dĩ nhiên không được phép làm ô uế thanh danh ta.

*

Có người cho rằng Hân-bơ nghiện rượu từ ngày vợ chết, để lại cho bác một gánh nặng gia đình: cô con gái Rô-da tội nghiệp, có nốt ruồi ở thái dương phải. Sự thật thì không phải như vậy, Hân-bơ bắt đầu uống rượu sau một tháng kể từ ngày đặt chân đến nhà máy và biết rằng làng quê mình giờ đây đã biến thành một đồng cỏ chăn cừu.

Hân-bơ uống nhiều hơn vào ngày vợ chết - từ ngày mà bác cảm thấy cái mộng làm giàu của mình đã bị tan vỡ, cái nắm xương tàn của mình sẽ vùi ở mảnh đất này. Nhưng khác với lũ bợm rượu, Hân-bơ càng uống vào càng tỉnh. Bác thấy thương vợ, thương con rồi thương đến chính bản thân mình. Nhà cao cửa rộng không thấy nhưng số phận bác rồi sẽ kết thúc bi thảm trong căn phòng tối tăm ảm đạm này.

Bác không muốn tục huyền, vì chẳng muốn kéo theo một người nữa đau khổ. Bác rất thương con gái và mong muốn sao cho con mình thoát khỏi cái địa ngục đen tối này, nhưng việc đó quả là vượt quá sức bác.

Với mớ tóc vàng óng, Rô-da lớn như thổi, đẹp lộng lẫy, nhưng phải cái nhẹ dạ, bác Hân-bơ đau khổ vì cái tính di truyền này.

Tuần lễ trước, nó đưa về một chàng trai, tuần lễ này lại là đứa khác: toàn cánh thợ đúc ở đây. Không phải bác ghét thợ thuyền - vì như vậy khác gì mình tự ghét mình mà là bác ghét cuộc sống khổ sở của người thợ nơi đây.

Tối nay ở quán rượu về, Hân-bơ vừa rờ rẫm châm được ngọn đèn thì thấy Rô-da dẫn về một anh chàng và giới thiệu luôn với bố:

- Bố ơi, anh Tô-mát, bạn con đến thăm bố, cũng là thợ...

- Thợ à? - Bác Hân-bơ nhìn Tô-mát trừng trừng.

Tô-mát khá điển trai, dáng dấp như một công tử con nhà quyền quý...

- Anh bảo anh là thợ?

- Dạ, thưa bác vâng ạ! - Tô-mát lễ phép hơi cúi đầu, một tay để vào ngực mình - Cháu là thợ rèn dao.

Hân-bơ trố mắt nhìn chàng trai.

- Thợ rèn dao à?

“Chú thỏ non kia đừng hòng lừa được lão cáo già này.” Hân-bơ đặt ra một vài câu hỏi về ánh lửa thép, về quặng, về than và phải chịu phục Tô-mát có tay nghề giỏi. Chỉ cần đôi mắt thôi - chứ không cần đến nhiệt kế - Tô-mát có thể ước đoán chính xác nhiệt độ trong lò và nước thép khi nào là được.

- Chắc anh không phải là người vùng này?

Thấy Hân-bơ nhìn mình từ đầu đến chân, Tô-mát khẽ mỉm cười đáp:

- Thưa bác, cháu ở vùng Đông Ăng-gli sát bờ Bắc Hải nơi trồng lúa mì, lúa mạch và củ cải đường ấy mà!

Hân-bơ vẫn nhìn trừng trừng người khách trẻ:

- Nói thật đi! Anh đến đây có việc gì?

Tô-mát lúng túng nói:

- Cháu quen Rô-da...

Hân-bơ đứng dậy vớ lấy áo khoác từ từ bước vào nhà trong miệng khẽ lẩm bẩm:

- Thôi, hai người trò chuyện với nhau nhé! Tôi phải nằm nghỉ mai đi làm sớm.

Sợ mình sơ suất, thiếu tế nhị, Tô-mát đứng dậy giữ Hân-bơ lại nhưng Rô-da đã can luôn:

- Cứ để bố em đi ngủ, bao giờ uống rượu về, bố em cũng lăn ngay ra giường.

Hân-bơ chỉ kịp cởi giày, rồi cứ thế để cả quần áo lăn ra nằm nhưng không ngủ, bác vẫn hướng ra ngoài xem hai đứa trẻ tâm sự những gì. Họ chỉ toàn nói những câu chuyện tình yêu, về những biệt thự an dưỡng ở thành phố Brai-tơn trên bờ biển Măng-sơ, với những bãi tắm tuyệt vời.

Câu chuyện đẹp tới mức, quá nửa đêm, Hân-bơ cũng bước vào một giấc mơ tuyệt vời: sáng hôm ấy - một buổi sáng mùa xuân ấm áp - Hân-bơ sống trong một ngôi nhà nhỏ có vườn hoa, ríu rít tiếng chim. Rồi có tiếng vó ngựa từ xa đưa tới: một cỗ xe tứ mã lộng lẫy, riềm lụa trắng muốt lượn bay trong gió, một hoàng tử bước xuống và - Hân-bơ quay lại phía sau: trời Rô-da, chính bác cũng không nhận ra con gái mình nữa, đúng là một công chúa kiều diễm trong bộ quần áo tuyệt đẹp y như cô Lọ Lem trong truyện cổ tích vậy.

Hoàng tử đến đón con đi - không rõ là hoàng tử xứ Gan hay con vua nước Pháp mà đón Rô-da đi đâu bác Hân-bơ cũng không cần biết nữa, miễn là con mình đã lấy được một hoàng tử và rời khỏi cái địa ngục trần gian Bớc-min-ham này...

... Tiếng vó ngựa! Có tiếng vó ngựa thực sự. Hân-bơ choàng tỉnh giấc. Trời đã sáng rõ, Hân-bơ hốt hoảng vớ vội lấy chiếc áo khoác, bác sờ đến túi áo. Trời! Cái con Rô-da chết tiệt này đoảng quá. Sáng nay nó lại quên sửa soạn cho bữa ăn trưa của mình. Muộn giờ quá! Không khéo nhà máy đã đóng cửa rồi. Hân-bơ vẫn hối hả bước đi.

- Chào bác! Cháu chào bác!

Hân-bơ nhìn ra: Tô-mát đã đứng trước mặt, tay xách nách mang đủ thứ: hai cái giỏ đầy ắp thức ăn nguội, những hộp bơ, pho mát, pa-tê, bánh mì, hoa quả, nhưng có lẽ hấp dẫn nhất là hai chai rượu cặp nách đúng loại Săm-pa-nhờ của Pháp.

Thấy Hân-bơ chỉ khẽ gật đầu đáp lại, Tô-mát vội nói luôn:

- Đằng nào cũng muộn bác ạ! Cháu đã bảo Rô-da đến nhà máy gặp ông đốc để bảo là bác bị ốm rồi.

Hân-bơ chìa hai bàn tay đầy chai sạn ra, càu nhàu:

- Liệu anh có biết, tôi chỉ trông mong vào đồng lương để sống?

- Cháu biết chứ! Thì cháu cũng là thợ mà. Cháu tính thế này cho bác nghe nhé! Mỗi ngày bác làm được năm mươi Xtéc-linh chứ gì! Cháu sẽ gửi bác tiền công mười ngày: năm trăm xtéc-linh để bác nghỉ ở nhà trò chuyện với cháu cho vui.

Nói rồi làm luôn, Tô-mát đếm đủ mười tờ năm chục xtéc-linh, dúi vào túi Hân-bơ. Cũng vừa lúc đó, Rô-da quay về, hình như Tô-mát đã dặn trước, cô xách lấy giỏ thức ăn, bày ra đầy bàn. Mọi người ngồi vào ăn. Nhìn các món ăn, Hân-bơ đã thấy ngon miệng: thú thật đây là lần đầu bác được nếm món Clớt-xtơ, dù đó là món pho mát sản phẩm nội địa, mà hương vị của nó đã gợi lên hình ảnh những đàn bò béo mập thủng thẳng gặm cỏ trên mảnh đất phù sa màu mỡ do hai dòng sông Sơ-vớc và Tơ-ren tạo nên.

Rô-da ăn xong và đi ra. Chỉ còn lại hai người. Chờ cho Hân-bơ uống cạn tới cốc rượu thứ sáu, Tô-mát mới khẽ nói:

- Con đảm bảo với bố: Chỉ mười năm sau, con sẽ là người nổi tiếng khắp thế giới, nơi nào cũng biết mặt con.

Hân-bơ đặt cốc rượu xuống hỏi:

- Chú mày định ra ứng cử chức thủ tướng nước Anh à?

- Không! Vẫn chỉ là một người thợ mà nổi tiếng: một người thợ sản xuất ra lưỡi dao cạo.

Mặc dầu Tô-mát đã nhấn mạnh vào mấy chữ: một người thợ sản xuất ra lưỡi dao cạo nhưng Hân-bơ đã gạt đi luôn:

- Ở cái xã hội này, một người thợ cạo không thể nào nổi tiếng được. Phải là một ông chủ hãng...

- Phải rồi! Một ông chủ hãng sản xuất lưỡi dao cạo Tô-mát.

Hân-bơ hất hàm hỏi:

- Làm cách nào mà chú trở thành chủ hãng được?

- Đơn giản thôi! Phải nắm được bí mật của loại thép chuyên dụng đó! Một cái lưỡi dao cạo, thật ra chỉ cần sắc ở hai bên mép lưỡi dao thôi! Lượng thép mỏng hơn tờ giấy là bao. Một lớp giấy dầu chống gỉ, có khi cái vỏ nhãn phía ngoài in ảnh con còn đắt hơn lưỡi dao. Đã gọi là đàn ông, ai chẳng phải cạo râu. Lưỡi dao thật sắc bán giá rẻ một chút người nào chẳng thích. Có được bí mật về loại thép dao cạo được rồi, con sẽ dọa tung tiền ra, lúc đó sẽ có vài nhà máy tình nguyện mời con về làm chủ hãng để chuyên sản xuất lưỡi dao cạo. Vốn của họ, cơ sở sản xuất của họ, nhưng chủ lại là con, vì con hơn họ một cái đầu.

Hân-bơ đặt cốc rượu xuống, hơi lùi người lại để ngắm cho kỹ chàng trai khôn ngoan này đã có nước cờ thật hay: dám đi ngược lại con đường mình đã đi qua.

- Bố biết con... - Bác Hân-bơ đã chuyển sang giọng nói thân mật, chân thực từ đáy lòng - có chí nhưng liệu có đảm bảo hơn hẳn thiên hạ một cái đầu không? Con nên nhớ những nhà luyện thép giỏi không phải chỉ riêng nước Anh mới có mà cả người Pháp, người Nga, người Đức cũng giỏi. Mấy bố con lão Crớp cũng không phải tay vừa đâu.

Tô-mát cũng thân mật nắm lấy tay Hân-bơ nói:

- Con biết rõ điều đó. Tự con không thể hơn thiên hạ được, mà con muốn mượn cái đầu của bố. Chính bố sẽ đem lại giàu sang và vinh quang cho chúng con...

Nói đến đây chàng trai khẽ đưa mắt tìm Rô-da nhưng không thấy. Còn Hân-bơ, bác thợ già cứ ngồi yên lặng người đi vì xúc động. Chưa bao giờ bác cảm thấy sung sướng như lúc này: một người thợ giỏi như bác cũng có người biết đến, cũng có phút vinh quang. Bác cảm thấy tự hào nếu trên đời này có những ông giám đốc, chủ hãng, công ty vốn xuất thân là những người thợ như chàng trai này. Bác giơ cốc rượu lên run run, dừng lại, bác chợt nhận ra tay áo mình đã sờn rách, ba chiếc khuy đã rơi đâu mất.

Sự nghèo đói: đó là tất cả những cái gì lão chủ nhà máy đã đem lại cho mình. Trao lại tất cả những bí mật về nghề nghiệp của mình và người khác cho Tô-mát, chính là cách trả thù lão chủ tốt nhất, anh hùng nhất, xứng đáng nhất.

Vừa lúc đó, Rô-da bước vào. Cô nhanh nhẹn vớ lấy chai rượu rót đầy cốc hai người.

Tô-mát chạm cốc rượu của mình vào cốc “bố vợ” tương lai. Cả hai cùng cạn cốc rồi giang tay ôm chầm lấy nhau. Đó là ngày 12 tháng 7 năm 1838, ngày mà ngôi nhà lớn ở thành phố thép Bớc-min-ham nước Anh đã bắt đầu xuất hiện một vết rạn mờ dưới móng - Các nhà tình báo sau này quy kết nguyên nhân đổ tại các nhà thăm dò địa chất công trình. Dĩ nhiên, các nhà thăm dò vẫn có thể đổ tại những chấn động địa cầu không thể lường trước được.

*

Đêm nay An-phrê Crớp tắt hết đèn trong phòng, khoá trái cửa lại, chỉ để một ngọn nến nhỏ leo lét trên giá cao. Hắn quỳ xuống, yên lặng không phải để cầu Chúa mà để tưởng nhớ đến cha mình với những lời di chúc thật đáng giá. Chuỗi ngày lặn lội ở Anh, An-phrê Crớp đã thấy rõ vai trò vô cùng quan trọng của các loại “gia vị”. Thép có được nhiều tính chất đặc biệt là tuỳ thuộc vào lượng các nguyên tố khác pha vào. Chẳng hạn thép có pha thêm Crôm (từ 25-30%) có thể chịu nổi nhiệt độ 1000 o C, pha thêm một lượng rất nhỏ Crôm thôi sẽ làm tăng thêm độ cứng và tính chống mòn cho thép. Rồi Ti-tan, Ni-ken, Vôn-phram, mô-lip-đen,... Có thứ “gia vị” phải chép vào sổ tay, có thứ phải ghi vào óc để đảm bảo bí mật, có thứ phải viết vào lần lót áo.

Khi An-phrê Crớp xách chiếc va-li nhỏ trở về khu Lê-xe-xtơ ở Lơn-đơn thì chú hầu phòng trung thành dường như đã chờ sẵn ở cửa khách sạn Xa-bơ-lon-ni-e tự bao giờ.

- Kính chào ngài Crip - Bốp vừa đỡ va-li cho chủ vừa vui vẻ nói - Đúng như ngài dặn: con đã thưa lại với các vị khách tới thăm là ngài đã cùng với nam tước Loóc Bớc-li về săn tại lâu đài riêng ở thung lũng Rôn-đa.

- Đúng thế! Săn chồn, cáo, săn hải ly này! Ôi! Tiếng kèn săn giữa rừng, tiếng vó ngựa, tiếng chó sủa, tiếng mồi săn nghe mới huyên náo làm sao!

Nhìn những tấm lông thú đặt trong va-li của ngài Crip, dĩ nhiên Bốp không sao biết được, trên lượt da thú có ghi chép bằng mực hoá học những công thức bí mật về luyện thép chuyên dụng mà mắt thường làm sao đọc được.

*

Ở thành phố Ét-xen nước Đức không ai còn lạ gì bà vợ ông giám đốc công ty Crớp là một người đàn bà thuộc loại đẹp, con nhà dòng dõi và người ta thường quen gọi là “Crớp phu nhân”.

Tuy không thạo lắm về công việc làm ăn của chồng, nhưng mụ ta cũng sớm hiểu rằng: sự ra đời những khẩu đại bác nòng thép của công ty này rồi đây sẽ đem lại giàu sang cho vợ chồng mụ. Hôm nọ, ở trường bắn, người ta đem bắn thử hàng nghìn phát đại bác mà nòng súng vẫn xanh ánh thép, không nứt, vỡ như các loại đại bác có nòng đúc bằng đồng đỏ hay gang trước đây. Tiếng súng đại bác có tiếng vang khá xa, vượt biển khơi, dội tới cả nước Anh - nơi từ xưa đến nay giới công nghiệp vẫn thường tự hào về thép Anh. Đó là câu chuyện năm ngoái: 1847. Sau đó có một vài nước - đáng ra đặt mua đại bác Anh - giờ đã chuyển sang đặt mua của công ty Crớp ở Đức.

Sang đến năm nay, mới đầu năm “Crớp phu nhân” đã nghe thấy chồng dặn đến cửa hàng bánh kẹo nổi tiếng Crai-đen đặt làm một khẩu đại bác “đúc” bằng... sô-cô-la to như thật đặt ở giữa phòng khách vào ngày 24 tháng 2 năm 1848 này. Mụ cố nhớ lại xem đó liệu có phải là kỷ niệm ngày sinh của vợ chồng mụ, con cái hay ông thị trưởng Ét-xen, nhưng rồi mụ chợt hiểu ra: đó là ngày chồng mụ chính thức trở thành chủ nhân duy nhất, đứng đầu một vương quốc - hãng thép Crớp.

Ngày đó, An-phrê Crớp đã thanh toán xong mọi nợ nần, gạt bỏ tất cả những người hùn vốn - kể cả họ hàng thân thích. Thợ thuyền làm việc trong vương quốc này phải tuyên thệ và tuân theo một quy chế chặt chẽ gồm tới mấy chục khoản để bảo vệ tất cả những bí mật của nhà máy. Một mạng lưới mật vụ giăng khắp nơi từ trong ra ngoài nhà máy.

Vốn là người đi “kiếm” được những bí mật kỹ thuật ở nước ngoài về nên An-phrê Crớp sớm biết đưa lên hàng đầu việc bảo vệ những bí mật trong nhà máy từ những số liệu, nguyên liệu, vật liệu đến phế thải...

Dù đã đứng đầu một vương quốc có tiếng tăm, An-phrê Crớp vẫn không bỏ qua thời cơ để “kiếm” những bản thiết kế về một cái máy làm thìa, dĩa của một khách hàng.

*

... Trời đã sang xuân, An-phrê Crớp ngồi trong một chiếc ghế bành bọc da, lưng hơi còng xuống. Lão bảo viên thư ký trợ lý giám đốc đưa đến tập hồ sơ lưu, rồi tự tay khẽ lật từng trang một, lấy kính lúp ra để đọc kỹ và lẩm bẩm:

- Phó vương Ai Cập đặt công ty này làm 36 cỗ đại bác. Thế là nước Anh mất một món hàng béo bở. Vua Phổ: 312 cỗ. Người Nga... này I-un-ke, sao hôm ấy họ chỉ đặt mua có một khẩu đại bác thôi nhỉ?

Viên thư ký ngẩng đầu lên đáp:

- Thưa ngài, họ chỉ mua một cỗ mẫu đem bắn thử đủ bốn nghìn phát, không thấy hư hỏng gì bèn cất vào viện bảo tàng.

An-phrê Crớp hất hàm hỏi lại:

- Liệu có chắc là sau đó, cỗ đại bác được cất vào viện bảo tàng không, hay họ lại nghiên cứu tìm hiểu chất thép đúc nòng súng?

I-un-ke đáp:

- Thưa ngài, điều đó quả thật tôi không rõ.

- Phải tìm cho ra, có thể họ muốn biết những “gia vị” pha trong đó.

Nghe chủ nói, viên thư ký cứ ngớ người ra, không hiểu đại bác được xếp vào loại món ăn nào mà lại có pha thêm “gia vị”.

- À! Cái năm ta được nhà vua Pháp tặng thưởng Bắc đẩu Bội tinh là năm nào nhỉ?

- Dạ, thưa ngài 1867 ạ! Dạo đó đức vua Na-pô-lê-ông III đặt công ty đúc một khẩu đại bác nặng năm mươi tấn, lớn nhất thế giới, trưng bày ở quảng trường diễu binh giữa thủ đô nước Pháp làm các nhà luyện thép nước Anh. Vì như vậy có khác gì vua Pháp “quảng cáo” hàng hộ ta.

- Ta hỏi thật nhé! - An-phrê Crớp vui vẻ thủ thỉ nói - Trong những chuyến đi công cán thay ta ra nước ngoài, ông có nhớ được một vài kỷ niệm gì không?

I-un-ke vỗ trán, nheo mắt lại nói:

- Dạ, có ạ! Vào năm 1851, trong một cuộc triển lãm lớn giữa thủ đô Lơn-đơn, chính khẩu đại bác của ta đặt ở lầu Pha-lê, lại là nơi hội tụ các nhà luyện thép nổi tiếng khắp nước Anh. Họ tham luận bàn bạc rất sôi nổi.

Phút đó tôi cảm thấy rất sung sướng thấy mình là người của công ty Crớp, chỉ hơi tiếc một điều - nếu không đã là một ngày vui trọn vẹn.

- Điều gì vậy? Ông cứ nói đi!

- Lúc ra về, đến cổng triển lãm tôi bắt gặp một cô gái điên rất đẹp, có mái tóc vàng óng, đặc biệt bên thái dương phải có một nốt ruồi. Cô ta cứ nghêu ngao hát, chắc là một khúc dân ca cổ của Anh thôi, đại ý lời ca thế này:

“Trách chàng sao khéo thờ ơ

Để em đau khổ, đợi chờ bấy nay

Bầu trời chim lướt cánh bay

Để em đau khổ bấy nay đợi chờ”

“Mái tóc vàng óng, nốt ruồi bên thái dương phải”, An-phrê Crớp nghĩ ngay tới Rô-da. Dù nay đã là một tên chủ giàu có với số vốn ước ba trăm triệu phrăng, với một viện bảo tàng tư nhân nổi tiếng khắp châu Âu về đồ cổ, đôi khi lão già An-phrê vẫn nhớ tới những Rô-da, Ma-ri-a, An-na, Li-đa... những mảnh tình rơi vãi suốt cuộc đời thời trai trẻ trên con đường đi tìm “gia vị” cho thép.

Bất giác An-phrê khẽ hỏi:

- Không hiểu Lơn-đơn giờ còn sương mù không nhỉ?

I-un-ke chân thật đáp:

- Thiếu sao được thứ súp đậu [3] đó, thưa ngài, Lơn-đơn lúc nào cũng mờ mờ ảo ảo, sương mù và mây khói đã quyện lấy nhau.

- Và tất cả đều bị xoá nhoà sau màn sương đó!

An-phrê Crớp nói tới đây thì lim dim mắt, ngả đầu ra phía sau như chập chờn bước vào một giấc ngủ.

« Lùi
Tiến »