Bí Mật Tàu Ngầm Ecsoplora

Lượt đọc: 71 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BÍ MẬT TÀU NGẦM ÉC-SƠ-PLÔ-RA

Trung tá hải quân Anh Mắc Hin-đớc-len nổi tiếng là một người mê tàu ngầm. Những ai đến thăm Mác Hin-đớc-len tại nhà riêng ở số 3 phố Quận công Bớc-min-ham đều phải công nhận viên sĩ quan hải quân này từ bao năm nay đã thành lập được một “viện bảo tàng tàu ngầm” khá phong phú. Trước hết là mô hình tàu ngầm đầu tiên trên thế giới của nhà bác học Hà-lan Văng Đơ-rép-ben đóng xong từ năm 1620. Tàu đóng bằng gỗ, ngoài bọc da tẩm dầu để nước khỏi thấm vào trong. Muốn lặn thì mở cho nước tràn đầy mấy cái bao da ở tàu. Ngược lại muốn nổi lên, người ta bơm tống nước ở bao da ra ngoài.

Theo lời Mắc Hin-đớc-len thì đích thân ông trong một chuyến đi biển đã từng được quan sát kỹ chiếc tàu ngầm đầu tiên trên thế giới này hiện còn để ở Viện bảo tảng hàng hải Hà-lan tại thủ đô Am-xtéc-đam. Thời đó tàu ngầm làm gì đã được đặt động cơ mà nó mới chỉ được lắp mười hai mái chèo cho mười hai thủy thủ bơi tay. Cộng thêm tám hành khách nữa là tàu có thể chở được hai mươi người. Tàu có thể lặn sâu xuống nước độ bốn, năm mét và lặn lâu được vài ba giờ.

Ngay khi ra đời, “chiếc tàu lặn” này đã gây tiếng vang trong dư luận Hà-lan và các nước ở Âu châu. Người thì đồn là tàu có thì lặn sâu xuống biển và bơi nhẹ nhàng như cá. Kẻ thì phao tin là tàu có thể “xuất quỷ, nhập thần” tung hoành trên mặt biển. Tin đồn tới tai vua Giắc-cơ I. Anh hoàng bèn cùng với một số tùy tùng sang Hà-lan để dự ngày hạ thủy đầu tiên chiếc tàu lặn này. Được nom thấy tận mắt thứ “tàu tiêu khiển” này. Giắc-cơ I tỏ ra rất thú vị. Trong số những quan khách tới dự ngày hôm đó, một số sĩ quan hải quân và một số nhà quân sự khác thì lại tìm thấy ở loại “tàu tiêu khiển” này một tầm quan trọng đặc biệt trong tương lai. Với tài “ xuất quỷ nhập thần” này, nếu tàu lặn được trang bị tương đối tốt, nó có thể dễ dàng bất ngờ tấn công vào đủ các tàu đi trên mặt biển, xong rồi... lặn xuống biển trốn thoát. Và nếu như loại tàu lặn này có chở một số thủy thủ bơi lặn giỏi thì họ có thể dễ dàng bắt cóc những nhân vật quan trọng đi trên tàu biển hoặc có thể dùng bom đánh đắm tàu đối phương. Ngoài ra tàu lặn còn có thể chở được vàng bạc châu báu hoặc đồ vật hàng hóa quý giá mà bọn cướp biển chịu không hoành hành được. Ấy là không kể, gặp thời tiết xấu như bão táp, trong khi các tàu biển khác bị sóng gió đánh đắm thì loại tàu lặn vẫn có thể ung dung ngụp sâu xuống biển, đi lại được an toàn. Lúc đó, nhìn chiếc tàu lặn nhỏ xíu, gọn gàng, các nhà quân sự đã nghĩ ngay tới nhiệm vụ trinh sát của nó.

Giờ đây có ai đến thăm Mắc Hin-đớc-len hẳn sẽ vô cùng thú vị khi được nom thấy mô hình chiếc tàu ngầm khá ngô nghê cổ lỗ của Văng Đơ-rép-ben đặt trong tủ kính.

Mô hình chiếc tàu ngầm thứ hai là của nhà phát minh Nga Ê-phim Nhi-cô-nốp mang tên “tàu thủy bí mật” ra đời năm 1721 dưới thời Nga hoàng Pi-e đệ nhất...

Song, có lẽ điều Mác Hin-đớc-len tự hào nhất là ông đã từng tấn công và đánh đắm chiếc chủ lực hạm Tiếc-pit-đơ của Đức trong đại chiến thế giới lần thứ hai:

- Người ta ví vịnh An-đen Phoóc ở phía Bắc Na-uy như một cái bao tay. Dãy núi cao dựng đứng bao quanh lấy An-đen Phoóc như một chiến lũy thiên nhiên tạo cho vịnh này trở thành một quân cảng khá tốt. Ngay từ khi phát xít Đức chiếm đóng Na-uy, chúng bèn tức tốc điều chủ lực hạm Tiếc-pít-dơ vào vịnh An-đen Phoóc biến nó thành một pháo đài nổi khổng lồ chuyên đi cướp bóc những tàu chở hàng của phe đồng minh. Vịnh này được bảo vệ khá cẩn mật. Ngay đến máy bay cũng khó tấn công bất ngờ vào tuần dương hạm và hạm tàu khác đậu trong vịnh vì có sẵn hàng dãy núi cao bao quanh. Cửa ngõ vào vịnh, ngoài chướng ngại vật bố trí ngầm dưới nước còn có cả một mạng lưới phòng ngầm. Khi tuần dương hạm về đậu tại quân cảng này thì hàng đoàn khu trục hạm thường xuyên tuần tiễu xung quanh sẵn sàng nhả đạn vào bất cứ một chiếc tàu lạ nào dám bén mảng lại gần. Ấy là chưa kể bản thân chủ lực hạm này cũng có lưới bảo vệ. Hồi đó tôi còn là một trung úy chỉ huy một chiếc tàu ngầm. Trong tàu còn có hai thiếu úy và một thủy thủ. Cả đội tàu ngầm chúng tôi được bí mật đưa tới một vùng biển có địa hình tương tự như vịnh An-đen Phoóc đề tập cách đánh chiếc Tiếc-pít-dơ trong hai năm liền ròng rã, loại tàu ngầm tí hon chúng tôi dùng hồi đó chỉ rộng có hai mét, dài mười ba mét. Loại này chỉ có thể hoạt động được ở vùng biển tương đối nông. Vì máy chạy bằng điện ắc-quy nên năng lượng dự trữ rất ít. Vì vậy chúng tôi phải nhờ tới loại tàu ngầm lớn kéo đi. Đêm hôm đó, thời tiết xấu, bầu trời đen kịt như chực đổ mưa. Chúng tôi lên dường. Nói cho đúng hơn thì một đội tàu ngầm lớn bí mật kéo đội tàu ngầm tí hon chúng tôi đi khá lặng lẽ. Chỉ còn cách vịnh An-đen Phoóc độ bốn mười lăm hải lý thì đội “tàu ngầm mẹ” thả chúng tôi ra rồi quay về. Lúc đó chúng tôi mới cho mở máy tiến dần vào vịnh. Bọn Đức bảo vệ quân cảng này khá chu đáo. Tàu chúng tôi chạy chỗ nào cũng vướng phải chướng ngại vật. Nhìn những cái cọc chống tàu ngầm đã khiếp, nhưng nếu sơ ý đụng phải lưới chống ngầm lại càng nguy hiểm hơn. Đó là những sợi dây cáp bện khá to, lại đan thành những mắt lưới vuông mỗi bó dài khoảng gần bốn mét. Lưới móc vào phao nổi có sẵn thiết bị đặc biệt và có neo bắt chặt lấy. Lưới bố trí dày đặc đến nỗi có một số tàu ngầm khác không thể nào vượt qua nổi. Ngay đến chiếc tàu ngầm của tôi cũng suýt đâm phải lưới chống ngầm.

Các bạn thử tưởng tượng xem - Mắc giơ tay ra hiệu cho mọi người chú ý - Nếu sơ ý đâm vào lưới ấy à, các phao sẽ chìm xuống rồi lại bật nổi lên ngay và phát sáng rực cả một vùng biển. Hàng chục chiếc khu trục hạm tuần tra cạnh đó sẵn sàng nổ súng hoặc phóng ngư lôi về phía có tàu ngầm và tiêu diệt ngay tức khắc.

Ngoài loại lưới tín hiệu phát sáng kể trên còn có một loại lưới nổ rất nguy hiểm. Đó là những viên đạn nổ loại lớn mắc vào lưới, chỉ cần tàu ngầm đụng phải là đạn nổ liền tiêu diệt tàu ngầm không cần phải nhờ tới loại khu trục hạm hay tuần dương hạm khác.

Cuối cùng chỉ còn có tàu ngầm tí hon của tôi và của trung úy Kiếc-xơ là vượt qua được chặng đường hiểm nguy này, tiến lại gần được chiếc Tiếc-pít-dơ. Qua kính tiềm vọng, tôi nhìn rõ chiếc chủ lực hạm đồ sộ này dễ có lượng giãn nước tới 45.000 tấn. Đúng như bọn Đức thường tuyên truyền huênh hoang trên, báo chí và đài phát thanh của chúng. Hẳn bọn Đức chủ quan tin vào quân cảng của chúng là bất khả xâm phạm, nên bọn sĩ quan và thủy thủ trên tàu vẫn nhởn nhơ: đứa uống rượu, đứa ca hát om sòm, tiếng cười đùa, la hét vang cả mặt biển.

Biết trung úy Kiếc-xơ cũng vừa cho tàu nổi lên, tôi hướng thẳng tàu vào tuần dương hạm và cứ thế tới tấp phóng ngư tôi. Tàu ngầm của Kiếc-xơ cũng phối hợp nhịp nhàng như vậy. Chỉ có hai chiếc mà chúng tôi dám quây lấy “pháo đài nổi” này phóng ngư lôi loạn xạ tưởng chừng như nó đang bị một đoàn tàu khá đông bao vây vậy. Bị tấn công bất ngờ, lúc đầu bọn Đức tỏ ra rất hoang mang, nhưng sau trấn tĩnh lại, đoán chừng số tàu đối phương tấn công không đông lắm, chúng bèn cho nổ tất cả các loại súng trên tàu. Lưới lửa dày đặc đến nỗi các sĩ quan và thủy thủy trên hai chiếc tàu ngầm cảm thấy không thể nào chịu nổi đòn trừng phạt sấm sét này. Biết chắc không thể trốn thoát được, họ bàn nên tự đánh đắm tàu và ra hàng. Riêng tôi, còn giữ danh dự của hải quân Anh nên sau khi tàu tự đánh đắm, tôi cố bơi lọt được vào bờ trốn lên núi. Sau đó tôi được thăng cấp từ trung úy vọt lên thiếu tá không phải qua cấp đại úy.

Với giọng nói say sưa, thiếu tá thuyền trường Mắc thường kể lại chiến công đó cho các thủy thủ trên khu trục hạm nghe như vậy.

Từ ngày được thăng lên trung tá, điều về làm việc tại bộ tham mưu hải quân Anh, Mắc không hết lời đề cao các loại tàu ngầm: Bất cứ nước nào muốn làm chủ trên mặt biển nếu chỉ trông chờ vào hạm tàu trên mặt nước thì không được, phải có tàu ngầm.

Mắc cũng không hề giấu giếm gì việc tàu ngầm Đức trong đại chiến thế giới lần thứ nhất đã đánh đắm tới sáu ngàn tàu buôn của đồng minh, cắt đứt đường tiếp tế, bao vây chặt chẽ và đẩy nước Anh vào một tình trạng thiếu nguyên liệu chiến lược và lương thực hết sức trầm trọng. Trong đại chiến thế giới lần thứ hai sự kiện đau xót này lại lặp lại một lần nữa, mãi tới năm 1943 nhờ Hồng quân Liên xô đánh mạnh ở phía đông, gây thiệt hại khá lớn cho quân Đức, trong đó có tàu ngầm, nên nước Anh mới thoát khỏi cảnh bị phong tỏa nghiêm ngặt.

Cũng trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong số 4.770 tàu chở hàng của Mỹ, Anh và một số nước trung lập khác bị đánh đắm thì già nửa là do chiến công của tàu ngầm Đức.

Trong khi Mắc nêu chiến công lẫy lừng của một chiếc tàu ngầm Xô-viết thuộc hạm đội Ban-tích ngày 30 tháng 1 năm 1945 đã dùng thủy lôi nhấn chìm chiếc tàu Vin-hem Gút-xtáp của Đức xuống biển mang theo 8.700 sĩ quan và lính phát xít trong đó có 3.700 tên khá thành thạo về tàu ngầm đủ sức sử dụng ngay, chín mươi chiếc, Mắc cũng không quên nhắc đến loại tàu ngầm “bỏ túi “ của Đức trong đó có biên đội “Chó biển” đã từng tung hoành dọc ngang ở Bắc Hải, đánh đắm hàng chục chiếc tàu khác.

Có lẽ vì quá say sưa và đánh giá cao về tàu ngầm nên một số bạn bè quen biết ở bộ tham mưu hải quân Anh thường gọi Mắc Hin-đớc-len bằng biệt hiệu “trung tá tàu ngầm”.

Không hiểu vì có chủ bụng sẵn hay không nhưng trong nhiều dịp, Mắc Hin-đớc-len thường đưa con trai đầu lòng của mình xuống thăm các loại tàu ngầm. Và chỉ ít lâu sau Giôn Hin-đớc-len cũng trở nên say mê tàu ngầm như bố. Ngay khi còn học ở trường đại học, Giôn Hin-đớc-len thường trao đổi với bố về một nhận xét mà theo Mắc, nhận xét này khá tinh tế và có tính chất khái quát:

- Trong chiến đấu trên mặt biển, sở dĩ số tàu ngầm bị tiêu diệt nhiều vì ba lý do: trước hết tàu ngầm không thể lặn nhanh được sau khi phóng ngư lôi. Lý do thứ hai là tàu ngầm thường vẫn phải nổi lên mặt nước mới có thể nạp điện cho ắc-quy được. Thứ ba là khi lặn, tàu ngầm “chạy” khá chậm, do đó dễ bị đối phương phát hiện và tiêu diệt dễ dàng.

- Nhận xét của con rất phù hợp với ý nghĩ của ba... Viên trung tá Anh hỏi con - nhưng để rồi con sẽ đi đến kết luận gì?

- Con sẽ đi sâu nghiên cứu để giải quyết vấn đề nâng cao tốc độ và tăng cự ly lặn của tàu ngầm - Giôn Hin-đớc-len nói-Như vậy sẽ có hai hướng thường được các công trình sư rất chú ý: một là hoàn thiện hình dáng vỏ tàu, hai là tăng công suất của động cơ điện và dung lượng của ắc-quy. Con sẽ đi vào hướng thứ hai.

- Rất tốt! - Mắc nắm chặt tay con nói - Con đúng là con yêu của ba. Cùng một chí hướng với ba.

Kỹ sư Giôn Hin-đớc-len chăm chú nhìn sơ đồ ống sơ-noóc-ken. Này đây là ống dẫn không khí trong sạch, đây là nắp đậy, đây là đầu ống có nắp hơi, ăng-ten, phao bơi, đây là “lưỡi trai” để đưa ống thoát hơi ra ngoài, đây là nắp hơi.

Hình như càng nghiên cứu kỹ sơ đồ loại ống hơi đặc biệt này, Giôn Hin-đớc-len càng thấy phục nhà phát minh Nga N.A.Gu-dim, thuyền trưởng tàu ngầm A-cu-la. Chỉ tiếc ông ta chết sớm trong một tai nạn tàu ngầm từ năm 1915, chứ nếu không thì hẳn Gu-dim còn có thể có những sáng chế đặc biệt nữa.

Trước đây, tàu ngầm Đức hễ chạy được một thời gian lại phải nổi lên mặt nước để nạp điện cho ắc-quy nên thường bị ra-đa trên máy bay phát hiện và bị đánh đắm. Nhưng kể từ ngày được trang bị loại ống thông hơi đặc biệt “sơ-noóc-ken” này rồi thì tàu ngầm Đức đã có thể nạp điện cho ắc-quy không phải nổi lên mặt nước nữa, do đó thời gian tàu bơi ngầm tăng lên khá nhiều.

Được trang bị “sơ-noóc-ken” rõ ràng tàu ngầm đã tiến được một bước nhưng theo Giôn thì về cơ bản “sơ-noóc-ken” vẫn chưa giải quyết được vấn đề hợp nhất động cơ của tàu ngầm. Dù sao tàu vẫn dùng những bộ ắc-quy cồng kềnh, lặn ở độ sâu lớn, tàu vẫn phải dùng động cơ điện để chạy. Thêm vào đó, “sơ-noóc-ken” cũng có làm ảnh hưởng đến tốc độ của tàu. Ấy là không kể khi tàu chạy, ống “sơ-noóc-ken” để lại trên mặt biển những vệt nước, khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”, báo tin cho tàu đối phương biết mình đang ở đây.

Giôn đã từng nghiên cứu tỉ mỉ từ loại tàu ngầm đóng từ năm 1863 chạy bằng máy không khí nén, chuyển sang loại tàu 1880 dùng máy chạy xăng.

Năm 1906, nhà máy kim khí Pê-téc-bua, theo đồ án của nhà bác học Nga, Đư-gie-vi-ét-xky đã đóng xong chiếc tàu ngầm thí nghiệm Pốt-tơ-rơ-tô-vưi. Tàu có đặt hai động cơ ét-xăng lắp trên cùng một trục chân vịt dùng để chạy khi nổi cũng như khi lặn. Dĩ nhiên máy chạy xăng có nhiều ưu điểm hơn máy hơi nước như hiệu suất cao, trọng lượng nhẹ và có thể mở máy nhanh hơn nhưng loại máy chạy xăng này cũng lộ rõ khá nhiều nhược điểm. Trước hết là tàu thường vẫn phải nổi lên để lấy không khí vì có không khí thì máy chạy xăng mới có thể trộn với hơi xăng để biến thành một hỗn hợp nổ. Tàu ngầm thường nhỏ, lượng không khí dự trữ chẳng nhiều nhặn gì. Trong lúc máy chạy lại xả hơi các-bon-níc, đầu độc bầu không khí trong tàu. Ấy là không kể công suất của máy bị hạn chế và hơi xăng dễ bắt lửa, bốc cháy, nổ gây tai nạn trong tàu.

Chỉ riêng việc tàu ngầm phải nổi lên luôn cũng đã là điều nguy hiểm vì nó dễ biến thành mục tiêu của đối phương. Đó là chưa kể tàu ngầm dùng loại động cơ xăng khi chạy sẽ thải khói đen phun ra biển, để lại những vết dầu loang trên mặt nước nên tàu dễ bị lộ, đối phương dễ dàng phát hiện thấy... Đơ-gie-vi-ét-xky cho đặt máy điện năm 1884. Thật ra thì loại máy điện này do nhà bác học Nga B.S.I-a-cô-bi phát minh ra từ năm 1838, ông đặt trên tàu thủy cho chạy thử trên sông Nê-va ở Pê-téc-bua nhưng vì nó cồng kềnh, năng lượng lại quá ít, chỉ đủ chạy trong vài giờ, công suất quá bé so với máy hơi nước. Nhưng cải tiến dần, sau này động cơ điện cũng có thể đạt tới năm nghìn mã lực. Khi dùng để quay chân vịt, máy điện đóng vai trò của động cơ điện nhưng khi dùng để sinh ra điện thì nó lại trở thành máy phát điện. Mà trên tàu ngầm thì hầu như máy móc, khí tài nào cũng dùng đến điện cả: từ máy vô tuyến điện, ra-đa trong đó có cả loại ra-đa thám thủy tới điện thoại, loa phóng thanh, các loại đèn, quạt máy, máy thông gió... nhất nhất đều cần đến điện. Nhưng khi tàu ngầm nổi lên mặt nước, máy điện sẽ biến thành máy phát điện để nạp điện cho ắc-quy và khi tàu lặn xuống lại đến lượt ắc-quy cung cấp điện cho các loại máy móc, động cơ, khí tài, thiết bị... trên tàu.

Giôn Hin-đớc-len gần như nằm bò trên bản thiết kế một loại động cơ hợp nhất dùng cho tàu ngầm. Anh đánh dấu chỉ vào một số chi tiết máy rồi ngồi thẳng người lên quan sát kỹ. Đó chẳng qua cùng chỉ là máy đi-ê-den Giôn nhớ lại trước đây khi kỹ sư Đức Ru-đôn-phơ Đi-ê-den phát minh ra loại máy đi-ê-den chạy bằng dầu ma-dút thì người ta đã nghĩ ngay tới việc cho tàu ngầm chạy bằng loại động cơ này. Cũng năm 1906, chiếc tàu ngầm đầu tiên trên thế giới chạy bằng động cơ đi-ê-den của Nga ra đời tại xưởng Ban-tích. Chiếc Mi-nô-ga này dài tới hơn ba chục mét, đặc biệt có két nước đặt ở phần cuối làm cho tàu lặn được sâu nhưng thiếu sót của nó là cả máy điện công suất 70 mã lực lẫn máy đi-ê-den công suất 120 mã lực đều quay một trục chân vịt.

Sau đó năm năm, chiếc A-cu-la của Bút-nốp ra đời nhờ đặt ba máy đi-ê-den và một máy điện mà tàu có thể chạy xa một nghìn hải lý và hoạt động một mình được hai tuần lễ liền.

Dùng dầu ma-dút để chạy máy đi-ê-den trên tàu ngầm rõ ràng là rẻ tiền, lại an toàn nhưng phải cái chỉ dùng được khi tàu chạy trên mặt nước, khi lặn tàu phải dùng động cơ điện.

Nhưng ở loại động cơ hợp nhất này thì máy đi-ê-den lại dùng một loại chất đốt đặc biệt vô cùng dồi dào lấy từ nước biển để chạy máy khi lặn. Chỉ khi tàu ngầm nổi lên một nước, “máy điện tích” mới có thể phân tích nước biển để rút lấy ô-xy và hy-đrô chứa các loại két riêng biệt khi nào tàu lặn xuống nước mới cho chạy vào động cơ. Lúc ấy hy-đrô sẽ cháy trong ô-xy, sinh ra hơi nước làm quay chân vịt.

Dùng loại động cơ này vẫn có khuyết điểm là mỗi khi lấy “chất đốt” tàu vẫn cứ phải nổi lên mặt nước. Như vậy vẫn cứ dễ dàng bị tàu đối phương phát hiện và tiêu diệt.

Vậy nên giải quyết vấn đề động cơ như thế nào đây?

Đã nhiều lần Giôn mơ ước nước Anh có được loại tàu ngầm đạt được tới tốc độ 60 hải lý/giờ, nó có thể đi một vòng trái đất liền một mạch, không phải dừng lại nơi nào để lấy chất đốt. Muốn cho tàu lặn lâu và sâu, ngoài vỏ cần bền chắc ắt phải có đủ không khí cho thủy thủ trên tàu: tốt nhất là dùng một phương pháp hóa học nào đó để “rút” lấy ô-xy từ ngay trong nước biển. Tất cả máy móc trên tàu, ngay cả động cơ chính cũng phải gọn nhẹ, dành đủ chỗ cho thủy thủ sống thoải mái; người thủy thủ mới có thể chịu được những chuyến đi vòng quanh thế giới, không phải đổ bộ lên đất liền.

Khói thuốc lá vẫn bốc lên từ cái gạt tàn. Giôn nhấp một hớp cà phê rồi ra bàn làm việc.

Vừa lúc đó có tiếng chuông điện thoại. Nghe tiếng chuông réo giật từng hồi. Giôn biết ngay hẳn có việc cần kíp. Anh vội đặt bút xuống bước lại gần máy nói, cầm lấy ống nghe.

- Có phải Giôn đấy không?

Nghe tiếng nói quen thuộc, Giôn đã nhận ra ngay.

- Ba đấy ả?

- Đúng ! - Tiếng Mác Hin-đớc-len vang lên trong ống nói - Ba vừa nhận được tin cấp báo bọn Đức vừa cho đánh đắm toàn hộ một loại tàu ngầm mới chế tạo xong chưa kịp dùng. Theo tin đầu cho biết thì đây là những phát minh mới nhất của một nhà bác học Đức. Trước sức tấn công như vũ bão của Hồng quân Liên Xô, bọn phát xít không muốn để rơi những phát minh này vào tay đồng minh. Vậy con có thể thu xếp đi ngay cùng với một số chuyên viên quân sự, công trình sư hiện đã có mặt ở đây.

- Con sẽ thu xếp đi ngay... - Giôn, nên nhớ rằng: không cứ gì riêng nước Anh, mà tất cả các nước Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha... đều cố gắng tranh thủ để tận dụng toàn bộ kinh nghiệm đóng tàu ngầm của Đức, nhất là loại “tàu ngầm bỏ túi”.

- Vâng! Con sẽ đi ngay!

Có lẽ bọn phát xít Đức đã dùng một loại chất nổ mạnh để phá hoại số tàu ngầm mới này nên khi Giôn Hin-đớc-len và đoàn chuyên viên quân sự Anh tới bờ biển thì một số thợ lặn vừa ở dưới nước lên cho biết hoàn toàn không còn một chiếc tàu ngầm nào còn nguyên vẹn cả.

Ngay từ lúc đầu tới đây, nhìn mảnh vỡ tàu và một số di tích đồ vật khác nổi lềnh bềnh trên mặt nước, Mac Hin-đớc-len đã nhận ra ngay đó là, những mảnh tàu ngầm bị phá hoại.

Trung tá Mắc nói với số thợ lặn đứng gần đó:

- Các anh cho thu nhặt tất cả những di tích gì còn lại ở đám tàu này, từ mảnh vỏ tàu, vách ngăn, sườn tàu, nếu lấy được cái gì còn nguyên vẹn thì càng tốt.

Hình như càng nhìn những mảnh đồ vật trôi lềnh bềnh trên mặt biển, kỹ sư Giôn càng thấy chúng trở nên hấp dẫn. Nhất định phải có phát minh gì mới mẻ đây, nên bọn Đức mới dám làm như vậy. Trước khi hành động, hẳn chúng đã thừa biết bản thông cáo của quân đội đồng minh đe dọa sẽ nghiêm trị bọn phá hoại, nhất là phá hủy vũ khí và phương tiện chiến tranh.

Cầm hai mảnh vỏ tàu trong tay, Giôn biết ngay đây là một loại tàu ngầm hiện đại có hai vỏ. Những lá thép hàn điện bao lấy khung tàu tạo thành lớp vỏ trong dày khoảng từ mười đến hai mươi mi-li-mét. Có như vậy mới chống đỡ nổi với sức ép của nước biển. Người ta đã tính ra trung bình hễ tàu lặn sâu xuống mười mét thì mỗi một xăng-ti-mét vuông vỏ tàu phải chịu thêm sức ép một ki-lô-gam. Chính nhờ vỏ trong bằng thép tốt này mà tăng cường được cho thân tàu thêm vững chắc.

Một kỹ sư ngồi cạnh Giôn vừa đo chiều dày vừa nói:

- So với mũi và đuôi tàu thì vỏ ở giữa tàu có dày hơn.

Căn cứ vào những mảnh vỏ trong tàu của nhiều chiếc ghép lại, một kỹ sư khác đã có thể vẽ nên đúng hình vỏ trong của tàu. Đó là một điếu xì gà khổng lồ, phía giữa to và tròn, hai đầu thon dần lại. Lòng tàu dài tới tám mươi mét, rộng tám mét.

- Vỏ trong là lớp vỏ kín nước hoàn toàn - Viên kỹ sư ngồi cạnh Giôn vẫn tiếp tục đo mảnh vỏ ngoài và thông báo - So với lớp vỏ trong; những lá thép tạo nên vỏ ngoài mỏng hơn.

Chừng như để chứng tỏ mình cũng không đến nỗi kém cỏi lắm về chuyên môn, người thư ký nói chen vào.

Công dụng chủ yếu của vỏ ngoài chẳng qua là để chứa nước làm tăng trọng lượng cho tàu khi lặn xuống mà thôi. So với vỏ trong, vỏ ngoài mỏng hơn kể cũng dễ hiểu vì nó không phải chịu sức ép của nước lớn như vỏ trong.

Tàu ngầm dùng loại vỏ kép thế này nhất định sẽ ổn định hơn, dễ điều khiển, cơ động. Mà dù vô ngoài có mỏng đấy nó vẫn có thể bảo vệ phần nào được cho vỏ trong khỏi bị trúng đạn, mảnh bom hoặc ngư lôi.

Nhận ra một cái nắp rất chắc nước không thấm vào trong, đậy lên một chỗ hình tròn làm cửa lên xuống cho thủy thủ khi tàu nổi, viên kỹ sư này còn tìm ra khoang đặc biệt để thủy thủ trốn ra ngoài khi gặp tai nạn bất thường.

Dần dần tất cả bẩy khoang trong tàu đều được dựng xong. Căn cứ vào bản vẽ từng khoang, Giôn dễ dàng nhận ra khoang thứ nhất có chứa máy phóng ngư lôi và một số ngư lôi. Khoang thứ hai có hai tầng: buồng sĩ quan nằm trên, phía dưới là buồng ắc-quy. Khoang thứ ba là đài chỉ huy trung ương để chỉ huy, tàu xem ra cũng không có gì đặc sắc cả nghĩa là cùng tập trung hầu hết các khí tài, máy móc điều khiển và chỉ huy chiến đấu. Khoang cuối cùng là khoang ngư lôi cũng vậy, ngoài máy phóng ngư lôi và một số ngư lôi dự trữ ra, còn có buồng sử dụng vòng lái dự bị lái hướng tàu bằng tay.

Hầu như chiếc tàu ngầm nào cũng bị phá ở khoang thứ năm và khoang thứ sáu. Hai khoang này thông thường chỉ có thể là nơi đặt máy đi-ê-den và máy điện.

- Có lẽ tất cả những bí mật ở loại tàu ngầm này là nằm ở đây - Giôn nói với mọi người - không bao giờ mà ngẫu nhiên, bọn Đức lại cho đặt chất nổ vào đây. Do đó chúng ta phải tập trung vào chỗ này cố tìm cho ra bất cứ một dấu vết gì có thể giúp ta mở ra được tấm màn bí mật.

Viên kỹ sư ngồi ở góc bên phải nói:

- Biết đâu điều bí mật đó lại không nằm ở ngay đài chỉ huy: chẳng hạn như bọn Đức mới phát minh ra được một loại kính tiềm vọng thật đặc biệt nào đó, hoặc bộ máy đo độ sâu hay có thể là một loại vũ khí bí mật nào đó trang bị cho tàu ngầm.

- Tôi tin không phải như vậy! - Giôn lắc đầu nói - Vì nếu đúng thế, chúng chỉ việc tháo ra dễ dàng, quăng xuống biển là xong. Nhưng dù sao thì vẫn cứ phải kiểm tra lại toàn bộ những chỗ nghi ngờ.

Sau đó, Giôn lên xe ô-tô ra bờ biển. Gặp đội trưởng đội thợ lặn, Giôn nói luôn:

- Nhờ các anh chú ý cho khoang thứ năm và khoang thứ sáu.

Người đội trưởng đáp:

- Chúng tôi đã chú ý tới tất cả các khoang.

Giôn vẫn mềm dẻo nói:

- Thế là tốt rồi nhưng dù sao đối với hai khoang này cũng nên để ý hơn cho một chút.

Người đội trưởng nói:

- Cái khó đối với chúng tôi là loại tàu ngầm mới này mới nguyên, không ở tình trạng đang sử dụng, do đó suy xét khó, chúng tôi hễ cứ vớ được bất cứ cái gì đều chuyển lên luôn.

- Được! Như thế là rất tốt. Tôi sẵn sàng ngồi chờ ở đây.

Nghe Giôn nói vậy, người đội trưởng bèn ra hiệu cho một người thợ lặn đứng cạnh đang sửa soạn xuống nước:

- Chú ý khoang năm và sáu nhé!

Một giờ đồng hồ sau, Giôn nhận được một số mảnh bao chất dẻo đặt giữa hai lớp vỏ tàu ngầm phía dưới. Còn trong khoang năm và sáu chỉ tìm thấy vết tích của hai loại két to nhỏ khác nhau không rõ là đựng gì, hình như có cả máy bơm.

Giôn đang loay hoay với những mảnh bao chất dẻo thì một kỹ sư lại gần đưa một bản báo cáo tường tận của một số kỹ sư khác điều tra kỹ tất cả những gì còn lại trong đài chỉ huy: từ kính tiềm vọng, la bàn, máy tính đường, máy đo sâu cùng với toàn bộ các phương tiện thông tin, quan sát. Rồi chuyển sang vũ khí trên tàu vẫn không phát hiện thấy điều gì đặc biệt cả.

Giôn đi tới kết luận:

- Toàn bộ bí mật của loại tàu ngầm mới này của bọn Đức là nằm ở động cơ chính dùng trên tàu.

Ngay tối hôm đó, Giôn về báo cáo mọi việc thật tường tận với Mắc Hin-đớc-len. Mắc Hin-đớc-len nói:

- Bố đã liên lạc từ mấy tuần nay với cơ quan tình báo Anh. Theo họ cho biết thì nhà phát minh và những người có liên quan đến loại tàu ngầm mới này chưa thể đi xa khỏi đây được. Liệu con có thể giúp đỡ họ một phần trong việc này không? Họ cần một người am hiểu về chuyên môn, nếu được một công trình sư chuyên nghiên cứu về động cơ tàu ngầm thì rất tốt.

Giôn mỉm cười:

- Bố muốn con trở thành một tình báo... công nghiệp, ít ra cũng là trong trường hợp này!

- Đúng thế! Vấn đề này rất quan trọng! Chiến tranh công nghiệp còn dai dẳng khủng khiếp hơn chiến tranh quân sự rất nhiều. - Mắc châm thuốc hút - Trong khi con vùi đầu vào nghiên cứu ròng rã mấy năm trời không tìm ra được một loại động cơ gì mới mà giờ đây bằng một biện pháp khác, ta lấy được tất cả bí mật của loại động cơ đó, trong một thời gian ngắn thì vẫn cứ tốt chứ sao?

Không hiểu có phải vì để động viên con trai hay không, Mắc nói:

- Chắc con chưa biết đấy thôi chứ luật pháp một số nước đã quy định cho phép tình báo công nghiệp “có quyền ăn cắp” phát minh của nước khác đem về cải tiến đi độ ba mươi nhăm phần trăm thì tình báo viên công nghiệp đó sẽ được công nhận bằng phát minh.

Nghe đến đây, đôi mắt Giôn sáng hẳn lên.

- Với số vốn tiếng Đức khá thạo của con, với những cuốn tiểu thuyết tình báo con đọc rất say sưa từ hồi nhỏ cộng với một số kiến thức tình báo sẽ được học, ba tin con sẽ thành công trong việc này!

Để cho Giôn yên lòng, Mắc nói thêm:

- Hiện nay cơ quan tình báo ta ở đây đã tung một mạng lưới khá dày để trong một thời gian ngắn nhất có thể quây bắt được nhà phát minh Đức này! Con cứ yên trí là: lúc nào bên cạnh con cũng có người theo sát bên cạnh để bảo vệ khi cần thiết. Theo cơ quan tình báo Anh thì vai trò quan trọng của con chính là ở giai đoạn: sau khi đã bắt cóc được nhà phát minh.

*

Việc tìm nhà bác học Đức trong cái biển người hỗn độn ở đây quả là còn khó hơn việc “mò kim đáy biển”. Từ ngày đóng vai một thợ máy Đức thất nghiệp hết lang thang ở bến tàu lại lảng vảng gần quán rượu. Giôn vẫn không sao tìm ra được một tí manh mối gì về nhà bác học Đức cả. Suốt hai tuần nay nhập vào dòng người Đức hồi cư về quê hương đi về phía tây. Giôn vẫn lững thững kéo lê đôi chân mệt mỏi. Tới một bãi cỏ ven đường, thấy một số người dừng lại để nghỉ. Giôn cũng kiếm một gốc cây trải chiếc chăn cũ ra định nằm xuống thì chợt thấy một người vạm vỡ xách một cái túi nặng lững thững đi. Trên bãi cỏ lúc này, những người nghỉ chân bên đường đã đặt xuống cạnh họ những gói, những bọc, va-li chồng chất cạnh những chiếc xe nôi trẻ em chứa đầy đồ đạc linh tinh. Cả một đống ngổn ngang gần như che kín mít cả lớp cỏ xanh.

Anh trông vạm vỡ kia chắc cũng muốn nghỉ chân. Kiếm mãi chưa được một chỗ nào đủ để đặt cái bao nặng xuống nên anh ta đành cứ vác đi. Dù phải len lỏi giữa đống đồ đạc lổng chổng, trên, vai vác nặng xem ra anh ta vẫn bước đi thoăn thoắt không hề động chạm vào một tí gì. Anh lách rất khéo nom thật chẳng khác gì một con rắn đang nhẹ nhàng trườn đi giữa những khe đá ngoằn nghèo. Đúng dáng đi của một thủy thủ tàu ngầm. Cuối cùng rồi anh ta cũng tìm được một chỗ để có thể đặt cái bọc to tướng ấy xuống. Công việc đầu tiên của anh ta là lau mồ hôi trán rồi cởi cúc áo ngực phía trên để lộ ra một bộ ngực vạm vỡ xăm hình một con tàu nhả khói, chênh chếch về phía tim là khuôn mặt một cô gái lồng trong một ngôi sao. Hẳn anh chàng khát nước lắm đây! Cứ nhìn anh ta giương mắt chòng chọc vào một cái cà-mèn nước treo trên mấy cái chạc cây đang đun thì đủ rõ.

Giôn bèn lấy bi-đông của mình ra, mở nút uống cố tình uống ừng ực từng ngụm. Quả nhiên anh ta bước lại gần Giôn, Giôn chìa bi-đông nước ra:

- Hẳn đằng ấy đang cần thứ này? - Giôn hỏi.

- Đúng! - anh chàng nọ đáp, giọng sặc mùi rượu, chẳng hiểu anh ta kiếm được rượu ở đâu ra lúc này. Chẳng khách khí gì, anh ta đỡ lấy bi-đông uống luôn một hơi rồi quẳng bi-đông xuống bãi có nói - Nước của đằng ấy còn ít quá, chỉ tổ làm cho tớ khát thêm.

- Thì ta lại đun nữa! Tôi có cà-mèn đây! - Giôn chìa cà-mèn ra đưa cho anh ta. Anh ta lững thững đi xuống suối.

- Này, uống xong đằng ấy sẽ đi đâu?

- Cũng chưa định! Mấy lị cuộc đời tớ lang thang quen rồi!

Giôn vội hỏi:

- Trong chiến tranh đằng ấy làm nghề gì?

Anh chàng vạm vỡ khẽ rỉ tai Giôn:

- Tớ làm thủy thủ.

- Xin bắt tay ông bạn đồng nghiệp! - Giôn bắt tay người kia xong, chỉ vào ngực mình, bảo - chỉ nói riêng với cậu tớ là thủy thủ tàu ngầm “Chó biển”

- Trời! - Anh chàng vạm vỡ kia reo lên - Từ đầu chiến tranh tớ đã từng ngồi trong một chiếc tàu ngầm len lỏi được vào một căn cứ hải quân Anh bảo vệ rất nghiêm ngặt là Sca-pa-phlao và tống cổ chiếc thiết giáp hạm Roay-an-ốc của Anh xuống biển. Năm 1944 tớ lại “tham gia” vào việc đánh đắm chiếc hàng không mẫu hạm Anh Ác-cơ Roay-an ở eo biển Gi-bran-ta. Tớ đã từng dọc ngang một thời suốt từ Địa Trung Mải qua eo biển Đác-đa-nen rồi Bốtx-pho tới Hắc Hải.

Giôn reo lên:

- Bắt tay người bạn chiến đấu tới hai lần. Xin chào một vị anh hùng. Còn tớ đây, tớ đã từng thoát chết nhiều lần. Có gì đâu: bị bọn tàu Anh đuổi thì chỉ việc phụt một ít dầu qua nắp van và dùng ống phóng lôi “phóng” ít mảnh ván ra ngoài cho chúng nổi lên mặt nước, rồi nằm bẹp dí một chỗ, tắt máy đi. Thế là nhìn đống gỗ lổng chổng lẫn với dầu, bọn Anh yên chí là tàu bị đắm. Rồi chờ lúc nó sơ ý nhất thì bất ngờ nổi lên phóng cho nó một quả ngư lôi rồi chuồn thẳng. Dĩ nhiên là nó chết thôi!

Chàng thủy thủ chờ mãi không thấy cà-mèn nước sôi, bèn vừa đẩy củi vừa sốt ruột làu bàu chửi thầm:

- Bếp với nước chết tiệt! Khát cháy cả cổ.

Giôn mỉm cười nói:

- Cậu nên nhớ là muốn đun một gam nước nguyên chất lên một độ thì cần có một ca-lo. Đằng ấy thật chẳng hiểu gì cả.

Chàng thủy thủ nọ đáp:

- Về cái khoản ca-lo, tớ còn giỏi hơn cậu. Hồi tớ vừa được chuyển lên một chiếc tàu ngầm mới tinh... à thôi. Này, cậu có biết một ki-lô pe-ô-xýt hy-dro nếu đem phân hóa thành nước và ô-xy tự do nó sẽ nhả ra bao nhiêu ca-lo không?

Giôn lắc đầu:

- Cái ấy thì quả thật tớ chịu.

- Đấy tớ biết ngay mà! - Tên thủy thủ Đức giơ tay lên nói - Nó sẽ nhả ra 552 ki-lô ca-lo. Hỗn hợp này có áp suất cao tới ba mươi át-mốt-phe, người ta sẽ đưa nó vào các cánh quạt làm quay tua-bin không?

- Một loại tàu ngầm mới? - Giôn khẽ lẩm bẩm - thế nó chạy bằng thứ mà đằng ấy vừa nói à?

- Đúng thế! - Tên thủy thủ Đức chép miệng - Tiếc là hàng loạt tàu mới chưa được dùng đã phải đem phá...

- Thế mới biết đầu óc con người ta thật là kỳ diệu! - Giôn sửng sốt hỏi - Này thế cái ông bác học phát minh ra loại tàu ngầm mới này, người thế nào? Có phải ông ta trán hói, đôi mắt xanh biếc lộ đầy vẻ thông minh, đi đâu cũng ôm theo hàng tập sách dầy cộp, mắt đeo kính cận?

Tên thủy thủ Đức cười:

- Hoàn toàn khác hẳn! Ông ta rất bình thường, người hơi gầy như đằng ấy, trán không hói. - ông ta không đeo kính cận… à mà có ảnh của ông ta đây!

- Nói tới đây tên này lấy trong bọc ra một tấm ảnh cũ đã ố vàng, một vài chỗ bị loang lổ có lẽ vì nước biển. Hắn chỉ vào một người gầy gầy hơi dong dỏng cao đang quay người nói chuyện với một số sĩ quan và thủy thủ - trong đó có tên này - ở trên một chiếc tàu ngầm loại mới đóng xong:

- Ông ta đấy! Nhà bác học Van-te Hen-mút đã từng được tặng thưởng huân chương về việc phát minh ra chiếc tàu ngầm Mê-tê-o-rơ.

Vừa lúc đó cà-mèn nước sôi. Câu chuyện giữa hai người như dứt không ra. Mặc dù Giôn cố nài mời tên thủy thủ này, về nhà mình chơi nhưng hắn vẫn cương quyết từ chối.

- Này! Thế đằng ấy liệu có biết giờ ông Van-te ở đâu không?

Tên thủy thủ Đức cười:

- Đến ngay tớ, chính tớ cũng không biết là hiện nay mình ở đâu? Trên đất Anh hay đất Đức? Pháp hay Mỹ? Huống chi là ông Van-te?

Mặc dầu biết là không thể khai thác được chút gì thêm ở tên này nữa, nhưng sau đó Giôn cũng lại một trạm điện thoại gần đấy gọi dây nói cho cơ quan tình báo Anh tới bắt tên này đi.

*

Van-te Hen-mút lững thững đi, trên vai chỉ khoác độc một cái túi nhỏ. Sau khi đã đốt sạch mọi giấy tờ và tài liệu có dính dáng tới việc thiết kế loại tàu ngầm mới, hắn hóa trang thành một người thợ định tìm đường về quê ở vùng Rua.

Thật ra thì lúc đầu Van-te cũng không định về quê mình. Hắn định chạy về phía Tây nhưng từ lúc lạc mất vợ con trong một trận ném bom dữ dội của không quân Xô-viết, hắn mới có ý nghĩ trở về quê hương để hy vọng gặp được vợ con và dù sao ở đó cùng dễ kiếm việc làm hơn. Và nếu như không tìm thấy vợ con, hắn sẽ lại đi Hăm-buốc tìm về quê vợ.

Van-te bị cuốn vào dòng người phần lớn là các cụ già, trẻ em mồ côi... lẩn vào đám này Van-te nhận ra được một số binh lính cải trang trà trộn trong đó. Chỉ nhìn đôi mắt sợ sệt, lấm la lấm lét của chúng, nhất là vóc người và dáng đi sẽ dễ dàng nhận ra được bọn này ngay. Gặp nhau chúng thường thì thào to nhỏ, tụ tập thành từng toán rủ nhau đi đêm tránh đường cái.

Kinh nghiệm đã cho biết: trong lúc này tốt nhất là không nên dính líu đến bọn lính tráng dễ gây ra rắc rối, nguy hiểm.

Van-te xem lại chiếc băng trắng đeo trên tay, rõ ràng có cái dấu hiệu mong muốn hòa bình đó rồi mà hắn vẫn sợ. Hắn cảm thấy hình như lúc nào, ngay trong đám đông này cũng có kẻ rình mò dòm ngó hắn.

Tự nhiên Van-te nghĩ thấy tiếc những ngày qua. Không phải cái ngày cho hạ thủy những chiếc tàu ngầm loại mới, có các vị tướng hải quân tới dự. Van-te tiếc những ngày hắn còn là kỹ sư chế tạo động cơ. Đối với Van-te thì làm sao đây tìm cho được những loại động cơ tốt nhất. Vẫn là động cơ nổ chạy xăng hay ma-dút, nếu dùng cho máy kéo bánh xích thì nó là một món hàng hòa bình; song vẫn động cơ đó, nếu đem lắp vào xe tăng, tất nhiên nó sẽ trở thành những con “cọp” hung hãn.

Đối với loại tua-bin hơi khí chạy bằng pe-ô-xýt hy-đrô của Van-te cũng thế. Van-te thường tự an ủi mình, nếu chẳng may sa vào tay quân đồng minh hắn tin là hắn vô tội.

Trời đã về chiều. Đường phố vẫn đông người. Họ đã nghỉ lại bên đường và giở thức ăn ra ăn, người nào phận nấy, chẳng ai chịu san sẻ cho nhau lấy một mẩu bánh vụn. Ngay cả Van-te cũng vậy: Trong chiếc túi của hắn giờ chỉ còn độc một mẩu bánh mì, đáng ra hắn đã nuốt hết từ sáng, nhưng vì sợ buổi chiều không có chút gì nhấm nháp nên hắn đành để lại. Mẩu bánh chắc đã khô cứng, rắn như đá.

Vấn đề bây giờ là phải tìm cho được một nơi vắng vẻ để nghỉ chân, nếu được ở gần một suối nước thì càng thích, nhá loại bánh mì này, nếu không có nước thì nuốt làm sao được!

Mặc dòng người dừng lại, Van-te vẫn rảo bước đi, dấn lên phía trước độ mấy trăm thước, Van-te phát hiện ra một ngôi nhà gần như che khuất trong rừng cây. Giá như không nom thấy lá cờ trắng làm bằng tấm vải trải giường treo trước cửa thì chưa chắc Van-te đã nhận ra ngôi nhà hai tầng này.

Một ngôi nhà hoang! Như vậy càng tốt!

Tuy nghĩ thế, nhưng theo thói quen hàng ngày, nhìn thấy cái nút trắng trên tường, Van-te cũng lại gần bấm chuông. Không thấy chuông reo, Van-te cứ từ từ bước vào. Hắn sở vào tận túi áo trong lần ra bao diêm quệt lấy một que. Ngọn lửa bùng sáng đủ để hắn nhìn thấy trong nhà đồ đạc ngổn ngang, giường tủ bị phá tan, dưới đất còn la liệt mấy chiếc quần ào cũ nằm lẫn với những mảnh bát đĩa vỡ.

Ăn xong, Van-te rất khát nhưng trong đêm tối hắn không dám mò mẫm đi đâu cả. Hắn giấu kỹ bao diêm vào túi áo trong. Bao diêm tính lại giờ chỉ còn có mười hai que. Hắn quí như vàng. Đi đường lang thang, có bao diêm trong người dù sao cùng yên chí hơn: có lửa để đun nước, có lửa để sưởi, có lửa để nướng thịt nếu như may mắn vớ được một con gà hoặc cừu nhà ai bị lạc.

Mặc dù yên chí là không bị quấy rầy và mưa gió cùng không sợ, mà không hiểu sao đêm hôm đó Van-te vẫn thao thức không ngủ được. Hình như thỉnh thoảng hẳn lại nghe thấy phòng bên có tiếng lục cục. Hay là có người nào cũng trằn trọc như mình?

Mãi gần sáng, Van-te mới chợp mắt được một tý. Hắn vừa thiếp đi thì chợt có tiếng vỏ đồ hộp rơi loảng xoảng làm hắn giật mình tỉnh dậy. Van-te vừa nhổm lên đã thấy một bóng người bước nhanh lại gần hắn và nói:

- Đằng ấy cho xin tý lửa!

Van-te rất sợ nhưng rồi hắn định thần lại. Tay hắn đã đưa lên ngực định lần tay vào túi áo trong rồi lại bỏ xuống. Hắn cảm thấy tiếc từng khúc ruột một. Nếu cho chỉ còn mười một que!

Hình như đã đọc được ý nghĩ của Van-te, người lạ mặt, miệng ngậm thuốc lá, mắt vẫn nhìn trừng trừng vào tận mặt Van-te và nói:

- Thôi bỏ diêm ra đi, tớ biết rồi!

Van-te đành phải lấy bao diêm ra, đánh một que chìa cho người lạ mặt châm thuốc. Xem ra người này vẫn không chú ý lắm vào đầu que diêm mà cứ nhìn chằm chằm vào mặt Van-te.

Van-te rất hoảng. Như vậy, rõ ràng đêm qua người lạ mặt nấy cùng ngủ ở đây và hẳn biết rõ là mình có có diêm. Có lẽ bây giờ tốt nhất là chuồn khỏi đây.

Châm xong thuốc, người lạ mặt chìa cho Van-te một điếu và nói:

- Đằng ấy có hút không? Lấy một điếu!

Mặc dầu rất thèm thuốc, nhưng Van-te xua tay:

- Cảm ơn, tôi không hút thuốc.

Van-te định bước đi thì người lạ đó ngăn lại nói:

- Làm gì mà vội thế? Đằng ấy định đi đâu bây giờ?

- Đi về phía này! - Van-te chỉ về phía đông người đang kéo nhau đi về phía Tây.

- Thế thì việc gì phải vội thế? - Người lạ mặt như cố níu Van-te lại - Dù sao cũng phải điểm tâm một chút gì chứ!

Nói tới đây, người lạ mặt giở cái gói của mình ra lấy con dao cắt một khoanh bánh mì trắng, một lát phó-mát Hà Lan rồi còn cẩn thận rắc lên đó tí muối hạt tiêu chìa ra cho Van-te và bảo:

- Ăn đi! Đừng khách sáo nữa!

- Tôi... - Van-te đang định từ chối nhưng người đó đã nói - Đẳng ấy có đi suốt ngày hôm nay cũng chẳng gặp một hàng quán nào đâu. Tớ vừa ở phía ấy về mà!

Van-te đỡ lấy miếng bánh, miệng cảm ơn rối rít. Nhưng dù người lạ nói thế nào thì nói, Van-te cũng không ngồi lại ăn mà chỉ gói miếng bánh lại, đem đi.

Van-te bước rõ nhanh. Cái chính là rời khỏi đây đã. Sau đó kiếm lấy một chỗ vắng ở dọc đường để ngồi ăn, chắc cũng chẳng khó khăn gì.

Mặt trời lúc này đã lên cao. Chợt Van-te nghe thấy tiếng ì ầm như máy bay. Đoàn người dừng lại, tỏ vẻ lo lắng. Nhưng rồi chỉ một lát sau, họ đã nhận ra đó là một đoàn xe quân sự Liên Xô đang tiến về phía Đông.

Nhìn những người lính Nga to lớn, nét mặt nghiêm nghị, lúc đầu ai cũng sợ nhưng xem ra họ chẳng tỏ vẻ gì là độc ác cả. Thoạt tiên Van-te cùng với mọi người còn tránh không bước đi trên đường cái nhưng rồi sau chẳng thấy có chuyện gì họ lại đi rất ung dung.

Lúc này Van-te mới lấy bánh ra ăn. Bánh ăn kèm với phó mát Hà-lan quả là ngon thật! Chỉ phải cái thằng cha ấy cho hơi nhiều muối nên hơi mặn.

Khác với lời của người lạ mặt gặp sáng nay, ngay cạnh đường cái có một quán giải khát nhỏ. Van-te vội bước vào.

Hình như trước đây quán này cùng bán đủ cả rượu, cà phê, bia... nhưng giờ chỉ còn có rượu.

Van-te rất khát. Mới nghe thấy tiếng giải khát, hắn lại càng có vẻ khát hơn. Van-te lấy trong túi ra một nắm tiền nói:

- Cho tôi một cốc rượu. Mấy mác thế này?

Lão chủ quán hững hờ rót rượu ra cốc rồi thờ ơ nhìn mấy đồng mác, bảo:

- Ông có thứ gì đáng tiền để đổi không, chứ mớ giấy lộn này mai kia chúng tôi biết dùng làm gì?

Van-te lúng túng nói:

- Tôi... Tôi chẳng có thứ gì đáng tiền để đổi cả.

Lào chủ quán vào không rời tay khỏi cốc rượu nói:

- Một chiếc khăn len chẳng hạn.

Van le lắc đầu. Chủ quán nhìn xuống chân hắn, bảo:

- Xem ra đôi giày của ông còn có thể dùng được.

Van-te hốt hoảng nói:

- Nhưng rồi sau đó tôi sẽ đi bằng gì?

- Đó là chuyện của ông! Lão chủ quán nói - Muốn uống rượu mà lại không muốn mất thứ gì à?

Van-te chưa biết xoay xở thế nào thì thấy một người đàn bà trong đám người Đức hỗn độn lại gần lão chủ quán, cởi chiếc khăn trùm đầu mình ra, đặt lên bàn nói:

- Thôi, ông cứ rót rượu cho ông ta đi!

Mãi lúc này, người chủ quán mới khẽ đẩy cốc rượu lại gần Van-te và bảo:

- Nào, mời ông uống đi!

Van-te đỡ lấy cốc rượu nhưng không dám uống ngay, mặc dầu hắn rất khát. Hắn nhìn người đàn bà. Rõ ràng mình chưa hề gặp người này lần nào mà sao bà ta lại tốt với mình như vậy nhỉ?

Ngược lại người đàn bà cũng nhìn Van-te. Ngay cả lúc Van-te đưa cốc rượu lên uống, người đàn bà vẫn không rời mắt khỏi Van-te.

Chà! thứ rượu chua xoàng quá! Thế mà lão chủ quán bắt đổi một chiếc khăn. Thật tồi tệ.

Uống xong. Van-te đặt chiếc cốc xuống bàn và hỏi người đàn bà:

- Thưa bà, bà là ai mà sao lại có lòng tốt đối với tôi như vậy?

Như không để ý đến câu hỏi, người đàn bà vuốt lại mái tóc hỏi:

- Ông định đi đâu bây giờ và sống bằng gì?

Van-te-đáp:

- Cứ biết đi về phía Tây rồi ra sao thì ra.

Người đàn bà cười rồi gật gù bảo:

- Dọc đường ông sống bằng gì?

Van-te chìa hai bàn tay ra, nói:

- Tôi là thợ máy, đi đến đâu cùng chẳng sợ chết đói, miễn là còn hai bàn tay lành lặn.

- Ông là thợ máy à?

- Đúng!

Người đàn bà cười:

- Ông lại nói dối tôi rồi mặc dầu ông xếp tôi vào loại người chưa quen nhưng có lòng tốt.

Van-te cứ thanh minh;

- Không, thưa bà, đúng là thợ máy mà!

Phía xa xa bụi đang bốc lên mù mịt. Mấy chiếc xe díp cắm cờ Anh lao bạt mạng.

- Ông là Van-te Hen-mút - Người đàn bà nhìn thẳng vào mặt Van-te và nói - Lúc này đi về phía Tây thời tiết chưa được tốt đâu, nếu chưa có một hướng đi rõ rệt.

Mặt Van-te tái xanh lại.

Hai chiếc xe díp đỗ ở cửa, mấy tên xà vào hàng rượu. Chúng thét gọi chủ quán lấy rượu ra uống.

- Van-te định đứng dậy đi thì người đàn bà đã ngăn lại: Chắc bà nhầm!

- Không đi được đâu, ông bạn!

Người đàn bà khẽ đưa mắt ra hiệu cho mấy tên lính Anh. Chúng xúm lại nói với Van-te gần như ra lệnh:

- Lên xe, đi!

Van-te đành ngoan ngoãn lên xe. Dọc đường hắn thấy hối hận về việc dừng lại uống rượu ở đây và nhất là đêm qua đã trót ngủ trong ngôi nhà đổ bên đường.

Chiếc xe díp cắm cờ Anh lao đi rất nhanh. Hình như tên lái xe cũng không cần để ý xem trước mũi xe hoặc hai bên đường có chuyện gì xảy ra nữa. Chiếc xe đang đi, bỗng tên lính nom thấy một cô gái Đức xách một cái túi đựng bánh mì, hắn vội gác chân ra ngoài thành xe lái ngoặt về phía cô gái rồi đưa hai ngón tay lên miệng gửi một cái hôn gió. Chẳng may vừa lúc đó một chú bé chạy qua, thế là chiếc bánh xe trước bên trái cán luôn phải chú bé. Mặc cho chú bé Đức nằm sóng soài ra cạnh đường thấm máu loang lổ, tên lính vẫn thản nhiên phóng xe đi. Lòng Van-te thấy quặn đau. Nhà bác học không muốn nhìn vào xác chú bé nữa. Van-te khẽ nhắm mắt lại, mặc cho gió hai bên tai thổi ù ù.

Bỗng chiếc xe hãm kít lại, người Van-te nhao nhào về phía trước, trán đập vào thành ghế trước. Van-te ngước mắt lên thấy một tấm biển mới sơn “công ty len dạ Giếch Hai-đơn”. Có điều hơi lạ là trong số khách hàng giao dịch với công ty này có khá nhiều sĩ quan Anh, Mỹ, Pháp. Điều làm Van-te lạ hơn nữa là thấy ở những buồng trong thỉnh thoảng lại có tiếng kêu rú lên như có người bị tra tấn.

Chốc chốc lại có một chiếc ôtô bịt kín tới. Từ trên xe người ta đẩy xuống, hay nói cho đúng hơn, người ta quẳng xuống những con người bị đánh đập đã thâm tím cả mình mẩy.

Một tên lính trên xe khẽ hất hàm chỉ về phía văn phòng mang biển số 12; Van-te bước theo. Ngay khi bước chân vào, Van-te đã cảm thấy đây đúng là một cơ quan tình báo Anh núp dưới danh nghĩa một công ty nào đó để dễ bề hoạt động.

Van-te bước vào phòng. Mình như người to béo mặt đỏ gay miệng ngậm điếu xì gà La-Ha-ba-na ngồi sau bàn đã được báo trước. Hắn nhìn Van-te trừng trừng, thỉnh thoảng hắn lại đưa mắt nhìn vào một vật gì, để sẵn trong chiếc ngăn kéo hé mở. Mặc cho Van-te lúng túng quay đi quay lại chưa biết đứng ngồi chỗ nào thì người to béo kia vẫn nhìn chằm chặp vào Van-te và dõng dạc chào:

- Chào ông Van-te!

Van-te bình tĩnh đáp lại:

- Xin tôi, chắc ngài nhầm. Tôi là Hốp-dơ-xen làm nghề thợ máy!

Người to béo nọ khẽ mỉm cười, miệng vẫn không rời điếu xì-gà luôn ngọ nguậy trên môi:

- Nhầm làm sao được! Trong cái nghề của tôi, việc tối kỵ nhất là lầm lẫn khi nhận dạng người khác. Tôi quả quyết là tôi không nhầm, không bao giờ nhầm cả! Nếu như không dũng cảm dám nhận mình là mình thì chúng ta dù có nói chuyện với nhau mấy đi nữa cũng vô ích.

Người to béo nọ khẽ đẩy ngăn kéo vào nhưng Van-te đã kịp nom thấy có mấy tấm ảnh mình đặt trong đó.

- Ông hãy ngồi tạm xuống ghế đã! - Người Anh to béo chìa chiếc ghế trước mặt, nói - Tôi chỉ sợ ông sẽ hối hận về việc ông chưa chân thật trong buổi gặp gỡ lần đầu này. Ông nên nhớ cho, số phận của ông hiện nay chẳng qua cũng chỉ là số phận chung của hàng triệu người Đức thất trận mà thôi! Ông thấy thế nào, ông Van-te?”.

Van-te vội xua xua tay nói:

- Dạ, thưa ngài tôi là Hốp-dơ-xen, làm nghề thợ máy ạ!

Người to béo nọ lấy một mảnh giấy và rút chiếc bút máy vừa chìa ra cho Van-te bảo:

- Ông hãy khai lên, tuổi, nghề nghiệp mình vào đây rồi ký tên vào.

Van-te cố viết rành rọt từng chữ: Hốp-dơ-xen, ba mươi bẩy tuổi...

Chợt có tiếng chuông. Một tên lính bước vào. Người to béo khẽ hất hàm về phía Van-te:

- Cho về phòng giam.

Van-te theo bước chân người lính đi men theo một cái hành lang hẹp nhớp nháp bẩn, hai bên tường thấy dinh dính như mồ hôi. Chợt tên lính dừng lại trước một căn phòng tối om. Có tiếng ổ khóa lên lách cách rồi tiếng cót két mở cửa. Tên lính khẽ ẩy lưng Van-te vào. Phút đầu, Van-te không nom thấy gì. Mãi sau sờ soạng rồi định thần lại nhìn kỹ, Van-te mới nhận ra một cái ổ rơm, cạnh đó là một chiếc bàn nhỏ có một chai nước và một cái cốc vỡ.

Van-te ngồi bệt xuống ổ rơm; chờ cho tới khi tiếng bước chân của tên lính xa dần, hắn mới định thần cố nhớ lại. Chẳng lẽ cơ quan tình báo Anh đã nhận thóp ra được Van-te. Rất vô lý! Van-te đã hủy bỏ toàn bộ giấy tờ về mình và những phát minh của mình. Van-te đã nhuộm tóc, nhờ một bác sĩ chuyên khoa nắn lại mũi, dùng hóa chất bôi lên mặt để hóa trang và ngay cả hai bàn tay nữa, giờ đã bắt đầu có chai...

Chợt có tiếng lách cách mở khóa. Van-te ngồi lại cho ngay ngắn. Hóa ra có tiếng chân người bước vào buồng bên cạnh. Sau đó có tiếng kéo ghế, tiếng gót giầy nện trên sàn nhà giam và tiếng hỏi dồn dập:

- Mày có khai không?

- Mày có nhận không?

Cứ sau mỗi câu hỏi, kèm theo lại có tiếng roi quật đen đét, tiếng người rên, mới đầu còn rên khẽ, sau rồi rít lên từng hồi.

Chỉ nghe thấy tiếng roi da, Van-te đã cảm thấy nổi gai ốc khắp người rồi!

Sau một trận mưa roi da vụt liên tiếp đến nỗi người bị đòn không kịp kêu lên nữa, có tiếng một người quát giọng ồm ồm:

- Tính mạng bọn Đức chúng mày, mày có biết rằng hiện nay chúng tao nắm cả vận mệnh nước Đức chúng mày trong tay không?

Nghe tới đây, tự nhiên Van-te liên hệ tới mình. Nếu chúng cũng đánh hắn như vậy và cũng xỉ vả những câu như vậy thì sao? Mà quả là tính mệnh người Đức lúc này nằm trong tay đồng minh thật. Bất giác Van-te thở dài. Đêm hòm đó, Van-te gần như thức trắng.

*

Vì quá quen thuộc với “công ty len dạ Giếch Hai - đơn” này nên hai bố con Mắc và Giôn Hin-đớc-len đi thẳng ôtô vào trong, bước vào luôn phòng 12 mà không phải trình một thứ giấy tờ gì cả.

Đại tá Mắc Hin-đớc-len mới được thăng cấp được hai tuần nay, giơ một ngón tay thân mật chào người to béo:

- Chào Rô-bớc! Thế nào, mọi việc đều tốt lành cả chứ?

Rô-bớc cười, rung rung cả vai:

- Thưa đại tá, trước sau rồi sẽ đi đến tốt lành thôi!

Viên đại tá Anh hơi nhíu lông mày lại:

- Như vậy có nghĩa là hiện giờ chưa tốt lành chứ gì?

- Hắn vẫn chưa nhận hắn là Van-te! - Rô-bớc nói - Còn chúng tôi. Chúng tôi nhận được ra hắn đích xác trăm phần trăm.

Rô-bớc lấy một tập hồ sơ ra trong đó ảnh Van-te chụp từ năm còn là sinh viên rồi ảnh Van-te đang làm việc trong phòng thí nghiệm. Rô-bớc chỉ vào vành tai trong bên trái của Van-te trong ảnh và nói:

- Dấu vết không trộn lẫn Van-te với người khác là ở chỗ này và vết lăn tay. Tôi đảm bảo với đại tá, vết tay của người này thường không mấy khi lẫn với vết tay người khác, từ lúc sinh ra đến khi chết, dù da tay có bị bong, ngón tay có bị bỏng rộp lên thì vết tay vẫn không thay đổi gì cả. Hơn nửa cơ quan tình báo của ta vừa tóm được tại bàn giấy một trung tâm nghiên cứu quân sự và dân sự ở gần Noóc-han-den, một số sơ đồ bản mẫu tàu ngầm “sơ-noóc-ken” kèm theo một lô phát minh khác của tên bác học Đức này.

Mắc Hin-đớc-len khẽ hỏi:

- Thế ngài Rô-bớc định xử lý thế nào trong trường hợp này?

Rô-bớc cười:

- Cũng như trăm nghìn trường hợp khác mà chúng tôi đã tiến hành thành công đấy thôi!

Giôn Hin-đớc-len vội hỏi giọng lộ đầy vẻ lo lắng:

- Nghĩa là ngài cũng tra tấn ông ta như những người khác:

- Đó chẳng qua là tại hắn ta thôi! - Rô-bớc khẽ nhún vai - Biết làm thế nào được!

Giôn gần như kêu lên:

- Nước Anh chúng ta đang cần đến bộ óc của Van-te mà ngài cho làm như vậy thì... không khéo hỏng hết mất.

Mắc Hin-đớc-len gật gù:

- Phải dùng một biện pháp khác mềm dẻo hơn vì nếu có đánh lão ta, cuối cùng lão ta vẫn có thể nhận mình đúng là nhà bác học Van-te nhưng nếu lão không chịu đưa phát minh của lão ra thì ta cũng đến chịu, mà nước Anh lúc này lại rất cần đến phát minh của lão.

- Điều này giá ngài đại tá cho chúng tôi biết sớm thì hơn! - Rô-bớc đứng dậy nói - có lẽ sau đây chúng tôi sẽ trao Van-te cho tòa án quân sự để các ngài tùy cơ xử lý. Giờ chúng ta hãy đến thăm lão một tí.

Khi ba người tới phòng giam Van-te thì đã thấy Van-te nằm sóng soài dưới sàn xi măng, trán bị rách, mép bên phải đang rỉ ra một dòng máu đỏ. Cạnh đó là một tên to lớn mồ hôi mồ kê nhễ nhại đang thở phì phò có lẽ vì hắn đã quá dốc sức trong việc tra tấn vừa rồi.

Mắc Hin-đớc-len hơi choáng người đi. Một ý nghĩ lướt qua rất nhanh trong đầu viên đại tá Anh: “Không khéo hỏng hết mất”.

Tên to lớn thấy Rô-bớc tới thì vội vàng đứng dậy. Hắn lấy tay lau mồ hôi trán rồi sờ sờ vào đầu một cái roi da như sửa soạn cho một trận tra tấn mới.

- Tôi đã dặn anh thế nào, “diều hâu”? Phải nhẹ tay một chút chứ! - Rô-bớc càu nhàu - Nếu lão làm sao anh đừng trách!

Tên “diều hâu” vội xách một xô nước đổ ào vào đầu, vào mặt Van-te. Van-te hơi hé mắt nhìn rồi lại nhắm nghiền lại thiếp đi.

Mắc Hin-đớc-len khinh bỉ nói với tên “diều hâu”:

- Anh nên nhớ là cái đầu của lão ta còn có ích hơn cái đầu của anh ít ra là mười lần.

Tên “diều hâu” không nói không rằng lại lấy luôn một xô nước nữa đổ ào lên khắp người Van-te...

...Van-te tỉnh dậy đã thấy mình nằm trên một chiếc giường đệm trắng tinh thoang thoảng mùi nước hoa. Hắn không tin là chuyện có thật. Cứ ngỡ nằm mê, Van-te sờ tay xuống đệm xem liệu có phải là cái ổ rơm trong nhà giam không thì thật quả đúng là một tấm đệm mút. Van-te khẽ đưa mắt nhìn ra xung quanh: căn phòng nhỏ nhắn này không phải là phòng giam, cũng không phải phòng bệnh mà có lẽ là một phòng ngủ nhỏ nhắn trong một ngôi biệt thự nào đó nên thỉnh thoảng có tiếng đàn dương cầm vọng sang. Bên ngoài là một vườn hoa xinh xắn. Cạnh giường Van-te nằm có một chiếc bàn nhỏ phủ khăn trắng, trên có một bình hoa nhỏ tim tím.

Kể từ ngày Van-te sống cuộc đời lang thang, đóng vai một người thợ máy trong chuyến đi về phía Tây, hôm nay là lần đầu tiên Van-te được nằm trong một căn phòng đầy đủ tiện nghi như thế này.

Vừa lúc đó có tiếng bước chân nhè nhẹ đi vào. Van-te vội nhắm mắt hờ hờ đủ để nhìn thấy bóng một cô gái Anh mặc áo blu trắng lại gần giường Van-te và khẽ đặt tay lên đầu hắn, Van-te mở mắt ra.

- Ông đã thấy dễ chịu hơn chưa? - Nghe người con gái Anh hỏi với một giọng Đức lơ lớ, Van-te gật đầu.

Mãi lúc này Van-te mới biết mình phải băng ở trán, mình mẩy vẫn còn đau ê ẩm. Đối với Van-te, hắn không còn mơ ước gì hơn là được nằm mãi trên cái giường trong căn buồng này, còn hơn là đi lang thang nay đây mai đó.

Cô gái Anh - Van-te đoán chừng là một cô y tá - khẽ kéo tấm chăn len lên ngực Van-te rồi quay ra. Chỉ một lát sau, cô ta đã quay lại trên tay có cái khay đặt một cốc sữa, một chiếc bánh mì trắng và một hộp, sô-cô-la có đa sinh tố dành riêng cho sĩ quan trong quân đội Anh.

Sau khi ăn điểm tâm xong, Van-te lại nằm xuống. Mới được một lát, có tiếng ôtô đi vào sân: một chiếc ca-đi-ắc khá mới.

Một viên đại tá hải quân Anh hối hả đi vào, theo sau là một người khác mà Van-te cảm thấy hình như mình đã gặp anh ta ở đâu một lần rồi.

- Chào anh thợ máy Hốp-dơ-xen! - Viên đại tá khẽ cúi đầu chào rất lịch sự nhưng lão ta có đôi mắt xanh đặc biệt, hình như hễ nhìn thẳng vào mắt người khác là có thể đọc suốt được cả những ý nghĩ trong đầu người ta vậy.

Van-te định nhổm dậy đáp lễ nhưng Mắc Hin-đớc-len đã giơ tay ngăn hắn lại và bảo:

- Xin lỗi chúng ta làm quen với nhau hơi muộn nên mới có sự hiểu lầm và xảy ra chuyện đáng tiếc như thế này! Nhưng phương ngôn đã có câu “chậm còn hơn không”.

Không thấy Van-te nói gì. Mắc Hin-đớc-len lại nói tiếp:

- Kể ra nói làm quen cũng không đúng hẳn vì cho tới nay, ông vẫn chưa giới thiệu ông là ai. Tôi là đại tá hải quân Anh Mác Hin-đớc-len. Còn đây là công trình sư Giôn Hin-đớc-len một người bạn đồng nghiệp của ông.

- Van-te vẫn ngồi yên.

- Nước Đức không còn nữa: điều này ai cũng biết! - Mắc chậm rãi nói - ông chỉ có hai con đường: một là chạy sang phía Đông Béc-lanh, hai là chạy về phía Tây. Không có con đường thứ ba hay nói một cách khác, con đường thứ ba chính là chặng đường ông vừa sống chuỗi ngày qua. Ông là một nhà tri thức, những ngày qua đã đủ để ông sáng suốt chọn lấy một con đường. Đây là biệt thự riêng của tôi, ông có thể toàn quyền sử dụng; chúng tôi đang dùng mọi biện pháp để có thể tìm ra được gia đình ông rồi đưa về đây, nếu ông sẵn sàng phục vụ nước Anh.

- Dù sao ông cũng nên suy nghĩ kỹ, ông Van-te ạ! - Giôn nói - Người ta khó có thể ép buộc những suy nghĩ trong đầu óc một người khác. Trong tình hình bê bối hiện nay làm sao ông có thể tìm đâu ra được một phòng thí nghiệm đầy đủ tiện nghi như Viện nghiên cứu khoa học hải quân Anh.

Trong khi Giôn nói thì Mắc lấy trong xắc-cốt da ra một tập ảnh màu rất đẹp về nước Anh từ công viên Hai-đơ-pác tới trường đại học Kem-brít-giơ và Ốc-pho, tòa thị chính, chiếc cầu bắc qua dòng sông Thêm-giơ.

- Có lẽ ông cũng cần nghỉ! - Mắc đứng dậy làm như vô tình để quên tập ảnh trên chiếc bàn con - chúng tôi xin phép ra về.

Giôn lấy trong túi ra một tấm danh thiếp nhỏ nói với Van-te:

- Đây là số điện thoại riêng của tôi, bất cứ lúc nào cảm thấy cần, ông cứ gọi ngay cho.

Hai người đi khỏi, Van-te nằm suy nghĩ. Lúc này hắn càng thấy rõ lý do bọn Anh cho săn lùng mình từ bấy lâu nay. Những câu nói của hai người Anh vừa rồi không khỏi làm cho Van-te nghĩ ngợi mung lung. Trước hết nước “Đại Đức” không còn nữa! Những người như Van-te lúc này rõ ràng chỉ có thể đứng trước hai con đường. Tự nhiên Van-te thấy rất nhớ vợ con. Không biết giờ Li-na và các con ở đâu? Sống như thế nào? Nghề nghiệp trong tay không có! Liệu có biết đường tìm về Hăm-bua không? Nếu như bọn Anh đưa được gia đình mình về đây thì... liệu có thể kết luận là tạm ổn được không? Lúc đó ta có nên thay một cái tên khác. Có lẽ không cần vì chính bọn Anh lại có trách nhiệm bảo vệ mình.

Van-te với tay cầm lấy tập ảnh. Hắn xem bức ảnh chụp một cỗ xe ngựa cổ kính đang chạy trên đường phố ở khu U-ét-en, vừa lật sang trang kia thì thấy có một tờ giấy gập tư. Van-te giở ra xem thì thấy đó là “giấy truy tố Van-te có dính líu tới vụ phá hoại tàu ngầm ngày mồng 8 tháng 5 năm 1945. Trong lệnh truy tố của tòa án quân sự đồng minh, Van-te thấy có nhắc tới ngày phát xít Đức ký giấy đầu hàng là mồng 7 tháng 5 năm 1945 và cố tình nhấn mạnh vào tính chất nghiêm trọng của vụ phá hoại vũ khí sau ngày Đức ký đầu hàng.

“Nếu như loại tàu ngầm này hoạt động rồi, rất có thể bọn đồng minh sẽ bắt mình và ghép mình vào bọn tội phạm chiến tranh cũng nên!”.

Trưa hôm đó, cô gái Anh dọn lên chiếc bàn ăn phòng bên cả một bữa ăn thịnh soạn, nhưng Van-te ăn vẫn không thấy ngon miệng mặc dầu hắn hiểu rằng lúc này không phải ai cũng dễ dàng có được một hộp thịt, bơ và phó mát.

Chỉ nhìn những dòng người Đức tấp nập đi lại trên đường phố, tay xách nách mang cũng đủ thấy sốt ruột rồi, Van-te đang lững thững đi đi lại lại trong vườn, sau khi được cô y tá cởi bỏ tấm băng trên trán ra. Chợt có tiếng bánh ô tô lăn lạo xạo trong vườn rải sỏi. Giôn từ trên xe mở cửa bước xuống:

- Thế nào, ông đã khỏe ra chưa, ông Van-te?

Van-te mỉm cười đáp:

- Cảm ơn ông, tôi thấy trong mình có dễ chịu hơn.

- Sáng nay tôi đến để bảo tin cho ông biết về một người bạn của ông! -Giôn cùng với Van-te lững thững bước vào nhà. Giôn lấy trong ví ra một tấm ảnh chụp một người đội mũ phớt tay quấn băng treo lên cổ, cạnh đó còn hai người khác nữa, có lẽ là người Mỹ.

- Phôn Brao, hẳn ông có quen chứ? - Giôn vừa hỏi vừa nhìn thẳng vào mặt Van-te.

Van-te dè dặt đáp:

- Tôi có biết nhưng không quen vì chúng tôi ở hai lĩnh vực khác nhau, nơi làm việc cũng khác nhau.

- Hẳn ông còn nhớ những trận bom bay tàn phá Luân Đôn khủng khiếp làm hàng ngàn người chết trong một đêm chứ? Đấy là ông vua bom bay V1, V2.

Giôn lấy thuốc ra mời Van-te và nói tiếp:

- Đáng nhẽ là tội phạm chiến tranh bị truy tố trước tòa án Nuy-răm-be thì giờ đây Phôn Brao lại là thượng khách của nước Mỹ, sống sung sướng như một ông hoàng. Người Mỹ xảo quyệt họ đã sớm nhìn thấy ở Phôn Brao khả năng sẽ chế tạo ra được những tên lửa khổng lồ có thể đưa hẳn một con tàu vũ trụ lên vũ trụ sau này. Người Anh chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi rất tin ở ông có thể tạo nên một bước ngoặt lớn trong việc chế tạo tàu ngầm.

Van-te đánh diêm châm thuốc hút

- Sao ông ít nói như vậy? - Giôn nói - Tôi cứ tưởng mấy ngày sống ở đây cùng đủ làm ông suy nghĩ. Giờ tôi đi vào vấn đề ngay nhé! Cơ quan tình báo nước Anh chúng tôi biết tin ông chính là nhà bác học Đức Van-te đã chế tạo ra được một loại động cơ hợp nhất khá hoàn thiện dùng trong tàu ngầm. Đó là máy tua-bin hơi khí chạy bằng pe-ô-xýt hy-đrô. Loại này có công suất tới 5.000 mã lực. Trong vụ phá hoại vừa qua, rất tiếc là bọn phá hoại các ông làm việc chưa được chu đáo lắm nên không may đã để lọt vào tay chúng tôi một máy tua-bin hơi khí chạy bằng pe-ô-xýt hy-đrô gần như nguyên vẹn.

Nhìn nước da trên mặt Van-te đang tái dần, Giôn càng nói rành rọt hơn:

- Có thể nói là chúng tôi có toàn bộ tài liệu trong tay về loại tua-bin này!

Rồi Giôn lấy luôn một cuộn giấy mở ra chỉ lướt qua rõ nhanh từng phần trên sơ đồ thiết bị tua-bin hơi khí chạy bằng pe-ô-xýt hy-đrô:

- Đây là bao chất dẻo chứa pe-ô-xýt hy-đrô. Còn đây là két nhiên liệu, chỗ này là máy bơm. Đây là buông phân hóa có chất xúc tác, phía dưới là buồng đốt.. Tua-bin ở phía này, cạnh đấy là bộ giảm tốc.

Giờ lại đến lượt Van-te nhìn chằm chằm vào nét mặt Giôn “Chẳng lẽ bọn tình báo công nghiệp Anh lại nắm tường tận được thế cơ à? Hay là vụ phá hoại có sơ hở thật? Chẳng lẽ bản sơ đồ thiết bị tua-bin của mình trước đây đã bị ăn cắp”?

Giôn vẫn tiếp tục nói:

- Buồng ngưng hơi hỗn hợp nằm ở phía dưới này, bên phải là máy nén khí...

“Có thể nói là bọn tình báo Anh nắm khá tường tận. Nếu như mình không nói ra, thì rồi trước sau, bọn chúng cũng nắm được mà số phận mình, không hiểu liệu có còn được như thế này không?”

Sau khi cuộn lại rất nhanh bản sơ đồ thiết bị đó, Giôn mới khẽ bảo:

- Có lẽ không gì tốt bằng được chính nhà phát minh đứng ra trông nom việc chế tạo loại tàu ngầm với động cơ mới này. Đó chính là mong muốn của người Anh chúng tôi.

Vẫn thấy Van-te ngồi yên, Giôn lại càng ra sức trình bày về tính ưu việt của loại động cơ hợp nhất này. Về nguyên lý, Van-te nghe Giôn nói tuy không có gì là sai sót nhưng có lẽ điều làm cho Van-te suy nghĩ là tại sao cái anh chàng công trình sư Anh này lại nói quá nhiều về một phát minh ngay trước mặt nhà phát minh đó? Phải chàng vì bọn Anh cho đến giờ vẫn chưa thật nắm vững được vấn đề nhưng dù sao thì... bỗng ngoài cửa Mắc xuất hiện, mặt mũi hớn hở như một người vừa bắt được vàng.

- Xin có lời mừng nhà bác học Van-te! - Mắc lấy trong túi ra một tấm ảnh chụp Li-na đang đẩy một cái xe nôi trong chất đồ đạc quần áo, theo sau là mấy đứa con quần áo rách rưới đang nhếch nhác đi giữa đoàn người Đức trở về quê quán ở Hăm-bua.

Tim Van-te đập khá mạnh, khi hắn cầm lấy tấm ảnh xem kỹ:

- Hiện giờ.. hiện giờ... vợ và các con…

Không chờ Van-te nói hết câu, Mắc tươi cười nói luôn:

- Hiện giờ gia đình ông đã được trợ cấp chu đáo và chỉ trong phạm vi bốn mươi tám tiếng đồng hồ, gia đình ông sẽ đoàn tụ đông đủ ở đây, nếu ông muốn phục vụ nước Anh?

Van-te lơ đãng đưa mắt nhìn ra ngoài rồi đáp giọng hơi run run vì xúc động:

- Tôi chính là người các ông muốn tìm: nhà bác học Đức Van-te Hen-mút.

Hai bố con Mác Hin-đớc-len đứng dậy lần lượt bắt tay Van-te rõ chặt.

Tối hôm đó trong biệt thự riêng của bố con Mắc Hin-đớc-len, ba người đã ngồi dự tiệc và thức gần thâu đêm tới sáng.

Về đời sống vất chất, Van-te và gia đình hầu không có gì phải phàn nàn cả. Nhưng hình như càng được sống sung túc, Van-te càng cảm thấy bộ óc mình đã bán đứt cho người Anh hay ít ra trước mắt cũng là bán đứt bản thiết kể tua-bin hơi khí chạy bằng pe-ô-xýt hy-đrô.

Sáng hôm nay, lần đầu tiên Van-te đụng tới danh thiếp của Giôn để gọi điện mời viên công trình sư Anh tới.

Giôn vừa tới nơi, Van-te đã giở một tấm bản đồ bờ biển ra chỉ vào một chỗ có đánh dấu bằng một vết chì nhỏ nếu không tinh ý ắt không nhận ra được:

- Nhờ ông báo cho đại tá Mắc biết tại nơi này có một chiếc tàu ngầm loại mới của chúng tôi bị đánh đắm mới hỏng một vài khoang, chỉ việc sửa chữa lại chút ít là có thể dùng ngay được! Tôi đảm bảo máy tua-bin hơi khí còn nguyên vẹn.

Van-te định vạch trần chuyện Giôn cho biết trước đây có lấy được một máy tua-bin hơi khí gần như nguyên vẹn trong vụ phá hoại một số tàu ngầm mới là vô lý nhưng rồi Van-te lại thôi. Cũng như bản thiết kế do Giôn trình bày vội vã hôm nọ chẳng qua là một số tin tức chắp vá chứ bản thân Giôn cũng chưa hề được nom thấy tận mắt một máy tua-bin hơi khí hoàn toàn nguyên vẹn...

Dưới sự chỉ huy của một đại úy đội trưởng đội vớt tàu, bạn thân của Giôn, việc trục chiếc tàu ngầm đắm được tiến hành rất khẩn trương. Và quả đúng như nhận định của Van-te chiếc tàu chỉ bị hư hỏng nhẹ. Khoang thứ nhất bị thủng, máy phóng ngư lôi bị hỏng, khoang thứ tư bị hỏng chút ít phía trên: chỗ phòng ở của sĩ quan và thủy thủ, phía dưới là buồng ắc-quy vẫn còn nguyên. Còn tất cả năm khoang khác hầu như không bị hư hại gì nhất là khoang thứ ba, nơi tập trung hầu hết các khí tài, máy móc đều khiển và chỉ huy chiến đấu, đài trung ương để chỉ huy tàu, buồng riêng của hiệu thính viên vô tuyến, trắc thủ ra-đa và ra đa thám thủy gần như còn nguyên vẹn.

Không đầy một tuần lễ sau, chiếc tàu ngầm này lại bắt đầu hoạt động được như thường. Hôm đầu bước lên tàu, khoác bộ quần áo làm việc của công trình sư, Van-te không tránh khỏi xúc động. Hắn đã dẫn Giôn tới bên máy tua-bin và chỉ vào từng bộ phận một, nói:

- Giữa hai lớp vỏ tàu ngầm có đặt những bao bằng chất dẻo dùng làm kho chứa pe-ô-xýt hy-đrô. Nhờ sức ép của nước mà pe-ô-xýt hy-đrô vào được bơm. Ngoài ra dẫn vào bơm còn có các chất đốt lỏng và nước...

- Theo lệnh của bố tôi, chiếc tàu ngầm này sẽ cho chạy thử trong một thời gian.

- Không sao cả!

- Mặc dầu Van-te đáp như vậy và cho tàu chạy thử nhưng buổi tối về nhà, trong đầu óc Van-te thấy nảy ra khá nhiều vấn đề. Trước hết có thể là Mắc còn có chút nghi ngờ Van-te; sau nữa rất có thể Mắc có những yêu cầu cao hơn đối với loại tàu ngầm này.

Riêng về điểm này thì Van-te biết rất rõ: so với những loại động cơ khác đã dùng cho tàu ngầm thì loại máy tua-bin hơi khí chạy bằng pe-ô-xýt hy-đrô này đã đánh dấu một bước tiến nhưng rõ ràng nó còn lộ rõ khá nhiều nhược điểm.

Trước hết thiết bị năng lượng của nó khá phức tạp và giá thành lại cao vì ngoài tua-bin hơi khí ra, tàu vẫn phải đặt một máy đi-ê-den điện thông thường. Sau nữa, loại tàu này cự ly hoạt động không được dài do pe-ô-xýt hy-đrô dự trữ chỉ đủ cho tàu chạy được sáu giờ, dù tốc độ tàu có cao. Như vậy rõ ràng vấn đề cơ bản của động cơ hợp nhất ở đây vẫn chữa giải quyết được.

Trước đây đã có lúc Van-te mơ ước chế tạo ra được một loại tàu ngầm mới chạy rất nhanh, lặn được sâu, hoạt động được xa, có được một loại động cơ duy nhất dùng cho tàu cả lúc nổi lẫn lúc lặn. Dĩ nhiên lúc đó tàu phải có một loại vỏ bền chắc thật đặc biệt mới có thể chịu được sức ép của nước mỗi khi lặn sâu xuống nước. Tàu muốn đi xa, lại không phải nổi lên mặt nước ắt phải có máy móc để cung cấp đủ dưỡng khí nước ngọt cho thủy thủ và sĩ quan trên tàu. Muốn có tốc độ nhanh ngay hình dáng vỏ tàu cũng phải cải tiến thích hợp để có sức cản càng nhỏ càng tốt. Có lẽ loại động cơ mạnh lúc đó phải là động cơ nguyên tử mới đủ gọn nhẹ, dùng ít chất đốt, lâu mòn và có công suất mạnh...

Muốn vậy phải chờ đợi ít ra là sáu, bảy chục năm nữa...

Van-te thật không ngờ trong việc đóng loại tàu ngầm mới này, chính Van-te lại là người nóng ruột nhất. Có lẽ vì thời gian cho chiếc tàu ngầm mới trục lên chạy thử khá dài.

Nhưng rồi quả đúng như Van-te nhận xét, cứ sau mỗi lần chạy thử, hai bố con Mắc Hin-đớc-len đều vẫn có thể chê trách chỗ này một tí, chỗ kia một tẹo. Thì ra bọn Anh vẫn muốn rút được nhiều kinh nghiệm ở loại tàu ngầm mới này của Đức.

Một hôm, Mắc Hin-đớc-len cho mời cả Van-te lẫn Giôn lại và chìa ra một tờ giấy có dấu của bộ hải quân Anh:

- Lệnh của bộ hải quân giao cho hai ông đóng một chiếc tàu ngầm loại mới cho nước Anh. Tên của nó có thể là: Éc-sơ-plô-ra, dĩ nhiên vẫn dùng loại tua-bin hơi khí chạy bằng pe-ô-xýt hy-đrô nhưng điều quan trọng là phải cải tiến sao đây để tàu có thể chạy nhanh mỗi giờ được 25 hải lý và máy còn có buồng đốt để chạy với chất lỏng.

Van-te suy nghĩ trong óc: “Như vậy công suất máy đi-ê-den phải đạt ít ra là 6.000 mã lực”.

Giôn Hin-đớc-len chợt nhớ ngay tới chiếc tàu ngầm En-đri-a của Anh dùng sơ-noóc-ken trước đây đã lặn được 2.500 hải lý dưới Đại Tây Dương mà cũng chỉ đạt tốc độ có bẩy, tám hải lý một giờ.

- Kể từ giờ phút này, ông Van-te được chính thức bổ nhiệm làm tổng công trình sư với người giúp việc trực tiếp là công trình sư Giôn Hin-đớc-len.

Việc thiết kế và đóng chiếc tàu ngầm Éc-sơ-plô-ra này, dĩ nhiên phải tiến hành bí mật tại một địa điểm gọi tắt là “Công trường E”. Ngay chiều nay, ông Van-te có thể thu xếp lên đường được.

Sau đó, qua câu chuyện trao đổi với Mắc Hin-đớc-len, Van-te biết rõ tại “Công trường E”, Van-te sẽ được sống đầy đủ như một ông hoàng. Gia đình Van-te cũng sẽ được đưa tới đó.

Tại “Công trường E”, sau chiếc Éc-sơ-plô-ra lại tới chiếc Éc-sơ-ca-li-be ra đời dưới sợ trông nom trực tiếp của tổng công trình sư Van-te. Van-te nhìn chiếc tàu ngầm loại mới đang nổi dần lên mặt nước, rẽ sóng lao vút đi rồi bỗng chốc chỉ mấy giây sau tàu lặn xuống, không để lại một dấu vết gì trên mặt biển cả. Van-te không khỏi bồi hồi sung sướng nghĩ đến công trình mới nhất của mình.

Sau đây, Van-te sẽ về dự tiệc với cha con Mắc Hin-đớc-len để ăn mừng sự ra đời của Éc-sơ-ca-li-be. Buổi sáng nhân lúc vui chuyện với Mắc Hin-đớc-len, Van-te có nói tới chuyện rất nhớ quê hương của hắn ở vùng Rua. Mắc Hin-đớc-len không nói gì.

Tối nay, lúc bữa tiệc sắp tàn, Mắc Hin-đớc-len có thân mật vỗ vai Van-te và nói:

- Sau đây, ông sẽ được về thăm quê hương của ông.

Van-te hỏi lại:

- Ngay sau đây, thật chứ, ngài đại tá?

- Đúng thế! - Mắc Hin-đớc-len nói - không những ông mà cả gia đình ông nữa!

Bữa tiệc vừa chấm dứt, Van-te và vợ con được mời sang phòng bên uống cà phê. Bỗng điện trong phòng tắt ngấm. Trên bức tường trắng dùng thay màn ảnh, hình ảnh vùng Rua đang dần dần hiện lên. Bắt đầu từ con sông Rua, rồi cả một chuỗi thành phố than. Rồi Đoóc-mun thành phố kéo dài đến tận sông Ranh: Bô-sum, Bu-e, Ét-xen, Muy-len... Tòa Nhà lồng kính của công ty Dê-mác sừng sững hiện lên giữa đám bụi than bay mù mịt ở Đui-dơ-bua.

Ống kính từ trên máy bay chiếu xuống con kênh Đoóc-num-en-cơ... Hàng trăm chiếc tàu chở đầy than, sắt, than cốc, thép, máy móc, phân hóa học, hóa chất, quặng sắt, gỗ, xi măng...

Bất giác Van-te thở dài và cúi đầu xuống, tay vẫn đỡ lấy trán.

Sáng nay, Van-te cùng với đứa con lớn, đi câu. Thức ăn đã được chuẩn bị sẵn khá đầy đủ: nào bơ, nào gan, nào patê, gà quay, sữa tươi, dưa chuột... Chiếc mô tô đỗ xịch trên bờ biển. Trời nổi sóng, cá câu không được mấy. Lúc hai bố con trải miếng vải lên một phiến đá để ăn trưa thì có một người thất nghiệp lại gần, chìa tay ra xin ăn. Ăn xong, người đó lại nhìn trừng trừng vào bộ quần áo đắt tiền của hai bố con nhà bác học và nói:

- Ông thật là người sung sướng!

- Sung sướng à? - Van-te chua chát hỏi lại.

“Bộ óc trong đầu này đâu có còn là của tôi nữa. Dù tôi có ăn uống sung sướng đấy nhưng tôi lại mất thứ quý giá nhất đời tôi: “Chất xám đã bị mua bán và cướp đoạt.” Van-te định nói với người kia, sau nghĩ thế nào lại thôi. Có tiếng nổ máy mô tô. Chỉ một lát sau, bãi biển lại vắng ngắt, không một bóng người./..

« Lùi
Tiến »