Mấy hôm nay kỹ sư Mi-khai-lốp nhức đầu về một vấn đề không đâu vào đâu cả. Đó là cái đống đá lù lù ở phía sau nhà máy cứ mỗi ngày một cao dần lên. Giá nó là một loại quặng gì đó đáng phải quan tâm đến thì đi một nhẽ, đằng này nó chỉ là một loại bã bỏ đi: một loại đá còn lại sau khi đã chế biến quặng rồi.
Mới đầu ôtô còn đổ loại bã này vào một cái hố sâu trước đây đã lấy đất lên để đắp nền xây nhà máy. Cái hố sâu hoắm và rộng là thế mà chẳng mấy chốc đã bị lấp kín, chẳng những vậy cứ cao dần thành một quả đồi.
Trong một nhà máy, có một cái đống bã lù lù như vậy, dù ở phía sau nom cũng đã chướng mắt, ấy là chưa kể thứ đá này lăn đầy ra đường cái ảnh hưởng tới việc đi lại suốt một đoạn đường khá dài.
Giám đốc Mi-khai-lốp không phải là không thể huy động đội xe vận tải và toàn thể anh chị em công nhân nhà máy dọn sạch cái đống này trong độ một vài lần vệ sinh công nghiệp được. Nhưng cái khó khăn chủ yếu là làm sao phải tìm cho ra cái bãi “tha ma” vĩnh viễn để chứa loại của thải này mà không phải chuyển đi chuyển lại vì việc thiết kế quy hoạch cả vùng này chưa thật hoàn chỉnh.
Kỹ sư Mi-khai-lốp đang loay hoay về cái đống đá thì chợt nhận được điện trên khu báo sắp có một đoàn khách du lịch Anh tới để thăm nhà máy. Quái sao lại có những nhà du lịch lên tận Xi-bia để tham quan vào lúc này nhỉ?
Mi-khai-lốp nhớ lại trong suốt thời gian về phụ trách nhà máy kim loại màu này và đóng khung trong cái năm 1929, từ đầu năm đến giờ, ông chưa hề thấy khách du lịch nước ngoài tới thăm đây cả. Nhưng dù sao, họ đề nghị đến mà trên khu đã có điện thì vẫn cứ phải tiếp họ cẩn thận chứ sao.
Vừa lúc đó chiếc ô tô du lịch xịch đỗ ngay trước cổng. Một đoàn du lịch bước vào, thoáng nhìn cũng dễ nhận ra ngay họ là người Anh. Hầu hết là đàn ông, đa số đã đứng tuổi, người nào, người nấy cao lêu đêu và gầy, mặt xương xương. Mi-khai-lốp để ý tới một người hơi lạ: tóc bù xù, râu xồm xoàm, tóc mai mọc dài xuống má như dính liền với bộ râu nên nom mặt và đầu người đó toàn tóc và râu. Cả bộ mặt chỉ để hở có mắt, mũi và ngay cả mồm cũng bị râu che gần hết. Người này mặc blu-dông da, đặc biệt là đi một đôi giầy đế đúc cao su khá to. Trong khi đoàn du lịch vào thăm nhà máy, dưới sự hướng dẫn của kỹ sư E-rin-xki trưởng phòng kỹ thuật thì Mi-khai-lốp cũng lững thững đi gần đó. Qua câu chuyện giữa mọi người, ông được biết trong đoàn này có một nhà địa chất đã từng đi nhiều nơi trên thế giới.
Khách du lịch đi tới khu vực nào cũng hỏi tỉ mỉ và không ngớt lời khen.
Một đoàn viên có lẽ nhiều tuổi nhất trong đoàn nói với kỹ sư hướng dẫn:
- Chúng tôi thật không ngờ, người Nga các ông tiến nhanh như vậy, y như người khổng lồ với đôi hài vạn dặm trong chuyện thần thoại vậy. Ai lại mới có hơn chục năm trời mà bao nhiêu là biến đổi. Xi-bia hoang vu, nơi này trước đây bọn Nga hoàng thường dùng để đầy những nhà yêu nước. Ấy vậy mà giờ đây: biến đổi, biến đổi hết. Chỗ nào cũng nhà máy mọc lên như nấm.
Người mặc blu-dông da, râu xồm nói tiếp:
- Xi-bia băng tuyết mênh mông giá lạnh, thế mà ở đây lại thấy xuất hiện một nhà máy kim loại màu như thế này thì… quả là có làm cho chúng tôi sửng sốt thật! Tôi tin rằng không còn bao lâu nữa, nước Nga Xô-viết sẽ có một nền công nghiệp tiên tiến và đồ sộ không thua kém gì Anh, Pháp, Đức,…
Kỹ sư hướng dẫn, theo phép xã giao thông thường cũng phải có đôi lời đáp lại:
- Chúng tôi sung sướng được đón các vị khách từ nước Anh xa xôi tới thăm đất nước Liên Xô chúng tôi mà lại quá bộ lên tận vùng Xi-bia rét mướt, hoang vắng này…
Có lẽ xem ra vì thấy ông kỹ sư Nga này cứ nhắc đi nhắc lại mãi tới “vùng Xi-bia rét mướt, hoang vắng, xa xôi hẻo lánh” này, nên ông khách nhiều tuổi nhất vội chỉ vào người mặc blu-dông da và nói:
- Xin giới thiệu với ông, ông Oăn-xít-tơn, trước đây đã từng tham gia vào đoàn thám hiểm Anh cắm cờ trên châu Nam Cực. Có lẽ vì rất mê tiếng gió bão trên băng tuyết hoang vu nên ông ta mới yêu cầu cùng chúng tôi được đến thăm vùng Xi-bia này.
Sáng hôm nay mãi gần đến trưa đoàn du lịch Anh mới về khách sạn Hữu Nghị để nghỉ trưa, chiều sẽ tiếp tục tới thăm nhà máy.
Trưa nay, Mi-khai-lốp đi làm về. Nhìn cánh cổng đóng im ỉm, ông biết ngay là vợ chưa về, như vậy có nghĩa là bữa ăn trưa nay chưa được sửa soạn một tý gì.
Mi-khai-lốp bước qua vườn hoa đang mở khóa cửa thì Ta-chi-a-na về. Chưa chi Ta-chi-a-na đã khẽ bảo chồng:
- Này, ông có biết tại sao trưa nay tôi về muộn không? Có một chuyện hơi lạ.
Ta-chi-a-na là trưởng ban quản trị của khách sạn Hữu Nghị. Câu chuyện của bà thường chỉ là chuyện cung cấp thịt, trứng, sữa, bơ, bột mỳ, rượu… tóm lại là xoay quanh vấn đề lương thực thực phẩm.
Mi-khai-lốp đang lắc lắc cho lọt chìa khóa vào ổ. Ta-chi-a-na bảo chồng:
- Này, ông nó: không phải chuyện mắm muối như mọi khi đâu nhớ!
Rồi chờ cho chồng mở xong khóa bước vào nhà, Ta-chi-a-na mới bước vào theo, khẽ kéo chồng ngồi xuống ghế, nói:
- Ở khách sạn em có một đoàn khách du lịch Anh, sáng nay không hiểu họ đi thăm đâu về mà có một người đi thẳng về phòng mình, đóng cửa lại cởi giầy ra gói cất đi.
- Nhưng ai nom thấy? - Mi-khai-lốp vội hỏi vợ - Liệu có đích xác không? Hay chỉ là họ cất giầy bình thường thôi!
- Bình thường là thế nào? - Ta-chi-a-na nói - Thì đúng là có La-rít-sa lúc ấy đang lúi húi lau tủ đứng khuất sau cái mắc áo, cô ấy bất ngờ nom thấy mà! Sau đó, La-rít-sa phải chuồn ra bằng cửa sổ.
- Thế thì tôi phải đến gặp cô ta ngay mới được! - Mi-khai-lốp đang định với lấy cái mũ trên mắc áo thì bà vợ đã ngăn lại - Thì để cơm nước xong cái đã! Việc gì mà ông phải vội vã thế?
- Bà chưa biết đấy thôi! - Mi-khai-lốp nói - Sáng nay, đoàn du lịch này đến thăm nhà máy tôi mà! Liệu La-rít-sa có nhớ mặt người ấy không?
- Dĩ nhiên là nhớ chứ! - Ta-chi-a-na nói - Cô ấy bảo là người này gầy cao, mặc áo blu-dông da, đi đôi giầy to bè bè đế cao su có rãnh mà mặt mũi, râu tóc xồm xoàm…
- Râu tóc xồm xoàm à? - Mi-khai-lốp lầm bầm nhắc lại - Đúng cái lão đã từng đi thám hiểm châu Nam Cực rồi.
Thế là trưa nay, Mi-khai-lốp không ngủ, cơm nước xong, ông đi thẳng tới khách sạn cùng vợ, sau đó lại đến gặp đồng chí kỹ sư phụ trách phòng kỹ thuật. Nghe xong chuyện, E-rin-xki nói:
- Tôi đảm bảo với đồng chí hoàn toàn không để lộ một tý bí mật gì về nhà máy cả: từ kỹ thuật cho đến những con số nữa.
Mi-khai-lốp nói:
- Thế là rất tốt nhưng dù sao chúng ta cũng phải cẩn thận vì còn chiều nay nữa. Chắc đồng chí cũng thừa hiểu rằng không phải ngẫu nhiên mà các vị khách du lịch này lại lần mò lên tận miền Xi-bia xa xôi này của chúng ta.
- Vâng! Tôi sẽ chú ý hơn! - Kỹ sư E-rin-xki cười - Mà chiều nay thì cũng chẳng còn gì mà tham quan nữa, trừ cái đống bã quặng.
- Ừ, mình có đề phòng trước cũng có hơn chứ! - Mi-khai-lốp giơ tay xem đồng hồ - Đến giờ đi làm rồi. Ta cùng đi chứ?
- Vâng, đồng chí chờ tôi thay quần áo một tý nhé!
Trong khi E-rin-xki vào trong phòng thay quần áo thì Mi-khai-lốp nhìn lên tường, nom thấy một tờ bằng khen của Ủy ban an ninh quốc gia tặng ông cụ thân sinh ra E-rin-xki đã hoạt động trong thời kỳ cách mạng tháng Mười, góp phần vào việc trấn áp bọn cu-lắc và bọn phản cách mạng hoạt động lén lút ở vùng này. Tự nhiên Mi-khai-lốp thấy yên tâm.
*
Oóc-lốp đang quay xe và cho xe cứ lùi dần, lùi mãi. Rõ ràng cái đống đá to lù lù nằm sờ sờ ngay sau xe mà cậu phụ lái cứ vừa vẫy tay ra hiệu vừa nói:
- Tí nữa! Thêm tí nữa!
Oóc-lốp cho xe lùi mỗi lúc một khó vì bánh xe cứ lăn tuột trên những cục đá, nghiêng bên nọ, lệch bên kia mãi.
- Thôi được rồi!
Vừa nghe vậy, anh lái xe Oóc-lốp vội hãm xe lại, bấm cái nút thế là cả thùng xe to thế dốc ngược lên làm cho bao nhiêu đá đều đổ dồn xuống ầm ầm. Đổ xong xe, Oóc-lốp lẩm bẩm nói với cậu phụ lái:
- Bao giờ tống đi cho thoát được những của tội của nợ này!
- Chỉ trừ phi đóng cửa nhà máy lại! - Có tiếng nói trong trẻo của một cô gái.
Oóc-lốp quay lại, Ta-ni-a. Cô kế toán cầm ở tay một cuốn sổ séc, chừng như vừa ở văn phòng ra định đi tìm đồng chí giám đốc để xin chữ ký.
Thấy anh lái xe nhìn mình trừng trừng, Ta-ni-a nói:
- Đúng như thế đấy anh Oóc-lốp ạ! Quặng từ các mỏ chuyển về, sau khi chế biến thành kim loại rồi, tất nhiên sẽ còn lại loại “đá không quặng” này. Nghĩa là nhà máy còn hoạt động thì còn loại đá này.
Oóc-lốp không nói gì, như có ý bảo cô kế toán trẻ là làm gì anh chẳng biết điều đó. Cậu phụ lái bèn nói với Oóc-lốp:
- Kể thứ đá này, nếu dùng được vào việc gì, chẳng hạn như đem rải đường, hoặc xây tường được thì ngần này cũng đủ làm được khối chuyện.
- Đằng này nó lại vô dụng cơ chứ! - Oóc-lốp nói - Thế mới gọi là bã mà! Chẳng thế mà cô Ta-ni-a đây này lại gọi nó là “thứ đá không quặng” phải không cô em?
Biết Oóc-lốp trêu mình, Ta-ni-a đang định tìm câu trả lời thì vừa lúc đó đoàn khách du lịch đi tới. Có lẽ đi tham quan một vòng gần hết nhà máy, qua dãy nhà kho chẳng nhẽ lại không qua đây nên đoàn người trước khi về nhà khách cũng lướt qua chỗ này một tí. Hầu như chẳng một ai để ý tới cái đống đá to lù lù vô tích sự này cả. Duy có Oăn-xít-tơn là quay sang hỏi E-rin-xki:
- Thưa ông, thứ này là cái gì vậy?
E-rin-xki đáp:
- Đây là thứ đá còn lại sau khi đã chế biến quặng.
Oăn-xít-tơn ngạc nhiên hỏi:
- Quái! Thế mà lại gọi là đá được nhỉ?
E-rin-xki cười:
- Có lẽ vì nó rắn như đá mà màu nó lại xam xám.
Ông trưởng đoàn tham quan cúi xuống hỏi:
- Liệu tôi có thể nhặt một cục đá này để làm kỉ niệm được không nhỉ?
- Nếu chỉ để làm kỷ niệm, lát nữa quay về phòng khách, đồng chí giám đốc chúng tôi sẽ biếu các ông những mẫu đá đẹp và quý hơn nhiều.
Nghe thấy E-rin-xki nói như vậy, Oóc-lốp đứng ngoài, quay ra khẽ nói vui với Ta-ni-a:
- Nếu ông ta có xin hàng chuyến ô tô thì chúng mình cũng chẳng tiếc ông ta làm gì thứ của nợ này phải không?
Anh phụ lái nói chen vào:
- Này anh Oóc-lốp, thế ngộ nhỡ đúng như lời tôi nói nghĩa là thứ đá này có thể đem rải đường được hoặc xây dựng nhà cửa, tường vững chắc?
Oóc-lốp ngắt lời luôn:
- Thì bọn Anh cũng chẳng thèm mua làm gì, vì rằng “của một đồng, công một nén”. Tiền đá chẳng đáng là bao, ai lại điên mà đi mua đá từ nước Nga rồi vận chuyển về tận nước Anh mà dựng nhà cửa, trừ phi đó là một thứ đá có tính chất lịch sử.
Sau khi đoàn khách du lịch vừa đi khỏi, cả Oóc-lốp lẫn cậu phụ lái và Ta-ni-a đều cố moi trong đầu để tìm xem liệu thứ đá này có “tính chất lịch sử”, dù chỉ là một chút ít ỏi thôi nhưng vô ích. Cuối cùng thì vẫn chỉ thấy ở nó một “thứ đá không quặng”, đúng như lời Ta-ni-a nói.
Sau khi tiễn đoàn du lịch lên ô tô xong, E-rin-xki quay về phòng giám đốc gặp Mi-khai-lốp kể lại việc trưởng đoàn Anh định nhặt xin một tảng đá bã.
Mi-khai-lốp hỏi:
- Đồng chí có thấy gì trong vấn đề này không?
- Theo tôi thì có hai khả năng: trước hết rất có thể là tên này đã đánh hơi thấy một vấn đề gì đấy trong thứ “đá không quặng” của chúng ta; thứ hai: cũng có thể là chuyện bình thường: lão ta muốn sưu tầm những vật lưu niệm. Trong cái túi của hắn: quả là có một số mẫu đá có ghi số, viết chữ đánh dấu hẳn hoi. Chính hắn có đưa cho tôi xem một tảng than đá sưu tầm được ở Đức trên có hình một chiếc lá nom rất đẹp.
Mi-khai-lốp gật gù:
- Tôi đồng ý với nhận xét của đồng chí nhưng tôi tin là khả năng thứ nhất có nhiều hơn. Trong tình hình nhà máy hiện nay, công việc rất nhiều, nhất là việc hoàn thành gấp rút kế hoạch năm nay, nhưng đồng chí vẫn nên cử ra một vài cán bộ kỹ thuật về Viện đề nghị phân tích thành phần của loại đá này xem sao.
E-rin-xki gật đầu:
- Vâng, tôi sẽ cử người tiến hành ngay.
*
Hình như vết bút chì mới đánh dấu vào tấm bản đồ treo trên tường có làm cho Mi-khai-lốp thấy hài lòng hơn vì dù sao, rồi đây cái quả “núi đá” kia cũng sẽ bị quẳng vĩnh viễn ra đấy. Kể ra thì ngay từ ngày mai cũng đã có thể tiến hành được rồi, nhưng Mi-khai-lốp vốn tính cẩn thận. Ông vẫn muốn nán chờ việc gửi kết quả phân tích thật tỉ mỉ thành phần của loại đá này.
Mi-khai-lốp giở cặp hồ sơ ra định ký vào một tập công văn chợt nghe thấy tiếng còi ô-tô, ông nhìn ra, một chiếc ô-tô du lịch kiểu mới đã nhẹ nhàng đi thẳng vào sân nhà máy và đỗ ngay trước cửa phòng giám đốc.
Từ trên xe bước xuống một người dong dỏng cao, đeo kính trắng, đầu đội mũ phớt tay cắp cặp. Vừa gặp Mi-khai-lốp, khách đã cúi đầu chìa tay ra bắt rất lịch sự rồi mở cặp đưa một lá thư của giám đốc công ty thép dát Oe-linh-tơn.
- Thưa ngài giám đốc, tôi là phái viên được ngài giám đốc công ty chúng tôi ủy nhiệm tới trao đổi trực tiếp với ngài về việc hỏi mua một số kim loại màu.
- Rất hoan nghênh. Mi-khai-lốp mở hộp thuốc lào ra mời khách, rồi xem xét kỹ bản hợp đồng. Thật ra, số lượng quặng không nhiều lắm.
Việc ký kết xong xuôi. Trong lúc uống cà phê vui vẻ khách như chợt nhớ ra điều gì, khẽ kêu:
- Trời! Tí nữa thì quên… Điên thật!
Khách mở cặp lấy ra một phong thư khác đưa cho ông giám đốc:
- Thư của nam tước Oét-min-ham gửi ông… Tôi tin là sức khỏe nam tước dạo này không được tốt. Xin lỗi ông có biết nam tước không nhỉ?
Mi-khai-lốp mở thư ra, thật thà đáp:
- Quả là không ạ!
- Thật đáng tiếc! - Khách khẽ nhún vai - Một tay chơi nổi tiếng ở Lơn-đơn - hay nói chính xác hơn - ở ngoại ô kinh đô, nam tước có một biệt thự rất rộng. Mỗi con đường trong khu vực đó đều mang tên một địa danh nước ngoài và xây bằng thứ đá của nơi đó. Ví dụ: đường Phu-gi, có nghĩa là con đường đó lát bằng thứ đá lấy từ quả núi lửa nổi tiếng ở Nhật, đường Các-pát, đường Hi-ma-lay-a và giờ là đường Xi-bia…
Mi-khai-lốp gấp thư lại:
- Nam tước muốn mua thứ “đá không quặng” của chúng tôi à? Để lát đường, cần gì phải mua tới một số lượng lớn như thế - Mi-khai-lốp nhìn khách rồi đứng dậy vui vẻ nói:
- Lát nữa tôi sẽ biên thư trả lời cho nam tước Oét-min-ham biết: thứ đá không quặng này đâu có phải là tiêu biểu cho đá Xi-bia. Sẽ có thứ khác đẹp hơn, quý hơn…
Khách hơi thoáng lúng túng:
- Nhưng nếu như nam tước chỉ muốn mua một loại đá này thì sao ạ?
Mi-khai-lốp vui vẻ nói:
- Nếu hòn đá biết nói, tôi tin rằng họ hàng nhà đá ở Xi-bia không bao giờ chọn loại “đá không quặng” này làm đại diện cho mình ở nước ngoài… Và cấp trên vừa điện cho chúng tôi biết: chính loại “đá không quặng” này cũng “đã nói” như vậy và không chịu rời xa Tổ quốc Xô viết của mình.
Thấy khách tiu nghỉu, Mi-khai-lốp dừng lời. Chính ra ông định nói thêm “Chỉ có nhà máy Xô-viết chúng tôi mới có quyền sử dụng loại quặng chứa kim loại hiếm và rất quý này”.
*
Tối nay vừa ở khách sạn về, Ta-chi-a-na gặp ngay chồng, hối hả nói:
- Này, mình này, em nghe nói các kỹ sư trên Viện mới phát hiện ra trong thứ đá gì ấy của nhà máy có vàng phải không mình?
Mi-khai-lốp cười:
- Chắc bà nó cho vàng là quý nhất à?
Ta-chi-a-na lại hỏi:
- Thế thì có ngọc à?
Mi-khai-lốp lắc đầu đáp:
- Thế bà nó cho rằng cứ phải là vàng hay ngọc mới là quý à? Không phải thế đâu! Chỉ có dưới chế độ tư bản thì vàng mới là quý nhất, chứ đối với chúng ta thì vàng đâu phải là quý nhất.
Ta-chi-a-na cười, nói đùa với chồng:
- À xin lỗi, xin lỗi. Em quên mất là mình có một đức ông chồng là một nhà kim loại học.
- Trong số những kim loại hiện nay trên trái đất thiếu gì những loại quý hơn vàng. Trước hết là những viên ngọc bê-rin và kim loại của nó chứa bê-ri-li. Các kim loại màu ở nhà máy chúng ta đây chỉ cần bỏ vào một tí bê-ri-li là trở nên cứng, bền, chắc và đàn hồi. Zi-ri-cô-ni cũng vậy, muốn chế tạo tên lửa, máy bay đều phải dùng tới hai loại kim loại hiếm này. Zi-ri-cô-ni lấy ra từ một thứ đá quý. Rồi li-ti, giéc-ma-ni, in-đi, dê-len, te-lua, ru-bi-đi, xê-ri, lan-tan…
- Thôi thôi! Ta-chi-a-na đưa hai tay lên bịt tai lại - Không khéo em đến vỡ đầu vì cái mớ ấy lên vì mình mất.
Mi-khai-lốp ngừng kể và cười, Ta-chi-a-na hỏi:
- Thế trong đá thải của nhà máy, tìm thấy loại gì quý đấy hả anh?
- Rê-ni! - Và Mi-khai-lốp hỏi vợ - Thế bà nó có biết tại sao lại có cái tên rê-ni không? Đó là vì những người đầu tiên báo tin đã tìm ra nguyên tố này và trình bày những mẫu hợp chất đầu tiên của nó vào ngày mồng 5 tháng 9 năm 1925 tại hội nghị các nhà hóa học Đức ở Niu-béc-gơ là bà I-da Nốt-đắc và chồng là Oan-te Nốt-đắc. Họ muốn tỏ lòng yêu quý dòng sông Ranh của mình, vì phát minh này mà cả hai ông bà đều được thưởng huy chương Li-bi-khốp-xki.
Không thấy vợ nói gì, Mi-khai-lốp càng say sưa thao thao bất tuyệt:
- Nguyên tố số 75 này mặc dầu đã được Men-đê-lê-ép tiên đoán ra từ năm 1871 với cái tên ban đầu là bi-man-gan vì nó có tính chất giống man-gan. Ấy vậy mà cách đây bốn năm ông bà I-da và Oan-te Nốt-đắc và O.béc mới là những người đầu tiên đã tìm ra được rê-ni vào tháng sáu và họ là những người đầu tiên đã tách ra được rê-ni ở trạng thái tự do, đã nghĩ ra được phương pháp điều chế rê-ni trong công nghiệp. Họ đã nêu lên giá trị thực tiễn và xác định được những tính chất lý hóa quan trọng nhất của nó.
Ta-chi-a-na sốt ruột hỏi chồng:
- Thế rê-ni được dùng để làm gì?
- Muốn biết công dụng của nó thì trước hết phải xác định được rõ những tính chất rất quan trọng của nó - Mi-khai-lốp vẫn say sưa nói như một ông giáo trên lớp - Trước hết nó có nhiệt độ nóng chảy cao mà lại bền. Điện trở của rê-ni lớn và đặc biệt rê-ni khá bền đối với ô-xy và ni-tơ.
Chính vì vậy mà rê-ni được dùng để chế tạo dây tóc các bóng đèn điện tử và những pin nhiệt điện có thể đo được nhiệt độ tới 2.000 độ. Người ta còn dùng hợp kim của rê-ni với đồng làm chất xúc tác trong các quá trình hy-dro hóa. Rồi kim la bàn, đầu bút máy và nói chung tất cả những bộ phận nào đòi hỏi ít hư mòn và có độ chống gỉ cao đều dùng loại hợp kim này mà thành phần rê-ni trong đó không cao quá vài phần trăm.
- Thế ra bọn gián điệp kỹ thuật Anh láu cá thật! - Ta-chi-a-na nói - Chưa chi nó đã định kiếm lời ở món hàng này.
- Bây giờ chắc chắn rê-ni đã nằm trong tay các nhà khoa học Liên Xô - Mi-khai-lốp mơ màng nhìn ra xa nói với vợ - việc các cán bộ kỹ thuật ở trên Viện phân tích lấy ra được rê-ni trong “thứ đá không quặng” này đã làm cho tôi chớm nảy ra một ý nghĩ: thiết lập đồ án nhà máy sản xuất rê-nát ka-li từ các chất bã tạo thành khi chế biến quặng thành kim loại màu… Công suất hàng năm của nó biết đâu lại chẳng thu được tới hàng trăm ki-lô-gam rê-ni.
Mặc dầu không biết gì về rê-ni nhưng Ta-chi-a-na cũng gật gù nói với chồng:
- Ừ, dễ cũng được tới hàng trăm ki-lô-gam thật đấy!
Biết vợ đã buồn ngủ, Mi-khai-lốp cũng không muốn nói rõ thêm cho vợ biết: nam tước Oét-min-ham chẳng qua là một tên gián điệp kỹ thuật đã lọt vào nhà máy trong vai khách du lịch Anh với cái tên Oăn-xít-tơn.