Éc Lây-xtơ thẫn thờ hỏi lại bạn một lần nữa:
- Thế nào cậu đã quyết định chưa! Dù sao cũng phải suy nghĩ kỹ vì đây là một bước ngoặt của cuộc đời mình.
- Suy nghĩ kỹ rồi đấy! - I-a-cốp gật đầu - Đối với mình thì không hiểu sao những vì sao xa xôi trên bầu trời bao la kia lại có một sức hấp dẫn kỳ diệu đến thế! Mình chọn nghề lái máy bay không phải là không có chủ bụng. Bạn hãy thử tưởng tượng xem: sáng nay mình với cậu còn ngồi ở Mát-xcơ-va trò chuyện, chiều nay rất có thể mình đã dạo chơi ngoài đường phố ở kinh đô Pê-téc-bua [5] . Rồi chỉ ít hôm nữa lại Béc-lanh, Pa-ri hay Luân đôn hay một thành phố to lớn, sầm uất nào đó trên thế giới.
I-a-cốp xòe bàn tay ra hiệu:
- Cậu hãy thử tưởng tượng xem: được bay liệng trên bầu trời như những cánh chim giữa những đám mây trắng bồng bềnh, có lúc lại phải vượt qua những đỉnh núi cao vào những ngày xấu trời đầy sương mù ảm đạm để rồi hạ cánh an toàn xuống một phi trường heo hút xa xôi nào đó… Nhất định là thú vị lắm chứ! Ôi vinh quang thay những phi công lái máy bay!
Nghe giọng nói say sưa đầy mơ mộng của I-a-cốp, Éc Lây-xtơ biết ngay bạn mình đã có một quyết định dứt khoát trong đời.
- Thế còn cậu, Éc Lây-xtơ - Giờ lại đến lượt I-a-cốp hỏi bạn - trước sau rồi chúng ta vẫn cứ phải nộp đơn ngày một, ngày hai thôi mà!
- Mình ấy à? Éc Lây-xtơ chậm rãi vừa nói vừa dậm dậm chân xuống đất - không phải tất cả những gì hấp dẫn nhất kỳ diệu nhất đều nằm cả trên trời mà theo mình suy nghĩ thì dưới chân chúng ta đây vẫn còn cả một vũ trụ bao la huyền bí đang cần rất nhiều các nhiều các nhà khoa học vén lên những tấm màn bí mật của thiên nhiên.
- A, nhà địa chất! - I-a-cốp gật gù, nói - Đúng, có người đã gọi lòng đất là “vũ trụ thứ ba”.
- Biết bao nhiêu kho tàng, châu báu, vàng bạc… còn dấu mình trong lòng đất. Nước Nga chúng ta đâu có thiếu mỏ than, mỏ sắt, mỏ đồng… Tại sao chính phủ vẫn cứ phải mua sắt thép của Anh và Đức trong khi chúng ta không thiếu mỏ sắt. Vấn đề bây giờ là phải tìm cho ra những kho tàng đó… Rồi vàng… người ta tính ra chỉ riêng một thế kỷ mười bảy, con người đã khai thác ở thiên nhiên 19 tấn vàng nhưng chỉ một trăm năm sau, số vàng khai thác đã lên tới 1.130 tấn. Mà nào đã ăn thua gì, thật ra khối lượng vàng thiên nhiên có đến hàng trăm tỉ tấn. Chỉ tính riêng trong nước biển của các đại dương, số vàng đã lên tới 30 triệu tấn dù cho trong mỗi tấn nước biển chỉ chứa có 0,05 mg vàng. Rồi bạc, rồi những viên ngọc Bê-rin óng ánh, những viên kim cương như viên “Quốc vương” hiện còn trưng bày ở viện bảo tàng Mát-xcơ-va những viên ngọc bích mày lục, những viên ngọc hải lam xanh biếc màu biển khơi, những viên hồng ngọc trong suốt màu vàng hoặc hồng hồng, rồi những viên cương ngọc đỏ thắm màu máu tươi, những viên ngọc xanh một màu xanh huyền ảo… Nhưng trong lòng đất còn những kho tàng quý báu hơn cả vàng và ngọc - Tự nhiên Éc Lây-xtơ thở dài - mỗi người chúng ta đi một con đường khác nhau như vậy thì liệu trong cuộc đời, bao giờ lại có dịp chúng ta gặp được nhau. Mình nói thật đấy! Một đứa lúc nào cũng bay tít trên trời, tận mây xanh ấy. Một đứa gần như suốt đời cứ chui sâu mãi vào lòng đất đen kịt!...
- Cậu rõ khéo lo xa! - Éc Lây-xtơ đáp - Miễn là trong tim chúng ta còn tình bạn chân thành thì rồi ở đâu đâu, cuối cùng chúng ta cũng vẫn gặp được nhau cơ mà
Sau buổi gặp gỡ hôm đó, đôi bạn trẻ chia tay nhau. Éc Lây-xtơ theo học trường đại học địa chất, còn I-a-cốp theo học học viện hàng không. Họ vẫn gặp nhau và thư từ đều đặn nhưng tới đại chiến thế giới lần thứ nhất bùng nổ thì đôi bạn thân thiết đó không hề nhận được thư từ, tin tức gì của nhau cả.
*
Trước mặt I-a-cốp lúc này là một đám mây trắng bồng bềnh, anh khẽ kéo cần lái cho chiếc máy bay ngóc đầu lên cao. Bầu trời lại hiện ra trong vắt. Lòng anh tự nhiên thấy thanh thản, cách đây mấy hôm, tình cờ trong một chuyến bay từ Pê-téc-bua đi Mát-xcơ-va anh biết được tin của Éc Lây-xtơ.
Chiếc máy bay như con én đang lướt đi nhẹ nhàng với tiếng động cơ đều đều…
Bỗng I-a-cốp tái mặt đi khi anh nhìn vào la bàn, chiếc kim không còn giữ đúng hướng Bắc Nam nữa mà đầu kim cứ chệch sang một bên như có một bàn tay vô hình nào đó bắt chiếc kim phải hướng về một phía cố định…
Hay là mình đã bay vào “vùng trời ma”?
I-a-cốp nhìn lên bản đồ: đúng là mình đang bay trên Cuốc-xcơ thật! “Vùng trời ma” là cái tên mà một số phi công thường nói đùa để gọi vùng này vì khi bay qua đây, họ thường bị lạc đường do kim địa bàn chỉ sai lung tung.
I-a-cốp nhớ lại đường bay của mình và nghĩ tới sân bay, đúng ra anh sắp phải hạ cánh. I-a-cốp muốn cứ tiếp tục lái máy bay đi mà không bị hướng chỉ của chiếc kim địa bàn “ma quái” chi phối. Nhưng rồi giữa bầu trời mênh mông việc điều khiển lại cho chiếc máy bay đi theo hướng tinh trước không phải là không gặp khó khăn. Đây là lần đầu, phi công I-a-cốp bay qua vùng này. Anh rất tin vào kinh nghiệm bay dầy dạn của mình nhưng lúc này, anh cũng không tránh khỏi lúng túng. Anh nhìn vào chiếc đồng hồ đo độ cao và nhiệt độ bên ngoài, bỗng anh giật mình đánh thót một cái khi nhìn tới chiếc đồng hồ chỉ nhiên liệu. Nhiên liệu trên máy bay sắp hết. Làm thế nào bây giờ?
I-a-cốp đưa mắt nhìn về hướng mặt trời: dù sao vẫn có thể định hướng được dù chiếc la bàn phản bội. Vẫn cho máy bay bay về sân bay được nhưng lúc này, chỉ tiếc không còn đủ nhiên liệu nữa. I-a-cốp nhìn xuống dưới: phía trước toàn một vùng đồi núi nhấp nhô.
Phải kiếm một nơi nào tương đối bằng phẳng để hạ cánh an toàn mới được! Dù sao cũng phải đánh điện xuống mặt đất.
Phụ lái Đa-khe ngồi bên cạnh biết rõ nỗi lòng của phi công lão luyện I-a-cốp, nhất là khi anh thấy chiếc máy bay bắt đầu lượn vòng và từ từ hạ thấp dần xuống.
Nhiên liệu mỗi lúc một cạn dần, nhìn đồng hồ Đa-khe cũng thấy giật mình và cảm thấy I-a-cốp quả là bình tĩnh thật!
Còn cách mặt đất năm trăm rồi ba trăm mét, nhìn xuống dưới, Đa-khe đã nom rõ từng lùm cây, từng mỏm núi xanh rì đang vun vút chạy lùi lại phía sau. Máy bay vẫn xuống thấp dần, thấp dần…
Một trăm mét… rồi năm mươi mét.
Đối với phi công, cái khoảng cách cuối cùng trước khi cho bánh máy bay bay chạm xuống mặt phẳng đường băng là vô cùng quan trọng vì chỉ cần sơ ý một chút, máy bay có thể lật đổ nghiêng đi và bốc cháy. Trên sân bay, biết bao nhiêu tai nạn đã xảy ra ở cái “khoảng cách cuối cùng” này. Huống hồ là ở đây, không phải sân bay bằng phẳng mà là một nơi xa lạ, có thể là chưa hề có bóng người đặt chân tới…
Tim Đa-khe đập thình thịch. Bỗng anh cảm thấy hơi bị xóc nhẹ: anh mỉm cười biết ngay là bánh máy bay đã chạm mặt đất. Tốc độ máy bay giảm dần, giảm dần… Nhưng đột nhiên có rặng núi án ngữ phía trước, Đa-khe giật bắn người lên. Với tốc độ hiện tại, dù rõ ràng đang được giảm dần nhưng chắc chắn máy bay vẫn bị húc vào núi vỡ tan tành… Anh nhắm mắt lại và tự nhiên cảm thấy người hơi bị xô nghiêng đi trong giây lát. Không một tín hiệu hướng dẫn, với địa thế bất lợi I-a-cốp đã cho máy bay hạ cánh an toàn xuống một bãi phẳng không rộng lắm. Khi Đa-khe mở mắt ra thì chiếc máy bay đã đỗ hẳn, I-a-cốp mở cửa máy bay, cởi mũ ra, hít mấy hơi dài. Anh phụ lái biết rõ phi công I-a-cốp vừa trải qua những giây phút căng thẳng. Thở hít xong vài cái, I-a-cốp ra lệnh cho người phụ trách điện đài:
- Pê-chi-a! Liên lạc gấp để xin nhiên liệu chứ chẳng lẽ chúng ta cứ bị “giam giữ” mãi ở đây?
Sau đó I-a-cốp cùng với Đa-khe đi lảng vảng quanh đó để tìm chỗ thuận tiện cho máy bay cất cánh nếu có nhiên liệu gửi tới…
Thế là cái “Vùng trời ma” này có vấn đề gì đây: Dĩ nhiên không phải chuyện ma quỷ rồi! Phải gặp Éc Lây-xtơ mới được! Trước hết là thăm anh ta, sau nữa là phải đưa cái “Vùng trời ma” ra mà hỏi anh ấy mới được. Bây giờ hẳn Éc Lây-xtơ đã là một nhà địa chất cừ rồi. Đối với anh ta, thì bất cứ chuyện gì trên trời của mình, anh ấy vẫn có thể kéo xuống đất được! Rất có thể rồi “vùng trời ma” này cũng như vậy mà thôi!
*
Đầu tro tàn ở điếu thuốc lá lúc này dài đã tới hơn một xăng-ti-mét… Mặc cho làn khói thuốc từ từ uốn éo bốc lên, Éc Lây-xtơ vẫn chăm chú nghe bạn kể chuyện về hiện tượng lệch hướng của kim địa bàn mỗi khi máy bay bay qua vùng trời Cuốc-xcơ.
Câu chuyện mỗi lúc một trở nên hấp dẫn hơn. Hình như để cho câu chuyện vừa rồi là chuyện thật hoàn toàn I-a-cốp nói:
- Hẳn anh còn nhớ Vi-xcốp, Xu-ma-lin Xu-tô-lép… hồi học ở trung học chứ? Tất cả cánh phi công chúng tôi mỗi lần bay qua vùng này đều thấy hiện tượng đó cả. Vậy đó là cái gì?
Éc Lây-xtơ chậm rãi nói:
- Theo danh từ chuyên môn của các nhà địa chất chúng tôi thì gọi hiện tượng đó là sự khác thường về từ.
Cầm điếu thuốc lá trên tay, khẽ gạt cái tàn đi Éc Lây-xtơ rít một hơi rồi nói:
- Tôi không nói thì hẳn anh cũng biết: Sở dĩ kim nam châm trong địa bàn luôn luôn chỉ về hướng Bắc ấy là vì bản thân trái đất chúng đang sống đây, chẳng qua cũng chỉ là một cục nam châm khổng lồ mà Bắc cực và Nam cực chính là hai cực của cục Nam châm khổng lồ đó. Còn nếu như trong lòng đất có một mỏ quặng nào đó có từ tính, thì tức thời kim địa bàn ở đó sẽ bị khối “Nam châm” của mỏ làm cho lệch hướng đi. Kể ra cũng dễ hiểu thôi!
I-a-cốp vội hỏi:
- Thế ra anh cho rằng vùng Cuốc-xcơ ấy có một chỗ quặng từ tính?
- Đúng! Éc Lây-xtơ đáp - Rất có thể như vậy. Thế hôm đó, anh có gặp một chàng chăn cừu nào tên là Ma-nhút không?
- Chẳng gặp một ai cả - I-a-cốp nhăn mặt lại nói - chúng tôi phải một đêm và gần một ngày bị rét run cả người và đói nữa. Cái trò đã đói thì lại càng rét. Mãi quá trưa ngày hôm sau mới cất cánh được! Thật là khóc dở… mếu dở.
Éc Lây-xtơ cười:
- Khi nào anh khóc thì có nghĩa là tôi cười đấy!
I-a-cốp ngây người ra không hiểu.
- Thật đấy mà! Éc Lây-xtơ giải thích cho bạn rõ - Gặp hiện tượng kim địa bàn bị lệch hướng, trong khi các phi công, các nhà du lịch hoặc thám hiểm lúng túng vì lạc đường hoặc gặp nguy hiểm thì những nhà địa chất chúng tôi lại vui mừng vì biết rằng rất có thể đó là cửa ngõ của một kho tàng quý giá.
I-a-cốp lại hỏi:
- Này, thế sao anh lại bảo tôi là gặp cái anh chàng chăn cừu Ma-nhút nào?
Éc Lây-xtơ cười:
- Tại anh cứ mải chuyện trên trời nên không biết chuyện dưới đất đấy thôi. Thế này nhé! Ngày xưa đã lâu lắm rồi, có một anh chàng chăn cừu tên là Ma-nhút, những lúc lùa đàn cừu đi ăn trên núi, anh ta thường chống một chiếc gậy đầu bịt sắt. Một hôm, tình cờ anh ta thọc gậy vào một tảng đá và lạ chưa, Ma-nhút không nhấc lên được. Thì ra tảng đá ấy đã dính chặt lấy đầu gậy. Anh ta hoảng quá, kêu cứu ầm lên. Dĩ nhiên cuối cùng, Ma-nhút cũng gỡ được gậy ra. Còn cái tảng đá kỳ lạ kia rơi vào tay một nhà địa chất, nhà khoa học này phát hiện ra tảng đá này chính là một loại quặng sắt mới. Nhà địa chất nọ lấy ngay tên của anh chăn cừu này đặt cho loại quặng mới đó là Ma-nhê-tít.
I-a-cốp cười:
- À, ra thế!
Trước sau, tôi cũng sẽ đến vùng Cuốc-xcơ, dĩ nhiên anh sẽ giúp tôi trong việc này! - Éc Lây-xtơ nói.
Sau đó hai người đứng dậy và lại gần tấm bản đồ. I-a-cốp vẽ khoanh vùng Cuốc-xcơ lại và bảo:
- “Vùng trời ma” đây! Rồi tôi sẽ đưa anh đến tận nơi để tìm hiểu nó.
Éc Lây-xtơ thấy vùng này rộng tới 203.000 hec-ta, nằm ở giữa nước Nga, trong miền đất gần biên giới U-crai-na. Miền này vốn có nghề dệt, nghề thuộc da, làm lông thú. Nếu tìm ra được mỏ sắt thì hẳn sẽ được nâng lên một vị trí công nghiệp quan trọng ở nước Nga.
Ngọn núi trước mặt tuy không cao lắm nhưng nom sừng sững như một người khổng lồ uy nghi đang phóng tầm mắt về phía trước.
Éc Lây-xtơ khẽ đặt cái ba-lô xuống một tảng đá rồi trải tấm bản đồ ra nhìn. Lại một tảng quặng lóng lánh ánh kim loại nằm lăn lóc dưới chân. Có thể nói là từ sáng đến giờ Éc Lây-xtơ mê mẩn cả người vì kho tàng tài nguyên bí mật này thật vô cùng phong phú. Anh nhặt tảng quặng lên, lấy kính lúp ra soi. Loại này hình thành từng khối, có mầu đen sắt. Anh lấy dao vạch mãi không được vì nó cứng quá. Nhìn bề ngoài thấy ánh kim loại rõ rệt. Anh dí thử đầu dao vào thì thấy bị hút khá mạnh. Đúng loại ma-nhê-tít rồi!
Éc Lây-xtơ bước đi chậm rãi như sợ những dấu vết thiên nhiên vùng này bị xáo trộn đi. Cùng với một nhóm mấy người, Éc Lây-xtơ cho rằng họ có thể tạo thành một mạng lưới. Điều Éc Lây-xtơ lo nhất là không hiểu đến bao giờ, họ mới có thể khảo sát thăm dò sơ bộ dọc ngang được suốt cả một vùng rộng lớn này.
Hình như đã thành lệ, cứ cách vài trăm mét, mọi người lại dừng lại quan sát, đối chiếu với bản đồ. Không một điểm lộ của đất đá ở đây lại có thể lọt qua được con mắt của họ. Một điều khó khăn đã đến với mọi người là không thể dùng địa bàn để đo thế nằm của đá được.
- Làm cái nghề địa chất này phải trung thực! Éc Lây-xtơ lấy búa lậy một tảng đá lấy quặng ra vừa lấy kính lúp soi vừa nói với mọi người - Đừng bỏ sót một cái gì.
Những vẩy màu đỏ đập vào mắt Éc Lây-xtơ, nhìn bề ngoài thấy ánh kim loại, sờ vào thấy khô cứng. Rất có thể đây là loại E-ma-tít.
Éc Lây-xtơ lấy hóa chất ra thử kỳ xong, anh mới gói chỗ quặng đó lại viết ra ngoài ký hiệu Fe2O3. Anh sung sướng khi nghĩ tới hàm lượng chứa ở nó khá cao: tới 70% sắt.
Éc Lây-xtơ hầu như không bỏ sót một mẩu đá tầm thường nào. Anh gói ghém mẫu đá rất cẩn thận, đánh số, ghi phiếu rồi mới bỏ vào ba-lô. Anh thừa hiểu là những vật tầm thường này chính là những vật chứng rất cần cho lớp người sau để họ có thể nghiên cứu sâu hơn.
Tối nay dừng lại giữa rừng, Éc Lây-xtơ vừa rửa mặt mũi chân tay dưới suối xong, anh đã kiếm một tảng đá ngồi rồi treo đèn lên, anh tự tay ghi chép vào cuốn nhật ký địa chất. Không những ghi chép ngắn gọn nhưng đầy đủ, Éc Lây-xtơ còn vẽ lại tất cả những gì đã quan sát được trong ngày.
Bếp lửa cháy bùng bùng như xóa tan bóng đêm giá lạnh đang muốn bao trùm lên tất cả. Lều bạt đã căng xong. Éc Lây-xtơ cởi giầy ra ngồi bóp chân. Anh đang nghĩ tới chặng đường đi ngày hôm sau. Anh cảm thấy hình như kho hàng châu báu này càng đi sâu vào càng thấy nhiều và hấp dẫn vô cùng. Éc Lây-xtơ thầm cảm ơn I-a-cốp: “giả như I-a-cốp, không gặp tai nạn ở “vùng trời ma” này thì làm sao ta có thể sống được những cảm giác sung sướng như bây giờ”.
Tối hôm đó một người trong đoàn có đưa cho Éc Lây-xtơ xem một gói đựng một loại quặng mầu nâu, có vết vạch màu vàng nâu thành hình khối, ngoài có đề Fe2 O3. nH2O - một loại hỗn hợp của nhiều chất, hàm lượng thường không cố định.
Phải làm sao đây để cuối cùng, với tấm bản đồ địa chất của mình, những người khác có thể đi tìm mỏ được dễ dàng hơn. Có lẽ vì xuất phát từ ý nghĩ đó nên Éc Lây-xtơ tiền hành khảo sát khẩn trương nhưng vẫn làm rất cẩn thận.
Mấy ngày nay đội địa chất gần cạn hết lương thực, nồi xúp cứ mỗi ngày một loãng ra, lát phó mát cuối cùng và mỡ muối đã dùng hết từ bữa tối hôm kia. Trong đội địa chất của Éc Lây-xtơ có một cây súng săn, nhưng kết quả săn bắn cũng thất thường.
Nếu không có tiếp tế thực phẩm thì chỉ một, hai hôm nữa, mọi người buộc phải quay về.
- Này các bạn! - Chúng ta hãy cố đi thêm lấy một ngày nữa! Éc Lây-xtơ làm bộ như hít hít mãi - Tôi cảm thấy hình như phía trong núi có mùi thịt gà quay tơ!
Dĩ nhiên chẳng ai tin là trong núi lại có một khách sạn loại sang cả, nhưng lòng say mê nghiên cứu của trưởng đoàn Éc Lây-xtơ đã truyền sang họ từ lúc nào.
Sáng nay mọi người gặp một dòng suối ngầm, nước bị ứ lại, dồn lên mặt đất. Éc Lây-xtơ nói:
- Nếu như ở đây có mỏ muối ăn hay brôm, i-ốt hoặc ka-li, ma-nhê thì người ta chỉ việc dùng bơm hút lên, rồi đem chưng cất là được những chất khoáng đó.
Một người khác nói chêm vào:
- Nếu là suối nước khoáng chữa bệnh thì ở đây sẽ mọc lên những ngôi nhà an dưỡng và nước sẽ được đóng chai đem bán.
Lúc này Éc Lây-xtơ đang chú ý tới đám ngải cứu có màu vàng lục mọc ven suối. Phải chăng đây là một tín hiệu báo cho Éc Lây-xtơ biết dưới lòng đất có sắt?
- Rất có thể dưới đất có sắt!
Éc Lây-xtơ giải thích cho mọi người biết rõ, cây cối thường vẫn hút những lượng chất khoáng trong đất. Thức ăn của cây, ngoài ô-xy và hy-đrô ra, thường còn có ni-tơ, sắt, ka-li, bạc, phốt-pho…
Mọi người chăm chú nghe một cách lý thú khi thấy Éc Lây-xtơ cho biết trong hạt ngô có chứa vàng, trong một ki-lô-gram quả thông có chứa 10 mi-li-gram vàng, trong tàn thuốc lá cũng có nguyên tố li-ti. Nhờ phân tích tro mà người Mỹ đã tìm ra được mỏ u-ran. Éc Lây-xtơ nói:
- Ở Trung Quốc, các nhà địa chất rất chú ý tới một rừng cây hương nhu và ở dưới chỗ đất đó, có thể có mỏ đồng; nơi nào có cây sa tiền thảo thì ở dưới có thể có mỏ kiềm.
Chợt có tiếng reo lên:
- Có một mỏ… thịt đây rồi!
Thì ra tay súng trong đội địa chất, trong lúc lùng sục đi săn đã gặp được một gia đình thổ dân ở đây và hỏi mua được một con gà và ít ngô.
Trong lúc mọi người sung sướng bắt tay vào việc chuẩn bị một bữa ăn thịnh soạn sau một ngày đói thì Éc Lây-xtơ cứ bám sát lấy ông cụ chủ nhà. Theo lời ông cụ kể thì ở vùng này, ngày xưa có một ông thần khổng lồ có sức khỏe phi thường. Có một năm, giặc giã tới quấy nhiễu, đi tới đâu chúng cướp bóc đốt phá tới đấy. Người khổng lồ thấy vậy bèn chiêu hồi quân lính và phát cho mỗi người một bộ áo giáp sắt mũ sắt rất nặng mà người thường không mặc nổi. Gươm giáo quân lính dĩ nhiên cũng bằng sắt. Đoàn quân này đi đến đâu là tiếng sắt kêu loảng xoảng tới đó. Trong trận đấu, những chiến sĩ mặc giáp sắt này đã chiến thắng vẻ vang vì quân thù có bắn trúng thì tên cũng rụng xuống, gươm chém không đứt, giáo đâm không thủng… Từ đó đoàn quân giáp sắt hễ đi đến đâu, quân giặc chỉ nghe thấy tiếng loảng xoảng đã bỏ chạy tán loạn.
Người anh hùng khổng lồ mặc giáp sắt, sau khi đánh tan quân giặc, đã về an nghỉ ở đây.
Theo vết tay chỉ của ông lão. Éc Lây-xtơ nhận ra một trái núi nhỏ nom hình từa tựa một người nằm dài trên mặt đất.
Ông lão lại kể tiếp:
- Vào những đêm mưa to gió lớn, người khổng lồ giáp sắt lại trở về vùng này, tiếng gươm đao, tiếng giáp sắt đập vào nhau loảng xoảng…
Éc Lây-xtơ hầu như không bỏ sót một chi tiết nào trong câu chuyện này cả.
Trong bữa ăn, trao đổi với ông lão, Éc Lây-xtơ tin rằng, qua thực tế khảo sát và câu chuyện truyền thuyết vừa rồi, nhất định vùng này có khả năng có một mỏ sắt khá lớn.
Mới đi khảo sát vùng này nếu như Éc Lây-xtơ và đội địa chất không đụng phải, chỗ thì ma-nhê-tít, chỗ thì e-ma-tít, chỗ thì li-mê-nít hoặc xi-đê-rít thì câu chuyện người anh hùng khổng lồ mặc giáp sắt kia cũng bị lãng quên đi. Nhưng ở đây rõ ràng có “một anh hùng khổng lồ” thật sự.
Mỗi lần bay về Mát-xcơ-va, I-a-cốp đều ghé lại thăm Éc Lây-xtơ nhưng đến hơn một năm nay, anh không hề gặp bạn ở nhà.
Vào ngồi trong căn phòng làm việc của Éc Lây-xtơ, I-a-cốp chỉ thấy toàn những đá, những quặng… có thứ óng ánh rất đẹp, có thứ đen xì hoặc xám xịt. Đặc biệt có một số loại quặng I-a-cốp nom thấy quen quen hình như mình đã nhìn thấy ở đâu một đôi lần thì phải. Có loại hình hạt; hình trứng cá, lấp lánh như thủy tinh, có loại quặng lại có lẫn hình vẩy cá màu đỏ như gan lợn, có loại sáng như gương.
Bên cạnh những mẩu đá đó là những gói, những bọc to bọc giấy ngoài ghi những ký hiệu hóa học và ngày tháng. Chỉ nhìn những ngày tháng liên tục ghi trên những bọc giấy đó, I-a-cốp biết ngay được nhịp độ làm việc rất khẩn trương của bạn.
Cạnh những mẩu đá, những bọc còn có những cây cỏ, những chai lọ đựng nước.
Một lần I-a-cốp đến nhà Éc Lây-xtơ thì thấy trên bàn có để lại một bức thư, I-a-cốp giở ra đọc thấy có câu:
“Hãy tìm mình ở Cuốc-xcơ, cuộc đời mình gắn bó với Cuốc-xcơ”.
*
I-a-cốp chọn mua một bó hoa tươi, vào ngày tết, hoa bao giờ cũng đắt và mua cũng khó nhưng rồi cuối cùng I-a-cốp cũng mua được. Anh vui vẻ tới nhà Éc Lây-xtơ hy vọng hẳn anh bạn này, dù có đi đâu thì ngày tết cũng về sum họp ở nhà nhưng không, Éc Lây-xtơ vẫn vắng bóng.
I-a-cốp sửa lại mấy bông hoa rồi cắm vào lọ. Anh ngồi thẫn thờ, lấy thuốc lá ra hút. Ngồi nghĩ lại, tự nhiên anh thấy giật mình: “Hừ, lại hóa ra mình làm khổ cả cuộc đời anh ấy! Giá như mình không kể cho Éc Lây-xtơ nghe về “Vùng trời ma” nhỉ.
Nhưng rồi I-a-cốp lại tự an ủi mình: “Dù không có mình thì rồi trước sau Éc Lây-xtơ cũng tìm ra vùng Cuốc-xcơ. Một nhà khoa học đã có lòng say mê như vậy thì dù gặp trở ngại mấy, anh ta vẫn có thể vượt qua được”.
Ngọn đèn ngoài đường bắt qua tấm cửa kính, đủ để Éc Lây-xtơ đọc rõ những dòng chữ viết trong thư “Cuộc đời mình gắn bó với Cuốc-xcơ.
Éc Lây-xtơ lững thững đi, lòng nặng trĩu buồn. Ông lê gót giầy bước uể oải, khiến người đi đường nếu có ai tinh ý cũng dễ nhận ra Éc Lây-xtơ là một người chán đời.
Những cây bạch dương cao lớn, trắng đốm như bạc ngày thường vươn lên hùng vĩ là thế mà giờ nom mới ủ rũ, buồn rầu làm sao!
Dòng sông Nê-va kia rồi, nước sông lấp lánh như những cái vẩy cá bạc, giờ đây mất hẳn vẻ hấp dẫn mọi ngày. Éc Lây-xtơ cảm thấy những đợt sóng nhỏ như đang cố chôn vùi những kỷ niệm, những hoài bão, mơ ước của con người.
Éc Lây-xtơ tìm một gốc cây to hơi khuất, đứng tựa lưng vào đó, quay người ra phía bờ sông, lặng ngắm từng đợt sóng xô vào bờ.
Tổ quốc Nga thân yêu!
Mãi lúc này Éc Lây-xtơ mới hiểu ra: dưới triều đại của Nga hoàng, muốn yêu nước Nga đã khó, muốn làm giầu cho đất nước Nga lại càng khó hơn. Éc Lây-xtơ sờ tay vào túi định tìm bao thuốc lá. Chợt ông nhớ ra thuốc lá cũng đã hết từ sáng hôm nay. Tuy vậy Éc Lây-xtơ vẫn lần tay vào túi áo trong hy vọng may ra có thể tìm được một chút gì đấy! Mấy cô-pếch chẳng hạn, hay vỏ bao thuốc, may ra còn sót lại một dúm sợi rời ra. A, đây rồi, một mẩu thuốc lá cong queo nằm ở đáy túi lọt vào tận lần áo lót trong. Ôi! Có được một mẩu thuốc lá lúc này, thật là đáng quý biết bao! Éc Lây-xtơ đưa mẩu thuốc lá lên miệng, sờ vào túi quần ông mới biết là diêm cũng đã hết sạch. Biết xin lửa ai bây giờ?
Vào những ngày hội lớn như thế này, ai là người lại lững thững đi ra bờ sông như mình. Trên đường phố lúc này quả là đông người. Thật, đèn thắp sáng trưng, xe cộ đi lại nườm nượp như nước chảy. Ngay từ chập tối, hàng đoàn xe ngựa lộng lẫy tấp nập hướng về phía cung điện Nga hoàng. Nghe nói, theo như tục lệ hàng năm, đêm nay Nga hoàng lại tổ chức chiêu đãi các sứ quân, các nhà ngoại giao và các vị khách quý nước ngoài hiện đang ở thăm nước Nga. Những hòm rượu vang loại quý, những hộp xì gà loại thượng hảo hạng, những chiếc thảm nhung loại đắt tiền đã được chở đến hoàng cung từ tháng trước.
Bất giác Éc Lây-xtơ thở dài. Dù sao thì mình cũng phải cần có một tí lửa lúc này. Éc Lây-xtơ vừa quay ra, cũng đúng lúc một cỗ xe ngựa chạy tới đó, ánh sáng ở ngọn đèn cắm trên xa vừa đủ lướt qua vào mặt Éc Lây-xtơ.
- Éc Lây-xtơ!
Trên xe có tiếng người gọi rồi thoắt một cái, cỗ xe chưa kịp đỗ hẳn, thì một bóng người cao lớn đã nhẩy vụt từ trên xe xuống.
Éc Lây-xtơ còn đang bỡ ngỡ thì người cao lớn đã lại gần ông, cầm lấy ta nói:
- Trời, anh đi đâu mà để tôi mất công đi tìm hết hơi.
- À, I-a-cốp! Éc Lây-xtơ nhận ra bạn, khẽ mỉm cười đáp - Mình vẫn có thói quen hễ buồn là lững thững ra bờ sông chơi. Này, anh đi đâu bây giờ mà lại ăn mặc sang trọng thế này!
- Anh có biết tại sao tôi lại ăn mặc khác thường như thế này không? Có gì đâu: tối nay có giấy mời đi dự tiệc trong hoàng cung. Có lẽ nói thế này thì đúng hơn và cũng chính xác hơn: có một cặp vợ chồng một vị bá tước nọ; dĩ nhiên có quen tôi trong những chuyến bay ra nước ngoài, không hiểu vì lý do gì mà tối nay họ có giấy mời mà lại không đi dự dạ hội ở hoàng cung. Do đó tôi với anh sẽ là người thay thế họ.
Éc Lây-xtơ ngạc nhiên hỏi lại:
- Trời! Chúng lại phải đóng vai những vị bá tước? Mà tôi thì đâu có quen đóng những vai quan trọng đó.
Rồi nhìn vào bộ quần áo mình, Éc Lây-xtơ như dẫy nẩy lên:
- Nhất là tôi lại ăn mặc xuềnh xoàng thế này?
- Anh cứ yên trí! - I-a-cốp khẽ rỉ tai bạn nói - Chỉ cốt là qua được vọng gác của bọn cảnh vệ bên ngoài thôi. Khách tứ phương đêm nay, thiếu gì người. Các chính khách, các nhà ngoại giao Đức, Pháp, Anh, Ba Lan… Vào tới cung điện rồi chúng ta vẫn cứ là chúng ta. Anh: một nhà khoa học tạm thời gọi là thất thế. Tôi: phi công I-a-cốp vẫn hàng ngày bay trên bầu trời này, chẳng lẽ chúng ta lại không xứng đáng hơn những vị bá tước hay sao?
- Còn quần áo, anh đừng lo. Ăn mặc như anh mới đúng là nhà khoa học thất thế!
Éc Lây-xtơ vẫn chưa hết ngạc nhiên:
- Anh nghĩ ngợi thế nào mà tự dưng đêm nay lại dắt tôi vào chốn cung điện này?
- Tôi có chủ bụng cả đấy! - I-a-cốp nói - Trong buổi dạ hội này, biết đâu anh chẳng may mắn gặp được Nga hoàng hoặc một vị bộ trưởng nào đó trong chính phủ và sau đó anh trình bày kế hoạch thăm dò vùng tài nguyên vô cùng giàu có của Tổ quốc ta.
- À! Ra thế! Anh thật là cao kiến! Éc Lây-xtơ nắm lấy tay bạn - Thú thật tôi chẳng bao giờ nghĩ ra được điều này!
Vừa lúc đó, cỗ xe ngựa đỗ xịch ngay bên cạnh đường. I-a-cốp móc túi lấy tiền trả người đánh xe. Trước cửa cung điện, đèn thắp sáng trưng, xe cộ đỗ thẳng hàng dài suốt một góc quảng trường rộng. Các vị khách quí tấp nập kéo nhau vào.
Chưa chi I-a-cốp đã dặn bạn:
- Này anh phải bình tĩnh nhé!
Thú thật từ lúc xuống xe, Éc Lây-xtơ đã cảm thấy lúng túng mỗi khi nhìn những bộ quần áo sang trọng rồi lại nghĩ đến bộ quần áo mình đang mặc trên người. Và lúc này, Éc Lây-xtơ cũng quên phắt cả mẩu thuốc lá còn sót trong túi nữa.
I-a-cốp khẽ vuốt lại mái tóc rồi khoác tay bạn nhập cùng với dòng người từ từ đi vào cung điện. Mùi phấn, mùi nước hoa sực nức. Đi gần tên lính cận vệ mặc lễ phục mới tinh, bồng súng lưỡi lê sáng loáng, tim Éc Lây-xtơ cứ đập thình thịch. May mà vào được đến đây, chẳng thấy một ai hỏi giấy tờ gì cả.
Lần đầu bước chân vào cung điện, Éc Lây-xtơ thấy rợn ngợp cả người trước vẻ lộng lẫy của nó. Đèn thắp sáng trưng. Bàn tiệc đã bày sẵn tự lúc nào. Đưa mắt nhìn qua những món ăn bày la liệt, chật ních bàn, có nhiều món quả thật Éc Lây-xtơ không nhận ra là món gì. Xì gà, rượu ở đây toàn một loại hảo hạng đắt tiền. Xì gà: đúng loại Ha-ba-na của Cu-ba. Éc Lây-xtơ cảm thấy chỉ cần bữa tiệc này, nhà vua bỏ bớt đi một phần ba số tiền cũng đủ chi phí cho công trình địa chất của mình.
- Ta nên ngồi ở đây thôi! I-a-cốp kéo Éc Lây-xtơ ngồi vào một cái bàn còn vắng khách.
Éc Lây-xtơ tuân theo lời bạn như một cái máy và không hiểu sao, ông cứ có cảm giác như tất cả những người khách có mặt ở đây đều chú ý nhìn ông.
Éc Lây-xtơ khẽ hỏi bạn:
- Này I-a-cốp, thế nhà vua ngồi ở chỗ nào?
I-a-cốp chỉ vào phía đằng xa nói:
- Đức hoàng đến, ngài ngồi tận mãi tít đằng kia cơ! Nhưng rất có thể, lát nữa, ngài đi chúc mọi người.
Lúc này, khách kéo vào đông nườm nượp. Mấy dãy bàn xung quanh đã chật ních những người là người. Vừa lúc ấy có mấy người khách ngồi xuống bàn của Éc Lây-xtơ. I-a-cốp lần lượt giới thiệu mình rồi đến Éc Lây-xtơ, ông nói rất tự nhiên:
- Đây là giáo sư Éc Lây-xtơ, một nhà khoa học, người Mát-xcơ-va.
Mọi người bắt tay nhau, cười nói vui vẻ. Nghe mấy người khách ngồi ở dãy bàn phía sau trao đổi, Éc Lây-xtơ đoán chừng họ là người Đức, có lẽ đây là một số nhân viên ngoại giao. Hình như cứ mỗi lần nghe I-a-cốp giới thiệu Éc Lây-xtơ với một người khách quen nào đó, thì trong đoàn nhân viên Đức này, có một người vẫn chăm chú nhìn Éc Lây-xtơ.
Chính Éc Lây-xtơ cũng cảm thấy điều này. Rất có thể người đó thấy mình ăn mặc xuềnh xoàng khác hẳn những vị khách tới dự dạ hội. Nghĩ lại Éc Lây-xtơ thấy hơi giận I-a-cốp.
Mọi người chạm cốc, chúc mừng nhau. Chính Éc Lây-xtơ cũng không nhớ là nhà vua tới cung điện từ lúc nào.
I-a-cốp uống cạn một cốc rượu rồi nói với người ngồi cạnh:
- Ông có tin là cuộc đời người ta có số không? Số đỏ, số đen… sao lại không có nhỉ?
Rồi I-a-cốp chỉ vào Éc Lây-xtơ nói với mọi người:
- Như anh bạn tôi đây. Có thể nói là anh ấy đã bỏ gần hết cuộc đời mình để dồn hết tâm lực vào nghiên cứu công phu cả một vùng tài nguyên vô cùng giàu có của nước Nga… Ấy thế mà, cho đến nay, nhà vua hẳn còn bận nhiều việc quốc sự khác hệ trọng hơn. Thế là kế hoạch của anh ấy bị gác sang một bên. Bao nhiêu tài liệu khoa học quý báu đều bị xếp xó.
Nếu như kế hoạch đó được thực hiện… hẳn nước Nga của chúng ta sẽ trở nên cường thịnh và tiếng tăm của giáo sư Éc Lây-xtơ sẽ vang đi khắp mọi nơi trên đất nước Nga này. Nhưng tiếc thay vận đỏ chưa đến, nào hỡi “con sư tử nằm yên” chúng ta hãy chạm cốc chúc tương lai của anh.
Éc Lây-xtơ luống cuống dơ cốc rượu lên và ông thấy tay I-a-cốp hơi run run. Có lẽ anh ta say, Éc Lây-xtơ đâm ra lúng túng. Uống xong một hớp rượu ông cảm thấy mặt mình đỏ bừng lên, hai tai nóng dừ.
Thỉnh thoảng trong cung lại vang lên tiếng vỗ tay, tiếng “hu-ra” nhưng I-a-cốp chờ mãi vẫn chẳng thấy nhà vua đi lại phía mình, thậm chí cũng chẳng thấy một vị cận thần hay một vị bộ trưởng nào đó trong chính phủ tới đây cả.
Bữa tiệc sắp tàn, Éc Lây-xtơ thấy một nhân viên người Đức ngồi xoay ghế lại, lấy thuốc lá ra mời ông và I-a-cốp. Người này nói:
- Rất hân hạnh được làm quen với phi công lỗi lạc I-a-cốp và nhà khoa học xuất sắc Nga Éc Lây-xtơ.
Éc Lây-xtơ lúng túng vì những lời tâng bốc ông.
Vừa lúc đó, mọi người nhất tề đứng dậy ra về. Người nhân viên Đức chỉ kịp hỏi địa chỉ hai người rồi cùng nhập bọn với đoàn ngoại giao Đức bước lên xe.
Bữa tiệc đêm qua coi như không đem lại kết quả gì cho Éc Lây-xtơ cả.
Sáng nay, trời lại mưa tầm tã, bầu trời Pê-téc-bua xám xịt y như tâm trạng u uất của Éc Lây-xtơ vậy. Mưa này, còn có ai thích gì ra khỏi nhà nữa.
Éc Lây-xtơ ngồi hút thuốc, nhìn ra ngoài cửa sổ buồn bã trông cảnh mưa rơi. Vừa lúc đó có tiếng xe ngựa lăn trên đường. Hình như cỗ xe xịch đỗ gần đâu đây rồi lại chuyển bánh đi ngay. Cỗ xe bịt mui kín mít vừa lao vút qua thì chỉ một lát sau, có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Éc Lây-xtơ vừa thấy thấp thoáng ngoài cửa một bóng người che kín mặt, tùm hụp trong một chiếc áo mưa rộng lùng thùng.
- Xin mời vào!
Éc Lây-xtơ thấy bước vào một bóng người quen quen đang vừa cởi áo mưa vừa cười với mình.
- Chào nhà khoa học Éc Lây-xtơ, chẳng lẽ ông lại không nhận được ra tôi hay sao?
Chờ cho người đó cởi hẳn áo ra, Éc Lây-xtơ với nhớ lại đúng tay người Đức tối qua dự tiệc có mời mình và I-a-cốp hút thuốc lá. Éc Lây-xtơ cười, chìa tay ra:
- Chào ông bạn người Đức.
Người Đức ngồi xuống ghế rồi mới tự giới thiệu với Éc Lây-xtơ:
- Tên tôi là Pê-te, hiện nay làm tùy viên kinh tế ở đại sứ quán Đức. Tôi vốn là một người bạn đồng nghiệp của ông.
Éc Lây-xtơ hỏi:
- Thế ra ông cũng là một nhà khoa học?
Pê-te gật đầu:
- Đúng vậy! Tôi sẽ rất sung sướng nếu được kết bạn với ông?
Éc Lây-xtơ cười:
- Theo tôi có lẽ cũng chẳng có gì là khó khăn cả.
- Chà! Nếu vậy thì tốt quá! - Pê-te vừa nói vừa đưa mắt nhìn ra khắp nhà. Thấy đám đồ đạc cũ và phòng tiếp khách cũng như nơi làm việc chật chội của Éc Lây-xtơ, Pê-te gật gù nói:
- Trong hoàn cảnh thiếu phương tiện như thế này mà giáo sư vẫn làm việc sáng tạo được thì quả là giỏi thật!
Éc Lây-xtơ cười:
- Dù sao thì trong phòng làm việc của tôi còn có sách vở tra cứu, kính hiển vi và một số phương tiện khác, chứ những lúc tôi sống lang thang trong rừng ròng rã hàng tháng với một cái ba-lô, một cái búa địa chất kiêm cả gậy chống thế mà tôi làm việc vẫn say sưa, có ngày quên cả ăn. Tôi đã nghiệm ra rằng: một nhà khoa học nếu không có lòng say mê, mơ ước thì không thể nào đi tới thành công được.
- Đúng vậy! - Pê-te nói - Tôi biết giáo sư rất say mê thế mà sao cuộc đời vẫn cứ… thế nào ấy.
Éc Lây-xtơ thở dài:
- Nga hoàng đâu có đoái hoài tới những tài liệu quí giá của tôi.
- Ừ nhỉ! - Pê-te nói - một giáo sư dù có tài năng mấy cũng không sao có thể cho dựng hàng trăm mũi khoan trên một vùng đất đai rộng lớn được.
Éc Lây-xtơ hơi sửng sốt:
- Thế ra ông cũng biết công việc nghiên cứu của tôi?
- Biết chứ! - Pê-te cười - Thì lúc nãy tôi chẳng nói với giáo sư: tôi vốn là bạn đồng nghiệp của ông! Ở nước Đức, chúng tôi rất quý trọng các nhà khoa học. Có lẽ tôi chẳng cần phải nêu tên một số nhà khoa học nổi tiếng của đất nước Đức chúng tôi ra đây làm gì. Nói chung, họ đều có phòng thí nghiệm riêng để làm việc. Chỉ phải cái nước Đức chúng tôi không rộng và giàu tài nguyên như ở nước Nga các ông, thành thử tài liệu khoa học cũng không được dồi dào lắm!
Nói tới đây, Pê-te bất giác thở dài:
- Thế mà ở nước Nga lại có những tài liệu quý giá bị xếp xó. Lạ thật!
Éc Lây-xtơ cũng chép miệng, thở dài theo:
- Có thể nói là tôi đã bỏ gần hết cuộc đời tôi để dày công nghiên cứu nên mới có được số tài liệu quý giá.
Pê-te nói:
- Thật đáng tiếc! Thú thật lần đầu tiên được gặp ông, tôi đã thấy chúng mình sẽ dễ dàng làm quen với nhau, vì là bạn đồng nghiệp. Nếu thật sự coi nhau là tình bạn, tôi muốn nói với ông một điều này, trước hết phải xin lỗi đã, nếu ông chưa hiểu hết lòng tôi. Tôi muốn tạo điều kiện để ông làm việc và được sống tốt hơn.
Nói tới đây, Pê-te rút trong túi ra một tấm séc trên đã đề rõ ràng tên: Éc Lây-xtơ chìa ra:
- Ông có thể lĩnh tạm ở nhà băng năm vạn rúp để tiêu và mua phương tiện làm việc. Và dù sao một nhà khoa học cũng phải sống cho đỡ eo hẹp một chút chứ!
Éc Lây-xtơ khẽ xua tay:
- Cảm ơn ông. Tôi sống thế này cũng đủ rồi. Điều mong muốn của tôi lúc này không phải là tiền mà là được nom thấy những mũi khoan được dựng lên ở vùng đó. Có như vậy thì dù nhắm mắt tôi cũng vui lòng. Tôi muốn, rồi đây tại vùng đó sẽ mọc lên trung tâm khai thác quặng, những thành phố công nghiệp đồ sộ của nước Nga, một đất nước vô cùng giàu có và tươi đẹp của chúng tôi!
Mắt Éc Lây-xtơ long lanh xúc động. Pê-te từ từ xé tấm séc vụn thành từng mảnh nhỏ.
Bầu không khí trong ngôi nhà tĩnh mịch của Éc Lây-xtơ phút chốc trở nên nặng nề ắng lặng. Pê-te nghe rõ cả tiếng ấm nước sôi.
Một lát sau, Pê-te mới nói giọng xót xa như một người có lỗi:
- Tôi rất mong giáo sư hiểu cho chuyện vặt vừa qua chỉ là xuất phát từ tấm lòng một người đồng nghiệp với giáo sư mà thôi. Chính vì sợ giáo sư hiểu lầm, nên tôi đã có lời xin lỗi trước rồi. Dĩ nhiên không bao giờ tôi lại có ý định mua tài liệu khoáng sản ở một nước khác? Nếu mua thì số tiền đã khác. Hơn nữa, chúng tôi mua để làm gì cơ chứ! Người Đức đâu có thể kéo nhau sang Nga để tìm quặng rồi khai thác quặng đưa về Đức được?
Éc Lây-xtơ gật đầu:
- Ông nói rất đúng! Có người nào điên rồ mới làm như vậy.
Pê-te nói:
- Giả sử vùng đất đai này nằm trên nước Đức thì chỗ tài liệu của ông dù có đắt gấp trăm lần chúng tôi vẫn có thể mua được.
Bỗng Pê-te cười:
- Chúng ta cứ mải nói chuyện mãi, giáo sư quên cả mời tôi nước mà tôi cũng quên mất món tặng phẩm nhỏ này gửi tặng giáo sư.
- À nhỉ! Xin lỗi! - Éc Lây-xtơ cười - Chủ và khách cứ mải chuyện mãi, ấm nước sôi từ bao giờ không biết.
Trong khi Éc Lây-xtơ rót nước mời khách thì khách lấy ra một bọc giấy đặt lên bàn, nói:
- Đây là món quà nhỏ của tôi tặng ông bạn đồng nghiệp.
Éc Lây-xtơ dở bọc giấy ra, đó là một tảng quặng sắt xi-đê-ri-tơ:
- Nhưng chỉ tiếc tay lượng sắt trong loại quặng sắt xi-đê-ri-tơ rất nghèo. Chỉ có 37,9% sắt. Ông bạn hãy xem đây.
Éc Lây-xtơ mở tủ lấy ra một tảng ma-nhê-tit có hình một cái đầu sư tử lông bờm xù lên rất đẹp, khiến Pê-te phải gật gù, xuýt xoa khen lấy khen để:
- Thứ quặng quý này, ông nhặt được ở đâu vậy? Nó có tới 72,4% sắt. Đó là thứ quặng luyện sắt tốt nhất.
Éc Lây-xtơ đáp bằng giọng tự hào:
- Chỉ có trên nước Nga thôi!
Im lặng một lúc Pê-te rít xong điếu thuốc lá chậm rãi nói:
- Nhưng đất nước Nga thật khó hiểu!
Éc Lây-xtơ hỏi lại:
- Sao ông lại cho là khó hiểu?
Pê-te đáp:
- Có lẽ vì diện tích nước Nga rộng mênh mông, số lượng các nhà khoa học ở Nga lại không đông lắm, do đó chưa thể với tới được mọi vấn đề…
Éc Lây-xtơ cười:
- Chắc hẳn ông chưa hiểu nước Nga, lại càng chưa hiểu các nhà khoa học Nga đấy thôi!
Pê-te gật gù đáp:
- Cũng có thể như vậy! Những nhà khoa học nước ngoài chúng tôi hễ có vấn đề gì đụng đến nước Nga là thấy như đụng phải một bức tường đá!
- Liệu ông có thể nói rõ hơn một chút được không?
- Lấy ví dụ ngay như vấn đề khoáng sản - Pê-te nói - Một số nhà địa lý, địa chất học ở nước chúng tôi đang muốn dựng một tấm bản đồ khoáng sản thế giới để tìm cho ra nguồn gốc, trữ lượng và mối liên quan giữa những kho tàng khoáng sản các nước trên thế giới nhưng mỗi lần đụng phải nước Nga là thấy khó khăn. Chẳng hạn như ở Anh, người ta biết rõ mỏ than tập trung ở vùng núi Pen-nin, ở miền Nam Uên-xơ và ở vùng đất thấp Trung Xcốt-len. Gần mỏ than có nhiều mỏ sắt lớn, rõ ràng có điều kiện tốt để xây dựng công nghiệp luyện kim nhưng chỉ tiếc là quặng sắt ở đấy rất kém, chỉ chứa khoảng 30% sắt, mỏ lại gần cạn. Còn Pháp có Lo-ren là khu vực mỏ sắt lớn nhất và Pháp cũng đứng đầu Tây Âu về trữ lượng quặng sắt. Ở Hoa-kỳ, những mỏ sắt súc tích đều nằm ở phía Bắc đồng bằng, sát biên giới Ca-na-đa. Tại châu Mỹ la-tinh, tiếng rằng giầu tài nguyên nhưng sắt thì chỉ có ở Cu-ba và Bra-xin mà thôi. Nói chung tất cả đã được xác định. Còn ở nước Nga thì vùng Cuốc-xcơ vẫn là một cái dấu hỏi lớn.
- Dấu hỏi là thế nào? - Éc Lây-xtơ hỏi lại - trong một tương lai không xa, Cuốc-xcơ sẽ trở thành một trong những trung tâm công nghiệp quan trọng của nước Nga.
Pê-te cười:
- Ông nói thế nào đấy chứ! Ở Cuốc-xcơ chúng tôi thấy núi rừng vẫn im hơi lặng tiếng.
- Im hơi lặng tiếng là thế nào? - Éc Lây-xtơ ngắt lời Pê-te - Nếu như bản tường trình của tôi đệ lên Nga hoàng được tiếp nhận thì chính phủ Nga sẽ cho thăm dò và khai thác quặng sắt ở đó.
- Không đời nào! - Pê-te đáp - Bản tường trình đó, số phận nó như thế nào, tôi đã biết rồi. Nhiều cận thần và các viên chức cấp cao trong chính phủ các ông quen thân với các công ty nước ngoài. Họ cho rằng việc nước Nga bỏ tiền ra mua sắt thép của nước ngoài còn dễ dàng thuận tiện hơn là việc bỏ tiền ra để thăm dò, khai thác rồi luyện sắt thép ở ngay trên đất nước Nga này.
Éc Lây-xtơ thở dài. Ông thật không ngờ Pê-te lại nắm trúng vấn đề đến thế!
Pê-te nói:
- Tóm lại thì chỗ tài liệu quý của ông đành xếp lại một chỗ, mặc cho bụi thời gian phủ lên trên từng lớp, từng lớp dày... Trong khi đó thì các nhà khoa học chúng tôi đang nghiên cứu dở tới nước Nga thì mất một “mắt xích” sắt trong sợi dây xích sắt truyền đi khắp thế giới.
Éc Lây-xtơ lặng yên không nói gì.
- Xin nói thật với ông! - Pê-te tiếp tục - Chỗ tài liệu của ông về vùng Cuốc-xcơ có thể bị bỏ quên. Nếu ông có thể đóng góp vào công cuộc nghiên cứu khoáng sản trên thế giới, vì sự nghiệp khoa học, chúng tôi tha thiết đề nghị ông trao chúng tôi cặp tài liệu đó. Ít ra, các nhà khoa học Đức sẽ ghi công ông ở đây.
Éc Lây-xtơ cười:
- Tôi có cần được ghi công đâu!
- Tôi biết! Chúng tôi rất biết các ông làm việc vì một sự nghiệp khoa học chung của nhân loại - Pê-te nói - Chúng tôi, cũng thế thôi! Tài nguyên của nước Nga nếu nó nằm trên bản đồ thì đối với chúng tôi, trước sau nó vẫn nằm trên giấy, chứ người Đức chúng tôi làm sao mò vào mà khai thác được.
Éc Lây-xtơ đáp:
- Tôi chưa thể trả lời ông ngay về vấn đề này được.
Pê-te nói:
- Tôi biết ông đã bỏ nhiều công sức vào đây. Chúng tôi sẽ đền bù lại thích đáng.
- Gần cả cuộc đời tôi... - Éc Lây-xtơ cười - đền bù thế nào được. Hiện giờ tôi sống không được dồi dào gì nhưng rất mong ông đừng xúc phạm đến tôi.
- Hay là thế này vậy...
Pê-te chưa nói hết câu thì Éc Lây-xtơ đã giơ tay nói:
- Vấn đề sẽ như thế này. Tôi vẫn tiếp tục tường trình lên Nga hoàng. Hai lần không xong thì ba, bốn lần...
Pê-te nói:
- Và nếu như, nhà vua vẫn khăng khăng không chịu đoái hoài tới...
Éc Lây-xtơ nói:
- Nếu quả đúng như vậy thì chỉ khi nào tôi sắp nhắm mắt...
Éc Lây-xtơ đột nhiên ngừng lời. Câu chuyện của họ kết thúc một cách nặng nề.
*
Sau khi nhận được những tài liệu quý giá của Pê-te đưa từ Nga về Béc-lanh, Hen-ken, giám đốc công ty luyện kim Đôn-vai-xơ giao luôn “cặp tài liệu” của Éc Lây-xtơ cho một số chuyên viên địa chất kiêm tình báo công nghiệp Đức.
Không đầy mấy hôm sau, Hen-ken đã nhận được một tấm bản đồ, chỉ cần nhìn qua màu sắc trên đó cũng dễ dàng nhận ra một mỏ quặng vô cùng lớn, chỗ nào là quặng ma-nhê-tit, chỗ nào là quặng ê-ma-tit, chỗ nào là li-mê-nit.
Hen-ken cầm lấy tập sẽ gửi ngân hàng đề sẵn tên người lĩnh: Pê-te. Hắn ghi thêm hai con số không bào số tiền đã biên sẵn trên đó, để thưởng công cho Pê-te.
... Tấm bản đồ địa chất vùng Cuốc-xcơ có một không hai của giáo sư Éc Lây-xtơ lọt vào tay Pê-te không khó khăn lắm bằng những thủ đoạn gián điệp. Như thường lệ, một hôm Éc Lây-xtơ mở tủ tìm tấm bản đồ thì nó không còn ở đấy nữa. Giáo sư hét lên một tiếng đau đớn và kinh hoàng. Những người xung quanh nghe thấy tiếng kêu phá cửa vào thì thấy Éc Lây-xtơ đã tắt thở. Nỗi đau đớn không cùng cộng với những thất vọng triền miên hàng bao nhiêu năm nay đã dẫn ông đến cái chết.
Mấy hôm sau, Pê-te đã ung dung bước vào biệt thự của Hen-ken với tấm bản đồ trong tay.
Hen-ken ngồi vào bàn rót rượu ra cốc, uống một hơi. Cốc rượu có làm cho hắn hơn choáng váng nhưng lại gây một cảm giác ngây ngất dễ chịu khiến hắn trở nên mơ mộng. Hắn đi ngược lại lịch sử và nhớ tới đảo Xi-xin ở Nam Ý trước đây, có một thời là nơi duy nhất cung cấp lưu huỳnh cho thế giới. Nước nào cần đến thứ nguyên liệu hóa học này đều phải trao đổi, buôn bán với chính phủ Ý, chúng phủ Anh đã đưa cả một hạm đội vào vùng biển nước Ý, kéo cờ lên, nòng súng hướng thẳng vào bờ để buộc Ý phải cung cấp lưu huỳnh cho Anh. Năm 1856, Bồ Đào Nha lại phát hiện ra mỏ pi-rít lưu huỳnh khá lớn, hạm đội cướp biển của Anh lại hung hãn kéo tới...
Ngày nay, những cái trò cướp biển trắng trợn này khó có thể thực hiện được. Giờ chỉ còn có cách bỏ vốn đầu tư vào nước Nga, kiểu như một số công ty tư bản Âu châu và Mỹ đã đầu tư kinh doanh vào các mỏ đồng của Chi-lê và mỏ dầu ở I-rắc. Hen-ken hy vọng làm được điều đó.
Hen-ken thú vị nhất là - qua lời Pê-te ngoài Éc Lây-xtơ ra, ít người biết thật tường tận về vùng quặng sắt vô cùng giàu có ở Cuốc-xcơ này. Do đó Hen-ken tin rằng nếu hắn đầu tư, hắn sẽ thu về được những món lãi kếch xù.
Hen-ken sung sướng mỉm cười đi đi lại lại trong phòng.
Cô thư ký riêng Vê-ra đã biết tính ông chủ: mỗi khi ông mỉm cười đi bách bộ trong phòng là lúc ông đang có niềm vui trong lòng, chớ có quấy rầy! Vê-ra nhẹ nhàng cầm quyển séc đã ký sẵn ra, xé lấy một tờ trao cho một người tên là Pê-te vừa ở Nga về. Nghe người kia tự giới thiệu là tùy viên kinh tế đại sứ quán Đức ở Pê-téc-bua nước Nga, Vê-ra chỉ mỉm cười ậm ừ vì cô biết ông chủ Hen-ken của cô có hàng trăm loại “tùy viên kinh tế”, “tùy viên văn hóa”, “tùy viên quân sự” hoặc thương mại ở khắp các nước trên thế giới.
Mấy hôm sau tại cuộc chiêu đãi của viên sứ quán Nga ở Đức, trong số các quan khách tới dự, người ta thấy có mặt cả Hen-ken.
Tin Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ đối với Hen-ken như sét đánh ngang tai. Chưa bao giờ Hen-ken lại theo dõi tỉ mỉ một cuộc cách mạng ở nước ngoài đến thế! Chiến hạm rạng Đông nổ súng ra sao? Cung điện Mùa đông bị Hồng quân công nông chiếm lĩnh như thế nào?
Những tin tức chiến thắng dồn dập của nhân dân Nga làm cho Hen-ken tức tối điên đầu lên tưởng chừng như chính hắn đang bị cướp đoạt tài sản riêng vậy. Hễ mỗi lần nghe tin chính quyền Xô viết được thành lập ở bất cứ tỉnh nào, là hắn như đứt từng khúc ruột.
“Cặp tài liệu Éc Lây-xtơ” vẫn nằm kỹ trong két sắt!
Cuốc-xcơ thuộc về tay chính quyền công nông như vậy là “Cặp tài liệu Éc Lây-xtơ” đáng giá hàng triệu rúp hóa ra một mớ giấy lộn à?
Mà rất có thể thành giấy lộn lắm chứ! Chính quyền Xô viết đâu có cho phép bọn tư bản nước ngoài muốn tự do hoành hành trên đất nước Nga được!
Hen-ken ủ rũ cả người. Khi bỏ tiền ra mua “cặp tài liệu Éc Lây-xtơ”, Hen-ken vẫn được bạn bè khen là người có tầm nhìn xa. Nhưng giờ thì... hẳn họ sẽ cười vào mũi mình là ngu ngốc.
Hen-ken đánh diêm hút thuốc. Hắn rít một hơi dài tưởng chừng điếu thuốc lá trong chốc lát sẽ cháy hết vì chấm lửa đỏ đang chạy dần vào phía trong điếu thuốc. Đầu óc Hen-ken rất lung. Bỗng hắn khẽ “à” một tiếng rồi đứng dậy. Hắn lẩm bẩm nói một mình:
- Thế mà mãi mình không nghĩ ra! Việc trước tiên là phải tìm Pê-te cái đã! Tất nhiên chỉ có hắn mới hiểu được tình hình nước Nga thôi!
*
Tại trụ sở Bộ địa chất, mặc dầu hai cánh cửa nặng nề vẫn còn đóng im ỉm nhưng đã thấy xuất hiện một số người đứng chực sẵn ở đấy. Ông già có, thanh niên có... cứ xem cách ăn mặc của họ, người ta cũng dễ dàng nhận ra đó là những người ở xa tới. Một ông cụ râu ria xồm xoàm đầu chụp một chiếc mũ lông to tướng, khác chiếc áo dài bộ đội cũ kỹ đã bạc màu; lưng đeo một cái túi vải. Thỉnh thoảng ong lại ngước mắt nhìn vào tấm biển đồng đóng trên tường. Mấy anh thanh niên thì ăn mặc như kiểu người chăn cừu, cũng đeo túi, chống gậy, lưng anh nào cũng đeo một túi đá, chân đi giầy loại to.
Cánh cửa vừa hé mở, ông cụ đã bước vào hỏi anh thường trực:
- Này đồng chí! Đây là cơ quan tìm quặng của chính quyền Xô-viết do đồng chí Lê-nin lãnh đạo phải không?
Anh thường trực đáp:
- Vâng! Đây là Bộ địa chất! Bây giờ thì ở khắp nước Nga này chỉ có một chính quyền Xô-viết thôi!
Ông cụ lại hỏi:
- Thế đồng chí Lê-nin có ở đây không?
Anh thường trực lắc đầu:
- Đồng chí Lê-nin ở điện Cơ-rem-lanh chứ! Đây là Bộ địa chất cơ mà! Cháu đã bảo cụ rồi!
Ông cụ già tỏ ra sốt ruột:
- Này đồng chí, lão muốn gặp một đồng chí thượng cấp cao nhất ở đây.
Anh thường trực hỏi lại:
- Thế cụ hỏi về việc gì cơ chứ?
- Việc quan trọng lắm! Phải gặp đồng chí thượng cấp về tìm quặng mới được.
Vừa lúc đó, đồng chí Vụ trưởng Vụ kỹ thuật Bộ địa chất đi qua. Đồng chí ấy bèn nói với anh thường trực:
- Đồng chí I-va-nốp, bác cho mời cụ vào đây!
Ông cụ vừa nghe thấy vậy vội đi thẳng vào phòng đồng chí Vụ trưởng, không cần phải chờ I-va-nốp nữa. Câu đầu tiên ông cụ hỏi là:
- Đúng đồng chí là thượng cấp ở đây à?
Đồng chí Vụ trưởng cười:
- Có việc gì thế cụ? Cụ cứ cho biết đi!
Ông cụ bèn mở túi ra lấy một cái bọc, cởi bỏ mấy lần giẻ ở ngoài và đưa ra một tảng đá có chứa nhiều hạt óng ánh màu vàng:
- Thứ này lão nhặt được ở trên núi khi đi kiếm củi. Có phải là vàng không, đồng chí?
Đồng chí Vụ trưởng cầm lấy tảng đá xem xét kỹ, lấy chiếc kính lúp ra soi rồi nói:
- Không phải là vàng cụ ạ nhưng nó cũng thuộc vào loại kim loại quý đấy.
- Ừ, có thế chứ! - Ông lão gật gù - Trước khi đồng chí Lê-nin lên nắm quyền nhà nước, đã có một bọn đến vùng lão đi săn để tìm loại đá này. Họ đã tìm gặp lão, đưa một mẩu đá ra từa tựa như thế này và bảo: Nếu chỉ đường cho họ tìm ra được thứ đá này thì họ sẽ thưởng cho rất nhiều tiền. Lão nghĩ bụng: “Đời nào mình lại trao thứ “vàng” này cho bọn giàu sang để chúng trở nên mỗi ngày một giàu có, đè đầu cưỡi cổ bà con nhân dân lao động Nga à? Lão chờ cho đến bây giờ, chính quyền về tay giai cấp công nhân rồi, lão mới đem nộp cho Nhà nước.
- Rất cảm ơn cụ! - đồng chí Vụ trưởng hỏi - Thế cụ có biết quả núi có nhiều thứ đá này nằm ở đâu không?
- Ở quê lão, trên núi cao ấy! - ông lão đáp - Nhưng cả làng giờ chỉ có độc một mình lão là biết được nơi đó thôi. Bao giờ các đồng chí đi, lão sẽ chỉ đường. Nhưng phải mau mau lên, kẻo lão chết mất thì không còn ai chỉ đường nữa.
Đồng chí Vụ trưởng cười, hỏi:
- Thế năm nay cụ bao nhiêu tuổi?
Ông cụ đáp:
- Lão đã sáu mươi nhăm.
Đồng chí Vụ trưởng cười:
- Thế thì cụ còn sống lâu, ít nhất cũng là bốn chục năm nữa. Thời đại sung sướng bây giờ, ai mà chẳng trẻ ra.
Sau đó, đồng chí Vụ trưởng cất kỹ tảng quặng lên một cái giá, đánh số cẩn thận và ghi chép tên tuổi, địa chỉ của ông lão vào một quyển sổ dầy. Ông lão vừa ra thì mấy thanh niên khác ùa vào.
Một anh lấy trong túi ra một chai nước đặc sệt, màu đen đặt lên bàn và bảo:
- Báo cáo với đồng chí thượng cấp, trong lúc đi chăn cừu tôi thấy ở một khe núi vùng tôi lùa đàn cừu đi qua, có chảy ra một thứ nước ngửi có mùi xăng, sờ tay thấy dính dính, châm lửa thì cháy, ngọn lửa có khói màu đen.
Đồng chí Vụ trưởng cầm cái chai nước lên giơ ra phía ánh sáng để soi thử thấy có màu lam.
Anh thanh niên nói:
- Tôi rỏ xuống nước thì nó nổi lên trên. Liệu có phải là ét-săng không, đồng chí?
- Một loại dầu mỏ! - Đồng chí Vụ trưởng gật gù nói - Chúng ta đang rất cần đến những loại này. Có dầu mỏ thì máy bay, ô tô, tàu bè và nhiều máy móc khác mới có nhiên liệu chạy máy chứ! Ngoài ra, từ dầu mỏ, người ta còn chế ra các loại sản phẩm khác nữa: nào là nhựa, thuốc nhuộm, nước hoa, thuốc chữa bệnh... tất cả tới hơn bẩy trăm loại sản phẩm. Thế đồng chí lấy được thứ dầu mỏ này ở đâu?
Anh thanh niên chăn cừu, hơi đỏ mặt lúng túng đáp:
- Giờ có cho tôi quay lại vùng núi đó tôi mới nhớ được chứ tôi cũng chẳng biết ghi chép gì cả.
Đồng chí Vụ trưởng nhìn anh mỉm cười và dặn anh một số điều cần thiết khi tìm thấy quặng.
Buổi sáng hôm nay, đồng chí Vụ trưởng gần như dành ra để tiếp khách từ nhiều nơi trên nước Nga về đây: người thì đem tặng một tảng quặng, người đem biếu một mẩu đá đẹp, loại hoa cương, thôi thì đủ cả bô-xít, mi-ca, pi-rít...
Trong cuộc đời địa chất của mình, hôm nay có lẽ là lần đầu tiên, đồng chí cảm thấy sung sướng khi nghĩ tới những người dân Xô-viết, một khi đã là người chủ của đất nước này, hẳn họ phải là những người giúp đỡ rất nhiều cho các nhà địa chất Liên Xô trong việc thăm dò tìm quặng, làm giàu cho Tổ quốc...
Chỉ cần nhìn chiếc ô tô loại mới, rất sang, bóng loáng đỗ ở trước cửa trụ sở Bộ địa chất, một người dân bình thường ở Mát-xcơ-va dù không cần nhìn vào biển số xe cũng biết ngay đó là xe của một đại sứ quán nước ngoài. Xe không cắm cờ nước nào. Xe vừa đỗ, một người tóc đã lốm đốm bạc cắp cặp bước xuống xe, đi thẳng vào phòng làm việc của đồng chí Vụ trưởng vụ kỹ thuật. Đã được báo trước nên sáng nay, đồng chí Vụ trưởng ăn mặc chỉnh tề hơn mọi khi và đã chờ sẵn người khách lạ trong phòng:
Pê-te - viên kỹ sư người Đức tóc lốm đốm bạc chính là Pê-te - bước vào sau khi bắt tay ông Vụ trưởng người Nga, hắn đặt cái cặp xuống bàn và nói luôn:
- Thưa ông Vụ trưởng, trong cuộc họp báo chí nước ngoài hôm nọ chúng tôi mới được rõ công cuộc công nghiệp hóa của chính quyền Xô-viết quả là vô cùng vĩ đại! Tôi tin rằng rồi đây các ông sẽ có những bước nhảy vọt khá lớn trên con đường công nghiệp hóa.
Đồng chí Vụ trưởng chỉ ậm ừ, trả lời qua loa vì chưa rõ mục đích của chuyên viên Đức này. Chờ cho Pê-te nói dông dài một hồi nữa, đồng chí Vụ trưởng mới nhẹ nhàng hỏi:
- Thưa ông, hôm nay ông đến đây hẳn phải có việc gì chứ ạ?
- Thưa ông Vụ trưởng, đúng là như vậy - Pê-te đáp - Thông thường nói đến công nghiệp là bao giờ người ta cũng nghĩ đến sắt thép đứng lên hàng đầu.
- Quả là đúng thế! - Vừa trả lời, đồng chí Vụ trưởng vừa dự đoán: “Rất có thể đây là một tên tư bản Đức muốn làm mối cho một công ty sắt thép hoặc luyện kim nào đó để hy vọng bán sắt thép cho Liên Xô chăng? Nếu quả đúng như vậy, mình sẽ dứt khoát từ chối. Liên Xô ngày nay đâu có phải là nước Nga trước đây của Nga hoàng! Đời thuở nào trong nước có nhiều quặng sắt mà lại phải đi mua sắt thép của nước ngoài với cái giá cắt cổ.
Pê-te lại hỏi:
- Thế các ông có muốn có sắt ngay không?
Đồng chí Vụ trưởng nói:
- Thế công ty các ông định bán à?
Pê-te cười:
- Tôi biết rằng ngày nay không đời nào các ông chịu mua thép của Công ty luyện kim Đôn-vai-xơ ở Đức theo giá cũ.
- Đúng vậy! Đồng chí vụ trưởng nói - Chúng tôi sẽ thăm dò, tìm quặng, khai thác lấy quặng và dĩ nhiên công nghiệp luyện kim của chúng tôi rồi đây sẽ cung cấp khá đầy đủ sắt thép cho chúng tôi dùng. Hẳn ông cũng biết rằng: tài nguyên ở nước Nga chúng tôi vô cùng dồi dào.
- Thưa ông vụ trưởng, tôi rất biết điều này... - Pê-te cười - Nước Nga của ông vốn rất nhiều quặng nhưng trên một quốc gia rộng lớn nhất thế giới nằm dài suốt từ châu Âu sang châu Á, tìm được nơi có quặng để khai thác trong một thời gian ngắn không phải chuyện dễ dàng. Mà trong khi đó nền công nghiệp các ông lại đang cần sắt thép nói riêng và kim loại nói chung càng sớm càng tốt.
Đồng chí vụ trưởng nghĩ thầm trong bụng: “Tên này quả là tinh ranh thật!”
Pê-te tiếp tục nói:
- Tôi biết đích xác hiện nay nước Nga có một vùng vô cùng giầu có về quặng sắt. Có thể nói trữ lượng của mỏ sắt này nhiều đến nỗi có gộp tất cả trữ lượng toàn bộ mỏ sắt trên thế giới lại mới bằng nó. Tôi xin đảm bảo: nếu cho đặt một mũi khoan đầu tiên ở vùng này, chỉ khoan không đầy vài trăm mét đã tìm thấy ngay một vỉa sắt dầy.
“Phải chăng, đây chính là nơi giáo sư Éc Lây-xtơ đã bỏ hết cả cuộc đời mình để dày công nghiên cứu? Phải chăng đây chính là vùng Cuốc-xcơ mà nhiều nhà khoa học Nga đã để ý từ lâu?”
Trong khi Pê-te uống nước, thì đồng chí vụ trưởng suy nghĩ rất nhanh. Ông nhớ lại trước đây, ngay sau khi cách mạng tháng Mười thành công, hồi chưa được cử làm vụ trưởng ở Bộ địa chất, ông đã hết sức chú ý đến vấn đề này. Chính ông đã đi tìm Éc Lây-xtơ nhưng rồi sau một thời gian ông được biết là Éc Lây-xtơ đã chết và cặp tài liệu vô cùng quý giá đó hình như bị thủ tiêu hay thất tán gì đó. Hay là... hay là...
Đồng chí vụ trưởng nói:
- Vùng Cuốc-xcơ trên Tổ quốc chúng tôi. Thưa ông, tất nhiên là chúng tôi đã biết rồi.
Pê-te cười:
- Nơi này, ngoài giáo sư Éc Lây-xtơ ra thì không một ai có thể biết nổi. Nhưng rất tiếc là ông ta hiện nay không còn nữa.
Không thấy ông vụ trưởng nói gì, Pê-te lại “tấn công” luôn:
- Có lẽ tôi cũng chẳng cần phải giấu giếm ông mà cứ nói thật để các ông biết: quả đúng là vùng Cuốc-xcơ. Và cho dù ngay ngày mai, các ông có cấp tốc cử ngay hàng đoàn địa chất lên vùng đó thăm dò tìm kiếm sơ bộ thì ít ra cũng phải mất hàng năm, trong khi các ông cần có quặng sắt ngay. Đấy là nếu chọn được những đoàn địa chất lâu năm có kinh nghiệp già dặn và mọi việc đều tiến hành thuận lợi cả đấy. Đằng này, tôi sẽ cung cấp toàn bộ tài liệu quý giá của cả vùng này. Và như trên tôi đã nói: tôi đảm bảo khi cho đặt mũi khoan đầu tiên để bắt đầu tiến hành thăm dò tỉ mỉ, nhất định sẽ đụng phải một vỉa quặng dày.
Đồng chí vụ trưởng hỏi:
- Như vậy hẳn ông có toàn bộ tư liệu quý giá đó trong tay?
Pê-te gật đầu:
- Vâng! Tất nhiên là như vậy.
Đồng chí vụ trưởng nói:
- Thế ông định bán chỗ “tài liệu... Nga” đó là bao nhiêu?
Pê-te cười:
- Thưa ông vụ trưởng, nếu như cặp tài liệu này còn nằm trong tay giáo sư Éc Lây-xtơ thì mới gọi là “tài liệu... Nga” được chứ, đằng này nó lại nằm trong tay người Đức chúng tôi.
- Tài liệu viết bằng tiếng Nga, do một giáo sư Nga viết... thế mà ông bảo chúng tôi không có quyền gọi là ‘tài liệu... Nga” được hay sao? Chúng tôi rất hiểu ý đồ của các ông nhưng tiếc là thời thế ngày nay đã khác xưa, chính quyền ở đất nước này đã nằm vào tay giai cấp công nhân.
Pê-te nói lấp đi:
- Tôi xin phép trở lại vấn đề, vâng, gọi là “tài liệu Nga” cũng được. Chúng tôi sẽ trao lại cho các ông dùng, và dĩ nhiên các ông cũng trao cho chúng tôi năm triệu rúp.
Đồng chí vụ trưởng hỏi luôn:
- Ông thử suy nghĩ lại xem: cái giá như vậy liệu có quá cao không. Đáng ra “tài liệu Nga” là phải thuộc quyền sở hữu của người Nga... nhưng thôi.
- Tôi sẽ bớt đi một triệu! - Pê-te nói - Thưa ông vụ trưởng, nhất định ở cương vị cao cấp của ông, hẳn ông rất am hiểu về nghề nghiệp của mình. Bây giờ thử tính phác qua toàn bộ chi phí cho việc tìm kiếm sơ bộ khắp một vùng rộng lớn này trong một thời gian dài, nhất định con số sẽ cao hơn bốn triệu rúp rất nhiều. Đằng này các ông chỉ còn việc căn cứ trên bản đồ rồi cho đặt tháp khoan luôn. Chúng tôi lúc đầu sẽ chỉ lấy ba triệu rúp khi giao toàn bộ tài liệu, còn khi nào mũi khoan đầu tiên bắt đầu hoạt động và khoan trúng vỉa quặng sắt dày rồi, lúc đó tôi sẽ xin lĩnh nốt một triệu rúp cũng vẫn chưa muộn. Kể buôn bán với nhau như vậy, dù sao chúng tôi cũng tỏ ra là biết điều đấy chứ!
Ông vụ trưởng khẽ mỉm cười:
- Thế có bao giờ ông nghĩ rằng: chúng tôi vẫn có thể lấy được quặng ở Cuốc-xcơ mà không cần tài liệu tạm gọi là “của các ông” không?
Pê-te cười:
- Chúng tôi biết chứ! Nhưng thời gian kéo dài và tốn kém rất nhiều. Tôi tin chắc các ông sẽ là những người khôn ngoan, nhìn vấn đề này một cách kinh tế hơn.
Ông vụ trưởng gập tập hồ sơ trước mặt lại, bảo:
- Thôi vấn đề này, ta hãy tạm dừng ở đây. Khi nào cần chúng tôi sẽ cử người đến gặp ông.
Khách ra về mà chủ nhân vẫn còn đi đi lại lại suy nghĩ mãi về câu chuyện vừa xảy ra.
*
Tất cả những đoàn viên trong đoàn địa chất này đều cảm thấy Tổ quốc mình đang cần than và quặng sắt. Càng tìm được nhiều quặng sắt mới có thể cung cấp đủ cho những khi công nghiệp gang thép quan trọng để nấu được thành gang, thành thép, mới có máy móc, để dùng hàng ngày, mới công nghiệp hóa được Liên Xô gấp rút chứ!
Cứ nhìn nhịp độ làm việc khẩn trương của họ là đủ rõ.
Tại một điểm ở vùng Cuốc-xcơ, mới ngày nào đoàn xe xích sắt chở tháp khoan, ống khoan, dầu mỡ lên một mỏm núi, mà chỉ ít lâu sau, tháp khoan đã dựng lên sừng sững ở miền Si-gơ-rốp và người ta nghe rõ cả tiếng máy khoan hoạt động.
Đội trưởng đội máy khoan 14 - Đồng chí Xê-đê-rô-vít - nguyên là một tay thợ khoan lành nghề. Chỉ cần ngồi lắng nghe tiếng máy khoan, Xê-đê-rô-vít có thể biết rõ hiện mũi khoan đang xuyên qua cái gì? Có thể là một lớp đất đá hay than, quặng. Nhìn ống khoan quay đều, và mấy chiếc kim đồng hồ trên cỗ máy xình xịch chỉ hơi nhúc nhích, Xê-đê-rô-vít khẽ đưa mắt nhìn lớp thợ trẻ, hầu hết là đoàn viên thanh niên cộng sản. Người nào người nấy còn trẻ măng, hăm hở học hỏi. Ngay trong cái lều bạt căng cạnh đó, vào giờ nghỉ, đổi ca kíp, không một người nào chịu rời khỏi cuốn sổ tay chuyên môn của mình tí nào. Cách đấy không xa, một số cán bộ kỹ thuật đang làm việc khẩn trương trong một ngôi nhà gỗ mới dựng sơ sài ở lưng chừng núi: Trước tấm bản đồ trải rộng, họ đang bàn bạc và tính toán những nơi sẽ đặt tiếp những mũi khoan sâu xuống lòng đất. Khoan sâu một mét xuống lòng đất, tốn khá tiền cho nên việc quyết định đặt những tháp khoan không phải chuyện giản đơn.
Mọi người đang say sưa làm việc bỗng nghe thấy tiếng vỗ tay hoan hô rầm rĩ vang dội cả một khu rừng, đúng phía tổ khoan của Xê-đê-rô-vít. Người thì đoán là anh em thợ khoan vừa săn, bẫy được một con thú gì. Người thì cho là trong đội có một chàng trai trẻ nào đó nhận được thư của người yêu. Nhưng cũng có người nói:
- Biết đâu mũi khoan của họ chẳng đã chạm phải một vỉa quặng nào đó chăng?
Ý kiến thứ ba này ít có người tán đồng vì có mấy khi vừa đặt một mũi khoan đầu tiên ở vùng Cuốc-xcơ này mà chưa chi đã “trúng số độc đắc” như vậy. Tuy nhiên đội kỹ thuật cũng cử luôn một cán bộ tới, lúc này Xê-đê-rô-vít cứ đứng ngây người cạnh tháp khoan, anh không chịu rời lấy nửa bước mặc dầu xuất ăn của anh để trong lều đã nguội.
Từ lúc nghe tiếng khoan “có cái gì khang khác đây” ở độ sâu một trăm sáu mươi mét là anh cứ đứng ở đấy. Theo thói quen nghề nghiệp anh biết là mũi khoan đã chạm phải một vỉa quặng sắt nhưng anh chưa dám nói ra. Dù sao cũng phải lấy mẫu lên đưa về phòng kỹ thuật cho chắc chắn cái đã.
Trong thâm tâm Xê-đê-rô-vít, anh không muốn gieo vào lòng lớp trẻ địa chất này những thành công, thắng lợi quá sớm hoặc quá dễ dàng.
Nhưng rồi cuối cùng thì mẫu quặng cũng được lấy ra và không còn nghi ngờ gì nữa: đúng ma-nhê-tít, thứ quặng hình thành từng khối, có màu đen sắt, rất cứng, ngoài mặt có ánh kim loại.
Xê-đê-rô-vít cầm tảng quặng khá nặng đưa cho mọi người xem, anh lấy một chiếc kim để lại gần, tảng quặng hút lấy rất mạnh như nam châm vậy.
Anh chậm rãi nói với mọi người:
- Đúng ma-nhê-tít, loại quặng này luyện sắt tốt nhất. Nó chứa tới 72,4 phần trăm sắt. Đặc điểm chính của nó là có từ tính rất mạnh.
Lúc này hầu hết các cán bộ kỹ thuật đã rời căn nhà gỗ để sang tổ khoan.
Đồng chí kỹ sư cho bọc cẩn thận tảng quặng lại rồi viết ra ngoài ký hiệu Fe3O4 của nó. Xê-đê-rô-vít vẫn không rời máy khoan, thỉnh thoảng anh lại gật gù nói với mọi người:
- Có thể là một vỉa quặng khá dày!
- Và dài hàng chục ki-lô-mét nữa! - Đồng chí kỹ sư bổ sung luôn. Trong một tương lai không xa, tổ quốc Liên Xô chúng ta sẽ có đủ sắt thép để công nghiệp hóa.
Mặc dầu công việc rất bận nhưng đồng chí vụ trưởng vụ kỹ thuật Bộ địa chất vẫn thường xuyên theo dõi tình hình thăm dò sắt ở vùng Cuốc-xcơ. Nhìn những tháp khoan trên bản đồ và đọc báo cáo thăm dò khảo sát thường xuyên từ Cuốc-xcơ gửi về Bộ, đồng chí chợt nhớ tới câu nói của Pê-te gần như ăn khớp với kết quả thăm dò hiện nay đã cho biết: trữ lượng sắt của mỏ này tương đương với tất cả những mỏ sắt ở các nơi khác trên thế giới cộng lại.
Đồng chí vụ trưởng khẽ thở dài, bùi ngùi nhớ tới Éc Lây-xtơ “Hừ, giá như giáo sư Éc Lây-xtơ còn sống đến ngày nay để chứng kiến Tổ quốc Nga với vô vàn tài nguyên phong phú đang chuyển mình tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa nhỉ? Theo con số dự đoán của các nhà địa chất thì khoảng hai mươi vạn tấn quặng sắt nằm dự trữ ở đây. Hẳn khi còn sống Éc Lây-xtơ không bao giờ dám mơ tưởng tới con số đó ./..