Kể từ lần bị ném xu, tôi rất cảnh giác với những anh chàng phù rể. Họ càng uống nhiều thì điều đó càng lộ ra: một thứ gì đó tăm tối và ác độc ẩn sau phong thái của những nam sinh trường công. Và tôi ghét một sự thật là giờ đây chồng tôi đang cư xử như một chú nhóc muốn được nhập hội với họ.
“Rồi,” Johnno nói. “Mọi người đã sẵn sàng chưa?” Cậu ta nhìn quanh bàn. Tôi đã biết mắt cậu ta có gì lạ thường rồi. Đôi mắt tối đến nỗi không thể thấy được chỗ đồng tử và con ngươi giao nhau. Điều này khiến cậu ta có một ánh nhìn kỳ lạ, trống rỗng, nên ngay cả khi cười, mắt cậu ta cũng không cười theo. Nhưng khi so sánh thì phần còn lại trên gương mặt cậu ta lại có vẻ biểu cảm quá đà, thay đổi từng giây, cái miệng lớn và linh hoạt. Có một kiểu năng lượng điên dại tỏa ra từ cậu ta. Tôi hy vọng là vô hại, giống như một con chó nhảy lên người bạn, to xác và đáng sợ, nhưng tất cả những gì nó muốn chỉ là được ném một quả bóng—chứ không phải vồ lấy mặt bạn.
“Charlie,” Johnno rủ rê. “Anh tham gia với bọn này chứ?”
“Charlie à,” tôi thì thầm, cố gắng để chồng nhìn vào mắt mình. Suốt buổi tối anh hầu như không hề nhìn đến tôi, quá bận bịu với Jules hoặc cố gắng hòa nhập với nhóm phù rể. Nhưng tôi muốn anh hiểu.
Charlie là một người rất ôn hòa: anh hiếm khi nào lớn giọng hay tức giận với lũ trẻ. Người hay quát mắng chúng là tôi. Vì vậy, không phải anh sẽ trở thành một phiên bản khó chịu hơn khi say, hay rượu sẽ thổi phồng những tính xấu của anh lên. Trong cuộc sống bình thường, anh thật sự không có nhiều tính xấu. Có lẽ tất cả những cơn tức giận đó đều ở đó, ẩn giấu bên dưới bề mặt. Nhưng tôi thề, đã có một vài lần tôi thấy anh say xỉn, dường như chồng tôi bị ai khác nhập vào người. Đó là điều khiến chuyện anh say xỉn trở nên đáng sợ hơn. Qua nhiều năm, tôi đã học được cách để ý những dấu hiệu nhỏ nhất. Miệng anh hơi nhếch lên, mi mắt rủ xuống. Tôi phải học vì tôi biết giai đoạn tiếp theo chẳng hay ho gì cho cam. Giống như một chùm pháo hoa nhỏ đột nhiên nổ vang trong não anh.
Cuối cùng thì Charlie cũng liếc mắt về hướng tôi. Tôi lắc đầu một cách chậm rãi nhưng quả quyết để anh không thể hiểu nhầm ý tôi. Đừng làm thế.
“Cái quái gì thế này?” Duncan rú lên. Ôi Chúa ơi, anh ta vừa bắt quả tang tôi. Duncan quay ngoắt sang Charlie. “Vợ giật dây ông à, anh bạn?”
Tai Charlie đỏ ửng lên. “Không,” anh đáp. “Dĩ nhiên là không. Được thôi. Tôi tham gia.”
Chết tiệt. Tôi bị giằng xé giữa việc ở lại để ngăn anh làm điều gì đó ngu ngốc hay bỏ mặc anh và để anh tự chịu trách nhiệm, bất chấp hậu quả. Nhất là sau màn tán tỉnh lộ liễu với Jules.
“Tao chia bài nhé,” Johnno nói.
“Chờ đã,” Duncan nói, đứng dậy và vỗ tay. “Chúng ta nên hô khẩu hiệu của trường trước.”
“Được,” Femi đồng ý. Angus cũng đứng dậy. “Nào, Will, Johnno. Như ngày xưa.”
Johnno và Will đứng dậy.
Tôi nhìn họ—tất cả, trừ Johnno, thật lịch lãm trong áo sơ-mi trắng và quần tây sẫm màu, đồng hồ đắt tiền trên cổ tay. Tôi tự hỏi làm sao mà những người đàn ông này, những người rõ ràng đã rất thành công, vẫn ám ảnh về thời đi học của họ đến thế. Tôi không thể tưởng tượng nổi mình lại huyên thuyên về trường Dunraven chán ngắt. Tôi không ghét bỏ gì ngôi trường của mình nhưng đó cũng không phải là nơi tôi nghĩ đến nhiều như thế. Giống như tất cả mọi người, tôi rời trường trong chiếc áo lem nhem chữ viết của bạn bè và chưa từng nhìn lại. Những anh chàng này không tan học lúc ba giờ ba mươi phút chiều và về nhà xem Hollyoaks—họ hẳn đã trải qua phần lớn tuổi thơ với nhau, bị nhốt chặt ở nơi đó.
Duncan bắt đầu bắt nhịp bằng cách đấm một tay lên bàn. Anh ta nhìn quanh, khuyến khích những người khác tham gia. Họ liền làm theo. Dần dần, tiếng động trở nên ầm ĩ hơn, nhịp điệu nhanh hơn, điên rồ hơn.
“ Fac fortia et patere, ” Duncan hô lên, tôi đoán hẳn là tiếng La-tinh.
“ Facfortia et patere, ” những người khác tiếp lời.
Rồi sau đó, họ cùng hăng hái lẩm nhẩm:
“ Flectere si nequeo superos. Acheronta movebo. Flectere si nequeo superos. Acheronta movebo! ”
Tôi quan sát những người đàn ông, đôi mắt họ dường như sáng lên trong ánh nến chập chờn. Mặt ai nấy đều đỏ ửng—họ đang phấn khích, say sưa. Tôi thấy sởn gai ốc. Ánh nến, bóng tối ngoài cửa sổ cùng nhịp điệu kỳ lạ làm tôi chợt cảm thấy như mình đang theo dõi một nghi thức của quỷ. Có một vẻ quỷ quyệt và đậm tính bộ lạc. Tôi đặt tay lên ngực, cảm nhận tim mình đang đập dồn dập như trái tim của một con thú hoảng hốt.
Nhịp điệu tăng dần đến cao trào, điên cuồng đến nỗi muỗng nĩa rung bần bật khắp nơi. Một cái ly văng xuống từ góc bàn và rơi vỡ tan tành dưới đất. Không ai ngoài tôi để ý đến nó.
“ Facfortia et paterel. Flectere si nequeo superos. Acheronta movebo! ”
Và rồi, cuối cùng, đến khi tôi cảm thấy mình không thể chịu nổi nữa, họ cùng gầm lên và dừng lại. Họ đưa mắt nhìn nhau. Trán ai cũng lấm tấm mồ hôi. Con ngươi họ dường như giãn ra, như thể vừa chơi thuốc. Những tràng cười hô hố vang lên ầm ĩ, họ vỗ và đấm vào lưng nhau. Tôi nhận thấy Johnno không cười to như những người khác. Nụ cười của cậu ta có vẻ kém thuyết phục.
“Nhưng nó có nghĩa là gì?” Georgina hỏi.
“Angus,” Femi khề khà, mày giỏi môn tiếng La-tinh mà.”
“Phần đầu tiên,” Angus nói, “có nghĩa là: ‘Hãy làm những điều dũng cảm và tồn tại’. Đây là khẩu hiệu của trường. Phần tiếp theo chúng tôi tự thêm vào: ‘Nếu tôi không nhấc được thiên đường, tôi sẽ xoay vần địa ngục.’ Mọi người hay hô vang câu này trước các trận đấu bầu dục.”
“Và còn nhiều dịp khác nữa,” Duncan nói, nở một nụ cười quỷ quyệt.
“Nghe đáng sợ quá,” Georgina thốt lên. Nhưng cô đang nhìn chằm chằm vào người chồng mặt đang đỏ bừng, đầm đìa mồ hôi, đôi mắt dại đi như thể cô chưa từng thấy anh ấy quyến rũ hơn thế.
“Mục đích chính là vậy mà.”
“Được rồi, các quý cô,” Johnno hét lên. “Ngưng phí thời gian và uống thôi nào!”
Những người khác gào lên ủng hộ. Femi và Duncan trộn lẫn whisky với rượu, nước xốt còn thừa từ thức ăn, muối và tiêu, tạo thành một thứ súp màu nâu kinh tởm. Và như thế trò chơi bắt đầu—tất cả đấm tay xuống bàn và hét vang.
Angus là người đầu tiên thua. Khi anh ta uống, thứ hỗn hợp đó chảy xuống chiếc áo trắng hoàn hảo, làm nó lấm nâu. Những người khác cười rú lên.
“Đồ ngốc!” Duncan hét lên. “Chảy hết xuống cổ mày rồi còn đâu.”
Angus nuốt ực ngụm cuối cùng, ho sặc sụa. Mắt anh ta trợn trừng lên.
Will là người tiếp theo. Anh uống hết nó một cách khéo léo. Tôi quan sát các cơ ở cổ họng anh di chuyển. Anh úp ngược chiếc ly lên đầu mình và cười rạng rỡ.
Người tiếp theo còn thừa các lá bài là Charlie. Anh nhìn vào chiếc ly của mình, hít một hơi thật sâu.
“Xem nào, đồ nhát cáy!” Duncan hét toáng lên.
Tôi không thể nhìn nổi. Tôi không cần phải xem làm gì. Mặc xác Charlie , tôi nghĩ như vậy. Đây lẽ ra là cuối tuần thư giãn của hai chúng tôi. Nếu anh muốn làm xấu mặt mình, anh phải tự lo lấy hậu quả. Tôi là vợ, chứ không phải mẹ anh. Tôi đứng dậy.
“Tôi đi ngủ đây,” tôi nói. “Chúc mọi người ngủ ngon.”
Nhưng không ai đáp lại hoặc liếc mắt về phía tôi.
Tôi đẩy cửa bước vào phòng vẽ bên cạnh và khi bước qua, tôi đứng sững lại vì sửng sốt. Một bóng người đang ngồi trên ghế xô-pha, trong bóng tối. Sau một lúc, tôi nhận ra đó là Olivia. “Ô kìa, chào em,” tôi nói.
Olivia nhìn lên. Đôi chân dài khoanh trước người, cô bé đi chân trần. “Chào chị.”
“Thấy đủ trong kia rồi hả?”
“Vâng.”
“Chị cũng vậy,” tôi nói. “Em vẫn ngồi đây sao?” Tôi hỏi.
Cô bé nhún vai. “Đi ngủ cũng chẳng ích gì. Phòng em ngay bên cạnh.”
Như thể chỉ chờ có vậy, một tràng cười giễu cợt vang lên từ phòng ăn. Ai đó gào lên: “Uống đi—uống hết một lần!”
Sau đó là tiếng hô hào: Uống hết, uống hết, uống hết—bất ngờ chuyển thành xoay vần địa ngục, xoay vần địa ngục, XOAY VẦN ĐỊA NGỤC! Tiếng tay đấm thình thịch xuống bàn. Rồi thứ gì đó vỡ tan—một chiếc ly nữa chăng? Một giọng lè nhè: “Johnno, thằng đần này!”
Tội nghiệp Olivia, không cách nào thoát được tất cả tiếng ồn. Tôi ngần ngừ ở ngưỡng cửa.
“Không sao đâu,” Olivia nói. “Em không cần ai ngồi cùng đâu.”
Nhưng tôi cảm thấy mình nên ở lại. Tôi thấy tội nghiệp cho cô bé. Và thật sự, tôi nhận ra mình muốn ở lại. Tôi thích lúc chúng tôi ngồi trong hang động trước đó, cùng hút thuốc. Có một cảm giác thật phấn khích khi làm thế, một niềm hân hoan lạ lùng. Nói chuyện với cô bé, với hương vị thuốc lá trên đầu lưỡi, tôi gần như có thể hình dung ra mình thuở mười chín tuổi, bàn tán về những anh chàng mà tôi đã ngủ cùng—chứ không phải là một bà mẹ hai con. Và có một sự thật rằng Olivia khiến tôi nhớ đến một ai đó, nhưng tôi không thể nhớ ra là ai. Điều này làm tôi khó chịu, giống như khi bạn đang cố gắng nghĩ ra một từ và bạn biết nó ở ngay đầu lưỡi bạn, rất gần.
“Thật ra,” tôi nói, “chị không mệt lắm. Chị không cần phải dậy sớm vào ngày mai để chăm hai đứa siêu quậy. Phòng chị có chút rượu—chị có thể đi lấy.”
Cô bé nở một nụ cười nhẹ, lần đầu tiên tôi thấy cô bé cười. Sau đó cô bé vòng tay ra sau gối dựa, lôi ra một chai vodka trông khá đắt tiền. “Lúc nãy em đã thó từ nhà bếp,” cô bé nói.
“Ồ,” tôi đáp. “Còn gì tuyệt hơn.” Điều này thật sự giống như được trở về tuổi mười chín, một lần nữa.
Cô bé đưa chai cho tôi. Tôi mở nắp, hớp một hơi. Rượu để lại dư vị lạnh ngắt nơi cổ họng. Tôi thở mạnh. “Chà. Chị không nhớ nổi lần cuối chị làm như thế này là khi nào.” Tôi đưa lại chai cho Olivia và lau miệng. “Lúc chiều mình đang nói dở chuyện đúng không? Em đang kể chị nghe về anh chàng đó—Callum? Bọn em chia tay.”
Olivia nhắm mắt lại, hít thở sâu. “Em đoán chia tay chỉ là bước đầu,” cô bé nói.
Một tràng cười ầm ĩ rộ lên từ phòng bên cạnh. Thêm nhiều tiếng tay đấm xuống bàn, cùng nhiều giọng đàn ông say xỉn lè nhè hét lên. Một tiếng va mạnh vào cửa phòng, sau đó Angus ngã nhào qua nó, quần tuột đến mắt cá chân, của quý của anh ta lòi ra một cách thô bỉ.
“Xin lỗi, các quý cô,” anh ta nói, ngà ngà liếc nhìn chúng tôi. “Đừng bận tâm đến tôi.”
“Ôi Chúa ơi,” tôi bùng nổ, “mau… mau cút đi và để bọn tôi yên!”
Olivia nhìn tôi đầy ấn tượng, như thể cô bé không nghĩ tôi có thể làm thế. Tôi cũng không ngờ. Tôi không chắc phản ứng của mình đến từ đâu. Có lẽ là vodka.
“Em biết không?” Tôi nói. “Nơi này có lẽ không phải là nơi thích hợp nhất để nói chuyện, phải không?”
Cô bé lắc đầu. “Mình có thể đến hang động?”
“Ơ…” Tôi không định khám phá hòn đảo vào ban đêm. Hơn nữa, tôi chắc chắn lang thang vào ban đêm khá nguy hiểm với đầm lầy than bùn và mọi thứ ở nơi đây.
“Quên đi,” Olivia nhanh chóng nói. “Em hiểu mà. Chỉ là… thật kỳ lạ… em chỉ cảm thấy nói chuyện trong đó dễ dàng hơn.”
Rồi đột nhiên tôi có cảm giác như lúc nãy. Một niềm hưng phấn lạ lùng, cảm giác khi phá vỡ những luật lệ. “Không,” tôi nói. “Đi thôi. Mang theo rượu nữa.”
Chúng tôi lẻn ra khỏi lâu đài Folly qua lối cửa sau. Nơi này về đêm thật sự đáng sợ. Không khí vô cùng yên lặng, chỉ có tiếng sóng vỗ vào những tảng đá ở phía xa. Thỉnh thoảng lại có âm thanh tựa như tiếng cười trong cổ họng làm lông trên cánh tay tôi dựng đứng. Cuối cùng tôi nhận ra tiếng động ấy hẳn phải là của một loài chim. Một loài chim khá lớn, xét theo âm thanh của nó.
Hai chúng tôi tiếp tục đi, những ngôi nhà đổ nát hắt bóng bên cạnh trong ánh sáng từ đèn pin. Những ô cửa sổ tối đen, mở toang giống như những hốc mắt trống rỗng. Một cảm giác ghê rợn như thể có ai ở trong đó, nhìn ra và quan sát chúng tôi. Tôi cũng có thể nghe thấy tiếng động từ bên trong: những tiếng xào xạc, kẽo kẹt và sột soạt. Có lẽ là lũ chuột—nhưng như thế cũng chẳng làm tôi bớt sợ hơn là mấy.
Tôi ý thức được nhiều thứ đang di chuyển xung quanh khi chúng tôi bước đi—quá nhanh nên không thấy rõ, chỉ thoáng bắt gặp nhờ ánh trăng nhàn nhạt. Có thứ gì đó bay gần mặt tôi đến nỗi tôi có thể cảm thấy nó chạm vào làn da nhạy cảm nơi má tôi. Tôi nhảy giật lùi lại, giơ một tay lên để đuổi nó đi. Một con dơi? Nó quá lớn nên không thể là một con côn trùng.
Khi chúng tôi trèo xuống hang động, một bóng đen xuất hiện nơi bức tường đá trước mặt chúng tôi, hình người. Tôi suýt đánh rơi chai rượu vì sốc cho đến khi, sau một nhịp, tôi nhận ra đó là cái bóng của chính mình.
Nơi này đủ sức làm bạn tin vào sự tồn tại của những hồn ma.