Hồi cuối năm 1949, tôi tản cư ra chợ Rạch Giá, ăn nhờ ở đậu tại xóm Sân banh, sát mé biển. Ở tỉnh nhỏ, thật khó kiếm một chân giáo viên tư thục hoặc thơ ký hãng buôn, vì vậy suốt ba bốn tháng trường, tôi cứ nằm nhà mà tập tành việc văn chương, gởi những bài thơ thuộc loại “đồng quê” cho hầu hết các nhựt báo, tuần báo ở Sài Gòn với hy vọng sẽ được các nhân viên tòa soạn lưu ý nâng đỡ. Đôi ba lần tên tôi được nêu trong mục Cánh nhạn bốn phương với kiểu trả lời: “Bạn Hoài Hương: nhận được tác phẩm của bạn. Rất tiếc vì nội dung cưỡng ép, kỹ thuật hơi vụng... nên chúng tôi hy vọng vào những sáng tác về sau. Chúc bạn cố gắng”. Có bạn phụ trách mục Cánh Nhạn, Thư Tín vô tình hay cố ý gọi tôi là cô Hoài Hương và (điều này chắc họ vô tình) đã loan tin nhận được một thiên tiểu thuyết của tôi với nhan đề quá lạ vì chưa bao giờ tôi gởi đến báo ấy thiên tiểu thuyết nào cả. Thế rồi “hết cơn bĩ cực tới hồi thới lai”, đến bài thơ thứ mười lăm, tôi hân hạnh được giới thiệu trong mục Vườn Hoa. Họ trích đăng vài câu, kèm theo đôi hàng bình luận, liệt nó vào xu hướng “tiến bộ, lành mạnh” - những danh từ quá khái quát mà tôi chưa hiểu rõ nghĩa. Tháng sau, vài bài thơ của tôi được đăng trọn, đóng khung, bên góc lại thêm bức tranh con trâu ăn cỏ, cô gái gặt lúa. Trong làng thơ, tôi tự nhận rằng mình đã bắt đầu có chỗ ngồi. Những bài ấy tôi cắt ra, dán kỹ vào quyển Nhựt ký. Đêm đêm, tôi thao thức, sáng tác thật nhiều, hy vọng đến năm sau sẽ hoàn thành một tập thơ khá dày chứa đựng nhiều đề tài độc đáo, phong phú. Vài người bàn cận đã quở trách:
- Cỡ này sao chú hút thuốc vàng móng tay, đầu tóc rối nuồi, quần áo ít giặt. Coi chừng bịnh đa. Xóm Biển này nhiều âm binh khuấy rối.
Tôi khoe khoang công trình làm thơ của mình, trình bày những kết quả cụ thể đăng trên báo. Ai nấy tỏ thái độ nghi ngờ. Hai chữ Hoài Hương có gì bảo đảm đó là bút hiệu của chính tôi. Tôi quyết trả lời cụ thể cho họ biết. Tuần sau, bài thơ nhan đề “Một trăm thiếu một” in rành rành trên mặt báo “Tiến” trước khi vào bài có hàng chữ xiên: Gởi về các bạn Xóm Biển và dưới bút hiệu Hoài Hương còn ghi chú thêm: 137, lô A Xóm Biển, Châu Thành, Rạch Giá, địa chỉ căn nhà mà tôi đang ăn đùm ở đậu.
Nhờ địa chỉ ấy, người trong xóm nể trọng ra mặt, gọi tôi là thầy Hai thi sĩ. Họ thúc hối tôi gởi thơ đăng báo để họ hưởng lây chút danh dự. Hỡi ôi! Dường như nguồn cảm hứng cạn dần, loại thơ “đồng quê” của tôi quanh đi quẩn lại chỉ nói về “mồ hôi thấm luống cày”, “máu thắm chan hòa mạch đất”, “lúa xanh vươn lên” rồi “lúa vàng vàng, lúa chín giữa ngày mùa thơm ngát”. Hoặc cô lái đò hờn duyên tủi phận, ông lão buông câu bên gốc dừa, dưới ánh trăng thanh. Sáng hôm nọ, tôi viết liên tiếp trên hai mươi câu thơ rồi xé bỏ, lơ đãng nhìn ra khung cửa. Trong ngõ hẹp này, ai hay là cả một bầu trời thơ mộng! Vài ông chủ nhà thiếu công ăn việc làm đang rủ nhau đánh đáo lạc, người thua cuộc phải cõng kẻ thắng trên lưng. Vài người tuổi hơn bốn mươi, có cháu nội, cháu ngoại mà vẫn đam mê vùi đầu vào trò chơi trẻ con ấy một cách hồn nhiên. Bên cạnh họ, trong khi chờ đợi mẹ đi chợ về, lũ trẻ xúm nhau bên đống rác, rình rập bắt từng con ruồi như hồi nào trước khi tản cư, chúng bắt chuồn chuồn, bươm bướm ở miền quê. Vài đứa tinh nghịch hơn, tìm dây nhợ, tìm giấy bìa để tẩn liệm rồi cử hành đám táng của một con chuột sình dưới đường mương. Có tiếng nói thơ Vân Tiên vang ra não nuột từ căn nhà của lão Tư Hiếm. Tôi qua đó. Lão gật đầu chào trước:
- À! Cỡ nào rảnh, thầy dạy cho tôi cách thức làm thi phú.
Tôi đáp:
- Dạ, bác cứ lựa những chữ có hơi lên hơi xuống giống như câu hát đưa em, như thơ Vân Tiên là được.
- Nhưng còn vài điệu ngâm khác ngộ hơn. Ngày xưa, tôi đờn cò, vỗ trống cơm cho họ lên xác ông, xác bà. Lâu lâu nghe vài câu tứ cú, bát cú gì đó. Vui lắm. Hồi đó tôi làm ăn khá, nhà rộng, bàn thờ to lắm, đâu như bây giờ.
Giữa nhà lão, cái thùng thông lơ lửng, mí trên đóng đinh sát vào cây đòn dông sần sùi. Mái nhà quá thấp, chỉ cần đứng trên bộ ván để vói tay lên cắm nhang vào cái lon sữa bò đã sét vì mưa tạt. Tấm giấy hồng đơn dán trên trang có bốn chữ Thái Thượng Lão Quân, nhưng nét mực đã nhòa rồi.
Lão nói tiếp:
- Hồi đó, ở nhà tôi thờ hơn mười nơi: Thái Thượng Lão Quân, Ông Quan Đế, Bà Cữu, Thổ Chủ, Tài Thần, Ông Táo... chưa nói đến ông bà và các bài vị khác của thân chủ. Bây giờ, giảm bớt chỉ còn trang thờ trên kia. Điều quan trọng là mình nên tôn kính; lư nhang tuy thô kệch nhưng mình cần giữ đúng nghĩa: trong cái lon sữa bò, tôi đổ gạo lức để cắm chân nhang cho chắc. Gạo là nền móng...
Nói xong, lão vói tay kéo từ nẹp vách đem ra một cái ống điếu dài, có u có nần - kiểu ống điếu bằng cây ớt hiểm rừng, dài cỡ bảy tấc tây, bóng láng vì xài quá lâu năm. Lúc châm thuốc, lão để một đầu ống điếu chỏi sát mặt ván, lưng lão thẳng, đầu hơi cúi xuống, giống như người hút thuốc lào. Chòm râu bạc, mái tóc bạc, hàng chân mày bạc lẫn lộn khuất lấp trong màn khói thuốc mù mịt. Dáng điệu lão giống như một nho sĩ ngồi dưới cội tùng, trong bức tranh cổ Trung Hoa, nếu lão còn giữ cái búi tóc như hồi bốn tháng trước. Và nếu tấm vách lá đừng quá rách loang lổ như từng cánh cửa sổ khép hờ, để lộ bối cảnh ngoài kia: không là núi nhưng là biển - mặt biển xanh như chàm lấp loáng nắng, Hòn Tre nổi lên như con rùa rút cổ, đôi ba chiếc tàu sắt trắng bạc như vôi, treo cờ tam sắc.
- Mau đi! Vợ tôi về rồi kia! Khòm lưng xuống cho tôi cõng! Anh còn thiếu tôi hai cõng. - Một người nói ngoài sân.
Đối phương của anh ta đáp nhanh:
- Tôi khòm lưng đây. Hai cõng kia, anh cho tôi đình lại. Coi như huề. Hồi chiều hôm qua, anh thua tôi liên tiếp hai bàn cờ tướng, nhớ không?
- Để đó! Đáo lạc tính theo đáo lạc. Cờ tính theo cờ. Tôi đánh cờ tướng quá dở. Nếu gặp cờ gánh hoặc cờ chó, tôi hạ anh sát ván. Tụi mình còn ở không ăn chơi nhiều ngày mà. Mai hãy tính.
Hai người đàn ông giải tán cuộc chơi, chạy ngang cửa. Lão hút điếu thuốc thứ nhì, phun khói rồi thở dài:
- Ngao ngán quá!
Tôi hỏi:
- Ngao ngán nỗi gì? Vài năm nữa, thế nào cũng hết giặc. Nhưng tại sao họ giỡn hoài như vậy hả bác! Rồi họ lấy gì làm tiền mà mua gạo hàng bữa? Hăng hái lên mới được chớ!
- Ở tỉnh nhỏ khó kiếm công việc làm. Lóng trước họ vác lúa cho nhà máy Tư Đài. Bây giờ cặp rằng bảo họ tạm nghỉ, chừng có việc làm hãy hay. Họ mới bắt đầu chơi giỡn từ nửa tháng nay, cam phần giữ nhà để cho vợ đi mua bán tần tảo. Hồi mới nghỉ việc, họ siêng năng bươn bả, tối ngày trông mong kiếm sở làm. Tối về, họ khuyên vợ con nên tiện tặn rút bớt việc chi tiêu.
“Nhưng thầy ơi! Có giỏi cắn hột muối ra làm hai làm ba, hoặc làm tư thì lụi hụi hai ngày hoặc bốn ngày cũng ăn hết hột muối. Tiết kiệm nỗi gì! Rầy rà khuyên răn vợ con làm gì? Điều quan trọng là làm sao tạo thêm năm mười hột muối... Tôi thấy vợ con họ bây giờ giống như mấy bà hồi xưa thắt lưng buộc bụng, gánh gạo đường xa để nuôi mấy ‘ông đồ’ cho dài lưng tốn vải. Thôi! Đèn nhà ai nấy sáng. Thầy làm thơ đăng báo, còn có ngày bay nhảy xa xuôi tới Sài Gòn, Chợ Lớn. Phần tôi thì nói thơ Vân Tiên chờ ngày về xứ như họ. Chán ngán quá!”
- Xin lỗi, quê quán của bác ở đâu?
Ngần ngại lắm tôi mới dám hở môi hỏi ông Tư Hiếm một câu mất lịch sự như vậy. Quân đội viễn chinh Pháp còn đồn trú khá nhiều tại chợ Rạch Giá. Nhiều người từ thôn quê tản cư ra chợ, họ giấu giếm tên tuổi, họ hàng và quê quán vì lý do này hoặc lý do khác.
Ông Tư Hiếm mỉm cười:
- Tôi xin giấy “lách xê” rồi. Tôi ở làng Mỹ Lâm.
- Gần núi Ba Thê?
- Sao thầy biết?
- Tôi thấy trên bản đồ. Hồi xưa đi dạo Hà Tiên, tôi có qua ngang đó. Xứ coi bộ buồn quá. Bùn lầy nê địa...
- Nhưng là xứ lâu đời! Nhà tôi ở xóm Mốp Giăng. Cây mốp mọc giăng ngang xanh um, tứ thời mát mẻ, đào xuống đất là gặp mạch nước ngọt. Hàng cây mốp thiên niên đó chính là bờ biển ngày xưa. Bây giờ cày ruộng lâu lâu người ta gặp tượng Phật bằng đá, hột chuỗi hổ phách, chén đá, lưỡi tầm sét hoặc chiếc ghe biển có chèo, cột buồm, đặc biệt là dây đỏi ghe, sợi lớn hơn cườm tay, mục như bùn nhưng còn thấy từng thớ gai xe lại... Người ta nói hồi ngàn năm trước, xóm tôi vui như chợ Rạch Giá bây giờ: cũng ở sát mé biển, tàu bè tứ xứ ra vào mua bán tấp nập. Rồi gặp thiên tai đại họa gì đó, bãi biển bồi lan ra xa, năm này qua năm khác hơn chục cây số.
Tôi phụ họa vào để kéo dài câu chuyện, chờ buổi cơm trưa:
- Đại khái, xóm Mốp Giăng của bác văn minh hơn chợ Rạch Giá ngày nay. Nó ở sát mé biển. Ngặt vì năm tháng trôi qua...
Ông Tư Hiếm đắc ý, vói lấy ống điếu kê xuống ván nhồi thuốc rồi trở bộ xếp bằng, đánh diêm quẹt:
- Bãi biển hóa ruộng dâu... Chừng vài trăm năm nữa, đất bồi lấp cái eo biển sau lưng mình, nối liền đường bộ ra tới ngoài Hòn Tre kia.
Thật ra, tôi ít tin tưởng vào những dự tưởng như vậy. Hồi cuối thế kỷ thứ XIX, nhiều thuyền trưởng Pháp đã tiên đoán thế nào rồi đây mũi Cà Mau cũng nối liền tới Côn Nôn, Tân Gia Ba, căn cứ vào số lượng đất phù sa do sông Cửu Long tuôn ra biển. Nhưng đến nay, chưa xảy ra điều gì quan trọng về mặt địa lý.
Tôi đáp:
- Cách đây tám mươi năm, ông Nguyễn Trung Trực đổ bộ ngay chỗ xóm mình để đánh đồn Kiên Giang. Từ đó tới giờ, dường như đất chưa bồi ra thêm được mấy thước. Biển vẫn còn là biển, thưa bác.
Lão Tư Hiếm cười khì:
- Nhưng đất vẫn bồi. Xứ mình như vậy đó. Nếu trời đất không bồi thì mình bồi để mà sống. Thầy chưa hay rằng...
Lão tạm ngưng câu nói. Tôi nhìn dáo dác, e rằng lão muốn ám chỉ chuyện “quốc sự”, “vá trời lấp biển” kháng Pháp. Nhưng lão gật gù:
- Xóm Biển của mình đây hồi năm ngoái còn là bãi bùn; cây bần, cây vẹt mọc um tùm. Tuy sát bên chợ nhưng ban đêm vẫn nghe tiếng âm binh kêu rú, Mới hôm qua, một cái xác chết trôi tấp vô, thối om rã xương mà ông Cò chẳng thèm hay biết.
Bỗng nhiên, phía trước nhà tôi, dường như thấp thoáng bóng người trạm đưa thư. Tôi phập phồng, liên tưởng đến số tiền nhuận bút của nhà báo từ Sài Gòn gởi xuống, theo địa chỉ.
Tôi đứng dậy nói vói lại:
- Có ai kiếm tôi kia... À, chắc ông Cò biết chuyện thây ma chết trôi đó chớ, nhưng ổng bỏ qua. Ở bót mé sông, hằng đêm Tây giết người rồi thả xuống.
Lão Tư Hiếm giựt mình:
- Điều đó, tôi nghe dân chài lưới nói lại chớ tôi nào dám đề quyết, vu oan cho Tây... Thôi, thầy về ăn cơm hả? Đừng nhắc tới nhắc lui chuyện đó cho người khác nghe, tội nghiệp tôi. Tôi đâu dám kích bác ai... Nói mà nghe vậy thôi.
Ngồi trong quán cà phê tôi liếc nhìn chiếc đồng hồ: 11 giờ thiếu 25, rồi mở bốp ra, đem bức thơ đọc lại, vừa vui sướng, vừa hồi hộp:
Kính gởi thi sĩ Hoài Hương,
Hân hạnh được thưởng thức tài nghệ của ông qua những vần thơ điêu luyện trên tuần báo X. Thấy địa chỉ của ông đăng ở cuối bài thơ Một trăm thiếu một, tôi vội vã viết thơ này, hy vọng nó sẽ đến tận tay ông. Mong ông nhín chút thời giờ đến biệt xá của tôi, số 23 đường Mé Sông vào khoảng 11 giờ sáng, trong tuần này càng sớm càng hay vì vợ chồng tôi đang có việc cần ông hợp tác về mặt văn nghệ. Xin ông chớ từ chối.
Ông Bà Henri Nguyễn văn Nhan.
Kim đồng hồ chỉ 11 giờ thiếu 15. Tôi nghĩ thầm: “Mình lên đường là vừa”. Từ quán cà phê đến nhà ông Henri Nguyễn văn Nhan, khoảng đường dài chừng hơn năm trăm thước. Đến đấy quá trễ, e ông bà hiểu lầm cho tôi lập dị hoặc thiếu đứng đắn. Đến quá sớm, biết đâu họ đánh giá tôi quá thấp. Tôi rảo bước, con đường quá quen thuộc, hơn nữa hồi hôm qua tôi đã tìm biết rõ số 23 đường Mé Sông này một lần rồi. Một ngôi biệt thự, xung quanh có sân rộng. Điều đáng chú ý: cách đó chừng bốn căn nhà là tới đồn Pháp, đa số gồm lính Lê dương, canh gác cẩn thận. Ít ai dám đi ngang qua cái đồn Lê dương nổi tiếng hung dữ ấy. Thời buổi loạn lạc, sống chết bất thường. Lính Lê dương đi tới lui, tốp ra chợ, tốp về đồn, mặt mày hầm hừ đỏ khé vì nắng, vì rượu. Tôi yên tâm hơn bao giờ hết, với tấm giấy “lách xê” trong túi và nhứt là với bức thơ của ông bà Henri Nhan, một tài liệu cho phép tôi bén mảng đến gần đồn vì lý do chánh đáng, theo lời mời của một nhân vật tăm tiếng có quốc tịch Pháp.
Tiên đoán những câu hỏi sắp tới của ông bà Henri Nhan, tôi chuẩn bị sẵn những câu trả lời. “Hợp tác về mặt văn nghệ”. Mơ hồ quá, biết đâu ông bà muốn bỏ vốn ra để xuất bản thơ. Hoặc cùng hợp soạn một tuyển tập.
Nhìn kỹ tấm bảng ghi số 23 trước biệt thự, tôi mạnh dạn bấm chuông. Chị ở trong nhà chạy ra:
- Ông kiếm ai?
- Tôi muốn gặp mặt ông bà.
- Ông đi vắng rồi.
- Chị cứ nói có khách đến, chuyện cần.
- Dạ tôi không dám, hay là ông đợi lát nữa.
Tôi nhanh trí, đưa bức thơ hôm nọ và luôn cả phong bì cho chị ở:
- Chị mang vào cho bà. Tôi đứng chờ ngoài này.
Chị ở ngạc nhiên, vừa đi vừa liếc phong thơ đã xé. Chập sau, chị kéo nhẹ cánh cửa sắt:
- Mời ông vô.
Qua một cái sân khá rộng trải đá mịn, tôi đứng ngượng ngùng trước bực tam cấp. Phòng khách vắng hoe.
- Mời ông ngồi. Bà tôi lát nữa ra bây giờ.
Tiếng dép kéo nghe lẹp xẹp, ngày càng gần. Một thiếu phụ nhanh nhẹn khoát màn:
- À! Ông là Hoài Hương.
Tôi đứng dậy cúi đầu chào:
- Thưa phải...
- Ông cứ ngồi.
Ngồi xong, tôi cảm thấy lúng túng lạ thường vì bà chủ nhà vẫn đứng dựa lưng vào vách, bên khung cửa sổ. Tuổi bà trạc ba mươi, vóc dáng cao ráo, hai bàn tay ngón thuôn, móng thoa màu hồng dịu; cườm tay no tròn lộ ra thảnh thơi trong tay áo lụa quá rộng phủ xuống vừa khỏi cùi chỏ. Bà day lại, mỉm cười để lộ hai núm đồng tiền và một cái răng vàng:
- Nhà tôi vừa đi khỏi, chừng nửa giờ nữa mới về. Thôi, chắc ổng mừng lắm, ông đến đây thiệt hợp thời.
Chị ở bưng ra một tách nước trà hơi nguội. Bà nói tiếp:
- Ông cứ uống tự nhiên một mình. Chẳng mấy khi... thi sĩ đến nhà. Một thi sĩ hữu danh.
Tôi cúi mặt, đưa tay vói tách nước.
- À, này ông...
Giựt mình, tôi buông tay xuống. Cũng may tôi chưa nâng tách nước. Bằng không chắc chắn nó sẽ rơi xuống nền gạch bông quá bóng láng.
- Ông uống tự nhiên đi. Tôi đứng đây, luôn thể... chờ nhà tôi về. Tôi muốn nói điều gì bây giờ. À... quê quán của ông ở quận An Biên, nếu tôi không lầm.
Tôi trố mắt ngạc nhiên, phục thầm tài nhận xét của bà Henri:
- Dạ, sao bà biết? Hay là quê của bà...
Bà vội cướp lời tôi:
- Xin lỗi để tôi nói trước. Qua lời thơ của ông, tôi chú ý câu: “Mười con sông nhỏ song song, Chảy về một biển mà không giao đầu”, tôi quả quyết ông là người Miệt Thứ, nơi có mười con rạch nhỏ, từ rạch Thứ Nhứt đến rạch Thứ Mười, giáp rừng Cán Gáo. Với lại “Lòng đất sục sôi, hoa trắng soi mình trong màu đỏ”! Mới nghe qua thì ghê rợn xương máu, nhắc nhở chiến tranh.
Tôi sượng sùng, toan thanh minh trường hợp “tình ngay lý gian” ấy. Nhưng bà Henri lại khéo biện hộ giùm tôi:
- Thật khiêm tốn, hiền lành, cái miền quê An Biên! Ông tả đúng quá. Đất xốp, mưa thấm xuống, cứ đào là gặp mạch nước chảy tuôn. Thứ nước chát, đỏ bầm vì nhuộm màu vỏ tràm, dây choại, dây dớn; bông trắng, màu bông cây tràm.
Bên đồn, lính Lê dương bỗng rộ lên cười hát ỏm tỏi... Tôi liếc qua cửa sổ bên trái: hai họng súng “ô buýt” vừa ló ra cách nhà chừng hai chục thước.
Bà chép miệng:
- Chừng này sao nhà tôi chưa về? Ông quan tư Ca Rê là bạn của nhà tôi. Họ đang uống rượu bên đồn. Ông ráng chờ vài phút. Tới giờ lính ăn cơm rồi. Ông Ca Rê học giỏi lắm, xuất thân trường Thuộc địa, rành về tâm lý các dân tộc Đông Phương, nhứt là Ấn Độ. Ổng thích tìm bạn Việt Nam... để điều tra thêm... Vì vậy, nhà tôi cần gặp một thi sĩ Việt Nam để tiếp tay.
Nỗi lo âu hiện lên. Tôi ngồi im, cố gắng che giấu sự thất vọng. Tâm lý các dân tộc Đông Phương, Ấn Độ, Việt Nam? Những môn mà tôi chưa từng chú ý. Ông bà Henri Nhan quả thật đã gõ lầm cửa khi biên thơ cho tôi. Chẳng khác nào ông bà xúi biểu một ngư ông ở đồng bằng đi săn cọp tận đỉnh Hy Mã Lạp Sơn! Những bức hoành phi cẩn xa cừ, cái lục bình cao hơn tám tấc ở bàn giữa, cái ghế bành lót nệm màu xanh dương, đôi chim hoàng yến treo ngoài cửa cái, không khí mát mẻ trong phòng khách, pho tượng Phật Quan Âm trên bàn thờ riêng biệt, tất cả như mai mỉa sự có mặt của tôi tại đây. Tôi toan đứng dậy, cáo từ bà chủ nhà để trở về gian nhà Xóm Biển rồi nằm trên bộ vạc tre, kê đầu lên chiếc gối bằng cây mốp, tìm nàng thơ đang đi lởn vởn bên cạnh những em bé bắt ruồi, hoặc lão Tư Hiếm với chiếc ống điếu cổ lỗ.
Bà chủ nhà nói nhanh:
- Ý mà quên! Nãy giờ tôi quên mời ông hút thuốc. Thuốc điếu, ống quẹt... ở trong cái hộp cây sơn mài trước mặt ông đó. Ông cứ tự tiện mở ra.
- Dạ tôi... không ghiền thuốc.
- Không ghiền thuốc, làm sao cảm hứng được? Kìa! Nhà tôi về.
Rồi bà đổi giọng, day ra ngoài cửa sổ:
- Ông có mượn giùm tôi mấy cuốn Paris Match đó hả? Nãy giờ, thi sĩ tới chờ đợi ông rã ruột.
Ông Henri Nguyễn văn Nhan bước nhanh vào:
- A! Chào thi sĩ.
Tuổi ông trạc năm mươi, da mặt hồng hào. Tuy mặc bộ quần áo kaki vàng nhưng chân ông mang dép săn-đan với đôi vớ trắng.
Ông bắt tay tôi rồi trao xấp báo cho bà vợ trẻ:
- Bà à, ông Còm-măn-đăn Ca Rê hứa giải quyết gấp cái “áp phe” điền đất của mình ở Mỹ Lâm. Báo thì tôi mượn về mấy tờ đây cho bà.
Bà vợ liếc xem ngay bức hình màu ngoài bìa báo, trả lời vắn ngủn:
- Ổng hứa từ mấy tháng rồi...
- Ậy, lần này tôi nói gắt với ổng. Ổng hứa sẽ thi hành gấp trong tuần này, với điều kiện là tôi giúp ổng tài liệu... Chẳng biết người mình kêu bằng cái gì... cái monographie vùng phụ cận núi Ba Thê, từ khi người Pháp mới sang và những phong tục hồi xưa còn sót lại trong dân chúng.
Day qua tôi, ông tiếp:
- Ông giúp tôi phần ấy được chớ! Viết bằng chữ Việt Nam để tôi căn cứ vào đó dịch ra chữ Pháp. Văn chương của ông được đăng báo. Theo ý kiến của nhà tôi thì ông thuộc vào hàng trên mức trung bình. Nhà cửa, quê quán ông ở đâu? Học lực tới lớp nào? Từ mấy năm nay ông đã làm gì?
Cơn giận lại nổi lên ngấm ngầm. Tay tôi hơi run run. Tôi quên rằng thời chiến tranh mỗi chủ nhân cần điều tra lý lịch của bất cứ người làm công nào, nhứt là trường hợp ngôi nhà của chủ lại ở sát đồn bót. Tôi đứng dậy, nói lập vập:
- Thưa ông, tôi chưa từng soạn thảo những quyển địa phương chí lần nào cả. Viết tổng quát về lịch sử, địa lý, thói ăn nết ở, nguồn lợi kinh tế của một vùng... tưởng việc ấy dành riêng cho những nhà chuyên môn, học cao hơn. Rất tiếc vì tài mọn, tôi khó làm vừa lòng được. Xin...
Mấy tiếng “kiếu từ ông” chưa thốt ra khỏi miệng tôi là ông Henri Nhan đã chận ngay:
- Đừng ngại, chuyện cần gấp lắm. Tôi sẽ chỉ biểu rành mạch đầu đuôi gốc ngọn tất cả công việc; ông cứ noi theo lời tôi mà thi hành. Tôi đã trình bày với ông quan tư Ca Rê: Lịch sử vùng Mỹ Lâm tức là lịch sử của tôi! Tôi ra công khai phá vùng ấy hơn ba chục năm trường, lập đình chùa, làng xóm. Tôi hiểu từng cọng cỏ. Tôi đã gặp nhiều di tích xưa, trước khi người Pháp đến đào xới kho tàng Óc Eo ở núi Ba Thê mà họ cho rằng quan trọng, đánh dấu sự gặp gỡ với Tây Phương từ đời Thượng cổ ở Đông Nam Á. Chung qui công việc mà ông thi sĩ sắp làm chỉ là viết tiểu sử của tôi, theo kiểu tiểu sử các bực danh nhân, công thần trong quốc sử.
Tôi giữ thái độ im lặng mặc dầu tôi biết lão Tư Hiếm có thể giúp tôi nhiều tài liệu về phần đất ở Mỹ Lâm. Nhưng tôi cố tìm lời lẽ để rút lui vĩnh viễn, thề chẳng bao giờ đặt bước trở lại căn nhà khó thở này. Bà Henri Nhan như nóng nảy, nháy mắt, khoát nhẹ bàn tay búp măng, ra dấu hiệu bảo tôi cứ gật đầu.
Tôi đáp:
- Thưa ông, tôi suy nghĩ lại, trả lời sau.
Bà Henri Nhan cười giòn, bước tới vịn vai chồng:
- Dường như thi sĩ đồng ý rồi đó. Thôi bây giờ cũng đã trưa, để ông ấy về nghỉ rồi sáng mai trở lại nhận việc.
Ông Henri Nhan lẩm bẩm, nhìn tôi:
- Được, tôi nhức hai bàn chân quá. Chịu phiền nghe ông bạn. Tối nay tôi thảo kế hoạch để công việc tiến hành gấp rút. Tâm lý người Âu Châu... kỳ lắm.
Ông ta vào phòng.
Tôi đứng dậy, cúi đầu chào bà chủ. Bà đi trước.
- Để tôi mở cổng cho ông về.
Tiễn tôi đến khỏi bực tam cấp, bà nói khẽ:
- Công việc chẳng long trọng, to tát như ổng nói đâu! Cứ nhận lãnh đi, ông đừng quá khiêm tốn. Ban nãy, dường như ông hơi phật ý.
Cơn buồn giận của tôi đã bắt đầu dịu xuống:
- Dạ, tôi đâu dám phiền ai.
- Một hai ổng muốn trở về điền đất cũ ở Mỹ Lâm. Thật là khuấy nước giỡn trăng! Tôi khuyên ổng nên bỏ hết, vợ chồng đi lên Sài Gòn tìm huê lợi khác. Rầu quá. À, ban nãy tôi quên hỏi...
- Thưa bà...
- Ông ở Miệt Thứ, thuộc xóm nào? Chú ruột tôi là ông hội đồng X, chắc ông biết.
- Dạ ông hội đồng là bạn của ông dượng tôi.
Bà Henri tiếp:
- Tôi ít về quê lắm. Đi học Sài Gòn từ nhỏ tới lớn.
Đến cổng rào, bà kéo nhẹ cánh cửa sắt, đứng nép một bên, sờ vào túi:
- Đây, tôi gởi sở phí ông về xe. Ngày mai nhớ trở lại nghe. Chừng một tuần lễ thôi. Về tiền bạc, tôi lo liệu để ông được bề rộng rãi.
Tôi lưỡng lự hồi lâu. Bà mỉm cười, trao tấm giấy một trăm đồng tận tay tôi. Tôi nói bẽn lẽn:
- Cám ơn bà.
Bà từ từ khép cổng rồi nở nụ cười thành thật:
- Nhớ trở lại, dịp may cho ông đó. Đừng buồn điều gì ráo!
Đến chiều hôm ấy, tấm giấy một trăm đã tan manh mún, chỉ còn chừng mươi đồng: năm chục đồng đền ơn cho bà chủ nhà, mười đồng gói thuốc thơm, mười đồng mớ thuốc Gò Vấp. Và tôi xài linh tinh. Giấy trắng, mực, viết chì tôi mua dự trữ sẵn để dành làm thơ. Hơi gió biển thổi mát rười rượi. Tôi hút thuốc, tưởng đến dung nhan quý phái của bà Henri Nhan. Hồi còn ở quê nhà, cha tôi nhiều lần nhắc đến ông hội đồng X. mà bà chủ Nhan bảo là chú ruột. Tôi tin rằng bà không nói dối. Cha tôi thuật lại: Ông hội đồng X. ăn xài sang trọng như Tây, phòng khách của ông trưng bày nhiều thứ lạ, thí dụ như pho tượng cẩm thạch tạc kiểu người đàn bà khỏa thân đang giương cung bắn con nai, hoặc chàng lực sĩ Tây Phương đánh sư tử; ông hội đồng gởi thơ qua tận bên Pháp mua một cái đồng hồ đặc biệt, cứ đúng mười lăm phút một đứa bé bằng đồng bước ra cầm dùi nhỏ, gõ tự động vào cái chuông. Tóm lại, những kỳ quan - so với cách sống của đa số điền chủ quê mùa khác ở vùng U Minh. Ông nhận một đứa cháu gái đem về làm con nuôi. Cô này nghe đâu học ở Sài Gòn, sau khi rời nhà trường về chợ Cần Thơ, kết nhân tình với một ông y khoa bác sĩ trẻ tuổi. Rồi cuộc hôn nhơn bất thành, ông bác sĩ tự tử bằng thuốc ngủ. Phải chăng vì lẽ ấy mà cô ta chẳng muốn nói rõ lý lịch cho tôi nghe? Và cuộc gặp gỡ giữa cô ta với ông Henri Nhan chỉ là do tình thế loạn lạc đưa đẩy?
Tôi qua nhà lão Tư Hiếm. Lão lồm cồm ngồi dậy, quét bộ ván.
- Hồi sáng thầy đi đâu quá sớm?
- Sao bác biết?
- Thì tôi qua mời thầy uống rượu, chẳng gặp ai.
Nghĩ rằng trước sau gì mình cũng cần nói thật với lão, tôi bắt đầu vào chuyện:
- Số là vợ chồng ông chủ Henri Nhan đọc báo thấy mấy bài thơ của tôi, ổng bả hâm mộ tài nghệ, mời tôi tới, nhờ vài việc.
Lão Hiếm sửng sốt:
- À, ông chủ Nhan, đại điền chủ ở Mỹ Lâm phải không?
- Dạ phải.
- Ổng nhờ thầy làm công việc gì?
- Ổng muốn tôi viết lại những sự tích ngày xưa ở Mỹ Lâm, để... in thành sách cho quan Tây đọc chơi. Ổng kể câu chuyện, tôi viết lại cho có đầu có đuôi.
- Thầy nhận lời chưa?
- Chưa dứt khoát. Tôi muốn nhờ những người sống cố cựu ở Mỹ Lâm như bác giúp tôi tài liệu. Nhà bác hồi xưa chắc ở trong điền ổng?
Đôi mắt lão Tư Hiếm mấp máy. Lão gãi đầu rồi vói tay vào vách, tìm cái ống điếu... Sự bối rối hiện rõ rệt quá! Ngón tay của lão cầm que diêm, run run châm đôi ba lần mà vẫn không cháy điếu thuốc. Đóm lửa tắt. Lão đánh cây diêm thứ nhì, cố nín hơn hồi lâu rồi mới kéo thẳng một hơi, nhưng đứt đoạn.
- Ruộng ổng cò bay thẳng kiếng, trên ba ngàn mẫu. Tôi ở đất ổng trên bốn chục năm. Tá điền ổng hồi xưa trên hai trăm gia đình. Bây giờ còn chừng hai chục, phần lớn thất lạc như tôi đây chẳng hạn.
Ngừng một chập, ông nói nhỏ:
- Ổng có hỏi tên tôi không? Bà vợ của ổng hiền lắm. Vợ chấp nối.
Tôi hơi ngạc nhiên:
- Ổng nào biết bác ở Xóm Biển gần nhà tôi.
- May lắm. Giữa tôi với ổng, tôi muốn đừng ai nhắc tới tên ai nữa. Tôi già rồi. Tôi chẳng thiếu nợ ổng đồng bạc nào, hột lúa nào. Tôi chẳng hề ở ác với ổng. Quê xứ tôi buồn lắm. Ai làm ruộng đâu mà góp lúa ruộng? Nhà binh Tây chê xứ tôi, chẳng thèm đóng đồn bót. Mấy “ông” Việt Minh thì ở đâu xa xa. Tận trong núi Ba Thê.
- Hồi nãy bác nói còn chừng hai chục gia đình tại đó.
- Thì họ ở lấy lệ nhưng suốt ngày ra đồng sống bằng nghề khác như hái lá sen, bắt ốc, câu cá, gài bẫy chim chớ đâu làm ruộng như xưa. Để tôi nhớ coi... chắc chắn là mười sáu gia đình, trong đó có gia đình một bà già mù, một gia đình cùi. Nghĩa là còn mười bốn. Với một cái miễu thờ Chúa Ngung, Ma Nương.
- Chúa Ngung, Ma Nương là vị thần gì? Tôi ít nghe nói tới.
- À, điều đó ông chủ Nhan rành hơn tôi, ổng bày ra cái miễu đó. Thôi để thầy ngủ sớm, sáng mai đi làm.
Tôi lững thững ra cửa, hơi buồn vì lão dường như muốn đuổi khách. Lão bước xuống bộ ván, gọi theo giọng nhỏ rí:
- Xin lỗi thầy... tôi muốn...
Vì tôn kính người lớn tuổi, tôi vui vẻ trở lại, lão lẩm bẩm:
- Đối với chủ Nhan, thầy nên cẩn thận trong công việc làm. Nhứt là đừng bao giờ nói có bất cứ người tá điền nào của ổng ở xóm này. Tội nghiệp tôi.
- Bác khỏi lo. Tôi hứa điều đó. Tối mai tôi qua gặp bác. Tôi chỉ muốn làm thơ. Thời buổi giặc giã...
Đêm ấy, tôi lại suy nghĩ liên miên. Thái độ lão Tư Hiếm làm cho tôi ái ngại. Dường như lão quá sợ. lần thứ nhứt lão nài nỉ tôi đừng tiết lộ chuyện lão nói xấu Tây. Phen này, lão hốt hoảng khi nghe đến chuyện ông đại điền chủ Henri Nhan muốn sưu tầm chuyện cổ tích. Nỗi lo sợ đó thật khó hiểu. Trong phút giây, tôi muốn từ khước công việc làm mà ông Henri Nhan sắp giao phó. Nhưng tôi cần tiền, chẳng lẽ tôi bắt buộc ông chủ nhà phải nai lưng đạp xe ba bánh từ tháng này qua tháng kia để nuôi dưỡng một thanh niên tay chân đầy đủ như tôi. Nàng Thơ sống chẳng cần cơm áo, nhưng muốn tao ngộ với nàng, kẻ phàm tục cần sống nhiều năm bằng cơm áo tối thiểu để chờ đợi phút giao cảm, ngàn năm một thuở. Hơn nữa, tôi tin tưởng nơi bản chất hiền hòa và sự ân cần của bà Henri. Khách yêu thơ chẳng lẽ nhẫn tâm giết thi sĩ! Trên con đường tranh danh đoạt lợi, bà ta chẳng cần đạp lên trên xác chết của tôi và xác chết của lão Tư Hiếm mà làm gì.
Mặt trời mọc cao hơn một sào khi tôi giựt mình thức dậy.
Đằng kia lão Tư Hiếm đi tới lui trong ngõ hẻm như ngóng chờ tôi. Thay quần áo xong, tôi hối hả lên đường, sợ trễ mặc dầu hồi sáng hôm qua bà Henri Nhan chưa nói rõ giờ khắc làm việc. Lão Tư Hiếm tằng hắng rồi ho lớn. Tôi đến bên lão để trấn an:
- Tôi hứa chắc mà, bác vững bụng đi. Bác cũng đừng cho chòm xóm biết tôi có công việc làm tại nhà ông ấy. Ngày hôm qua, tôi nói dối chủ nhà rằng tôi mới lãnh chút ít tiền của nhà báo từ Sài Gòn gởi xuống. Chưa chắc ông Henri mướn tôi làm việc lâu ngày đâu! Không chừng lát nữa ông ta đuổi tôi. Sáng nay, tôi như người đi dạo mát để giết thì giờ.
Lão gật đầu, mỉm cười:
- Đâu phải vậy. Thầy gặp cơ hội tiến thân, tôi mừng, cầu chúc thầy gặp may mắn, tiền bạc khá giả chớ! Tôi nào dám ngăn cản thầy.
Lại một sự hiểu lầm nữa. Hết sợ ông cò Tây, lão sợ ông Henri Nhan rồi giờ đây lão sợ đến tôi. Chẳng lẽ đứng lì ở đây để thanh minh một trường hợp chưa rõ rệt? Tôi lại kiếu từ, đi phăng phăng đến đường Mé Sông.
Lần này chị ở nhanh nhẹn mở cổng, dẫn tôi đi thẳng vào dãy hành lang khá rộng nối liền biệt thự xuống nhà bếp.
Bà Henri Nhan ngồi dựa lưng trên chiếc ghế mây, nhìn tôi nhưng tay vẫn nâng tờ báo.
- À, chào ông, ông làm việc tại chỗ này cho mát mẻ. Chị ở châm cà phê đem lên bây giờ. Nè ông, kỳ này báo Paris Match hay quá.
- Dạ, tin tức mới mẻ về chiến sự Việt Nam, thưa bà.
- Tôi ghét giặc giã lắm. Dầu là phim hát bóng nói về giặc giã. Tôi chú ý điều khác vui vẻ hơn... Vợ chồng quận chúa Anh Quốc rủ nhau hưởng tuần trăng mật tận giữa rừng già Nam Phi Châu, nơi loài người chưa đặt chân đến lần nào. Một vị tù trưởng nọ huy động dân bổn xứ xây cất một cái “thum” khá to cheo leo trên ngọn cây. Trong “thum” sắp đặt một cái giường nệm, bàn uống rượu, máy thâu thanh, máy hát và tư bề có giăng lưới mành mành để ngăn cản lũ muỗi sốt rét tsé-tsé... Thổ dân đem vài con ngựa rằn, buộc vào chân cây để làm mồi. Tối đến dưới ánh trăng rằm, vợ chồng quận chúa uống rượu, vặn máy hát nghe hòa âm Beethoven, thỉnh thoảng liếc mắt xuống chân cây ngắm từng cặp sư tử đang gào thét để tranh nhau ăn thịt ngựa rằn. Đêm về khuya, bọn sư tử vẫn còn nằm đó mơ màng. Có lẽ chúng nó say mê âm hưởng nhạc cổ điển hồi thế kỷ mười tám của Beethoven. Phóng viên nhà báo đã săn được những bức ảnh ly kỳ ấy, ghi chú là “Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu”.
Ly cà phê đã mang đến. Bà mời tôi rồi nói tiếp:
- Bà quận chúa năm nay bốn mươi tuổi mà trẻ măng như minh tinh màn bạc. Bà có tật thích ăn nho tươi, thứ nho đen trồng tại Tây Ban Nha. Bà quận chúa cười, lộ hai núm đồng tiền... rõ ràng.
Tôi vừa nghiêng đầu tới phía trước cho gần trang báo hơn, chợt nghe chị ở nói:
- Thưa ông, ông tôi mời ông nói chuyện riêng.
Bị giựt mình vì lối xưng hô bất lợi ấy, tôi nghiêm mặt, nói với chị ở:
- Chị cứ gọi tôi bằng “thầy” cho tiện. Tôi làm công như chị chớ đâu phải làm chủ mà kêu tôi bằng ông.
Bà Henri Nhan thấm ý, cười mủm mỉm:
- Ông thi sĩ ưa thắc mắc quá. Ừ, ông vào trong phòng xem nhà tôi nói gì.
Bấy giờ tôi mới hiểu cái tật mang vớ kinh niên của ông Henri Nhan. Ông ta thú nhận mắc bệnh tê thấp từ hơn mười năm, rồi than phiền thời vận nước nhà, nhân tình thế thái, người Pháp chưa hiểu rõ hoàn cảnh của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, ông cố gắng tranh đấu tới cùng để giữ... “thể diện dân tộc”.
- Ông thi sĩ hãy noi theo khuôn mẫu quyển sách này, đọc kỹ dàn bài. Còn đây, miếng giấy nhỏ tôi ghi chú ngày sanh tháng đẻ, bước đường lập thân tiến thủ của tôi lúc nhỏ. Ông ra ngoài bàn, thảo vài trương, lát nữa trình cho tôi xem.
Thật là mệt trí, khó xử. Suy nghĩ hơn mười phút rồi mà trí óc của tôi ngày càng tối om. Quyển tiểu sử làm mẫu nọ nhan đề “Từ Dũ Hoàng Thái Hậu truyện” của Nguyễn Liên Phong, phụng lược dịch, do nhà F.H. Schneider in từ năm 1913. Bìa sách trình bày lối xưa có hai con rồng chầu; hai câu đối được ấn công sắp từng chữ, từ trên xuống dưới theo kiểu viết liễn:
Cội nền vững chắc, nước Nam Việt trường xuân
Tánh nết hiền lành. Phật Quan Âm tái thế.
Trước khi vào bài, người biên soạn đã sắp xếp một loạt năm sáu bài tựa, viết theo lối biền ngẫu.
Bà Henri nói nhanh:
- Để ông làm việc. Ông nhái theo sách xưa cho êm chuyện. Đừng suy nghĩ nhiều mất công. Cứ viết đại cho vừa lòng ổng. Ông thấy thế nào?
- Dạ, làm sao so sánh công đức của ông nhà với bà Từ Dũ được? Bà Từ Dũ, mẹ của vua Thiệu Trị, đã dạy vua Tự Đức trở thành đấng minh quân. Vả lại, tiểu sử của đàn bà khác với tiểu sử của đàn ông, thời xưa khác với thời nay.
- Ông cứ liệu chừng vậy; theo ý kiến riêng của tôi, đàn ông đàn bà đều như nhau, bất luận xưa hay nay. Đàn bà lần lần giống như đàn ông, đàn ông lại giống như đàn bà về thói ăn nết ở, công danh sự nghiệp. Xã hội ngày một tiến mà. Ông tùy ý.
Nói xong, bà Henri lên phòng khách. Tôi ngồi trơ trẽn một mình, nhìn lơ đãng ra ngoài vòng rào bên kia. Vẫn hai cái họng súng đen ngòm; vài tên lính Lê dương tới lui. Nhưng tiếng ho sù sụ trong phòng nhắc nhở tôi trở lại nhiệm vụ. Chắc chắn ông Henri Nhan đang nóng lòng chờ đợi. Tôi căn cứ vào mớ tài liệu của ông, cúi đầu viết thao thao lấy lệ.
- Xong rồi chớ?
Tôi day lại:
- Thưa ông, chưa xong hẳn. Mới viết tạm vài trang để chờ ông sửa lại.
Ông Henri ngồi xuống chiếc ghế bành bằng mây, châm điếu thuốc:
- Cứ đọc nghe thử.
Tôi lần lượt trình bày:
- Quyển sách sẽ lấy nhan đề “Mỹ Lâm nhân vật: Ông Henri Nguyễn văn Nhan” mở ngoặc: 1897 đến năm... chấm, chấm, chấm... đóng ngoặc lại (1897...) Vì ông vẫn còn sống.
Ông Henri hé nụ cười:
- Đắc co!
- Mở đầu ở trang 5, tôi dẫn hai câu châm ngôn: Muốn là được (Vouloir c’est pouvoir) và “Người đời muôn sự của chung. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”.
- Hay lắm. Một câu Pháp, một câu Việt Nam. Tây Phương và Đông Phương hòa hợp với nhau. Ông ghi rõ câu trên của Victor Hugo, câu dưới là ca dao thuần túy Việt Nam.
- Phía trước hai câu này, thưa ông, tôi muốn để hai trang trắng dành cho người đề tựa.
- Được quá, danh dự đề tựa ấy tôi xin trao cho quan tư Ca Rê.
- Và đây, phần tiểu sử: Ông Henri Nguyễn văn Nhan sanh vào ngày... tháng... âm lịch Ất Dậu... tính dương lịch nhằm mười sáu Avril năm một ngàn tám trăm chín mươi bảy. Thân phụ của ông là Nguyễn văn Mổ ở làng Đức Mỹ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam vào lập nghiệp ở Bình Dương (Gia Định) kết hôn cùng bà Vương thị X., rồi hạ sanh ông tại Tân Lộc Thôn, nay đường X, Sài Gòn.
Vì cha mẹ đều qua đời quá sớm, năm chín tuổi ông được người cô đem về làm dưỡng tử cho học chữ nho. Năm ông mười hai tuổi cô đến Cần Thơ mua bán, ông vào tiếp tục học trường bổn quốc Cần Thơ đến năm thứ hai ban Trung học...
Bàn tay ông Henri Nhan khoát nhẹ, ra dấu bảo cho tôi ngưng lời. Thật ra trang giấy cũng chẳng còn chữ nào mà đọc; ông lắc đầu, cau có:
- Chưa được! Về quê quán và trường hợp vào đất Gia Định của cha mẹ tôi, ông thi sĩ hãy tự ý tô điểm thêm, rồi nói rõ: vì lý do yêu nước, chống Pháp hồi thế kỷ vừa qua. Người Pháp bây giờ muốn làm bạn và nâng đỡ những người Việt Nam thuộc dòng máu khẳng khái đã dám chống đối họ trong quá khứ... Hơn nữa, lúc đi học, tôi phải tỏ ra thông minh hơn các bạn đồng môn. Và tôi phải bỏ học nửa chừng vì lý do làm quốc sự, cho “ngon” một chút!
Tôi lộ vẻ ngạc nhiên:
- Thưa ông, như vậy e phật ý nhà cầm quyền Pháp. Rủi bề gì ông còn có người che chở; riêng tôi thì mang vạ lây. Ông hồi đó theo gương chí sĩ nào?
- Thi sĩ này ngớ ngẩn quá! Cứ viết rằng tôi chống Pháp hồi năm một ngàn chín trăm hai mươi sáu gì đó theo tài liệu lịch sử cách mạng Việt Nam.. để ông quan tư Ca Rê hãnh diện. Còn bây giờ, đối với quân đội Pháp, sau Đệ nhị Thế chiến...
Có người bấm chuông ngoài cửa. Chị ở mang vào tấm danh thiếp. Ông Henri lập tức đứng dậy, nói vói lại:
- Tôi qua ông quan tư Ca Rê có việc cần. Cái “áp phe” ở điền Mỹ Lâm của tôi sẽ thành công trong vài ngày. Để nhà tôi đến chỉ dạy ông thêm. Nhớ viết gấp lên. Phần thứ nhì của đời tôi mới là quan trọng, quyết định. Nãy giờ, chỉ mới là cái phần giáo đầu tuồng... Ông phải cố gắng, tranh thủ thời giờ.
Từ nhà trên, bà Henri trở xuống mân mê tờ báo Pháp:
- Công việc tiến hành như vậy được chớ! Ông thi sĩ đừng cãi với nhà tôi làm gì. Ban nãy, dường như ông thi sĩ cãi một đôi lần. Nguy lắm. Nhà tôi chẳng bao giờ chịu nhìn nhận rằng mình kém thông minh hơn một kẻ khác. Ông thi sĩ chớ nên nói câu nào đá động tới vấn đề chánh trị, rủi nhà tôi vui miệng rồi tên tuổi của ông lại thấu tai nhà binh Tây. À, trưa rồi, ông cứ về nhà viết tô đậm thêm, khen ngợi... cho ổng xong cái “áp phe”. Tôi nhức đầu lắm.
Gương mặt khổ sở, dằn vặt của lão Tư Hiếm đột nhiên hiện ra. Tôi linh cảm mơ hồ rằng cái “áp phe” này khá rắc rối. Các ông đại điền chủ thường núp oai của nhà binh Pháp để bảo vệ cái tài sản “cò bay thẳng kiếng” của họ. Tuy không sống bằng nghề nông, tôi vẫn cảm thông mơ màng với nguyện vọng “có đất cặm dùi” chánh đáng của nông dân. Biết đâu tôi sẽ tìm thêm nhiều thi tứ mới: những cô thôn nữ tươi vui hơn, những con trâu tơ mập mạp hơn... Nhưng khó hiểu quá! Đứng về quyền lợi thực tế mà xét, nếu tá điền ở Mỹ Lâm đều tản lạc, còn chừng mười lăm gia đình - theo lời lão Tư Hiếm - thì ông Henri Nguyễn văn Nhan vận động với nhà binh Pháp để hưởng huê lợi gì. Thừa lúc bà Henri Nhan lơ đãng, tôi giả vờ hỏi, vô tình:
- Thưa bà, ở Mỹ Lâm bây giờ chắc sung túc lắm?
Bà cười giòn:
- “Khỉ ho cò gáy” chớ sung túc! Còn một cái miễu thờ một pho tượng đá, ông chúa bà chúa gì đó. Ruộng bỏ hoang đâu hồi năm ngoái năm kia. Ông quan tư Ca Rê muốn khảo cứu cái pho tượng đá xưa đó tại chỗ, luôn dịp sưu tầm phong tục dân chúng cũng tại chỗ cho xác thực, khoa học. Nhà tôi muốn nương cơ hội ấy xây dựng thanh thế, nhờ Tây đóng bót... cho tá điền biết mặt! Tôi can ổng hết lời. Thà đi Sài Gòn mua bán xuất nhập cảng gì đó làm giàu mau hơn, ít nguy hiểm hơn... Một đồng bạc Đông Dương ăn tới mười tám quan. Thôi ông về, viết theo ý của nhà tôi, nếu chiều nay trời mưa ông cứ viết tiếp phần sau. Đại khái, rời nhà trường, nhà tôi thấy vùng đất Mỹ Lâm, xóm Mốp Giăng còn âm u hoang dại, đầy chuột, đầy bưng sen, bưng bông súng... vân vân. Ông cứ tự do làm thơ ở phần đó.
Bà đứng dậy, trao cho tôi năm tấm giấy một trăm đồng rồi gọi chị ở mở cổng. Tôi lưỡng lự muốn trả bớt lại hai trăm, nghĩ thầm rằng lãnh tiền càng nhiều, lương tâm càng bức rức. Tôi liên tưởng đến những câu hỏi thăm dò của lão Tư Hiếm khi gặp mặt vào trưa nay. Gương mặt lão chắc chắn trở nên lo âu, bí hiểm với nụ cười gượng gạo, gợn chút gì mỉa mai rõ rệt.
- Ông muốn xem số báo này à? Báo bên Pháp gởi riêng cho ông quan tư. Tôi sẵn sàng cho mượn, ngặt bất tiện cho ông. Người lối xóm, họ dòm ngó. Cái xóm Biển, lô A của ông hẻo lánh quá, từ đây tới đó hơn một ngàn thước mà chẳng bao giờ tôi dám tới, bởi vậy hôm trước tôi phải gởi thơ cho ông theo đường bưu điện. Báo kỳ này hay lạ: “Nhạc Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu”. Lá tử vi của ông bà quận chúa Ăng Lê tốt thật. Không hiểu họ sanh nhằm giờ nào, ngày nào, năm nào, cung nào? Phần tôi, hồi nhỏ đã có lần đem dĩa nhạc Beethoven hát inh ỏi ở Miệt Thứ, ở Mốp Giăng, giữa rừng tràm, muỗi mòng, khỉ, rắn, cá lóc... Tạm gọi là “Nhạc Beethoven ở U Minh, ở Mốp Giăng” được không ông thi sĩ?
... Hăm ba tháng Mười, mưa dại gió may
Ngoài khơi Hòn Tre, chiếc tàu tuần chạy tới lui qua lớp mưa thưa, màu cờ tam tài lu mờ chỉ còn hiện lên một đốm đỏ lợt lạt. Đoàn ghe lưới nằm lúc lắc trên bãi bùn, con mắt sơn trước mũi ghe trông phờ phạc như con mắt cá chết. Sóng đánh từng hàng dài trên mặt biển dâng cao, gợi hình ảnh những luống cày quanh sườn đồi... Trước khi tan vỡ trên bãi bùn, bọt sóng vung ra, rơi lấm tấm trên ngọn mấy cây bần đã bị ngập mất gốc mất cành.
Nhà của lão Tư Hiếm day mặt theo hướng gió xuôi, cửa cái vẫn mở; lão bắc ghế ngồi sát hàng ba, làn khói thuốc tuôn thoăn thoắt vươn mạnh lên bầu trời quá thấp.
Nhà của tôi bên này đâm ngang lưng gió, mưa hắt thỉnh thoảng đưa từng luồng ướt át. Tôi vói tay khép cửa lại. Chắc chắn lão thừa hiểu rằng tôi đã về nhà. Đúng ra, tôi phải đích thân đến gặp lão từ hồi trưa, liền sau khi rời khỏi nhà ông Henri Nhan. Nhưng gặp để nói chuyện gì? Kế hoạch trở về Mỹ Lâm của ông Henri Nhan chưa có gì rõ rệt, quan tư Ca Rê sẽ áp dụng chiến thuật nào? Vào ngày giờ nào? Tất cả thuộc về phạm vi bí mật quân sự. Biết chừng đâu quan tư Ca Rê hứa ẩu để làm vừa lòng một “nhân vật bổn xứ”; lực lượng Lê dương cần được sử dụng ở những trường hợp thiết yếu; “đại sự” hơn. Vả lại, lão Tư Hiếm chẳng còn tài sản nào ở Mỹ Lâm cả. Một mình lão tài nào chống nổi, nếu muốn chống lại.
Trận mưa dai dẳng bên ngoài đem tới cho tôi một duyên cớ để trì huỡn việc gặp mặt lão Tư Hiếm. Lật qua lật lại mấy trang giấy hồi sáng, tôi hút nối đuôi một lượt ba điếu thuốc rồi viết sạch sẽ cho xứng đáng với số tiền nhận trước năm trăm đồng.
“Ông Henri Nguyễn văn Nhan sanh ngày... năm... Thân phụ là cụ Nguyễn văn Mổ, người làng Đức Mỹ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, đậu Cử nhân kỳ thi Ất Mão tại trường Tứ Quảng, sung Cẩm Y Vệ Thị Lang, sau thuyên chuyển vào đất Gia Định nhận chức Vệ úy trong cơ binh của quan Tổng đốc Nguyễn văn Mỗ. Nhơn thành Gia Định thất thủ, ngài Vệ úy treo ấn từ quan, ẩn sĩ qui điền không chịu hợp tác với tân trào, về mở trường dạy học tại Phú Cường, Bình Dương. Dịp này cụ sánh duyên cùng bà Vương Thị... hạ sanh được một đứa con trai duy nhất đặt tên là Nguyễn văn Nhan, tự Nhàn Vân, biệt hiệu Nhật Luân.
Lúc còn nhỏ, ông Nguyễn văn Nhan tỏ ra thông minh dĩnh ngộ hơn người, mới tám tuổi đã thuộc làu Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bửu Giám. Trong hoàn cảnh mồ côi cha mẹ quá sớm, ông luôn luôn phấn đấu lập thân, tiết kiệm tiền ăn quà để mua sách vở cố theo chương trình sơ học tại tỉnh nhà (Bình Dương). Ông Đốc phủ sứ Trần văn M. bạn đồng môn của ông hồi xưa còn nhớ lại một giai thoại kỳ thú: Phen đó, thầy giáo bày cuộc thi thủ công, đầu đề: chiếc tàu thủy. Các học sinh được dịp trổ tài. Đứa này đóng tàu bằng giấy bồi, dùng keo dán mấy kẽ hở, cắt ống trúc làm ống khói. Đứa kia - con nhà khá giả - được cha dẫn ra tiệm bán sắt tây, bày kiểu cho thợ đóng tàu nhỏ bằng thiếc, trong tàu có bố trí cái nồi “sốt de” tí hon, khi đốt ngọn đèn cầy lên, nước sôi thổi hơi ra đẩy chiếc tàu tiến tới.
Ngày chấm thi, thầy giáo đặt một chậu nước khá rộng giữa sân. Chiếc tàu bằng giấy bồi lần lần chìm vì keo rã. Riêng chiếc tàu chạy bằng hơi nước đáng chú ý hơn hết nhưng các học sinh nhao nhao phản đối vì nó do người lớn tuổi chế tạo. Đến lượt ông Nguyễn văn Nhan trình bày chiếc tàu của mình. Thân tàu chỉ là một khúc cây mốp (gỗ nhẹ) tiện sơ sài. Thầy giáo phê phán: “Nó không chìm, nó được chính tay học sinh tạo nên nhưng nó không xê dịch được”. Tức thì ông Nguyễn văn Nhan móc trong cái lon thiếc đem ra một con tôm còn sống nhăn. Ông cắm cái gai to lớn ở đầu con tôm vào phía sau lái tàu. Ai nấy trố mắt; chiếc tàu vừa thả xuống, tức thời con tôm nọ búng mình... mũi tàu phóng tới rẽ sóng, xắn vào vành cái thau, dội trở lại, chuyển qua hướng khác rồi vẫn xắn tới. Các học sinh vỗ tay, hò reo tán thưởng kiểu “tàu... con tôm”, chạy máy tự động ấy. Thầy giáo phải mệt nhọc lắm mà không kéo các học sinh trở về vòng kỷ luật được. Quan đốc học hoảng hốt chạy tới, thay vì rầy la các học sinh, ông tìm cậu Nguyễn văn Nhan, khen ngợi nức nở: “Trò đây quả thật là ông trạng Lương Thế Vinh tái sanh. Ngày xưa Lương Thế Vinh lúc còn bé đã biết đổ nước xuống lỗ để đem trái bưởi lên. Ngày nay, trò sáng chế ra kiểu tàu... tự động này, tài trí đâu kém?”.
Khi theo học năm thứ ba ban Cao tiểu, ông Nguyễn văn Nhan tuy thường được ghi tên vào bảng danh dự của toàn trường về đạo đức, về năng lực nhưng ông lại tỏ vẻ tư lự, đăm chiêu. Ông bắt đầu làm thơ, gởi đăng các báo ở Sài Gòn với nội dung thán phục các vị anh hùng cứu quốc kim cổ, từ Đông sang Tây: Gởi chiến sĩ mười bốn Juillet phá ngục Bách Ti, Vịnh ông Tôn Văn, Tâm sự Thủ khoa Huân... Nhơn phong trào lạc quyên ủng hộ các học sinh Đông Du do quan phủ Gilbert Trần Chánh Chiếu đề xướng, ông Nguyễn văn Nhan đã nhịn ăn quà sáng, gởi giúp được một đồng bạc trong thời kỳ giá lúa mười lăm xu một giạ.
Nhà cầm quyền thực dân đâu để yên cho chàng thanh niên giàu nhiệt huyết ấy. Sở Mật thám Pháp gây áp lực, khiến quan giám đốc ra lịnh đuổi ông Nguyễn văn Nhan khỏi trường. Chán nản, ông đi ngao du sơn thủy, lê gót lãng du khắp Hà Tiên, Bạch Mã, đảo Phú Quốc... tìm cơ hội khác hầu gióng hồi chuông cảnh tỉnh bé nhỏ, khiêm tốn nhưng hữu hiệu cho quốc dân...”.
Mưa chưa tạnh. Ăn xong cơm chiều, tôi nằm im nghe sóng biển vỗ ầm ầm lên bãi. Ngọn đèn dầu leo lét bỗng phựt lên cao hơn ống khói, gió biển tạt mạnh qua khe cửa hé mở.
Lão Tư Hiếm bước nhanh vào, vuốt mấy giọt nước trên mặt:
- Ở nhà một mình buồn quá, tôi qua đây thăm thầy. Mưa gì mà mưa hoài. Ở miền biển, thầy thấy điều gì đặc biệt không? Nước mưa trên mặt mình, nó mặn đắng như nước biển.
Tôi đáp:
- Có lẽ chất mặn của mồ hôi thấm lâu đời trên trán mình, thưa bác.
Lão gật đầu, cúi mặt xuống tránh ánh đèn, hồi lâu mới nói:
- Bữa nay, thầy làm việc rồi chớ? Ông chủ Nhan mướn thầy viết chuyện đời xưa ở Mốp Giăng, ở Mỹ Lâm thiệt sao?
Tôi ái ngại, che giấu một tiếng thở dài rồi cố ra vẻ hồn nhiên:
- Dạ, thiệt chớ. Chiều nay tôi ở nhà viết. Ổng căn dặn tôi tả lại vùng đất hoang ở Mốp Giăng ngày xưa, nào chuột, nào bưng sen, cảnh nê địa trước khi ổng tới khai khẩn. Nếu còn nhớ rõ cảnh xưa, nhờ ông giúp tài liệu. Tôi viết nhắm chừng, hồi nào tới giờ chưa từng tới Mốp Giăng.
Đột nhiên, lão day mặt lại:
- Vùng Mốp Giăng đã trở thành “đất thuộc” từ lâu rồi. Ổng tới làm chủ lúc sau này. Ổng chẳng bao giờ thấy chuột bầy, thấy bưng sen gì ráo! Miệt Mốp Giăng xưa kia do nhiều người tứ xứ tới mạnh ai nấy khai phá, cắm ranh, khai diện tích sơ sài rồi đóng thuế cho làng... Dè đâu... Thôi... tôi nói ít, thầy ăn học nhiều, chắc hiểu rộng hơn. Nếu tôi nói lỡ lời, thầy bỏ qua cho.
Lại chuyện cường hào ỷ thế thực dân Pháp, cưỡng chiếm đất đai! Thời xưa, lắm tay mưu sĩ lên Sài Gòn xin khẩn những “lô” đất chưa có ai đứng tên trong địa bộ quản hạt rồi họ mướn người chuyên về trắc địa đến quy định ranh giới. Lô đất ấy nghiễm nhiên thuộc về quyền sở hữu của họ. Đứng về mặt pháp lý thực dân phong kiến, mảnh vườn đất nhỏ của người nông dân “tiền phong khai hoang” mặc nhiên bị sáp nhập vào đồn điền của kẻ đến sau nhưng hiểu rành về quy chế điền địa hơn.
Tôi đánh tan bầu không khí oi bức nọ, đưa câu chuyện trở lại địa hạt khác, êm dịu hơn:
- Thưa bác, chuột ở Mốp Giăng hồi xửa hồi xưa chắc nhiều lắm? Mấy bưng sen còn không? Mỗi bưng rộng bao lớn? Nhiệm vụ tôi là viết chuyện đó cho ổng.
- Thầy cho tôi điếu thuốc. Hồi tôi còn nhỏ, tôi thấy dân chúng Mốp Giăng sống nhờ chuột. Mùa nước nổi, chuột cắn đuôi nhau nối liền thành một sợi dây dài, chẳng biết nó từ xứ nào tới để đi về đâu. Tụi nó lội chập chững, con này nương sức của con kia... Mỗi tháng, mình gặp năm sáu bầy như vậy. Nước giựt xuống, chuột làm ổ, trời sa mưa, cỏ non mọc nhú lên, tha hồ xây rọ mà bắt. Cứ dùng đăng sậy bao chung quanh một vùng cỏ lớn rồi lần lần mình siết vòng vây... bắt hàng trăm con. Mình ăn thịt chuột trừ cơm. Chuột bị chặt đuôi, lột da nằm dài trông thật giống con heo con... Thôi thì chuột rô ti, chuột bằm nhỏ xào lá cách lá lốt, chuột kho tiêu. Ăn không hết, mình bày ra khô chuột, treo lủng lẳng hàng trăm con từ trên kèo nhà. Lại còn mắm chuột nhận đầy lu, mỡ chuột thắng đầy hũ. Đèn thắp bằng mỡ chuột, sáng lắm... Nghe nói lâu lâu có người gặp con chuột bạch ngậm trong miệng “hột ngọc chuột” sáng ngời... Ôi thôi! Chuyện con chuột kể tới sáng thầy nghe không hết.
- Còn cái bưng sen ngày xưa?
- Nó còn hiển hiện đó. Rải rác đôi ba mẫu đất, đầy loại sen bạch, sen hồng. Cuối mùa mưa, gương sen cằn cỗi, hột sen khô nổi lình bình đen mặt nước; mình cứ đem thúng mà xúc, mỗi người xúc một buổi sáng hằng năm sáu chục lít đem bán cho Huê kiều... Nhưng dân mình ưa làm ruộng hơn là xúc hột sen.
- Dạ thưa bác, tại sao bây giờ hết chuột?
- Mấy năm sau thiên hạ làm ruộng nhiều nơi, chuột chia nhau tứ tán kiếm ăn, mỗi bầy đi một chỗ. Hồi xưa chuột đói vì ít ai làm ruộng. Đám ruộng nào bị tụi nó bu lại, kể như còn rơm trơ cọng.
- Còn sen? Tôi tưởng mình nên để vài lõm xem chơi. Sen mọc nhiều, hao đất quá.
- Nó là thứ xa xí. Muốn trừ sen, thêm đất làm ruộng, mình phải đào kinh cho nước rút bớt... Nói chí miệng, ông chủ Nhan hồi đó muốn mở mang đất đai lắm, ngặt ổng ít vốn. Ổng hứa với tá điền: nếu ai nấy đều góp lúa đầy đủ cho ổng, ổng mua thêm vài chục ngàn mẫu đất nữa cho bằng điền Tây của ông Kho... Ngặt vì... vợ lớn của ổng chết, ổng buồn. Hai vợ chồng không con. Rồi cưới bà sau này, cũng không con...
Lão chép miệng, hút điếu thuốc nữa:
- Thôi tôi về, khuya rồi. Lát nữa sợ mưa lớn.
Thấy câu chuyện còn hấp dẫn, tôi mời lão ở nán. Lão từ khước:
- Hút thuốc vấn không quen, để tôi về bển hút ống điếu cây ớt núi. Tháng rộng ngày dài, mai chiều tôi nói thêm. Chỉ sợ thầy không muốn nghe. Còn nhiều chuyện ở Mốp Giăng, ngậm ngùi lắm!
- Bác cứ nói. Tôi đi lấy cái ống điếu qua đây cho bác. Hay là tôi qua nhà bác cho tiện.
- Phải à! Thầy qua bên tôi đi. Hồi chiều tới giờ mảng lo nói chuyện, tôi quên thắp nhang.
Mưa cứ rơi đều đều. Đèn đường phía chợ ửng sáng một vầng quá rộng. Biển đen ngòm, bãi bùn, sóng nước và Hòn Tre lẫn lộn dưới vòm trời thiếu trăng. Lão Tư Hiếm vào nhà trước. Tôi bước vào chậm hơn, đưa tay đóng cánh cửa lại cho bớt lạnh. Lão nói nhanh:
- Ban đêm đóng cửa nói chuyện rì rào trong nhà, thiên hạ hồ nghi. Cứ để vậy.
Thắp nhang xong, lão hút thuốc uống trà, hớp từng hớp một.
- Tôi còn câu chuyện cổ tích này, liên quan tới cái ngôi đình làng không bao giờ xây cất ở làng Mỹ Lâm, trong điền ông chủ Nhan.
Tôi gật đầu, lộ vẻ nóng nảy:
- Tại sao chẳng bao giờ xây cất? Làng Mỹ Lâm quá nghèo à? Lạ vậy!
- Số là năm đó, lâu lắm rồi... Hồi còn bà chủ trước lận kia, hồi ông chủ Nhan... chưa làm điền chủ, ổng còn là hương quản, ngày hai bữa đạp xe máy lại nhà việc. Ruộng trúng ba bốn mùa liên tiếp, dân làng ai nấy mừng vui ăn tết tưng bừng, cờ bạc suốt tháng Giêng qua tháng Hai. Ngày rằm tháng Giêng, mấy ông kỳ lão đành bơi xuồng ra chợ Rạch Giá, thuộc làng Vĩnh Thanh Vân để dự lễ kỳ yên lạy tạ Thành hoàng bổn cảnh, thay mặt giùm cho dân làng Mỹ Lâm. Thật là mất thể diện. Tại sao làng Mỹ Lâm lại chẳng cất được một ngôi đình riêng biệt? Nghĩ vậy, ai nấy hùn tiền kẻ ít người nhiều. Ông chủ Nhan - hồi đó là hương quản Nhan - được cử làm thủ quỹ vì trong tổng số năm ngàn đồng lạc quyên, phần ông góp tới hai trăm đồng, nhiều hơn mọi người khác. Người lãnh thầu mua về một mớ gạch đá, rồi xin lãnh thêm tiền để mướn nhân công, mua thêm vôi cát, xi măng. Rủi thay, đêm nọ người thầu bị bọn cướp giết chết trên đường về Rạch Giá. Hương quản Nhan đến nơi làm “ăn kết” chạy tờ về quan trên để cho biết: xác người thầu nọ chẳng có một đồng xu dính túi! Mặt khác, nhơn danh thủ quỹ, hương quản Nhan trưng ra hai cái biên nhận tổng cộng bốn ngàn chín trăm năm mươi đồng do người thầu ký tên, lãnh trước rồi... Dân làng nhìn nhau, lắc đầu, bàn tán thì thầm.
Tôi hỏi nhanh:
- Họ hồ nghi ông chủ Nhan sắp đặt giết người thầu để giựt tiền lại?
Lão ung dung hút thêm điếu thuốc, im lặng giây lâu:
- À, thầy đoán chừng như vậy thì tôi nghe vậy. Tôi đâu dám nói gì hơn. Ai đã mắt thấy tai nghe... mà đề quyết thủ phạm là ai! Chỉ biết vài tháng sau, hương quản Nhan xin từ chức, đi Sài Gòn rồi trở về làm chủ của “lô” đất đã có sẵn huê lợi ở Mốp Giăng. Ổng thề chẳng bao giờ đứng ra góp tiền cất ngôi đình khác. Ổng muốn tránh tiếng dị nghị của người đời khi có cuộc lạc quyên thứ nhì. Ổng nói “Thà cất riêng một cái miễu trong điền để tạ ơn đất nước, do tiền túi của một mình tôi xuất ra thôi”.
- Cái miễu đó còn không?
- Còn chớ. Linh hiển lắm. Tôi nói cho thầy nghe hồi bữa hổm rồi mà. Thờ Chúa Ngung Ma Nương. Mai mốt nhứt định ông chủ Nhan nhắc tới tích đó. Tôi nhớ mờ ớ vậy thôi. Nói nhiều quá, mình mang tội với người sống và người chết... Thầy đừng chép vô sách vở, nguy lắm.
Trở về bàn viết, tôi thao thức mãi. Đêm ấy, qua khe cửa, tôi thấy ngọn đèn chong bên nhà lão Tư Hiếm còn leo lét đến nửa đêm. Phải chăng lão cố tình đánh một đòn ly gián giữa tôi và ông bà Henri Nhan? Nhưng, đứng về phía của tôi mà xét, tôi cần tiền ăn cơm, tôi đã lãnh tiền trước của bà Henri Nhan rồi. Tôi tin rằng quyển tiểu sử mà tôi đang soạn thảo chẳng bao giờ in ra. Mà dầu có in thì cũng chẳng ai thèm đọc! Tôi thầm cám ơn lão Tư Hiếm đã nhắc nhở khéo léo cho tôi về ý thức tôn trọng sự thật, bất cứ về vấn đề gì. Câu chuyện ông Henri Nhan giết người rồi kiếm tiền đút lót cho quan Tây để khẩn đất tuy đáng chú ý nhưng tôi chưa vội tin, vì chính lão cũng bảo là còn trong vòng giả thuyết.
Đã quá một giờ đêm.
Viết gì bây giờ? Chuyện mắm chuột, chuyện hột sen. Và đừng đi xa hơn. Tôi ngáp dài, nhướng đôi mắt hơi cay, viết lia lịa, tùy hứng... nhưng trong khuôn khổ, tránh những chi tiết quá lộ liễu khiến ông Henri Nhan có thể hồ nghi rằng tôi đã liên lạc với người tá điền xưa nào của ông để tìm tài liệu.
Đúng như dự đoán của tôi, ông bà Henri Nhan rất hài lòng. Bà yêu cầu tôi ngưng đọc từng chập. Bà đập mạnh vào vai chồng:
- Ông trạng Lương Thế Vinh của tôi! Bấy lâu tôi làm bà Trạng mà không hay biết.
Ông cúi đầu nói lảng:
- Về khung cảnh chuột cắn đuôi nhau lội dài hàng mấy trăm thước, ông thi sĩ suy luận hay quá. Nhớ thêm thắt vài câu, nói lên vẻ đẹp hùng vĩ của miền núi Ba Thê. Xưa kia, thương cảng quốc tế; bây giờ, đất bồi... cả thời xưa huy hoàng vàng son đã chìm lĩm chẳng khác nào thành phố Pompéi ở Ý Đại Lợi bị lấp dưới lớp tro của núi lửa Vésuve.
Ông vuốt râu thò tay kéo đôi vớ lên sát đầu gối:
- Thời lai phong tống... Tôi tin rằng kỳ này mấy ổng dám giới thiệu tôi vô Hội đồng Liên hiệp Pháp, đi du lịch chơi lai rai. Hằng năm chánh phủ Pháp sẽ đài thọ cho tôi hai chuyến du lịch để tìm hiểu các nước trong Liên hiệp Pháp, khắp vòng quanh thế giới: nào Algérie, nào Guyane ở Nam Mỹ, nào Nouvelle Calédonie ở Thái Bình Dương...
Bà Henri mỉm cười:
- Tôi mơ ước đi vòng quanh thế giới. Như vậy vui hơn chớ về đồn điền ở Mốp Giăng làm gì. Huê lợi không có, suốt ngày quanh quẩn.
Ông nghiêm giọng, chỉ ngón tay thẳng vào mặt tôi:
- Thời giờ cấp bách lắm. Tôi hứa trưa mai nạp đoạn thứ nhứt của cái monographie vùng Mỹ Lâm cho ông quan tư Ca Rê. Ông thi sĩ chần chừ gì nữa? Ông nghe lời của nhà tôi à?
Day qua bà vợ, ông lẩm bẩm:
- Ngạn ngữ Tây có câu: Đàn bà tuy tóc dài nhưng tư tưởng của họ rất ngắn! Cái “áp phe” đất Mỹ Lâm với cái tương lai của Hội đồng Liên hiệp Pháp đi đôi. Hiện nay các nhà khảo cổ Tây phương đang chú ý về vùng núi Ba Thê. Ai tìm được điều gì mới lạ thời sẽ nổi danh, được thế giới chú ý. Nhưng muốn tìm được điều mới lạ, họ phải lạy lục tôi!
Ông Henri Nhan đứng dậy thở phều phào, gương mặt đỏ ửng với cái vẻ mệt mỏi của con ngựa già cố chạy đường khuya nước rút. Bỗng dưng, tôi quả quyết rằng: chính ông ta đã bố trí giết người thầu khoán năm xưa, theo lời thuật lại của lão Tư Hiếm! Bỉ ổi quá! Bà Henri cười hồn nhiên, chắc bà chẳng lạ lùng gì cái bản chất háo thắng của ông chồng. Thừa lúc ông đi thẳng lên nhà trên, bà nói khẽ với tôi:
- Cứ viết nhanh cho vừa ý ổng. Ông hãy xem như chuyện viết chơi chơi... kiếm tiền xài.
Tôi lẩm bẩm:
- Dạ rầu quá, tôi lỡ lãnh tiền rồi, bằng không thì...
- Ông cứ nghe tôi. Nếu ông rút lui, nhà tôi tìm cách gièm xiểm... ổng ưa thù vặt vô cớ... Ông đừng bực mình. Cái “áp phe” nọ chẳng đi tới kết quả gì đâu. Tôi nói, ông chờ xem... Chuyện “vọc nước giỡn trăng” tôi biết trước rồi. Tụi Tây đâu dễ gạt như nhà tôi tưởng...
Ngòi bút của tôi bắt đầu bay nhảy trên mặt giấy:
“Trước khi ông Nguyễn văn Nhan đến khai khẩn thì vùng thương cảng Ba Thê đã hoang tàn; đất phù sa hằng năm bồi lên, chôn vùi bao di tích của nền văn hóa xa xưa cổ kính của Đông Nam Á. Mùa nước nổi, từng đàn chuột cắn đuôi nhau mở cuộc ‘vạn lý trường chinh’ từ chân trời vô tận đến chân trời vô tận...
Nhưng khi ông đến, mấy đàn chuột ấy bỗng nhiên biến mất, chẳng bao giờ xuất hiện. Các bô lão địa phương bảo nhau: Ấy là điềm lành. Đất Ba Thê Mỹ Lâm đã đến thời hưng thịnh...”
Chị ở bước lại gần tôi, nói khẽ:
- Ông tôi mời ông vào trong phòng.
Tôi, cau mày:
- Hôm trước, tôi dặn chị kêu tôi bằng thầy, đủ rồi.
- Ông tôi cũng kêu ông bằng ông. “Thầy” sao khó tánh quá!
Tôi đi thẳng vào phòng ông Henri. Chắc rằng phía sau lưng tôi, bà Henri và chị bếp nhìn nhau mỉm cười. Nhưng thái độ tiểu nhân của tôi phát sanh do động cơ khác.
- Ông thi sĩ hãy ngồi chờ tôi tìm chuyện cổ tích Lộc Giác Chân Nhân trong quyển sách Tây do ông quan tư Ca Rê cho tôi mượn nghiên cứu. Đàn ông bọn mình ưa làm những việc mà đàn bà không ưa, tuy rằng chung qui mình chỉ lo lắng cho họ để rồi mình hưởng rất ít. Tôi muốn ông vào đây để tránh những câu nói đâm họng, làm “thối chí anh hùng” của nhà tôi. Và cũng để đứa ở khỏi tò mò. Ông ráng giữ bí mật. Ông quan tư Ca Rê lợi dụng, muốn nhờ tôi giúp cho vài món cổ ngoạn của thị trấn Óc Eo ở chân núi Ba Thê. Tụi Tây khảo cổ xưa kia chỉ mới đào bới sơ sài. Hồi năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt, gặp giặc Nhựt Bổn, tụi nó bỏ luôn không dám trở lại. Mấy món đó xưa trên một ngàn năm trăm năm, ông Ca Rê định kiếm vài kiểu đem về Tây, tặng cho người tình nhân là bà bá tước De L... Đồng thời ông ta muốn ghi chép vài phong tục địa phương mà giới khảo cổ chưa từng nói tới. Hiện giờ ở Mốp Giăng, tại điền của tôi còn miễu thờ Chúa Ngung, Ma Nương với pho tượng đá xưa và những người chuyên môn “lên xác”. Nếu mình trình bày rõ rệt, đủ sức hấp dẫn tức nhiên ông Ca Rê sẽ cao hứng mở cuộc hành quân cấp tốc tới Mốp Giăng để đóng đồn... Nhơn dịp đó, uy thế của tôi đối với các tá điền nhứt định tăng lên... Và ông Ca Rê sẽ đền ơn tôi xứng đáng, trong mức quyền hạn của ổng. Chuyện Lộc Giác Chân Nhân đây này. Đọc đi. Trong khi đó, tôi sắp xếp thứ tự. Bộ óc tôi cỡ này nôn nao, lộn xộn quá.
Chuyện Lộc Giác Chân Nhân rất ngắn, chiếm vỏn vẹn bốn trang sách khổ nhỏ, trong quyển tập Cổ tích An Nam, in bên Pháp hồi năm 1926... Tay tôi hơi run run. Cái “áp phe” Mỹ Lâm này rõ ràng là vấn đề máu lửa mà tôi và bọn lính Lê dương đều đứng trong cuộc, họ bắt buộc đóng hẳn hòi những vai trò quan trọng. Tôi nhớ tới cái lon sữa bò đầy gạo để cắm nhang trên trang thờ Thái Thượng Lão Quân. Lão Tư Hiếm - con người vừa hiền hòa vừa bí hiểm - với vầng trán mặn mồ hôi sẽ nghĩ gì? Rồi đây quân đội viễn chinh Pháp dùng xe, dùng tàu sắt tiến vào Mốp Giăng giữa cảnh thiếu người, chỉ còn chuột, bưng sen với hơn mười gia đình, trong ấy có người cùi người mù - nếu lão Tư Hiếm không nói dối.
- “Ông cứ kéo ghế qua ngồi sát bên tôi! Câu chuyện như vầy. Khi tôi mới khẩn đất hoang thì ở Mốp Giăng đã có sẵn, một cái miễu xiêu vẹo, cất trên gò đất cao bên gốc cây bàng cổ thụ. Miễu thờ bốn năm cục đá phủ vải đỏ bạc màu. Vì ít tin đồng bóng phù phép, tôi khuyên dân chúng nếu ốm đau thì cứ uống thuốc, đừng cúng kiến vô ích. Năm đó, một thiếu nữ bỗng nhiên nổi cơn điên xé quần áo, nói xàm, đi lang thang. Vài ngày sau thi thể cô ta bỗng nhiên nổi lên, trôi tấp vào chiếc cầu ván trước nhà tôi, một buổi sáng đại khái vào tháng Giêng năm 1937... Tôi xuất tiền mua hòm giúp việc ma chay. Sáng hôm sau, đến lượt một người trong xóm nổi cơn điên chạy tới trước miễu nọ múa men tay chân, tự xưng là Chúa Ngung, Ma Nương, vị thần đến khai khẩn vùng đất Mốp Giăng từ ngàn năm về trước đã chết rồi hóa đá. Thấy chuyện lạ tôi cầu xin Chúa Ngung, Ma Nương trình bày mọi thắc mắc. Người ‘xác’ vào miễu dở tấm vải, chỉ ngay một tượng đá, bảo rằng đó là tiền kiếp của mình. Pho tượng quá cũ, tạc hình một vũ nữ đang uốn mình, đầu đội mão vuông, chân mang vòng, tay cầm thếp đèn chong kiểu vũ nữ Chiêm Thành, Ấn Độ. ‘Xác’ lại ra lịnh cho tôi hằng năm phải cúng kiến, mướn lại đất của Chúa Ngung, Ma Nương trong vòng một năm. Thế là đứng về mặt tinh thần, tôi phải nhận mình là tá điền của kẻ khuất mặt, mặc dầu tôi nghiễm nhiên là chủ điền. Tôi đồng ý. Xác đòi ăn mắm sống, ăn xong ‘xác’ bảo tôi đem một tờ giấy trắng để trước miễu rồi ‘xác’ hái bốn nhánh cây, chạy băng ngang đồng ruộng suốt mấy chục cây số từ sáng tới xế chiều để cắm bốn nhánh cây xuống ở bốn góc. Lạ thay, ‘xác’ cắm ngay ranh đất đúng như trong tờ bằng khoán mà sở Quan thủ địa bộ đã cấp cho tôi.
Xác về miễu nhúng tay xuống bùn, áp vào tờ giấy rồi dạy tôi hằng năm phải làm lễ như hôm ấy, gọi là lễ ‘tá thổ’. Bằng không dân làng lần lượt phải bị Chúa Ngung, Ma Nương bắt chết như trường hợp người thiếu nữ điên nọ”.
Khổ tâm quá! Tôi đã đoán phần kết luận ngay từ khi ông Henri Nhan mới kể đến phân nửa câu chuyện. Tôi tin nơi trực giác của mình. Nhơn phong tục cúng Chúa Ngung, Ma Nương, ông Henri Nhan đã hành động khéo léo - khéo gấp bội phần kế hoạch giết người thầu khoán. Chúa Ngung, Ma Nương là vị thần gì... Sự thật ra sao? Tôi nóng nảy, đứng dậy định kiếu từ về tìm lão Tư Hiếm để nghe thêm một tiếng chuông khác.
Ông Henri như bực dọc:
- Ông viết liền được chưa mà im lìm như vậy? Nếu chưa hiểu, cứ hỏi lại tôi.
- Dạ hiểu phần nào. Xin phép ông, để về nhà sắp xếp đầu đuôi viết kỹ lưỡng rồi tôi trở lại đây nhờ ông dạy thêm.
Ông Henri liếc lên vách:
- Để coi... mười giờ rồi. Ông ráng viết, ba giờ chiều trở lại liền, kịp không? Tôi muốn ông ăn cơm trưa tại đây rồi viết luôn, đừng về mất thời giờ quý báu.
- Dạ, ở đây không khí hơi lạ. Về nhà ăn cơm xong tôi đóng cửa lại, viết một mạch là tạm xong. Tôi trở lại cỡ hai giờ rưỡi chiều.
Chắc hẳn ông Henri vừa ý khi nghe tôi nói “đóng cửa lại”, “hai giờ rưỡi”.
- Ông ra nói nhà tôi đưa chút ít tiền... Hổm rày tôi vô tình, quên phứt.
Đến cổng, bà Henri với nụ cười lúm đồng tiền, trao cho tôi năm trăm đồng.
- Nhớ kỹ nghe, nhà tôi bắt đầu khó tánh rồi đó. Ông nên viết như kỳ rồi vậy thôi. Theo quẻ tử vi, nhà tôi năm nay tuổi Mẹo, ngôi sao... ác liệt lắm! Vái trời cho nhà tôi được vô... Liên hiệp Pháp để tôi đi du lịch Phi Châu coi sư tử, ngựa rằn chơi. Ông thi sĩ nhớ “Beethoven giữa rừng Nam Phi Châu” chớ? Đó mới thật là thơ.
Tôi cười, nụ cười khô héo:
- Thơ của rừng thiên nhiên Phi Châu... sang trọng hơn thơ đồng quê của tôi một bực.
Bà Henri nói vói theo:
- Nhà tôi cũng ưa đồng quê vậy. Nhưng sao khác với đồng quê của ông... Coi bộ hai thi sĩ đồng quê kỵ tuổi, kỵ ngôi sao... Chiều, ông nhớ trở lại sớm nghen!