Năm nào cũng vậy, cứ đến hai mươi tháng một là các ông quan viên làng Thụy làm lễ tế thần. Làng có mấy mẫu ruộng công để riêng cho các quan viên lần lượt chia nhau cấy, và năm nào đến lượt những ai cấy thì người đó phải sửa lễ trước để tế thần, sau để chia phần cho khắp từ hàng nhiêu, xã trở lên. Hôm hai mươi suốt ngày tế lễ linh đình, tối đến lại chèo hát.
Gà mới lên chuồng, tiếng trống mõ, tiếng thanh la đã rung hồi gọi đàn bà, trai tráng, trẻ con đủ hạng, từ đầu cổng đến cuối làng kéo đến xem đông như nước chảy. Ông Chánh từ chiều đã được dân vào mời ra nghe hát, lúc ấy cũng đã khăn áo chỉnh tề thủng thình chống chiếc "can" bịt bạc của ông Phán mua biếu từ hồi đầu năm, ra đình. Ông định cầm chầu mấy khổ, gọi là chiếu lệ, cho dân làng khỏi nói. Ông mới đến nơi, các hàng chức dịch đã đứng lên tíu tít mời nghe hát. Ông cũng từ chối chiếu lệ hai ba lần, rồi mới kéo ghế ngồi. Ông giơ dùi trống điểm ba tiếng, ngồi rung đùi đắc chí.
Bữa ấy, phường chèo diễn tích Hạng Vũ biệt Ngu Cơ. Phường, theo lời mấy ông quan viên là một phường hát hay có tiếng, phải sang tận Lan đình mới đón được, mà hay thật, đào hát cũng hay, kép hát cũng hay, hay cả từ tiếng trống cung đàn, hay nhất là tiếng sáo của một anh kép chèo ngồi tận cuối dẫy thổi réo rắt, khiến ông Chánh phải chú ý nhìn. Ông sửng sốt biết bao, khi ông nhận ra anh kép chèo ấy là anh Bân, người theo trâu ngày trước của ông, chứ nào phải ai xa lạ.
Chỉ một phút, ông nhớ ngay tới câu chuyện của Mơ với Bân ngày trước. Hồi ấy bao nhiêu tiếng đồn lọt đến tai ông, ông đều tảng lờ như không nghe thấy, ông cố tránh tiếng có một nàng dâu hư trong nhà, bây giờ trái lại, ông muốn những lời đồn dạo ấy, bùng lên một lần nữa để ông có cớ đuổi Mơ đi, khỏi mang tiếng là người bạc ác, có việc chuộng người, hết việc là chán.
Lòng người thường có những thay đổi vô lý như thế, hôm trước trọng đấy, hôm sau lại khinh ngay đấy, biết đâu là chừng. Có những thay đổi ấy mới phân biệt được giá trị từng người.
Đừng thấy nhiều kẻ xu phụ, tâng bốc một người mà đã vội khen ngay người ấy. Ông Chánh Bá Hựu rất được lòng dân hàng tổng, rất được tiếng khen của hàng nha lại, rất được vì nể đối với các quan hàng phủ, hàng huyện, ai cũng khen ông, nào là túc nho cho nên tính cương trực khẳng khái, nào là danh giá quyền thế mà không khinh người, trọng của, thế mà lòng ông cũng có một thay đổi cực kỳ vô lý. Không biết có phải vì ông không muốn bận đến mình nên tính cho xong chuyện, chính ông cũng không ngờ rằng lúc điểm chầu khen điệu sáo đón giọng hát của Bân lại có thể sực nhớ đến Mơ, đến câu chuyện đang rắc rối khó bài phân xử trong nhà mình. Bây giờ thì xong rồi.
“Tiếng địch trên Ô Giang của Trương Tử Phòng ngày trước đã giúp Bái Công nên nghiệp đế, thì tiếng sáo của một anh kép chèo ngày nay cũng có thể giúp con mình được toại ý về nhân duyên”.
Ông so sánh lăng nhăng như vậy rồi bật cười. Một tay ông vân vê bộ râu mép, một tay điểm trống, mà óc nghĩ những đâu đâu.
Khuya dần, trò đóng mỗi lúc thêm hay, ba gian đình mỗi lúc thêm chật ních những người.
Chừng vào quãng chín giờ, ông Chánh đứng dậy nhường chầu cho ông Lý, rồi từ biệt ra về. Ông dụng ý để quên chiếc can bịt bạc dựng bên cột cạnh chỗ ông ngồi, là một chỗ từ phường hát đến người đi xem đều phải để ý. Ông gọi hai người tuần giong đuốc đưa ông về.
Đến nhà, ông cởi áo đâu đấy, ung dung leo lên sập nằm cạnh bàn đèn, tiêm thuốc hút được hai điếu, rồi mới sực nhớ ra sự gì, ông gọi giật giọng nàng dâu:
- Chị Cả ơi! Chị Cả đâu rồi.
Lúc ấy Mơ đã đi nằm. Nàng nghe tiếng trống chèo, lòng hồi hộp tưởng lại khi xưa cùng chị em chúng bạn đàn đúm nhau đi xem, vui vẻ biết là chừng nào. Bây giờ chốc đã mười mấy năm trời, nàng đã biến cải hết, từ người, từ nết.
Nàng nghĩ đến phường hát nay đây mai đó, mà lo cho số phận của mình, ít nữa, chỉ ít lâu nữa thôi, sẽ bị đuổi ra khỏi nhà này, nàng liệu có khỏi như phường hát nay đó mai đây. Băn khoăn như thế, nàng không sao chợp ngủ được, thì tiếng ông Chánh đã gọi giật giọng ở nhà trên.
Mơ vội thưa, rồi tung chiếu, chạy lên. Ông Chánh với chiếc đèn bấm ở tủ chè đưa cho nàng, bảo:
- Lúc nẫy ra nghe hát, thấy vội về bỏ quên chiếc can ở đình, chị chịu khó cầm đèn này chạy ra cầm về cho thầy, kẻo mất nó phí đi, chẳng ít tiền đâu.
Mơ vâng, đoạn chạy xuống khoác thêm chiếc áo cánh bông, rồi gọi con Nuôi dậy đóng cổng cho nàng ra đi. Ra đến sân, ông Chánh còn dặn với:
- Thầy dựng bên cột cạnh chỗ cầm chầu ấy, chị hỏi ông Lý, ông ấy đang cầm chầu đấy, đừng hỏi ai sốt cả, không họ phong thanh, họ lại giấu biến đi mất thì xong.
Mơ vừa đi vừa đáp:
- Không mất được đâu, thầy ạ! Ai dám lấy, mà cho có lấy nếu không mang đi ngay thì con cũng tìm bằng phải thấy.
- Ừ, nếu không thấy ở bên cột, thì cứ lẳng lặng kiếm quanh đình xem ai cầm biết ngay, đừng có hỏi vội, nó chuồn mất.
Mơ ra khỏi, còn dặn con Nuôi đóng kỹ cổng. Nàng định bụng nhân tiện sẽ đứng xem hát một lúc.
“Úi chà! Ngày trước thì sợ, chứ bây giờ sợ cóc gì! Đằng nào rồi cũng đến phải cút!”
Nàng tự nhủ thế, rồi rảo cẳng theo tiếng trống hát mà tiến.