.
[←1] Tài liệu tham khảo:
Viết bài này, chúng tôi sử dụng bản L' Écume des jours của Boris Vian, J.-J. Pauvert, 1963
L' Écume des jours, Boris Vian của Michel Gauthier, trường Tổng hợp Paris III, Hatier, 1973.
Un langage - Univers của Jacques Bens, lời bạt của L' Écume des jours.
[←2] OULIPO viết tắt của Ouvroir de Littérature Potentielle (Lò Văn học Tiềm năng) ở đó một số các nhà “nghiên cứu” một lối viết mới, trên cơ sở làm việc trên văn bản, tìm cách cho ra những hình thức thể hiện mới như kiểu “Một câu chuyện theo kiểu của bạn” trong đó sự hài hước điều tiết sự quá trừu tượng mà cách đọc này có thể sẽ mang lại.
[←3] Chúng tôi tạm dịch là quần nghị - nơi luyện nghị sĩ.
[←4] Nguyên văn Renvoi de Fleurs: từ renvoi có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất là gửi trả lại, nghĩa thứ hai là ợ. Ở đây, tác giả vừa nhại tác phẩm Envoi de Fleurs của Paul Delmet, lại vừa đùa cợt với tác phẩm của Sartre.
[←5] Đây là một trò hài hước của Boris Vian: nhà văn gây cười bằng cách tạo ra cành hoa nhờ kết nối những bông hoa tròn với dải kẹo cao su dài cuốn thành vòng như những dây ruy băng.
[←6] Cái hòm máu ở Millery, cái hòm của Gouffé chỉ một tội ác hình sự ở Pháp xảy ra ngày 26 tháng 7 năm 1889. Cái hòm đựng thi thể không nguyên vẹn của một viên lục sự nổi tiếng Toussaint-Augustin Gouffé mà hai tuần sau mới được phát hiện và mãi sau này mới tìm ra thủ phạm. Sự kiện được báo chí làm ầm ĩ và gây ảnh hưởng không nhỏ. Vì vậy, khi nghe tên Gouffé, Chick hoảng sợ.
[←7] Boris Vian gọi chệch tên nhà văn Jean-Paul Sartre.
[←8] Nguyên văn: pianocktail, một sáng tạo của Boris Vian, là chiếc đàn dương cầm có khả năng pha chế rượu và nước giải khát.
[←9] Đây là một kiểu chơi lái chữ của Boris Vian: portfeuille en cuir (cái đựng giấy bằng da - cái ví) bị đổi thành portcuir en feuilles (cái đựng da bằng giấy), thực chất vẫn là cái ví.
[←10] Chỗ này Boris Vian chơi chữ: tiền bo ta gọi trong tiếng Pháp là Pourboire là tiền khách cho người phục vụ để uống nước tức là ít thôi, nhưng tay phục vụ lại lấy làm Pourmanger tức để ăn. Có nghĩa làm hắn lấy nhiều tiền bo của Colin.
[←11] Varlets - nettoyeurs: varlet (xưa) có nghĩa là người đang thực tập làm kỵ sĩ. Ở đây Boris Vian ghép hai từ kỵ sinh và người quét dọn làm một. Chúng tôi tạm dịch là kỵ- sinh-quét-dọn.
[←12] Nguyên văn Biglemoi là một điệu nhảy do Boris Vian bịa ra do ghép động từ bigler là liếc và moi là tôi.
[←13] Boissière (Jean- Baptiste): nhà từ điển học Pháp (1806-1885). Ông đã có công lớn trong việc viết Từ điển loại suy của tiếng Pháp (Dictionnaire analogique de la langue française - 1862).
[←14] Boogie-woogie (từ Mỹ): cách chơi nhạc blue trên piano theo nhịp nhanh. Điệu nhảy theo nhạc đó người ta gọi là điệu boogie-woogie.
[←15] Nguyên văn tiếng Pháp: bonne à presque tout faire. Bonne à tout faire có nghĩa là chị quản gia hoặc người thạo nhiều công việc.
[←16] Một loại khoáng sản gọi là hermycite.
[←17] Tên một dòng rượu vang ngọt nổi tiếng của Pháp.
[←18] Johnny Weissmüller (1904-1984): sinh ở Timişoara, Romania. Cha mẹ ông gốc Áo Hung và sống ở Mỹ. Ông là siêu sao bơi lội được giải vàng Olympic cự ly 100m và là diễn viên nổi tiếng ở Hollywood chuyên đóng vai nhân vật Tarzan, Người khỉ của tiểu thuyết gia người Mỹ Edgar Rice Burroughs.
[←19] Deputodrome, một trong những từ ghép đặc biệt của Boris Vian: député (nghị sĩ) và hippodrome (trường đua ngựa) để đánh giá cái nơi các nghị sĩ hội họp. Với từ ghép hài hước này, chúng tôi tạm dịch quần-nghị.
[←20] Đơn vị tiền tệ giả tưởng của tác giả.
[←21] Bedon và Chuiche: Bedon là từ do Boris Vian tạo ra từ Bedeau, người giúp việc, phụ lễ trong nhà thờ. Những người này thường no đủ nên béo, vì vậy, tác giả đổi thành Bedon, tức là người mập, còn Chuiche là sự thay đổi cách phát âm của Suisse, cũng giữ chức vụ như bedeau trong nhà thờ và thường là người Thụy Sĩ.
[←22] Nguyên văn là Chevêche có nghĩa là cú xám. Nhưng chevèche cùng gốc với évêque: giám mục. Đây là trò chơi chữ của Boris Vian để giễu cợt Nhà thờ.
[←23] Nguyên văn: Remugle.
[←24] Bài thuyết giáo của giáo sĩ để khuyến khích sự sùng kính.
[←25] Một vùng ở nước Ý cổ.
[←26] Boris Vian nhại tờ báo Le cri du Peuple, nghĩa là Tiếng kêu của dân chúng hoặc La voix de son Maitre.
[←27] Saumon à la Chambord: Chambord là tên một lâu đài cổ được xây dựng năm 1519 cho François đệ nhất, kiệt tác thời kỳ đầu Phục hưng. Nhưng Saumon à la Chambord lại là món ăn nổi tiếng của Pháp.
[←28] Tiếng Anh nghĩa là Muốn được tán tỉnh.
[←29] Slap Happy: Hạnh phúc bất ngờ.
[←30] César Borgia (1476-1507): con trai Giáo hoàng Alexandre VI, giữ chức Hồng y Giáo chủ từ năm mười sáu tuổi, nhưng sau từ bỏ cuộc đời tu sĩ. Được phong làm quận công Valentine, quận cộng Romagne. Cha chết, César mất hết quyền lợi, bỏ trốn, sau chết ở Tây Ban Nha.
[←31] Restaurent magdalénien: magdalénien là tính từ của Magdaleine tương ứng với thời kỳ tiền sử được xác định nhờ những phát hiện trong hang Madeleine vùng Dordogne.
[←32] Nguyên văn: II, avait, maintenant, l'air d'un octavon: anh ta có vẻ là người lai một phần tám, nghĩa là da tái đi.
[←33] Nguyên văn là panouille gồm pate (bột) và nouille (mỳ sợi) và panouil (bột ngô), từ đồng âm với panouille trong tiếng lóng có nghĩa là người ngốc. Chúng tôi tạm dịch như vậy để gợi cả hai nghĩa.
[←34] Nghĩa là Nỗi buồn của Vagabond.
[←35] Nguyên văn peau de néant, ở đây cũng có nhại một tác phẩm của Sartre mang tên L'être et le Néant (Hữu thể và hư vô).
[←36] Nguyên văn Le senéchal de la police: sĩ quan phong kiến phụ trách tư pháp. Nhưng chức vụ này bị bỏ từ năm 1191, chỉ còn lại để chỉ những sĩ quan Hoàng gia ở những vùng Địa Trung Hải với cương vị pháp quan.
[←37] Nguyên văn ils boivent du thé des Mers. Ở Pháp, người ta thường đặt tên cho những hiệu cà phê, trà những tên gây ấn tượng như Trà Biển (Thé des Mers) và cũng có thể đây là tên một loại trà.
[←38] Boris Vian đổi từ baseball (bóng chày) cũng đọc như baise-bol.
[←39] Nguyên văn l'arrache cœur (chết cả cõi lòng), cũng là tên một tác phẩm của J.P. Sartre. Nhưng ở đây, Boris Vian dùng như một vũ khí giết người.