Mỗi lần bước vào phòng ngủ của ông Smiley, Grin lại nhớ đến phòng sách theo phong cách Victoria điển hình có thể thấy ở các vùng quê nước Anh hay trong làng đại học... Trong những phòng sách kiểu này thường có một giá sách theo phong cách Gothic, trên đó bày những cuốn sách bọc bìa mềm có gáy màu nâu, phía trên lò sưởi là các giá treo ống và một bức ảnh đội bóng bầu dục cũ đã ngả màu. Tuy vậy, cả căn phòng vẫn tỏa ra bầu không khí nghiêm cẩn của phòng sách như muốn kêu gọi “Sau khi cầu nguyện, hãy đến phòng đọc sách của tôi!”
Thực tế, hình như đây vốn là phòng đọc sách nhưng vì ông Smiley đã rất ngang ngạnh nói rằng “Tôi không muốn chết ở một bệnh viện xa lạ. Tôi muốn đón cái chết trong căn phòng ưa thích của mình” nên giường đã được chuyển vào phòng sách. Căn phòng này nằm cùng dãy với phòng của bà Monica, ở phía Đông của căn biệt thự, buổi sáng tràn ngập ánh sáng, đứng từ cửa sổ có thể thu vào trong tầm mắt khu nghĩa địa, cánh Tây của nhà tang lễ, nơi hỏa táng...
Ở một gia đình bình thường, phòng có tầm quan sát hướng ra nghĩa địa là một điều không thể tưởng tượng được. Thế nhưng khu nghĩa địa của Nghĩa trang Smiley được xây dựng trong một khu vườn mang phong cách Châu Âu nên không khiến người ta liên tưởng tới cảm giác chết chóc. Không nói đến buổi đêm, như lúc này, trong một buổi sáng trong lành, dõi mắt ra phía xa có thể thấy những cây phong đường ngả màu lá đỏ hay những bụi cây thấp xanh tươi, và giữa những bông hoa cúng màu sắc rực rỡ là hàng hàng bia mộ đủ mọi hình dạng sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời, đó quả thật là một phong cảnh có nét đẹp riêng.
Trong “căn phòng chờ chết” tự mình chọn lựa, ông Smily híp mắt vui vẻ ngắm khung cảnh bên ngoài của sổ. Trên bàn phụ, chiếc ti-vi mini vẫn đang bật. Chương trình đang chiếu là mục Tin Tức Buổi Sáng của kênh số 9. Người dẫn chương trình đang nói trong khi phông nền phía sau hiển thị hình ảnh toàn cảnh nhìn từ trên cao xuống của hồ nước: “... Ảnh hưởng của mưa axit với độ pH cực thấp là rất lớn, phần lớn cá trong Hồ Leslie đang ngắc ngoải và có nguy cơ chết hàng loạt. Bây giờ là tin dự báo thời tiết mưa axit cuối tuần...”
Ông Smiley chậm rãi quay lại phía mọi người. Chương trình ti-vi đã chuyển sang phát sóng tin tiếp theo: “... Liên quan tới thống kê tỷ lệ mắc bệnh ung thư da ở Canada được cho rằng do tầng ozon bị phá hủy, Giáo sư Riley của Đại học Ontario phát biểu, so sánh với tỷ lệ bệnh nhân mắc HIV...”
Tất cả mọi người thành thật chờ đợi trước mặt chủ nhân của nghĩa trang. Chương trình ti-vi phát sóng tin tiếp theo: “... sự kiện người chết hồi sinh mới xảy ra ở khu vực phía Nam của bang. Thế nhưng, tranh cãi nổi lên đối với phản ứng của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) lần trước...”
Ông Smiley bấm nút tắt ti-vi và thở nhẹ một hơi. Tấm ga trải giường được ánh nắng xuyên qua cửa sổ chiếu vào trông như đang phát sáng lấp lánh, khiến ông Smiley giống một người trên thiên đường đang vui vẻ dang rộng tay chân ngủ trên những đám mây hơn là một người bị bệnh nặng. Ông lão cất tiếng với khuôn mặt gầy gò sáng bừng: “Cảm ơn mọi người đã tới đầy đủ. Đây quả là một buổi sáng tốt lành. Hôm nay, dường như ngay cả tế bào ung thư trong phổi ta cũng mang theo tâm trạng vui vẻ ấy... Ơ mà, John đâu ấy nhỉ?”
“Anh ấy đã giam mình trong văn phòng suốt từ hôm qua. Vừa nãy con đã gọi điện thoại rồi, chắc hẳn anh ấy sẽ tới nhanh thôi...”
Trong lúc Isabella đang trả lời thì có tiếng gõ cửa vang lên. John xuất hiện trước mặt mọi người. Tất cả đều chú mục vào thân ảnh John vừa bước vào phòng. Trên đầu ông ta đang đội một bộ tóc giả chưa thấy bao giờ. John ngồi xuống một chiếc ghế ở mép tận cùng của bộ sô-pha hình chữ L quanh giường và nói: “Con xin lỗi bố. Vì thức suốt đêm làm việc, phải đổi quần áo nên con đến trễ... Đây là đồ ăn bố thích. Hôm qua, Isabella đã mua đấy ạ.”
John mở chiếc túi cầm trên tay và đặt lên bàn một hộp bánh hình vuông. Khi mở nắp ra có thể thấy những viên sô-cô-la rắc bột đường trắng phía trên được xếp ngay ngắn thành hàng bên trong.
Monica thu lại hình ảnh của John vào mắt, biểu cảm của bà trở nên hòa hoãn. Bà nói: “John, ta rất vui vì có thể gặp anh. Trước đó, ta đã tự hỏi mình có thể cười khi gặp anh hay không. Cuối cùng, tình cảnh gặp gỡ cũng diễn ra đúng như ta đã mong đợi...”
Có lẽ John không muốn gợi lại chủ đề cuộc nói chuyện tối qua trước mặt Smiley, ông vội vã cắt ngang lời của bà Monica: “Vâng, con cũng thấy rất vui khi có thể gặp dì với khuôn mặt tươi cười thế này.”
“Lúc này, ta cũng đã biết bộ dáng chân thật của anh. Dù hôm qua anh đã nói những lời đó, nhưng ta biết anh không có tội và là một đứa trẻ ngoan.”
“Có chuyện gì xảy ra vậy?” Smiley hỏi.
“Không, chẳng có chuyện gì cả.” John lập tức lên tiếng phủ nhận ngay sau khi nghe xong câu hỏi của Smiley: “Thay vì quan tâm chuyện đâu đâu, ngược lại, bố thấy sô-cô-la thế nào?”
Chính xác thì John trở thành “bé ngoan” trước mặt bố mình. Grin âm thầm phân tích trong đầu, liệu có phải những lời nói và hành động của ông bác John ngày hôm qua chỉ là sự ngạo mạn từ trên trời rơi xuống, và nó thực ra chính là một biểu hiện tình cảm trái ngược tương đối phức tạp của ông đối với người bố vĩ đại của mình.
“Ồ, một viên có nhân vị rượu rum. Cảm ơn vì đã mua sô-cô-la cho ta... Nhân đây, chuyện gì xảy ra với con vậy? Lâu lắm ta mới thấy con đội tóc giả, còn cả bộ quần áo đó và kính nữa, chúng là đồ của ta phải không nhỉ?”
John luống cuống giải thích: “Con đã mượn tạm đồ ở trong văn phòng ấy. Vì con lỡ tay làm đổ rượu vào quần áo...”
“Hửm, con lại uống rượu à? Nên con mới có bộ mặt ỉu xìu như thể vừa mới tỉnh khỏi cơn say đấy hả?”
“... Cái đó thì, ừm... Dạ đúng...”
John xoa mặt, dường như khá nhạy cảm về vấn đề này. Trên cằm ông vẫn đang dán miếng băng cá nhân rất to, là dấu tích do cuộc náo loạn đêm qua để lại.
James nói bằng giọng điệu khinh thường: “Ái chà, đúng là đồ ‘John Barleycorn’ chẳng chệch đi đâu được.”
Nhận ra ý chế giễu trong lời nói của James, John tỏ ra khó chịu: “Anh đã chán ngấy nghe những lời đùa cợt tầm phào của chú từ bé đến giờ rồi. Liệu chú có thể quản cái miệng của mình tốt hơn một chút không?”
Đó chính xác là lời đùa cợt không chỉ John mà cả những người khác của gia tộc Barleycorn cũng đều thấy khó chịu.
Barleycorn nghĩa là một loại bột lúa mạch. Nói cách khác, nó chính là nguyên liệu làm rượu. Bởi thế, để nhân cách hóa rượu, có một cách gọi rượu là “John Barleycorn”. Tên thật của Grin là Francis nên cậu chỉ bị trêu chọc một hai lần rồi thôi. Nhưng người mang cái tên “hiểm” như John chắc hẳn đã phải chịu những ký ức không mấy tốt đẹp. Dù vậy, Grin nghĩ thật trớ trêu khi John vẫn nhiễm phải thói xấu nghiện rượu.
Smiley vẫn không ngừng hỏi về vẻ bề ngoài của John: “Vậy món tóc giả kia là từ ngọn gió nào thổi tới vậy?”
Lúc này đã lấy lại bình tĩnh, John nhún vai trả lời: “Không có gì. Bởi cuối cùng, con cũng phải đứng đầu xử lý mọi việc của nghĩa trang này nên con nghĩ mình cũng cần chú ý tới ngoại hình một chút.”
“Mặc thế này khiến anh ấy giống phiên bản thời trẻ của bố vậy.” Isabella nói.
Điều Grin tưởng tượng đến trong buổi tối hôm qua hiển nhiên đã thành hiện thực. Phong cách để râu tóc của hai bố con đang ở trước mặt mọi người đây gần như giống hệt nhau. Do tuổi tác đã cao nên mái tóc của ông Smiley ngả bạc trắng lốm đốm muối tiêu. Tuy nhiên, nếu đứng ở trong tối, có lẽ người ta sẽ không phân biệt được. Hơn nữa, kính mắt có cùng kiểu dáng, chỉ là kính của John lẫn một chút màu sắc khác.
Grin đưa mắt nhìn sang phía Cheshire đang ngồi một mình không chút quy củ ở bệ cửa sổ. Nếu cậu đoán không sai, chắc hẳn cô đang chìm trong trạng thái run sợ khi nghĩ đến việc bại lộ sự thật khiến John phải đeo kính. Thế nhưng, trước khi ông Smiley truy cứu thêm điều gì, Martha đã bưng trà đến, vì thế, chuyện Cheshire lo ngại đã không xảy ra.
Sau khi đặt ấm và tách trà lên chiếc bàn kê giữa sô-pha với giường, quỷ khó tính Martha tuyên bố: “Vì hôm nay, công việc của tôi khá bận nên mong mọi người tự phục vụ nhé! Trà đã được pha trong bình. Mọi người hãy tự mình rót.”
Sau khi buông những lời vô tình đó, Martha nhanh chóng bỏ đi. Mọi người miễn cưỡng tự mình rót nước và lấy đồ. Grin vươn tay lấy lọ đường ở gần mình, bỏ nó vào tách và chuyển qua cho ông bác John. John lại chuyển qua cho bà Monica, Cheshire cũng xuống khỏi bệ cửa sổ và đón lấy lọ đường. Đúng lúc cô định bỏ đường vào cốc sữa cô đã đặc biệt yêu cầu riêng cho mình, Isabella bỗng lên tiếng chế nhạo: “Ơ kìa Cheshire, việc ăn kiêng của con không sao chứ? Phải cẩn thận để ý giống như mẹ vậy, nếu không...”
Bị đâm chọc trúng chỗ đau, Cheshire cũng không phải loại người sẽ cam chịu ngồi im: “Vất vả cho mẹ rồi. Con thấy chẳng sao cả. Hơn nữa, con ấy à, cứ nhìn thấy đứa con gái nào mải mê chạy theo việc ăn kiêng hay niềng răng là chỉ muốn đập cho một trận. Chắc chắn con với mẹ thời trẻ sẽ không thể trở thành bạn thân được đâu nhỉ?!”
Dứt lời, Cheshire cố tình lấy tận ba thìa đầy bỏ vào cốc và quay lại bệ cửa sổ. Ngay cả một Cheshire như vậy cũng ngại ngùng không lấy một viên sô-cô-la nào cả. Khi tất cả mọi người đều cầm trên tay đồ uống của mình và ổn định chỗ ngồi, Smiley bắt đầu lên tiếng: “Sau đây, ta dự định lấy cái chết làm chủ đề thảo luận của tiệc trà thư giãn hôm nay...”
Mọi người bối rối nhìn nhau. Đó không phải một chủ đề có thể bàn tán trước mặt một người sắp chết. Thế nhưng ông lão đang cận kề cửa tử này lại nói ra miệng. Không để ý tới sự bối rối của những người xung quanh, ông Smiley hào hứng phát biểu: “Ha ha, một khi đã là thành viên gia tộc làm nghề mai táng thì không được phép sợ hãi khi thảo luận về cái chết. Ta không sao hết. Ta đã sớm giác ngộ về cái chết của bản thân rồi. Ta còn tính nhìn chằm chằm vào vị tử thần đang đến gần trước mắt, và nếu được, sẽ thử vui đùa với nó một chút. Ta muốn thử chế ngự cái chết của bản thân vào lúc cuối cùng, coi như đặt dấu chấm hoàn mỹ cho cuộc đời đã luôn diễn ra theo ý muốn của mình suốt những năm qua. Vì thế, ta thấy rất thú vị khi có thể cùng trò chuyện về cái chết của con người với tất cả những người vẫn đang tận hưởng cuộc sống tươi đẹp ở đây. Chà, vậy ai sẽ ‘khai hỏa’ đầu tiên đây? John, bắt đầu từ con thì sao?”
Đột nhiên bị điểm danh, John bày ra biểu cảm như một học trò quên làm bài tập về nhà. Ông lập tức thoái thác: “Cái... cái này quá đột ngột... Những vấn đề thế này hẳn là nên nhờ đến chuyên gia như Tiến sĩ Hearst trước tiên mới phải...”
Smiley nhìn sang Tiến sĩ Hearst với ánh mắt thúc giục. Vị tiến sĩ gật đầu quy củ. Giữa hai người dường như đang tỏa ra hơi thở của tình bạn vĩnh cửu.
“Ừ, thì... Ông Smiley cũng không phải là người đàn ông cứng đầu không nghe lời nói của người khác. Bình thường, chẳng ai có thể nói về chuyện này đâu. Nhưng con người ấy mà, đến một lúc nào đó cũng phải nghĩ về điều này thôi. Đối với ông Smiley, ‘một lúc nào đó’ chính là ‘bây giờ’. Xét theo lẽ đó, tôi nghĩ cùng nhau thảo luận về chủ đề này cũng chẳng có gì xấu cả.”
Smiley cố chấp tiếp lời: “Tôi là người làm dịch vụ tang lễ. Nếu sợ nghĩ đến cái chết, tôi không thể biến nó thành việc kinh doanh được. Và tôi mong mỏi được nói chuyện về nó ngay bây giờ.”
“Nếu vậy thì... E hèm, dù chết chỉ cần mở miệng nói một tiếng là xong, nhưng những vấn đề liên quan tới nó lại phức tạp và tổn tại trong nhiều lĩnh vực rộng khắp không thể nói hết chỉ trong một bữa tiệc trà thế này. Nên tôi nghĩ trước hết, tôi sẽ thử nói về cảm nhận của mình với một số vấn đề xảy ra gần đây.”
“... Là chuyện người chết sống lại nhỉ?” Smiley đoán.
“Ồ, đúng đó... Cái này cần phải bắt đầu từ một câu chuyện xa xưa một chút. Vào cuối thời Trung Cổ đã rất thịnh hành câu nói ‘Memento mori’.”
“Memento mori?” Grin hỏi lại.
“Đúng vậy. ‘Memento mori’ là một thuật ngữ tôn giáo tiếng Latin có nghĩa là ‘Hãy nhớ rằng rồi ngươi cũng sẽ chết’. Ngày xưa, câu nói này được khắc lên tác phẩm điêu khắc hình đầu lâu bằng ngà voi và đặt trên bàn ăn, để thường xuyên nhắc người ta ghi nhớ về cái chết trong tâm khảm.”
“Câu nói đó cũng là một trong những châm ngôn của nghĩa trang chúng ta.” Smiley vừa nói vừa đưa đồ ở bàn phụ cho Grin: “Đây là sản phẩm được tạo thành vào dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Nghĩa trang Smiley. Mọi người trong gia tộc đều có.”
Đó là một cái chặn giấy làm từ đá cẩm thạch. Nó có hình dạng chiếc quan tài lục giác kiểu cũ, phần nắp có chạm nổi biểu tượng của nghĩa trang - một đôi môi đang mỉm cười quen thuộc lật ra mặt sau có thể thấy trên đó khắc câu “Memento mori”. Grin vừa nhìn chăm chú vừa nói: “Nó giống câu ‘Chư hành vô thường [2] ’ ở Nhật à?!”
Tiến sĩ Hearst nhướn mày dường như rất vui vẻ.
“Ừm, đúng đấy. Hiếm thấy một dân punk cũng có tri thức về mặt này đấy... Nó xuất hiện khi xảy ra cái chết tràn lan ở Châu Âu thời điểm đó. Huizinga đã viết trong tác phẩm Mùa Thu Thời Trung Cổ là vào khoảng nửa sau Thế kỷ XIII, bệnh dịch hạch bùng phát và lan rộng, cướp đi sinh mệnh của ⅕ đến ⅓ dân số Châu Âu. Không chỉ vậy, nông nghiệp bước vào thời kỳ tăng trưởng thấp, văn hóa quý tộc cũng có xu hướng tàn lụi, chiến tranh bùng nổ vô số lần vào Thế kỷ XV, XVI. Tóm lại, cái chết đã phủ bóng lên Châu Âu. Có rất nhiều điều tượng trưng cho tư tưởng và tình cảm của con người lúc bấy giờ mà đến nay vẫn được lưu lại. Mãnh liệt nhất trong số đó phải kể đến tượng xác người. Grin, cháu thấy bức tượng mô phỏng ‘tượng xác người’ được trang trí trong linh đường ‘Giấc ngủ hoàng kim’ của nhà tang lễ chưa?”
Grin vẫn chưa từng tới đó cho nên cậu lắc đầu.
“Ở đó có trang trí bản mô phỏng tượng điêu khắc lăng mộ Francis de Sales [3] . Bức tượng điêu khắc này là hình ảnh dã man miêu tả giun đất hay ếch đang rỉa thi thể người chết nằm ngửa. Đó là bức điêu khắc biểu thị quá trình từ thối rữa cho đến phân hủy và biến mất của xác chết, tượng xác chết thối rữa, hay nói cách khác, là ‘tượng xác người’.”
“Giun đất... ếch... thi thể thối rữa và phân hủy...” Cheshire rùng mình: “Ôi, sao ông lại nói những thứ gây khó chịu thế...”
“Nên ta đã nói trước đó còn gì, cùng với việc mạnh dạn tạo ra tượng xác chết đang thối rữa như thế, người người lúc bấy giờ đều hô vang khẩu hiệu ‘Memento mori’. Tất nhiên, đằng sau chuyện này, dường như có cả tâm trạng bất an đối với thời đại mà cái chết hoành hành khắp nơi. Nhưng bên cạnh đó chắc chắn xen lẫn cả tội lỗi thể xác, nói cách khác là ý thức tội lỗi đối với cuộc sống hưởng lạc thiên về cảm tính... Đúng thế, tín ngưỡng thần phục, sự ngộ đạo và quá khích... đủ mọi suy nghĩ khác nhau về cái chết chắc hẳn đã trộn lẫn trong bức tượng kinh hoàng này.”
Tiến sĩ Hearst ngừng lại lấy hơi và nhấp một ngụm hồng trà. Grin nghĩ hành vi uống trà này thật kỳ dị. Bản thân đang trong thời gian tiệc trà dưới ánh nắng đầy sảng khoái, mọi người lại cùng nhau nói chuyện về xác chết thối rữa và phân hủy.
--- Làm thế nào hắn ta lại xuất hiện trong tiệc trà điên cuồng này...
Khi đó, Grin bỗng nhớ tới cảnh tượng tiệc trà điên cuồng xuất hiện trong Alice Ở Xứ Sở Thần Tiên.
“Và tôi cho rằng, ngay cả thời hiện đại bây giờ, chúng ta cũng đang bị cái chết ngập tràn khắp nơi vây quanh chẳng kém gì thời Trung Cổ. Những cái chết hàng loạt được đề cập trên ti-vi mỗi ngày, chiến tranh vẫn tiếp tục xảy ra đâu đó trên thế giới, sự cố máy bay hay tàu hỏa, giết người, phá hủy môi trường, bệnh nan y, nạn đói... và cả sự bế tắc không lối thoát của toàn thể nền văn minh Thế kỷ XX. Thời đại đang tiến dần tới cái chết. Có lẽ sự tiến tới này vừa hay không phải là ‘mùa thu của thời Trung Cổ’ mà là mùa thu của Thế kỷ XX. Bởi thế, chúng ta có cần giống những người Trung Cổ niệm câu ‘Hãy nhớ rằng rồi ngươi cũng sẽ chết’ để chuẩn bị tâm lý không? Đó cũng là vấn đề có phần khó chịu.”
“Rồi sao nữa?” Smiley hỏi với tâm trạng đầy hứng thú.
“Tôi sẽ nói lại lần nữa nhé. Thông qua một hộp điện nhỏ là ti-vi, chúng ta đang tiếp cận cái chết với số lượng lớn và với tần suất thường xuyên hơn bao giờ hết trong suốt lịch sử loài người tới nay, hết ngày này tới ngày khác. Dưới tình trạng đó, cái chết dần được hư cấu hóa. Biến thành người người giấu cái chết trong chiếc hộp Pandora [4] gọi là ti-vi, đặt thi thể bi thảm với nước tẩy rửa được người đẹp xếp thành hàng tiếp thị trong cùng một khung hình.”
“Liệu đó có phải vấn đề cảm tính từ phía người xem không?” Grin phản bác.
“Đúng là kiểu quan điểm của ‘thế hệ ti-vi’. Cũng có thể như lời cháu nói, nhưng cảm tính đó cũng tồn tại vấn đề. Chết chóc quá nhiều mà ti-vi phát ra... nghe nhé, là hằng ngày đấy. Một khi con người ngày ngày xem về cái chết đã hư cấu hóa và được đặt trên giá như số lượng lớn vật tư tiêu hao khác, người quá nhạy cảm sẽ phải khởi động hình thức tự vệ. Nói cách khác, anh ta sẽ bị ‘tê liệt cảm xúc’. Và như vậy, những người hiện đại nhìn cái chết mỗi ngày nhưng lại không muốn suy nghĩ về nó nữa.”
“Nếu thế, sự kiện người chết sống lại sẽ...” Mới lên tiếng được nửa chừng, Grin đã bị Tiến sĩ Hearst đột ngột cắt ngang và tiếp lời: “Đúng thế, ta cho rằng chuyện đó cũng là hình ảnh về tượng xác người thời hiện đại. Người chết sống lại chắc hẳn sẽ cho người sống thấy tượng xác người đang dần dần thối rữa, và sẽ dạy cho chúng ta biết rằng, những người sống quá tin vào văn minh đang chìm trong hưởng lạc như chúng ta vốn chỉ là người chết đang được trì hoãn thôi...”
Đột nhiên Smiley phá lên cười: “Người chết hồi sinh là sứ giả truyền đạt lời vàng ngọc ‘Hãy nhớ rằng rồi ngươi cũng sẽ chết’ à? Thú vị thật. Là cách nghĩ đậm chất Vincent nhuốm đầy mùi văn học hơn là khoa học. Không, thế là quá đủ rồi. Nếu là vậy sẽ có nhiều tài liệu phong phú và thú vị trong thời đại ‘Hãy nhớ rằng rồi ngươi cũng sẽ chết’, và tôi vừa đọc cuốn sách bán chạy nhất Thế kỷ XV có tựa đề The Art of Dying (tạm dịch: Nghệ Thuật Chết). Bởi chẳng mấy nữa, tôi cũng sẽ thuộc về số người không thể trì hoãn nên cần chuẩn bị cho điều đó.”
“Nghệ Thuật Chết?” John tỏ ra hứng thú.
“À, đại khái nó là cuốn sách hướng dẫn cách chết như thế nào cho tốt. Trong đó có điểm thú vị lắm. Năm cái bẫy cám dỗ mà ác quỷ gài cho người sắp chết... Chà, họ đã viết thế đó.”
“Những cái bẫy cám dỗ... Đó là gì vậy?”
“Năm cái bẫy đó là: nghi ngờ đức tin, tuyệt vọng đối với tội lỗi của bản thân, tham luyến tiền tài trên thế gian, hoài nghi về sự cứu rỗi linh hồn và tự đại về đức cao vọng trọng của chính mình. Có vẻ con có hứng thú với nó nhỉ, John? Có thể nói cho ta nghe suy nghĩ của con về cái chết không?”
“Suy nghĩ của con? Không, thực ra con đã trò chuyện về cảm tưởng của con với cái chết trong bữa tiệc tối hôm qua nên con không muốn lặp lại ở đây cho lắm...”
John nói vậy và im lặng, bày ra bộ mặt cứng nhắc với thái độ như đang cảnh giác điều gì đó. Nhưng ông Smiley không có ý định để người khác nói chuyện nên không còn cách nào khác, John phải cất lời: “Ừm... Con không có những lý luận cao cấp như Tiến sĩ Hearst. Con nghĩ rằng cái chết chính là thất bại, và thắng lợi chỉ có ở quan điểm của người sống đối với người chết. Vì thế, con đã chọn trở thành nhà trị liệu mà không phải là người lo liệu đám tang, và sau đó là một bác sĩ sau khi rời trường y. Với ý nghĩ đó, tham luyến tiền tài trên thế gian trong cuốn Nghệ Thuật Chết không thể coi là cám dỗ của ác quỷ. Bởi nếu là con, dù chết, có lẽ con cũng tham luyến tiền bạc...”
Chưa kể bác còn tự đại về đức cao vọng trọng của chính mình nữa. Grin thầm nghĩ trong lòng.
“... Không phải có ý đùa cợt tầm phào như James lúc trước, nhưng trước đây, con từng đọc một cuốn sách có nhan đề giống hệt tên họ của mình.”
“Có phải cuốn John Barleycorn của Jack London không?” Tiến sĩ Hearst lại một lần nữa cho mọi người thấy sự thông thái của mình.
“Đúng vậy, John Barleycorn, hay là một loại ghi chép suy tưởng của tác giả khi đang uống rượu. Trong đó có một phần đề cập đến suy nghĩ về cái chết. Nhân vật chính cưỡi ngựa và đi dạo trong vườn nho với những tán lá vàng mỹ lệ như đang cháy rực lên trong mùa thu. Đột nhiên, một suy nghĩ đau khổ nảy ra trong đầu anh ta: Khi chết đi, mình sẽ không thể sở hữu mảnh đất bất diệt và tươi đẹp đang có mãi mãi. Con có thể hiểu được tâm trạng đó...”
“Nói cách khác, anh muốn nói mình đau buồn khi nghĩ về Nghĩa trang Smiley tráng lệ?” James, người vẫn im lặng nãy giờ, cất tiếng châm biếm.
Đây đúng là một cơ hội tốt để Smiley hỏi James: “Nếu vậy, James, suy nghĩ của con là gì?”
Người tẩm liệm vội vã nhún vai trả lời: “Con xin miễn vụ này. Hằng ngày, con chỉ máy móc xử lý thi thể thôi. Con chẳng suy nghĩ gì đâu.”
Grin nghĩ có lẽ bác James đang nói dối, nhưng ông Smiley không truy hỏi gì thêm. Lần này, ông chuyển mũi nhọn về phía vợ mình: “Monica là người Cơ đốc giáo nên chắc bản thân phải có suy nghĩ gì đó về cái chết nhỉ?”
Nhìn có vẻ lơ đãng như không hiểu chuyện gì xung quanh, nhưng bà lại chậm rãi mở miệng: “Em cũng không hiểu lắm những thứ cao siêu. Nhưng em nghĩ chuyện đề cập trước đó về người chết hồi sinh mà Vincent nói là chuyện hiển nhiên.”
“Nghĩa là sao?”
“Không phải em cho rằng mà vì Kinh Thánh có viết rõ ràng về điều đó. Dù con người đã chết một lần nhưng vào thời điểm phán xét cuối cùng, người đó cũng sẽ sống lại và chịu sự phán xét của Chúa. Bởi thế, chúng ta phải quý trọng thân thể máu thịt của bản thân. Tối qua, em cũng nói rồi nhưng...”
“Monica, dì có thể ngừng nói về chuyện hôm qua không?”
John vội vã ngắt lời Monica. Grin đoán chừng có lẽ ông e sợ những lời nói táo bạo về bố mình trong bữa tiệc tối sẽ bị tiết lộ. Nhưng Monica vẫn thuận theo, như thể sự đối lập ngày hôm qua đã hoàn toàn trôi theo dòng nước: “Ồ, đúng là thế nhỉ? Ta cũng làm thế này để hòa giải với anh, ở đây không có chỗ cho bà lão như ta phát biểu, cũng nên nhường cho những người trẻ tuổi hơn rồi.”
Cứ thế, chủ đề được chuyển tới Isabella. Nhưng trái với ngoại hình của mình, có vẻ đầu óc của Isabella chưa được chuẩn bị tốt nên bà chỉ ném một câu “Không biết” rồi rút lui.
Tiếp theo, đến lượt Grin phải nói chuyện. Tuy thông qua môi trường ở đây, cậu có cơ hội suy ngẫm về cái chết nhiều hơn so với bạn bè đồng trang lứa, nhưng khi phải nói với mọi người, cậu lại chẳng biết nên bắt đầu từ đâu.
“... Cháu... cháu không biết. Dù cháu thường xuyên nghĩ về ‘cái chết’ nhưng với cháu, đây là vấn đề quá lớn và phức tạp, làm thế nào cũng không thể nắm bắt được, nhưng...?
“Nhưng...?” Smiley nở nụ cười khích lệ Grin.
“Nhưng cháu luôn cảm thấy có gì đó không được thỏa mãn, luôn có điều gì đó bất mãn, và nếu nói điều này xuất phát từ đâu, đó là vì trong cháu có một con người khác. Mọi người có hiểu không ạ? Đó là chuyện rất đau khổ. Dù cố gắng đến đâu, có tiến lên phía trước bao nhiều, cháu vẫn có cảm giác một con người khác của cháu đã đi trước một bước. Đến khi con người khác đó không còn vượt trước cháu, đến khi cháu có thể hoàn toàn trở thành chính mình... có lẽ đó là lúc cháu chết cũng nên....”
“Con người sẽ trở nên vẹn toàn khi chết đi à?” Tiến sĩ Hearst càng lúc càng hứng thú: “Thế mới biết cháu là một dân punk theo chủ nghĩa hiện sinh ấy nhỉ?!”
Smiley cũng lẩm bẩm một mình với ánh mắt xa xăm: “Hèn chi, đây hẳn là suy nghĩ đúng chất tuổi trẻ.” Đến lượt Grin muốn thử lắng nghe câu chuyện của chính ông Smiley: “Ông nội Smiley, ông có suy nghĩ thế nào ạ?”
“Ồ, ta á? Ta cũng suy nghĩ rất nhiều. Những suy ngẫm nhàm chán khi nằm trên giường bệnh toàn là về cái chết hay là sinh mệnh vĩnh cửu thôi. Để ta nói cho mọi người tham khảo xem một người sắp chết sẽ suy nghĩ về điều gì nhé!”
Smiley chậm rãi nhấp một ngụm trà rồi bắt đầu nói: “Nếu cứ nằm yên một chỗ thế này, ta dần hiểu rõ hoạt động của sinh mệnh hay sự thay đổi của bốn mùa bên ngoài cửa sổ. Ví dụ nhé, tuy mùa này không còn xuất hiện nữa, nhưng vào mùa hè sẽ có âm thanh ríu rít của một nhóc giẻ cùi làm khiến ta vui vẻ. Ta sẽ vừa lắng nghe tiếng hót của nó vừa suy tư rằng âm thanh này có lẽ chính là tiếng hót người đứng đầu nhóm thực dân Anh vượt biển đến vùng đất này 300 năm trước từng nghe, hay cũng có thể là tiếng kêu những thợ đá di dân người Ý tới đây nửa thế kỷ trước nghe thấy...”
Lúc này, Tiến sĩ Hearst nghĩ rằng Smiley chỉ đang lặp lại những gì Keats [5] từng viết nhưng ông quyết định sẽ không chỉ trích. Đây không phải lần đầu tiên Smiley bộc lộ tật xấu lặp lại lời người khác như thế.
“... Tóm lại là thế này. Kể cả người Anh 300 năm trước lẫn người Ý nửa thế kỷ trước đều đã chết với tư cách là một ‘cá thể’, nhưng sự sống của các ‘chủng loại’ như loài người hay chim chóc vẫn đang tiếp tục không gián đoạn. Ta nhận ra một ngày nào đó, tâm hồn mình có thể thanh thản bằng cách chuyển hóa cái chết cá thể độc tôn của bản thân thành sự sống trường tồn của nhân loại.”
“Chuyển hóa thành sự trường tồn?” Gin hỏi lại.
“Đúng vậy. Khi nghĩ về sự trường tồn của cuộc sống, con người vẫn có xu hướng bị hạn chế quan điểm trong cái chết cá thể nhỏ hẹp. Như vậy là không được. Trước tiên, chỉ cần thử suy xét bắt đầu từ việc nếu cá thể có thể tồn tại vĩnh hằng. Giả sử cá thể đạt được trạng thái trường tồn sẽ thế nào? Chắc hẳn mặt đất này sẽ tràn ngập những cá thể kiêu ngạo như thế, và kết quả cuối cùng là chủng loại sẽ bị tuyệt chủng. Vì thế, chỉ khi có cái chết của cá thể thì mới tồn tại sự trường tồn của ‘chủng loại’ nhân loại.
Cứ vậy, nếu từ giường bệnh nhìn ra ngoài cửa sổ, ta có thể hiểu được sự biến đổi của bốn mùa. Lúc này đây, ta có thể cảm nhận dường như lá cây phong đường nhuộm màu vàng rực đang rầm rì nói chuyện với những bia mộ màu xám... Đó là câu chuyện về quá trình tái tạo của bốn mùa tuần hoàn, cũng có thể là câu chuyện luân hồi chuyển kiếp. Sự trù phú được lặp đi lặp lại trong bốn mùa có thể hình thành bắt buộc phải thông qua trung gian là cái chết. Đổi cách diễn đạt, cái chết cũng chính là lời hứa hẹn cho tái sinh thịnh vượng.”
Nói đến đây, Smiley ngừng lời rồi nhìn một vòng những người trong gia đình: “Vì thế, một mặt, cái chết của ta là cái chết của cá nhân, nhưng cũng là lời hứa hẹn về sự phồn vinh và vĩnh cửu của gia tộc Barleycorn. Người bố Henry hay ông nội Thomas của ta chắc chắn cũng vừa nghe tiếng chim kêu vừa suy nghĩ những điều này khi nằm trên giường chờ chết... Tiện đây, Isabella, có phải trong bụng cô đã có đứa con của John?”
Ngoài ý muốn bị điểm danh, Isabella thấy bối rối. Bà có khả năng về mặt sinh dục góp phần vào sự phồn vinh của gia tộc, nhưng thật khó để gán cho nó một ý nghĩa triết học nào đó. Dù vậy, Smiley vẫn nói với vẻ rất thỏa mãn: “Hãy cẩn thận nuôi nấng nó giúp ta. Việc đứa trẻ đó sẽ được sinh ra sau khi ta chết chính là một biểu tượng. Vì cái chết của ta sẽ nối liền sự tái sinh và trù phú của gia tộc...”
Khi ông Smiley kết thúc, cả căn phòng im phăng phắc. Trong bầu không khí giác ngộ của người sắp chết, mọi người có mặt đều tỏ ra cảm động sâu sắc, chỉ trừ một người. Kẻ ngớ ngẩn này ngáp một cái rõ to thổi sạch mọi lý luận triết học cao quý, phá hỏng hoàn toàn bầu không khí nơi này. Smiley lên tiếng: “Ồ kia, xin lỗi nhé, Cheshire. Cháu có ý kiến gì không?”
Cheshire mạnh mẽ nhảy từ bậc cửa sổ xuống, đặt cái cốc không lên bàn và nói: “Làm phiền mọi người nhé! Bởi cháu có một chuyện rất lớn muốn nói.”
Grin cảm thấy Cheshire có lẽ sẽ ổn hơn mẹ cô một chút.
“Vậy cháu cũng sẽ nói với mọi người về thọ mệnh của con người nhé. Đây là điều cháu nghe được từ một bà lão ở Burgundy khi còn bé.”
Cheshire đứng thẳng bất động, bày ra bộ dáng “người kể chuyện” rồi bắt đầu nói tiếp: “Ngày xửa ngày xưa, khi Chúa quyết định thọ mệnh của sinh vật sống, Chúa nói với con lừa - kẻ đầu tiên đến trình diện rằng sẽ cho nó 30 năm thọ mệnh. Nhưng, con lừa nói nó không muốn sống 30 năm cuộc đời phải thồ hàng nặng trên lưng. Vì vậy, Chúa quyết định chỉ ban cho con lừa 18 năm thọ mệnh.
Tiếp theo, con chó bước tới. Chúa cũng nói điều tương tự. Con chó cũng nói 30 năm là quá dài, nó không muốn khi già, không còn răng, chỉ có thể nằm một chỗ trong góc rên rỉ. Vì thế, Chúa quyết định chỉ ban cho nó 12 năm thọ mệnh.
Đến lượt con khỉ, nó cũng nói không cần đến 30 năm. Khỉ nói, cuộc sống phải diễn những trò hề kỳ lạ rồi bị con người cười nhạo không cần lâu đến vậy. Vì thế, Chúa quyết định chỉ ban cho khỉ 10 năm thọ mệnh.
Cuối cùng, con người đến. Khi Chúa nói điều tương tự, con người nói: ‘Ngắn ngủi quá!’ Con người cho rằng thật không đáng khi mất 30 năm cố gắng xây nhà rồi sau đó phải kết thúc. Vì vậy, Chúa tặng cho con người 18 năm thọ mệnh của lừa. Dẫu vậy, con người vẫn nói không đủ. Tiếp theo là 12 năm thọ mệnh của chó. Nhưng vẫn không đủ. Vì thế, Chúa cũng tặng 10 năm thọ mệnh của khỉ cho con người.
Và như thế, con người có thể sống 70 năm. Nhưng thọ mệnh thực sự của con người chỉ có 30 năm. Khi quá thời gian này, con người mang gánh nặng thồ hàng trong 18 năm của lừa, không có răng và rên rỉ trong 12 năm của chó, và trong 10 năm cuối cùng của khỉ, con người trở nên đần độn, làm những điều ngu ngốc và bị lũ trẻ cười nhạo...”
Smiley ngay lập tức hỏi: “Vậy bài học cháu rút ra từ câu chuyện đó là gì?”
Cheshire đắc ý nói: “Chuyện rõ ràng thế còn gì... Cháu sẽ trải qua và tận hưởng 30 năm đầu này thật thong dong và cố sao cho không nhàm chán.”
Một tràng cười vang lên bao trùm căn phòng. Bữa tiệc trà điên cuồng được bắt đầu từ sự ngoan cố của ông Smiley đã đến lúc kết thúc.
Trong khi mọi người lục tục rời khỏi, chỉ có mình John nói có chuyện muốn bàn với ông Smiley nên ở lại. Vào lúc Grin là người cuối cùng định rời khỏi phòng, cậu bị ông Smiley gọi lại: “Cháu có thể cầm đi giúp ta đống sô-cô-la này không? Dù ta có thể tự mình giải quyết chúng nhưng cơ thể ta không thể hấp thu những thứ này nữa. Cheshire nói là béo lên nên không muốn nhận. Cháu có thể mang về phòng mình ăn.”
Grin nhận lấy hộp sô-cô-la không ai đụng vào, thậm chí nó còn chưa được bóc lớp giấy bóng kính.
Khi quay về phòng riêng, cậu ăn hai viên trong đó.
... Sau đó, Grin chết.
Nữ diễn viên, vũ công và ca sĩ người Mỹ.
Tất cả hiện tượng thế gian đều biến hóa vô thường, không có vĩnh hằng bất biến.
Giám mục của Geneva, được tôn kính như một vị thánh trong Giáo hội Công giáo.
Nàng Pandora được thần Zeus dặn kỹ rằng không được mở chiếc hộp đó ra. Nhưng vì tò mò, Pandora đã mở chiếc hộp ra, khiến những điều bất hạnh trong chiếc hộp tràn khắp thế gian: thiên tai, bệnh tật, chiến tranh... Theo như nhiều phiên bản của truyền thuyết, chiếc hộp chỉ còn sót lại một điều là “hy vọng” để loài người có thể tiếp tục sống.
John Keats: nhà thơ Anh, đại diện tiêu biểu của trường phái lãng mạn Anh Thế kỷ XIX.