“Grin, hôm qua ta đã bảo rằng cháu đã bị tuyên bố là chết lâm sàng rồi nhé!”
Tiến sĩ Hearst bắt đầu câu chuyện với trạng thái như thể bạn bị viêm amidan nhưng vẫn phải lên tiếng. Sau khi “vở kịch” tuyên bố di ngôn của Smiley hạ màn đầy khó coi, Grin quyết định hỏi về giả thiết mà tiến sĩ đề cập hôm qua tại phòng của ông trong biệt thự Barleycorn. Ông tiến sĩ già tiếp tục nói liến thoắng không chút e ngại: “Các dấu hiệu sống quan trọng trong cơ thể cháu đã biến mất. Cơ năng của hệ thống thần kinh trung ương bị đình chỉ, tim cũng ngừng đập. Tất nhiên, tuần hoàn máu cũng chẳng còn. Theo đó, vận động cơ bắp cần oxy, tiêu hóa, phát nhiệt chắc chắn cũng không thể. Ấy vậy mà, trước mặt ta, cháu vẫn đang tư duy, hoạt động chân tay, nói chuyện. Cháu thấy sao về sự mâu thuẫn lớn này? Cái này chỉ có thể do nhân cách của cháu vẫn tiếp tục tồn tại sau cái chết lâm sàng.”
“Nhân cách tiếp tục tồn tại?”
“Đúng vậy. Đó là thứ cháu dùng để bản thân hoạt động, nó vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi cơ thể vật lý đã chết. Người ta cho rằng nhân cách vốn dĩ bắt nguồn từ cơ sở sinh học. Nhưng ta lại nghĩ nếu thử suy nghĩ tách biệt sự tồn tại mang tính trừu tượng này với cơ thể vật lý thì sẽ thế nào nhỉ?! Tiện đây, Grin, cảm giác của cháu hiện tại có gì khác so với lúc còn sống không?”
“Cháu có thể, chẳng hạn tư duy mọi thứ giống khi còn sống, nhưng có gì đó, những hoạt động này... có cảm giác cách biệt kỳ dị, như thể đang xem một bộ phim hay đang trong mơ vậy...”
“Ồ, giấc mơ à...” Khuôn mặt Tiến sĩ Hearst sáng lên: “Thật thú vị. Từ xưa người ta vẫn nói ngủ và chết là anh em đấy... Do kết quả của việc chết lâm sàng, hiện tại, chắc cháu đang trong trạng thái những kích thích từ thế giới bên ngoài tác động lên các giác quan không truyền được đến não bộ. Tương tự, khi rơi vào ý thức trong giấc mơ, chúng ta không cần bổ sung kích thích thu được thông qua các giác quan mà có thể duy trì những trải nghiệm tồn tại nhất quán bên trong mình...”
“Khoan... Khoan đã, điều đó nghĩa là gì ạ?” Grin bối rối.
“Nghĩa là, ngay cả khi cơ thể chúng ta không thực sự trải qua trong thực tế nhưng trong mơ, chúng ta vẫn biết được màu sắc, âm thanh, cảm giác, nhiệt độ, mùi, vị, đau đớn... Chúng ta cũng sử dụng tay chân, cầm nắm mọi vật, chạy nhảy... như khi đang thức. Trong mơ, chúng ta có cảm giác cực kỳ chân thực và có thể thực hiện mọi hành động như âu yếm hay giết chóc...”
“Giết chóc..”
“Đúng.” Tiến sĩ Hearst mặt không biến sắc gật đầu: “Hơn nữa, trong mơ, chúng ta còn có thể tạo ra người lạ nào đó và tiến hành cuộc trò chuyện trí tuệ đỉnh cao với họ. Đôi khi ta còn có thể phát huy sức mạnh vượt xa năng lực thực tế.”
“Vậy giờ mình đang đang nằm mơ đấy ư?” Grin thấy đầu óc rối tung cả lên và ngốc nghếch tự hỏi.
“Không, không phải thế.”
Tiến sĩ Hearst đột nhiên vỗ má mình: “Ta vừa nói ngay cả trong mơ cũng có đau đớn, nhưng hãy bỏ qua nỗi đau ở cái má của ta và coi đây chính là hiện thực. Nếu không làm vậy, câu chuyện không thể tiếp tục được.”
Ngài tiến sĩ cười khoái trá một lúc lâu: “Xin lỗi, xin lỗi, ta làm cháu loạn rồi... Nhưng ta muốn nói là, vì có những trải nghiệm giấc mơ như vậy nên có thể cho rằng nhân cách độc lập với cơ thể không. Nếu có thể chứng minh điều này... không đúng, nếu cháu có thể trở thành bằng chứng... chúng ta có thể tin tưởng rằng, kể cả sau khi chết lâm sàng, nhân cách của con người thoát ly khỏi cơ thể vật lý vẫn có thể tồn tại lâu dài.”
“Nhưng...”
“Chuyện gì thế? Có phải cháu chẳng thể tự mình nắm bắt trạng thái của bản thân không? Chà, nếu đứng ở vị trí của một nhà sinh vật học nghiêm túc, vẫn còn vấn đề khó khăn với ta. Nhân cách tiếp tục tồn tại đó điều khiển cơ thể đã chết bằng cách nào? Nếu không có sức mạnh của lĩnh vực siêu tâm lý học chưa được chứng minh thì không thể giải thích được.”
“Siêu tâm lý học?”
“À, đó là sức mạnh siêu linh, một loại sức mạnh tinh thần siêu việt. Chuyện tay chân có thể cử động mà không cần sự cung cấp oxy trong máu, hay tai có thể nghe thấy dù các giác quan đã chết, ngoài việc coi đó là sản phẩm của sức mạnh của niệm lực hay thần giao cách cảm thì chẳng còn cách nào khác.”
“Nhưng nếu coi đây là sức mạnh của tinh thần, vậy căn nguyên của tất cả mọi chuyện đều do bộ não của cháu, nhưng nó đã chết nên chẳng phải câu chuyện này rất mâu thuẫn sao?”
“Ừm, xác thực là thế. Vì vậy, ta mới suy nghĩ theo hướng sức mạnh siêu linh liệu có tách biệt hẳn với sinh lý cơ thể không. Nếu dự định chuyển động đôi chân của mình bằng sức mạnh tinh thần phụ thuộc vào sinh lý cơ thể, cháu sẽ phải làm một loạt các nhiệm vụ có vẻ bất khả thi như: đầu tiên, phải hình dùng toàn bộ các hạt năng lượng cơ bản cấu thành nên chân cháu; sau đó, hiểu và vận dụng thành công trạng thái cân bằng của trọng lực và quán tính liên kết chân với sàn. Điều này khá khó khăn với khả năng của thần kinh trung ương con người. Theo đó, thứ hình thành nên siêu năng lực sẽ trở thành thứ không bắt nguồn từ bản thể bộ não. Như một học giả vĩ đại người Nhật từng nói, khi đó, não người chỉ làm chức năng đơn giản như một trạm chuyển tiếp cuộc gọi, không hơn. Vì thế, dù là nhân cách như chúng ta vừa nói hay là sức mạnh siêu linh, giả định về một hệ thống thứ hai tách biệt với cơ thể vật lý có thể tạo ra và duy trì những điều đó chắc chắn sẽ được suy xét ở đây.”
“Hệ thống thứ hai là?”
“Ừ, mà chờ đã. Trước đó, cháu bảo đã nhìn thấy ánh sáng vào khoảnh khắc tử vong nhỉ?”
Grin nhớ lại điều đó và gật đầu. Ở thế giới của cái chết quả thật ngập tràn ánh sáng.
“Đây cũng là một câu chuyện rất thú vị. Cháu có biết cơ quan gọi là tuyến tùng không?”
“Tuyến tùng? Cháu từng đọc nó trong một cuốn sách nào đó từ rất lâu rồi, nó có phải là cơ quan thoái hóa trung ương não không ấy nhỉ?”
“Không, nó không phải là cơ quan thoái hóa. Từ lâu, người ta đã phát hiện tuyến tùng là mô tuyến tiết ra một loại hormone gọi là melatonin. Tùy vào sự phát triển của đại não, vị trí của bộ phận này có thể được giấu nửa chừng trong một khe sâu của não trước, nhưng nếu da của chúng ta trở nên trong suốt, nó chắc sẽ hiện ra ở gần khu vực này.”
Tiến sĩ Hearst chỉ tay quanh trán mình: “Nói ngắn gọn thì nó là con mắt thứ ba.”
“Con mắt thứ ba...”
“Ừm, trong thế giới Hindu, nó được coi là con mắt của sự giác ngộ. Trong cháu chảy một nửa dòng máu phương Đông nên chắc sẽ hiểu nhỉ? Từ xưa để giác ngộ, người ta cần con mắt cảm nhận được ánh sáng. Việc tiến hành mặc tưởng của những người tập yoga chính là cảm nhận sự tỏa sáng thần kỳ, hay cơ duyên khiến sứ đồ Paul - tín đồ giáo phái Phari nghiêm cẩn cải đạo sang Cơ đốc giáo khi được ‘ánh sáng’ là Chúa Jesus chiếu rọi ở Damascus. Bởi những nguyên do này nên người ta cho rằng, về mặt tiến hóa, vì tuyến tùng khởi nguồn trong mắt nên liệu nó có phải là bộ phận khống chế khả năng giác ngộ thông qua cảm nhận thứ ánh sáng thần bí đó không. Hơn nữa, từ hiện tượng siêu việt của thần kinh sau khi ly khai cơ thể chứng tỏ nó cũng là nguyên nhân hình thành sức mạnh siêu linh.”
Trước tiến triển không ngờ của câu chuyện, Grin có vẻ sững sờ.
“Thế còn... Xin lỗi vì ta hỏi nhiều nhưng, cháu có vẻ đã nhiễm kha khá thói quen xấu hút ma túy ở London. Cháu từng có kinh nghiệm chơi... axit... ờm, LSD [2] chưa?”
Grin miễn cưỡng gật đầu. Cậu bỗng thấy hổ thẹn khi nghĩ, kể cả sau khi đã chết, cậu vẫn không bỏ những thói xấu này.
“Ồ, quả là thế. Hormone melatonin của tuyến tùng mà ta vừa nói được tạo ra từ vật chất gọi là serotonin. Serotonin này lại được tìm thấy ở những nơi rất thú vị như ở quả sung ngọt dại. Đó là lý do tại sao nó là cây đa bồ đề được nhiều chủng tộc ở Châu Phi coi là linh thiêng, hay trở thành cây bồ đề mà Đức Phật ở Ấn Độ thực hiện vấn đáp giác ngộ dưới tán lá của nó. Và một điều nữa, thứ rất giống phân tử serotonin này cũng có thể tìm thấy trong một chất đáng sợ do con người tổng hợp ra...”
“Đó là LSD...”
“Đúng vậy. Những người dùng loại ma túy mạnh này nhìn và cảm nhận được ánh sáng cường độ cao cùng với nhiều thứ khác trong ảo giác mà không cần kích thích đồng thời của cơ quan cảm giác. Đây có vẻ là hiện tượng xảy ra do LSD khiến nồng độ serotonin của tuyến tùng bị biến đổi...”
Không thể chịu đựng được, Grin lên tiếng phản đối: “Khoan đã. Từ nãy đến giờ, ông chỉ toàn nói những điều khó hiểu như tuyến tùng hay sức mạnh ngoại cảm, nếu nhờ LSD mà cháu có được sức mạnh ngoại cảm, vậy bộ não của cháu giờ hẳn đã chết đúng không? Chà, vậy chẳng phải tuyến tùng cũng tiêu luôn giống bộ não nên sẽ không thể phát huy được sức mạnh đó sao?”
Nhưng Tiến sĩ Hearst không hề bị dao động: “Cháu ấy à, cháu chết rồi nên không cần cuống cuồng lên thế đâu.”
“Ông đừng nói kiểu ấy nữa.” Grin càng lúc càng khó chịu.
“Nói chung, theo giả thuyết của ta...”
“Cháu muốn sớm nghe cái gọi là giả thuyết đó.”
“Hừm, điều ta muốn nói, tóm lại là, có tồn tại một hệ thống thứ hai tách biệt với cơ thể vật chất. Những thứ ta đã đề cập, dù là nhân cách, sức mạnh ngoại cảm hay là sự khai sáng giác ngộ, phải chăng đều thuộc về hệ thống thứ hai trừu tượng đó. Tuyến tùng chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của hệ thống thứ hai này hay là ranh giới ngăn cách cơ thể vật chất trong hiện thực và hệ thống thứ hai tồn tại ở một chiều không gian khác nên nó chẳng liên quan tới việc tuyến tùng đã chết? Chỉ cần hệ thống thứ hai đó còn tồn tại, người đã chết lâm sàng vẫn có thể thức dậy, suy nghĩ và hành động.”
Grin nhìn chằm chằm khuôn mặt Tiến sĩ Hearst. Trong khoảnh khắc, cậu chợt nảy ra ý nghĩ liệu vị học giả già này có bị điên không. Thế nhưng, còn hơn cả việc không thể tin nổi câu chuyện của ông tiến sĩ, có lẽ cậu càng không thể tin bản thân đã chết nhưng đang tư duy và cử động theo cách đó. Grin ôm đầu.
Tiền sĩ Hearst vẫn tiếp tục hăng hái phát biểu bất chấp tình trạng của Grin: “Câu chuyện trải nghiệm cận kề cái chết của cháu có gì đó rất giống với quá trình sinh nở đảo ngược. Thế giới giấc ngủ mơ màng của cái chết tương tự quang cảnh thai nhi ngủ trong tử cung của người mẹ, đường hầm tối và hẹp dẫn tới nơi đó giống sản đạo.”
Grin ngơ ngác gật đầu: “Vâng, và quá trình sống lại lần nữa cũng giống khoảnh khắc đứa bé thông qua sản đạo đó để tiến vào thế giới này. Cháu nhớ rất rõ cảm giác ánh sáng mãnh liệt từ thế giới bên ngoài lúc ấy...”
“Ồ, ánh sáng! “ Đôi mắt vị tiến sĩ già sáng lấp lánh đầy hào hứng: “Đúng, ánh sáng của sự giác ngộ, ánh sáng của sự cải biến tâm tính, ánh sáng đặc biệt được cảm nhận bởi tuyến tùng - con mắt thứ ba... Thật thú vị phải không? Hai quá trình, sinh và tử, đều ngập tràn ngập tràn ánh sáng.” Đến đây, tiến sĩ gật đầu liên tục như một kẻ điên: “Sau đó tới trạng thái phân cách giữa cảm giác ở hiện tại mà như đang mơ của cháu khi trở thành xác sống, với sự tự lập nhân cách kỳ lạ tách rời cơ thể vật chất trong giấc mơ bình thường... Nếu đặt những thứ này cạnh nhau để tư duy liệu có thu được đột phá gì mới không nhỉ?”
Grin bối rối không thể trả lời ngay.
“Ta nghĩ, điểm đặc biệt giống nhau về quang cảnh như mơ tràn ngập ánh sáng giữa quá trình sinh và tử là vì thực tế cả hai đều là nguyên nhân kích hoạt cho một điều gì đó xảy ra.
“Nguyên nhân kích hoạt? Kích hoạt gì ạ?”
“Đó là nguyên nhân kích hoạt sự hợp nhất và phân ly của hệ thống thứ nhất, hay chính là cơ thể vật chất, với hệ thống thứ hai. Trong khi sinh nở kích hoạt sự hợp nhất thì tử vong kích hoạt sự phân ly giữa hệ thống thứ nhất và thứ hai... Cứ như vậy, ta có thể giải thích, sự tự lập của nhân cách kỳ lạ tách rời cơ thể vật chất khi trải nghiệm mơ trong lúc ngủ mỗi đêm của con người chính là một loại quy mô nhỏ của nguyên nhân kích hoạt sự phân ly giữa hệ thống thứ nhất và hệ thống thứ hai.”
“Như thế...” Grin suy sụp trong giây lát: “... giấc ngủ, việc con người nằm mơ, chính là đang luyện tập cái chết nhỏ?”
“Đúng vậy. Như người Hy Lạp thường nói, chính xác là ‘ngủ và chết là anh em’.”
“Bây giờ, cháu đã trở thành xác sống, vậy trạng thái cháu đang trải qua, cảm giác tách biệt với hiện thực như thể đang nằm mơ do hệ thống thứ hai vẫn tồn tại và điều khiển các động tác và hoạt động, kể cả sau khi nó tách rời khỏi thi thể?”
“Chỉ có thể nghĩ như vậy. Hơn nữa, trong trường hợp giấc mơ bình thường, có lẽ cơ thể đang ở trạng thái phong bế hệ thống thứ hai, nhưng trường hợp là một xác sống lại ở trạng thái ngược lại... Tóm lại, liệu có phải hệ thống thứ hai xuất hiện bên ngoài cơ thể vật chất đã chết và bao ngược lại cơ thể chăng? Ừm, vẫn còn tồn tại vấn đề là liệu giải thích những hiện tượng này bằng hình ảnh vật lý có phù hợp không. Tuy nhiên...”
Đến đây, Tiến sĩ Hearst lần đầu tiên cau mày: “Ta vẫn không hiểu tại sao cháu lại trở nên thế này. Nhưng hình như có liên quan gì đó đến ánh sáng. Bởi quá trình sinh nở và tử vong dường như đi kèm với sự tồn tại của luồng ánh sáng thần bí. Dù bản thân cháu sẵn có hay nhờ vào LSD nhưng nói chung, dường như cháu có khả năng cảm nhận được luồng ánh sáng thần bí đó. Vì thế, cháu đã thấy rõ quang cảnh khi cận kề cái chết, sau đó trở thành một xác sống như thế này và kể về trải nghiệm đó của mình...”
Vừa nghe Tiến sĩ Hearst giải thích, Grin nghĩ đã đến lúc nên hỏi về cốt lõi của vấn đề: “Chính xác thì ‘hệ thống thứ hai’ ông nói là gì ạ?”
“Từ xa xưa, các bậc vĩ nhân đã gọi nó bằng nhiều cách khác nhau. Có sự khác biệt nếu giải nghĩa chính xác từng cách gọi, nhưng ta nghĩ chúng ta có thể thay thế chúng bằng từ ngữ khác, ví dụ linh hồn chẳng hạn.”
“Linh hồn...”
“Đúng. Linh hồn theo cách nói của Socrates [3] , là tinh thần theo Kinh Thánh Tân Ước , còn các nhà khoa học thiếu tự tin có thể miễn cưỡng gọi nó là nguyên lý của sự sống. Đúng, đúng, Descartes [4] đã coi tuyến tùng là nơi cư ngụ của linh hồn. Chà, có rất nhiều tên gọi khác nhau nhưng nếu cháu có ước nguyện...”
“Ước nguyện?”
“Cháu có thể gọi nó là lãnh địa của Chúa.”
Đêm đó, Grin biết kể cả cậu có dùng ngón tay ấn lên vết hoen tử thi trên chân thì sự phai màu vẫn giảm. Sự mục nát bắt đầu từ máu. Nếu là mùa đông, hiện tượng này sẽ bắt đầu từ ngày thứ ba sau khi chết, máu thối rữa sẫm màu lấp đầy các mạch máu, toàn thân sẽ xuất hiện một mạng lưới hư thối bị sưng huyết thành hình cái cây với những cành trơ trụi.
Grin, người đã hỗ trợ công việc tang lễ, biết rõ điều đó. Dù có vẻ linh hồn vẫn sống, dù có vẻ tồn tại một thứ nhờ Chúa điều khiển nên bản thân vẫn có thể cử động, nhưng việc chứng kiến tình trạng mục nát của cơ thể mình quả là một trải nghiệm đau đớn. Nhưng cho đến khi tìm ra chân tướng cái chết của mình, cậu không thể để nó dễ dàng thối rữa toàn bộ được.
Một cái xác thối rữa và tàn bạo... Trước khi dấu hiệu tử vong rõ ràng hơn, cậu phải tìm ra thủ phạm khiến mình phải chịu cảnh này.
Không mất nhiều thời gian để quyết dịnh, Grin đã nhờ Tiến sĩ Hearst một chuyện.
Cậu quyết định rút máu từ cơ thể và rót chất bảo quản vào.
Khoảng 73m.
Một hoạt chất gây ảo giác, có tác động xấu với sức khỏe.
Triết gia người Hy Lạp cổ đại, được coi là một trong những người đã sáng tạo nền triết học phương Tây.
Triết gia, nhà khoa học, nhà toán học người Pháp, được một số người xem là cha đẻ của triết học hiện đại.