Joyce mở phong bì và lấy ra một lá thư viết tay. Có ba hoặc bốn trang. Bà rất biết ơn vì bạn bè đã đến căn hộ của mình. Hôm nay bà không muốn ra ngoài nữa.
“Vậy, tôi sẽ đọc nó. Không phải tất cả, mà là những điều cần quan tâm. Nó giúp giải đáp một số câu hỏi của chúng ta. Tôi biết một vài người chúng ta đã nghĩ này kia về ông ấy. Có lẽ ông ấy, mọi người biết đấy… với Ian Ventham. Dẫu vậy…”
“Bà cứ từ từ,” Ron nói và đặt tay lên tay Joyce trong giây lát.
Joyce bắt đầu đọc, với một vẻ nao núng lạ thường.
Joyce thân mến, tôi xin lỗi vì sự phiền toái này. Đừng cố vào nhà, tôi đã chốt cửa rồi. Đó là lần đầu tiên tôi chốt cửa kể từ khi chuyển đến đây. Bà sẽ biết những gì tôi đã làm, và tôi cho rằng đó vẫn là điều bà đã từng thấy cả nghìn lần trước đây. Tôi sẽ nằm trên giường, mọi thứ đều tốt đẹp, và có lẽ tôi sẽ trông thật thanh thản, nhưng có lẽ tôi sẽ không được như vậy. Tôi không muốn liều, vì vậy tôi sẽ phó mặc cho mấy anh nhân viên cứu thương quyết định xem tôi có trong trạng thái phù hợp để bà nói lời tạm biệt hay không. Đó là nếu như bà muốn nói lời tạm biệt.
Joyce ngừng đọc một lúc. Elizabeth, Ron và Ibrahim hoàn toàn im lặng. Bà ấy ngước nhìn họ. “Cuối cùng thì người ta cũng không cho tôi gặp ông ấy. Tôi chắc chắn đó là chính sách, khi ta không phải thành viên gia đình. Vậy là, ông ấy đã nhầm một chút, phải không? Và cả hai nhân viên cứu thương đều là nữ.”
Joyce nở một nụ cười yếu ớt và ba người bạn của bà ấy cũng làm điều tương tự. Bà ấy tiếp tục đọc.
Tôi có những viên thuốc ở ngay bên cạnh và có một chai rượu Laphroaig mà tôi để dành cho một ngày mưa. Tôi thấy đèn đang tắt dần xung quanh mình và tiếp theo sẽ đến lượt tôi. Cạnh giường là những bông hoa xinh đẹp bà mua tặng tôi. Hoa ở trong bình sữa, bởi bà biết tôi sẽ gây chuyện gì với bình hoa mà. Nhưng trước khi ra đi, tôi nghĩ rằng tôi nên nói với bà toàn bộ sự việc.
“Toàn bộ sự việc?” Elizabeth hỏi.
Joyce đặt một ngón tay lên môi. Elizabeth làm theo đề nghị của bà ấy và Joyce tiếp tục đọc bức thư cuối cùng của Bernard.
Như bà đã biết, Asima (đó là vợ của ông ấy) qua đời ngay sau khi chúng tôi chuyển đến Coopers Chase, khiến mọi thứ không như dự định. Tôi biết bà không kể nhiều về Gerry, Joyce ạ, nhưng tôi biết là bà hiểu. Giống như ai đó thò tay vào, lấy tim và phổi của tôi ra, rồi bảo tôi hãy tiếp tục sống. Tiếp tục thức dậy, tiếp tục ăn, tiếp tục đặt chân này lên trước chân kia. Để làm gì? Tôi không nghĩ rằng tôi có thể thực sự tìm ra câu trả lời. Bà biết đấy, tôi thường đi bộ lên đồi và ngồi trên chiếc ghế dài mà Asima và tôi từng ngồi khi chúng tôi mới chuyển đến đây, và bà biết tôi cảm thấy gần gũi với bà ấy khi ở đó. Nhưng tôi có một lý do khác để leo lên ngọn đồi, một lý do khiến tôi cảm thấy xấu hổ vô cùng. Một sự xấu hổ đã trở nên quá sức chịu đựng của tôi.
Joyce dừng lại một chút. “Tôi tự hỏi liệu tôi có thể uống một ít nước không?”
Ron rót cho bà một ly và đưa qua. Joyce uống, sau đó quay lại với bức thư.
Bà biết rằng nhiều người theo đạo Hindu sẽ rải tro của mình trên sông Hằng. Ngày nay, chọn những con sông khác cũng được, nhưng đối với một thế hệ nhất định, vẫn phải là sông Hằng, nếu có đủ khả năng chi trả. Đây là điều ước của Asima từ nhiều năm trước, chắc chắn là điều ước mà con gái Sufi của chúng tôi đã được nghe suốt quãng thời gian nó trưởng thành. Đám tang của Asima không phải là điều tôi muốn nghĩ đến hay viết về, nhưng hai ngày sau, Sufi và Majid—đó là con gái và con rể tôi—bay đến Varanasi ở Ấn Độ và rải tro của Asima trên sông Hằng. Nhưng Joyce—tôi e rằng đây là thời điểm mà những viên thuốc và rượu whisky phát huy tác dụng đây—đó không phải là tro của bà ấy.
Bà dừng lại và nhìn lên.
“Ôi. Chúa ơi!” Ibrahim cảm thán, và rướn người về phía trước khi Joyce đọc tiếp.
Tôi không phải là một người sùng đạo, Joyce, như bà vẫn biết. Nhưng trong những năm cuối đời, Asima cũng không còn là một phụ nữ sùng đạo. Bà ấy từ từ rũ bỏ đức tin của mình, giống như những chiếc lá rụng khỏi cây, cho đến khi không còn lại gì. Tôi yêu người phụ nữ đó với tất cả những gì tôi có và bà ấy cũng yêu tôi. Nghĩ về việc bà ấy rời đi, được đặt trong hành lý xách tay, Joyce à, và sau đó trôi xa khỏi tôi. Chà, đó không phải là điều mà tôi có thể chấp nhận được chỉ mới hai ngày sau khi nói lời vĩnh biệt. Không gì có thể bào chữa cho hành động của tôi, nhưng tôi hy vọng những điều trên đây có thể giải thích phần nào. Tôi đã để tro ở nhà, trong đêm đầu tiên. Sufi và Majid không ở trong phòng dành cho khách, chúng thích ở khách sạn hơn, kể cả trong hoàn cảnh này.
Nhiều năm trước, Asima và tôi từng đi ngang qua một cửa hàng đồ cổ cũ kỹ và bà ấy cầm lên một hộp trà có hình con hổ. “Chà, đó là em,” tôi nói, và cả hai chúng tôi đều cười. Tôi gọi bà ấy là Hổ Nhỏ và bà ấy gọi tôi là Hổ Lớn. Tôi quay lại một tuần sau để mua nó cho bà ấy, như một món quà Giáng sinh bất ngờ, nhưng nó đã bị bán rồi. Dù sao thì, Giáng sinh năm đó, khi tôi mở món quà bà ấy tặng tôi, cái hộp đã ở đó. Rõ ràng là bà ấy đã quay lại và mua nó cho tôi. Tôi đã giữ nó từ lúc ấy đến giờ. Thế là, tôi cầm lấy cái bình đựng tro cốt và đổ tro vào hộp đựng trà con hổ, sau đó đặt cái hộp trở lại tủ. Tôi đổ đầy hỗn hợp mùn cưa và bột xương vào bình tro, trông thuyết phục đến đáng ngạc nhiên, sau đó đậy nắp lại. Và đó là những gì Sufi mang đến Varanasi, là những gì con bé rải trên sông Hằng. Hãy nhớ rằng tôi đã không suy nghĩ tỉnh táo, Joyce, tôi đang tê liệt vì đau buồn. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì để ngăn Asima của tôi rời xa. Tất nhiên, tôi đã quên rằng bà ấy cũng là Asima của Sufi. Ngày hôm sau, ngay khi trời đủ tối, tôi lấy một cái xẻng từ kho chung và đi bộ lên đồi. Tôi cắt đám cỏ bên dưới băng ghế, đào một cái hố và chôn chiếc hộp thiếc. Ngay cả khi đó, tôi đã biết điều này chỉ có thể mang tính tạm thời, nhưng tôi vẫn chưa sẵn sàng rời xa bà ấy. Cỏ mọc trở lại, không ai nhận ra điều gì—vì sao họ phải để ý cơ chứ?—và hằng ngày, tôi sẽ đến và ngồi trên băng ghế, chào hỏi khi mọi người đi ngang qua và nói chuyện với Asima khi không có ai. Tôi biết làm thế là sai, tôi biết rằng tôi đã phản bội con gái mình và tôi không bao giờ có thể sửa sai. Nhưng nỗi đau thật quá lớn.
Ibrahim nói: “Một số người yêu con cái hơn yêu người bạn đời của mình, và một số người yêu bạn đời hơn yêu con cái. Và không ai thừa nhận bất cứ điều nào.”
Joyce gật đầu, lơ đãng và bắt đầu một trang mới.
Cơn đau tức thì sẽ qua đi, cho dù ta muốn nó kéo dài, và tôi nhanh chóng hiểu ra sự tày đình của những gì tôi đã làm. Sự ích kỷ khủng khiếp, sự tư lợi của bản thân. Tôi bắt đầu nghĩ ra những kế hoạch và âm mưu, một thứ gì đó để sửa chữa mọi việc. Có lẽ tôi sẽ đào hộp trà lên, mang nó lên xe bus tới Fairhaven, để một phần của bà trôi đi và giữ lại một phần của bà ấy bên mình. Tôi không bao giờ có thể kể với Sufi những gì tôi đã làm, nhưng ít nhất mẹ của con bé sẽ trôi theo những con sóng, quay trở lại bất cứ nơi nào Sufi tưởng tượng rằng chúng ta sẽ trở lại. Tôi biết như vậy là chưa đủ, nhưng đó là điều tốt nhất tôi có thể làm. Cho đến một buổi sáng nọ, tôi leo lên đồi và nhìn thấy những người thợ đang trải nền bê tông cho chiếc ghế dài. Họ đã đào xuống, không đủ sâu để tìm thấy chiếc hộp thiếc, và lấp đầy hố bằng xi măng. Họ hoàn thành công việc trong nửa giờ. Và tôi cho là, chẳng còn cách nào để đào được hộp trà lên một cách dễ dàng nữa. Vì vậy, tôi lại tiếp tục đi bộ lên đồi và tiếp tục nói chuyện với Asima khi không có ai lắng nghe, kể cho bà ấy những chuyện gần đây của tôi, nói với bà ấy rằng tôi yêu bà ấy nhiều như thế nào và rằng tôi xin lỗi. Và thực lòng, Joyce ạ, chỉ nói với riêng bà thôi nhé, tôi nhận ra mình đã cạn kiệt những gì chúng ta cần có để tiếp tục sống. Tôi là người như thế đấy, tôi e là vậy.
Joyce, đã nói xong, nhìn chằm chằm vào lá thu một lúc nữa, lướt một ngón tay qua vết mực. Bà ấy ngước lên bạn bè của mình và cố gắng nở một nụ cười, rồi ngay lập tức, bà rơi nước mắt. Những giọt nước mắt chuyển sang những tiếng nức nở run rẩy và Ron rời khỏi ghế, quỳ xuống trước mặt và ôm bà vào lòng. Điều mà Ron rất giỏi. Joyce gục đầu vào vai Ron và vòng tay ôm ông, khóc cho Gerry và cho Bernard, cho Asima và cho những người phụ nữ đã đi xem Jersey Boys và uống cạn lon rượu gin tonic trên đường về nhà.