Cầu Thang Gào Thét

Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN 1 - HỒN MA
CHƯƠNG 1

Tôi sẽ không nói nhiều về những vụ ma ám đầu tiên tôi điều tra cùng Lockwood & Đồng sự, một phần để bảo vệ danh tính các nạn nhân, một phần bởi tính chất kinh hoàng của các sự kiện, nhưng chủ yếu là bởi vì, theo nhiều cách tài tình khác nhau, chúng tôi toàn làm rối bung mọi chuyện lên. Thế đó, tôi vừa thú nhận vói các bạn rồi đấy! Trong số những vụ đầu tiên đó, chẳng vụ nào kết thúc được gọn gàng như chúng tôi mong muốn. Đúng vậy, Nỗi kinh hoàng Mortlake đã bị đẩy lùi, nhưng chỉ ra được tới công viên Richmond, và thậm chí bây giờ nó vẫn hằng đêm lén lút len giữa những hàng cây lặng lẽ ở đó. Đúng vậy, cả Ma xám Aldgate và thứ được gọi là Xương Lóc Cóc đều đã bị phá hủy, nhưng chỉ sau khi, vài người nữa đã phải bỏ mạng (mà lúc này tôi nghĩ là không cần thiết). Còn đối với cái bóng đáng sợ đã ám ảnh quý cô trẻ tuổi Andrews, đe dọa cả sự thanh bình trong tâm hồn cô và gấu váy của cô, thật tội nghiệp, bởi bất cứ nơi nào cô đến trên thế giới này, nó sẽ theo sau cô. Bởi thế không hẳn là chúng tôi, tức Lockwood và tôi, đã mang theo một bản lý lịch công việc hoàn hảo, không tì vết khi chúng tôi bước tới số 62 đường Sheen trong buổi chiều mùa thu sương mù đó và dứt khoát giật chuông cửa.

Chúng tôi đứng trên bậc thềm, quay lưng lại với tiếng xe cộ ầm ì vọng lại từ phía xa, bàn tay phải đeo găng của Lockwood nắm chặt lấy dây chuông. Phía sâu trong căn nhà, tiếng chuông vọng yếu dần. Tôi chăm chú nhìn cánh cửa: nhìn những chỗ rộp nho nhỏ trên lớp sơn véc ni và mấy chỗ trầy xước trên hộp thư; nhìn bốn ô cửa kính song chéo quả trám đông giá mà phía sau chỉ thấy tối om. Hiên nhà có một vẻ buồn thương hoang vắng, các góc hiên ứ đầy cùng một loại lá sồi sũng nước nằm rải rác trên lối đi và bãi cỏ.

“OK,” tôi nói. “Hãy nhớ những quy tắc mới của chúng ta nhé. Đừng có nhìn thấy cái gì là ba hoa cái đó. Đừng luyên thuyên về ai giết ai, giết như thế nào hoặc khi nào. Và trên hết đừng nhại lại khách hàng nhé. Xin cậu đấy. Chuyện đó sẽ chẳng bao giờ có kết cục tốt đẹp cả.”

“Cậu có nhiều quy tắc quá đấy, Lucy,” Lockwood nói.

“Tôi còn nhiều nữa cơ.”

“Cậu biết là tôi có tai nghe ngữ điệu rất tốt mà. Tôi bắt chước người ta mà chẳng cần nghĩ ngợi gì.”

“Được thôi, cứ việc yên lặng bắt chước người ta sau khi xong việc. Đừng nói to, đừng nói trước mặt họ, đặc biệt khi người ta là gã bốc vác Ireland cao hai mét mắc tật nói lắp, còn chúng ta đang cách đường cái tới cả dặm.”

“Đúng vậy, tuy to thế nhưng hắn thực sự rất nhanh đấy,” Lockwood nói. “Mà rượt đuổi cũng làm chúng ta khỏe người hơn. Cậu cảm nhận được gì chưa?”

“Chưa. Nhưng có vẻ ở ngoài này sẽ không được đâu. Còn cậu?”

Cậu bỏ dây chuông ra và chỉnh lại cổ áo một chút. “Thật lạ nhỉ, tôi lại cảm thấy gì đó. Có một hồn ma đã xuất hiện trong khu vườn này lúc nào đó trong khoảng vài tiếng trở lại đây. Từ phía dưới cây nguyệt quế ở khúc giữa lối đi.”

“Chắc cậu sẽ nói với tôi đó chỉ là một đốm sáng nho nhỏ.” Đầu tôi nghiêng về một bên, hai mắt nheo lại; tôi đang lắng nghe sự yên lặng của ngôi nhà.

“Đúng thế, cỡ một con chuột thôi,” Lockwood thừa nhận.

“Có thể là chuột đồng. Tôi nghĩ có lẽ nó đã bị mèo hay con gì đó tóm được.”

“Thế... có lẽ không liên quan đến vụ của chúng ta, nếu nó là một con chuột?”

“Có lẽ là không.”

Đằng sau những tấm kính băng giá, bên trong căn nhà, tôi nhận thấy có chuyển động: thứ gì đó dịch chuyển trong bóng đen sâu thẳm của hành lang. “Rồi, đây rồi,” tôi nói. “Bà ấy đang ra đấy. Hãy nhớ những gì tôi đã dặn nhé.”

Lockwood khom chân nhặt chiếc túi vải len thô cạnh chân mình. Cả hai chúng tôi lùi lại một chút, chuẩn bị sẵn những nụ cười thân thiện, lễ phép.

Chúng tôi chờ đợi. Chẳng có gì xảy ra. Cánh cửa vẫn đóng.

Chẳng có ai ở đó.

Lockwood vừa mở miệng chuẩn bị nói thì chúng tôi nghe thấy những tiếng bước chân đằng sau trên lối đi.

“Tôi rất xin lỗi!” Người phụ nữ xuất hiện từ trong sương mù vốn đang bước chậm rãi, nhưng khi chúng tôi quay lại bà ta vội vã tăng tốc. “Rất xin lỗi!” bà ta nhắc lại. “Tôi đến trễ. Tôi không nghĩ các cháu tới nhanh đến vậy.”

Bà ta trèo lên những bậc thềm, một người mập lùn với khuôn mặt tròn trịa, đang bước vào tuổi trung niên. Mái tóc thẳng màu vàng tro của bà ta được kẹp ngay ngắn phía trên tai. Bà ta mặc chân váy dài màu đen, áo sơ mi trắng phẳng phiu và một chiếc áo khoác len rộng thùng thình với túi áo sã xuống hai bên. Bà ta cầm trên tay một bìa kẹp tài liệu mỏng.

“Bác Hope ạ?” tôi nói. “Cháu chào bác. Cháu tên là Lucy Carlyle còn đây là Anthony Lockwood, từ công ty Lockwood & Đồng sự. Chúng cháu tới đây vì cuộc gọi của bác.”

Người phụ nữ dừng lại ở bậc gần trên cùng và nhìn chúng tôi với đôi mắt to màu xám, trong đó tất cả những tình cảm thông thường đều được thể hiện. Ngờ vực, oán hận, hoang mang và sợ hãi - tất cả đều ở đó. Chúng là chuẩn mực trong nghề nghiệp của chúng tôi, bởi vậy chúng tôi không để bụng làm gì.

Ánh mắt bà ta nhanh chóng đảo qua đảo lại giữa hai đứa bọn tôi, nhìn vào trang phục gọn gàng và mái tóc chải chuốt cẩn thận của chúng tôi, vào hai thanh kiếm sáng bóng lấp lánh trên thắt lưng của chúng tôi, những chiếc túi nặng đồ mà chúng tôi mang theo. Ánh mắt đó dừng lại khá lâu trên gương mặt chúng tôi. Bà ta không đi vượt qua chúng tôi tới trước cánh cửa. Bàn tay không cầm bìa kẹp tài liệu đút sâu vào trong túi áo khoác, làm vải trũng xuống.

“Chỉ hai đứa bọn cháu à?” cuối cùng bà ta hỏi.

“Chỉ bọn cháu thôi,” tôi nói.

“Các cháu trẻ quá.”

Lockwood nhoẻn cười; vẻ ấm áp trong nụ cười đó làm bừng sáng cả buổi tối. “Chính là thế đấy, bác Hope. Bác biết là phải thế mà.”

“Thực ra, tôi không phải bác Hope.” Nụ cười nhạt của bà ta, nở ra một cách miễn cưỡng để đáp lại nụ cười của Lockwood, lóe lên trên khuôn mặt rồi biến mất, để lại vẻ bồn chồn. “Tôi là Suzie Martin, con gái bà ấy. Tôi e mẹ tôi sẽ không đến đâu.”

“Nhưng chúng cháu đã hẹn với bà ấy mà,” tôi nói. “Bà ấy sẽ đưa chúng cháu đi xem ngôi nhà.”

“Tôi biết.” Người phụ nữ nhìn xuống đôi giày đen đẹp đẽ của mình. “Tôi e là bà ấy không còn muốn đặt chân tới đây nữa. Cái chết của bố tôi đã đủ kinh khủng rồi, vậy mà gần đây những... xáo trộn về đêm còn xảy ra quá thường xuyên. Tối qua rất tồi tệ, và mẹ tôi đã quyết định rằng thế là quá đủ đối với bà ấy. Giờ bà ấy đang ở với tôi. Chúng tôi sẽ phải bán ngôi nhà, nhưng hiển nhiên chúng tôi không thể làm thế cho đến khi nó trở nên an toàn...” Hai mắt bà ta hơi nheo lại. “Đó chính là lý do vì sao các cháu có mặt... Nhưng thứ lỗi cho tôi, chẳng phải các cháu nên có người giám hộ sao? Tôi nghĩ các cuộc điều tra luôn phải có một người lớn chứ. Chính xác thì các cháu bao nhiêu tuổi?”

“Đủ lớn và đủ trẻ,” Lockwood nói và mỉm cười. “Lứa tuổi hoàn hảo.”

“Nói một cách chính xác, thưa bác,” tôi nói thêm, “luật pháp quy định rằng chỉ cần tới người lớn khi các thám tử đang trong thời gian tập sự. Đúng là một vài công ty lớn luôn sử dụng người giám hộ, nhưng đó là chính sách riêng của họ. Chúng cháu độc lập và đáp ứng đầy đủ mọi tiêu chuẩn, và chúng cháu không thấy điều đó là cần thiết.”

“Theo kinh nghiệm của chúng cháu,” Lockwood ngọt ngào nói, “người lớn chỉ làm ngáng trở công việc thôi. Nhưng tất nhiên là chúng cháu mang chứng chỉ của mình theo đây, nếu như bác muốn xem.”

Người phụ nữ đưa tay vuốt mái tóc vàng bóng mượt và gọn gàng. “Không, không... Không cần phải thế. Bởi vì mẹ tôi đã nói rõ ràng là cần các cháu, tôi chắc chắn mọi chuyện sẽ ổn thôi...” Giọng bà ta đều đều và có vẻ ngập ngừng. Một thoáng yên lặng.

“Cảm ơn bác.” Tôi liếc trở lại về phía cánh cửa yên ắng đang mời gọi. “Chỉ có vấn đề này thôi: có ai khác ở nhà không ạ? Khi chúng cháu rung chuông, cháu nghĩ...”

Bà ta ngước lên thật nhanh, nhìn vào mắt tôi. “Không. Không thể nào. Tôi giữ chiếc chìa khóa duy nhất mà.”

“Cháu hiểu. Hẳn là cháu đã nhầm.”

“Tôi sẽ không làm các cháu chậm trễ nữa,” bà Martin nói. “Mẹ tôi đã điền vào phiếu các cháu gửi cho bà ấy.” Bà ta chìa ra chiếc kẹp tài liệu. “Bà ấy hy vọng rằng nó sẽ hữu dụng.”

“Cháu chắc chắn nó sẽ hữu dụng.” Lockwood nhét nó vào đâu đó bên trong áo khoác. “Cháu cảm ơn bác rất nhiều. Hừm, chúng cháu nên bắt đầu ngay. Bác hãy nói với mẹ bác rằng sáng mai chúng cháu sẽ tới gặp bà ấy.”

Người phụ nữ đưa chùm chìa khóa cho cậu ấy. Đâu đó trên đường vẳng một tiếng còi xe, rồi một tiếng còi xe khác đáp lại. Còn lâu mới tới giờ giới nghiêm, nhưng màn đêm đang buông xuống và mọi người đã bắt đầu nhấp nhổm. Họ muốn trở về nhà. Chẳng bao lâu nữa sẽ chẳng còn thứ gì chuyển động trên các đường phố London ngoại trừ những dải sương mù và ánh trăng vặn vẹo. Hoặc ít nhất chẳng có gì người lớn có thể nhìn thấy rõ.

Suzie Martin cũng cảm nhận thấy điều đó. Bà ta rướn vai, kéo chiếc áo khoác len ép chặt vào người. “Chà, tốt hơn là tôi nên đi thôi. Có lẽ chúc các cháu may mắn vậy...” Bà ta nhìn ra xa. “Còn quá trẻ! Sao thế giới lại đến nông nỗi này kia chứ?”

“Tạm biệt bác Martin,” Lockwood nói.

Bà ta mau mắn bước xuống bậc thềm mà không đáp lời. Chỉ ít giây sau bà ta đã biến mất vào làn sưong mù và hàng nguyệt quế mọc dọc con đường.

“Bà ấy không hài lòng,” tôi nói. “Tôi nghĩ tới sáng mai chúng mình sẽ chẳng được làm vụ này nữa.”

“Thế thì tốt hơn nên giải quyết cho xong trong tối nay đi,” Lockwood nói. “Sẵn sàng chưa?”

Tôi vỗ vào chuôi thanh kiếm của mình. “Sẵn sàng.”

Cậu cười nhăn nhở với tôi, bước lên tới cánh cửa, và với vẻ hoa mỹ của một ảo thuật gia, tra chìa vào ổ khóa.

Khi bước vào một căn nhà có Khách, tốt nhất là bước vào thật nhanh. Đó là một trong những nguyên tắc đầu tiên bạn học được. Đừng bao giờ do dự, đừng bao giờ lừng chừng ở ngưỡng cửa. Tại sao ư? Bởi vì, trong ít giây ngắn ngủi đó, mọi chuyện chưa phải là quá trễ. Bạn đứng đó trước cánh cửa với làn gió lạnh thổi phía sau lưng và bóng tối phía trước mặt, và chỉ có kẻ ngốc mới không muốn quay đầu bỏ chạy. Và ngay khi bạn nhận ra mình muốn thế, lòng can đảm của bạn đã bắt đầu chảy tồng tộc xuống dưới chân và con hoảng hốt bắt đầu dâng lên trong ngực, và bùm, thế là xong - bạn đã thoái chí trước cả khi bắt đầu. Cả Lockwood và tôi đều biết điều này, bởi vậy chúng tôi không lừng khừng. Chúng tôi bước thẳng qua cửa, đặt túi xách xuống, và nhẹ nhàng đóng cửa lại phía sau. Rồi chúng tôi đứng gần như bất động, lưng quay lại phía cửa, quan sát và lắng nghe các phía.

Hành lang ngôi nhà mà mới đây ông bà Hope còn ở dài và tương đối hẹp, cho dù trần nhà cao làm nó trông có vẻ khá rộng. Những phiến đá cẩm thạch màu đen và trắng được lát chéo trên sàn nhà, và những bức tường được dán giấy nhợt nhạt. Ở giữa chừng, một chiếc cầu thang dốc nổi lên trong bóng tối. Hành lang lệch quanh nó về phía trái và tiếp tục kéo vào một khoảng đen trống rỗng. Các cánh cửa được mở ra ở cả hai bên: những cái miệng há hốc, đang chết ngạt trong bóng tối.

Tất cả những cánh cửa đó đã có thể sáng rực nếu chúng tôi bật đèn lên, tất nhiên là thế. Và công tắc ở ngay kia trên tường. Nhưng chúng tôi không có ý định sử dụng nó. Bạn thấy đấy, nguyên tắc thứ hai mà bạn học được ở đây là: điện gây nhiễu. Nó làm các giác quan không còn sắc bén và khiến bạn yếu đuối, ngu ngốc. Quan sát và lắng nghe trong bóng tối sẽ tốt hơn nhiều. Thật tốt là còn có nỗi sợ đó.

Chúng tôi đứng trong yên lặng, làm việc chúng tôi cần làm. Tôi lắng nghe. Lockwood quan sát. Căn nhà lạnh lẽo. Không khí có cái mùi mốc thếch, hơi chua chua mà ta thường thấy ở những nơi bị ruồng rẫy.

Tôi ngả người vào gần Lockwood. “Không có hệ thống sưởi,” tôi thì thầm.

“Ừm.”

“Còn có thứ gì đó nữa, cậu nghĩ thế không?”

“Ừm.”

Khi mắt đã quen dần với bóng tối, tôi nhìn thấy nhiều chi tiết hơn. Bên dưới vòng xoắn của lan can cầu thang là một chiếc bàn nhỏ bóng bẩy, trên đó có một tô sứ đựng những thứ lặt vặt. Tưòng treo nhiều tranh ảnh, hầu hết là những bức áp phích ca nhạc thời trước đã nhạt màu, ảnh núi đồi điệp trùng và biển khơi yên ả. Tất cả đều khá vô hại. Thực ra hành lang này không hề xấu; dưới ánh sáng mặt trời có lẽ trông nó khá dễ chịu nữa là đằng khác. Nhưng giờ đây nó chẳng còn đẹp đẽ mấy, với tia sáng cuối cùng từ trên những ô cửa doãi dài như những chiếc quan tài xiên xiên trên nền nhà phía trước chúng tôi; và hai cái bóng của chúng tôi được đóng khung gọn ghẽ bên trong đó; cùng cái cách ông Hope chết ngay ở chính nơi này, hình ảnh cứ lởn vởn mãi trong tâm trí bọn tôi.

Tôi hít thở sâu để trấn tĩnh lại và dẹp bỏ những ý nghĩ yếu đuối này. Rồi tôi nhắm mắt lại trong bóng tối cay nghiệt và lắng nghe.

Lắng nghe...

Hành lang, chiếu nghỉ và cầu thang là lối đi chính và đường thông khí của bất cứ tòa nhà nào. Mọi thứ đều chảy về nơi đây. Ta nghe thấy tiếng vọng của những gì đang diễn ra truyền khắp những căn phòng được kết nối với nhau. Đôi khi ta cũng nghe thấy những tiếng động khác, mà nói một cách chính xác, đáng lẽ không nên xuất hiện ở nơi này. Tiếng vang của quá khứ, tiếng vang của những thứ giấu mặt...

Đây là lúc như thế.

Tôi mở mắt, nhấc túi xách của mình lên và bước chậm rãi dọc hành lang về phía cầu thang. Lockwood đã đứng cạnh chiếc bàn nhỏ bé bóng bẩy bên dưới thành cầu thang. Gương mặt cậu lờ mờ trong ánh sáng từ phía cánh cửa. “Có nghe thấy gì không?” cậu hỏi.

“Có.”

“Là gì vậy?”

“Một tiếng gõ nhè nhẹ. Xuất hiện rồi biến mất. Rất mơ hồ, tôi không thể xác định nó phát ra từ đâu. Nhưng nó sẽ mạnh lên - vẫn còn chưa tối hẳn mà. Còn cậu thì sao?”

Cậu ấy trỏ vào chân cầu thang. “Chắc hẳn cậu nhớ điều xảy ra với ông Hope chứ?”

“Ngã cầu thang và gãy cổ.”

“Chính xác. Có một đốm-sáng-chết cực lớn còn sót lại ngay đây, vẫn còn lưu lại ba tháng sau khi ông ấy chết. Đáng lẽ tôi nên mang kính râm, nó chói quá. Vậy là những điều bà Hope nói với George qua điện thoại ngày càng hiện hữu. Chồng bà ấy đã ngã cầu thang và đập mạnh xuống đất.” Cậu liếc nhìn lên cầu thang tối lờ mờ. “Cầu thang dốc và dài... Khó đi đấy.”

Tôi khom người xuống, nheo mắt nhìn sàn nhà nửa sáng nửa tối. “Đúng thế đấy, nhìn vết nứt trên những viên gạch nền này. Hẳn là ông ấy đã ngã rất...”

Hai tiếng va đập chói tai vang lên trên cầu thang. Không khí ùa mạnh vào mặt tôi. Trước khi tôi kịp phản ứng, một thứ gì đó to, mềm và cực nặng rơi xuống đúng chỗ tôi đang đứng. Tác động của nó làm quai hàm tôi cứng đờ.

Tôi nhảy bật ra đằng sau, rút thanh kiếm khỏi thắt lưng. Đứng dựa vào tường, tôi giơ vũ khí lên và run rẩy, tim như bị bóp nghẹt trong lồng ngực, mắt đảo hoảng loạn từ bên này sang bên kia.

Chẳng có gì sất. Cầu thang trống không. Chẳng có thi thể tan nát nào nằm bất động trên sàn cả.

Lockwood thảnh thơi dựa người vào thành cầu thang. Quá tối để có thể chắc chắn, nhưng tôi chắc rằng cậu đã nhướng mày lên. Cậu không nghe thấy gì.

“Cậu ổn chứ, Lucy?”

Tôi thở hắt ra. “Không. Tôi mới cảm nhận tiếng vọng cú ngã của ông Hope. Nó rất mạnh và rất thật. Cứ như là ông ấy ngã đè lên người tôi vậy. Đừng cười. Chuyện này có gì đáng cười đâu.”

“Xin lỗi. Tối nay có cái gì đó khuấy động từ sớm. Càng về sau càng hay ho đây. Mấy giờ rồi vậy?”

Đeo một chiếc đồng hồ có mặt dạ quang là khuyến nghị thứ ba của tôi. Tốt nhất là nó có thể chịu được sự giảm nhiệt đột ngột và những cú sốc ngoại chất cường độ mạnh. “Còn chưa đến năm giờ,” tôi nói.

“Tốt lắm.” Răng Lockwood không được sáng như đồng hồ của tôi, nhưng khi cậu nhe răng cười thì cũng gần được như thế. “Còn thừa thời gian để uống một cốc trà. Rồi sau đó chúng ta sẽ đi tìm một con ma.”

« Lùi
Tiến »