Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2

Khi bạn đi săn những linh hồn tội lỗi, điều đơn giản lại là điều quan trọng nhất. Mũi kiếm bạc của bạn lóe sáng trong bóng tối; những vảy sắt rải trên sàn nhà; những chiếc ống nhỏ đóng kín chứa thứ pháo Lửa Hy Lạp tốt nhất, dự phòng cuối cùng cho trường hợp xấu... Nhưng những túi trà, rất nhiều túi trà màu nâu và còn mới, được Pitkin Brothers ở phố Bond (loại yêu thích của tôi) sản xuất, có lẽ là thứ đơn giản nhất và tốt nhất.

Được thôi, có thể chúng chẳng thể cứu sống bạn như mũi kiếm hay một vòng tròn mạt sắt, và chúng cũng chẳng có sức mạnh bảo vệ của một bức tường lửa hiện ra chóng vánh. Nhưng chúng quả thật cung cấp một thứ cũng chẳng kém phần quan trọng. Chúng giúp bạn trấn tĩnh.

Ngồi chờ đợi trong bóng tối giữa một căn nhà bị ma ám chẳng bao giờ dễ chịu cả. Bóng đêm đang khép lại xung quanh bạn và sự tĩnh mịch dội vào tai bạn, và chẳng bao lâu sau, nếu như không cẩn thận, bạn bắt đầu nhìn thấy hay nghe thấy sản phẩm từ trí tưởng tượng của chính mình. Nói ngắn gọn, bạn cần thứ gì để khuây khỏa. Mỗi người chúng tôi ở công ty thám tử Lockwood đều có những sở thích riêng. Tôi vẽ vời một chút, George thích truyện tranh, còn Lockwood đọc các tạp chí lá cải. Nhưng tất cả chúng tôi đều khoái trà và bánh quy, và đêm đó ở nhà ông bà Hope cũng không phải ngoại lệ.

Chúng tôi tìm thấy nhà bếp ở phía cuối hành lang, ngay phía bên kia cầu thang. Nó là một căn phòng tương đối đẹp, gọn gàng, sơn trắng và hiện đại, rõ ràng ấm áp hơn nhiều so với hành lang, ở đó không có bất cứ dấu vết siêu nhiên nào. Tất cả đều yên lặng. Không còn nghe thấy tiếng gõ mà tôi đã từng nghe thấy, cũng không có tiếng va đập quái ác lặp đi lặp lại trên chiếc cầu thang kia.

Tôi đun nước, trong khi Lockwood châm một ngọn đèn dầu đặt lên bàn. Trong ánh sáng đèn dầu chúng tôi tháo kiếm và đai lưng chứa đồ đặt trước mặt. Đai lưng của chúng tôi có bảy chiếc kẹp và túi gài, chúng tôi lục từng chiếc trong yên lặng, tuần tự kiểm tra những đồ đựng bên trong trong khi ấm nước sôi lục bục rồi rít lên trên bếp. Dù đã kiểm tra tất cả mọi thứ ở văn phòng rồi, chúng tôi vẫn sẵn lòng làm điều đó một lần nữa. Tuần trước, một cô gái bên Rotwell đã chết vì quên không bổ sung pháo magiê.

Bên ngoài cửa sổ, mặt trời đã lặn. Những đám mây nhạt nhòa vây kín bầu trời xanh sẫm, và sương mù nổi lên nhấn chìm khu vườn. Phía bên ngoài hàng giậu đen sì, những ngôi nhà khác đã lên đèn. Chúng thật gần, nhưng cũng thật xa, tách rời khỏi chúng tôi như những con tàu đang vượt qua vùng nước sâu.

Chúng tôi đeo lại đai lưng và kiểm tra băng gai dính xung quanh hai thanh kiếm. Tôi rót trà mang ra bàn. Lockwood đã tìm thấy bánh quy. Chúng tôi ngồi cùng nhau bên ngọn đèn dầu lập lòe, những cái bóng nhảy nhót ở mấy góc phòng.

Cuối cùng Lockwood kéo cổ áo choàng lên cao. “Hãy xem bà Hope nói điều gì nào,” cậu nói. Cậu với bàn tay dài gầy guộc ra lấy chiếc kẹp hồ sơ trên bàn. Ánh sáng ngọn đèn lập lòe yếu ớt trên tóc cậu.

Trong khi cậu đọc, tôi xem nhiệt kế kẹp ở đai lưng. Mười lăm độ. Không ấm, nhưng cơ bản đó là điều ta có thể đoán trước ở một ngôi nhà không được sưởi ấm vào thời điểm này trong năm. Tôi lấy sổ từ một túi khác và ghi chú lại về căn phòng và nhiệt độ. Tôi cũng ghi lại chi tiết hiện tượng âm thanh tôi đã trải qua trong hành lang.

Lockwood lẳng tập hồ sơ sang một bên. “Hừm, hữu dụng đấy.”

“Vậy hả?”

“Không. Tôi châm biếm đấy. Hay là cợt nhả nhỉ? Chả nhớ nói thế nào mới đúng.”

“Châm biếm thì thông minh hơn, bởi thế có lẽ cậu đang cợt nhả. Bà ấy nói gì?”

“Chẳng có gì hữu ích cả. Bà ấy viết bằng chữ La tinh cho chúng mình đọc thì cũng thế. Tóm tắt thế này nhé. Nhà Hope đã sống ở đây được hai năm. Trước đó họ sống đâu đó ở Kent; bà ấy nói rất nhiều những thứ chẳng liên quan về việc họ đã sống hạnh phúc thế nào ở đó. Chẳng mấy khi có giới nghiêm, đèn ma hầu như chẳng bao giờ bật, và rằng có thể tản bộ muộn mà cũng chỉ gặp những người hàng xóm còn sống. Những chuyện kiểu như thế. Tôi chẳng tin lời nào cả; theo như George nói thì Kent là một trong những nơi hỗn loạn nhất bên ngoài London.”

Tôi nhấp một ngụm trà. “Tôi nghĩ đó là nơi khởi phát của Vấn đề.”

“Nhiều người cũng nói thế mà. Dù gì thì sau đó họ đã dọn tới đây. Tất cả đều ổn, không có vấn đề gì trong căn nhà. Không có hiện hồn hiện hiếc gì cả. Người chồng thay đổi công việc, bắt đầu làm việc ở nhà. Đó là sáu tháng trước, vẫn không có gì kỳ quặc diễn ra cả. Rồi ông ấy ngã cầu thang và chết.”

“Gượm đã nào,” tôi nói. “Ông ấy ngã như thế nào?”

“Có vẻ là bị vấp chân.”

“Ý tôi là lúc đó ông ấy ở một mình à?”

“Theo lời bà Hope thì là như vậy. Lúc đó bà ấy đang ngủ. Chuyện xảy ra trong đêm. Bà ấy nói chồng mình có vẻ rối trí một chút từ vài tuần trước khi ông ấy chết. Ông ấy ngủ không được ngon giấc. Bà ấy nghĩ ông ấy dậy để đi uống nước.”

Tôi lẩm bẩm lửng lơ. “Phải rồiii...”

Lockwood liếc nhìn tôi một cái. “Cậu nghĩ bà vợ đã đẩy ông ấy à?”

“Không nhất thiết như thế. Nhưng điều đó có thể tạo động cơ cho việc ma ám, phải không nào? Các ông chồng thường không ám các bà vợ, trừ phi có nguyên do gì đó. Thật tiếc là bà ấy không muốn nói chuyện với bọn mình. Tôi muốn điều tra bà ấy.”

“Hừm, nhìn không thôi thì không phải lúc nào cũng chính xác đâu,” Lockwood nói. Cậu nhún đôi vai hẹp. “Tôi đã từng nói với cậu về lần tôi gặp tay Harry Crisp tai tiếng đó chưa nhỉ? Hắn ta có khuôn mặt ưa nhìn, giọng nói nhẹ nhàng và đôi mắt lấp láy. Rất thân thiện và rất đáng tin cậy; tôi còn cho hắn ta mượn một đồng mười bảng. Thế mà cuối cùng hóa ra hắn ta là một tên giết người đáng sợ nhất, kẻ chẳng thích việc gì hơn là...”

Tôi giơ một tay lên. “Cậu đã kể với tôi chuyện đó rồi. Khoảng một triệu lần.”

“Ồ, thế à. Vấn đề là ông Hope có thể đã trở lại vì những nguyên do khác chẳng liên quan gì đến việc trả thù. Tỉ như có việc gì đó chưa làm xong: một ý nguyện ông ấy chưa kịp nói với vợ mình, hoặc một rương tiền giấu dưới gầm giường...”

“Đúng, có thể thế lắm. Vậy là sự nhiễu loạn đó bắt đầu ngay sau cái chết của ông ấy?”

“Khoảng một hay hai tuần sau đó. Bà vợ hầu như không ở nhà trong những tuần ấy. Khi quay trở về, bà ấy bắt đầu nhận ra một sự có mặt không được chào đón.” Lockwood vỗ vào tập hồ sơ. “Nhưng bà ấy không miêu tả nó lại ở trong này. Bà ấy bảo đã nói toàn bộ cho 'thư ký' của chúng ta trên điện thoại rồi.”

Tôi nhăn nhở. “Thư ký ư? George sẽ không thích thế đâu. Tôi có những ghi chép của cậu ấy ở đây, nếu cậu muốn nghe thì tôi đọc.”

“Thế thì đọc đi.” Lockwood ngồi ngả ra đằng sau chờ đợi. “Bà ấy đã nhìn thấy gì?”

Những tờ giấy ghi chép của George đang ở túi trong áo khoác của tôi. Tôi lấy và mở chúng ra, vuốt phẳng những tờ giấy trên đầu gối. Tôi lướt qua chúng thật nhanh, hắng giọng. “Cậu sẵn sàng chưa?”

“Rồi.”

“Một ‘hình dáng chuyển động’.” Tôi trịnh trọng gấp những tờ giấy lại và cất đi.

Lockwood chớp chớp mắt giận dữ. “Một ‘hình dáng chuyển động’? Chỉ có thế thôi sao? Không có gì cụ thể hơn à? Nào - nó to, nhỏ, tối hay sáng, hay sao nữa chứ?”

“Nguyên văn thế này,” tôi đọc, “ ‘một hình dáng chuyển động xuất hiện ở phòng ngủ phía sau và theo tôi ra tới hành lang’. Nguyên văn từng từ đấy, đó là điều bà ấy đã nói với George.”

Lockwood nhúng một chiếc bánh quy tội nghiệp vào cốc trà của mình. “Không phải là bản miêu tả tốt nhất mọi thời đại. Ý tôi là, cậu không thể phác họa ra được gì từ thông tin đó, phải không nào?”

“Không, nhưng bà ấy là người lớn mà: cậu còn trông chờ gì nữa? Có gì mà tốt được chứ. Cảm giác của bà ấy thì rõ ràng hơn. Bà ấy nói bà ấy cảm thấy như thể có thứ gì đó đang kiếm tìm bà ấy, rằng nó biết bà ấy đang ở đó, nhưng không thể tìm thấy bà ấy. Và chỉ nghĩ tới việc nó đang tìm kiếm mình đã là quá sức chịu đựng đối với bà ấy.”

“Chà,” Lockwood nói, “như thế tốt hơn một chút rồi đấy. Bà ấy đã cảm nhận thấy một mục đích. Điều đó có thể gợi ý cho chúng ta về một hồn ma Loại Hai. Nhưng cho dù ông Hope quá cố đang định làm điều gì, ông ấy không phải người duy nhất làm việc trong ngôi nhà này tối nay. Còn có cả chúng ta nữa. Thế... cậu nghĩ sao? Chúng ta có nên xem xét xung quanh một vòng không?”

Tôi uống hết cốc của mình rồi cẩn thận đặt nó xuống bàn. “Tôi nghĩ đó là ý rất hay đấy.”

Trong khoảng gần một giờ đồng hồ chúng tôi làm một vòng quanh tầng dưới, chỉ bật đèn pin lên trong chốc lát để xem xét các vật dụng trong mỗi phòng, còn lại thì di chuyển trong bóng tối lờ mờ. Chúng tôi để đèn dầu sáng trong bếp, cùng với nến, diêm và một chiếc đèn pin dự phòng nữa trên bàn. Một quy tắc hữu ích nữa là giữ một nơi được chiếu sáng đầy đủ để rút lui về khi cần kíp, và nên có những dạng ánh sáng khác nhau, phòng khi Khách có khả năng dập tắt chúng.

Không có gì ở khu rửa bát đĩa và phòng ăn phía sau nhà. Chúng có cái vẻ buồn bã, mốc meo, ảm đạm nơi cuộc sống đã ngừng lại. Những chồng báo quăn queo nằm gọn ghẽ trên bàn ăn; trong buồng rửa bát, một khay hành tây khô quắt nảy chồi nằm lặng lẽ trong bóng tối. Nhưng Lockwood không nhìn thấy dấu hiệu hình ảnh nào, còn tôi không nghe thấy âm thanh gì. Tiếng gõ nhè nhẹ mà tôi đã dò được khi chúng tôi bước vào lúc đầu dường như đã biến mất.

Khi chúng tôi đi ngược trở lại hành lang, Lockwood khẽ rùng mình còn tôi nổi gai gốc khắp hai cánh tay. Không khí giờ lạnh hơn trông thấy. Tôi xem lại nhiệt kế: lần này là chín độ.

Ở phía trước của ngôi nhà là hai căn phòng vuông vắn nằm hai bên hành lang. Một phòng có một ti vi, một ghế xô pha, hai ghế bành tiện nghi; ở đây nhiệt độ ấm hơn, cùng mức với nhiệt độ trong bếp. Chúng tôi vẫn quan sát và lắng nghe nhưng chẳng phát hiện ra điều gì. Ở phía đối diện, một phòng khách trang trọng với những chiếc ghế và tủ đồ bình thường, được đặt phía trước những ô cửa sổ có lưới chắn cùng ba cây dương xỉ cỡ lớn trồng trong những vại đất nung.

Không khí có vẻ hơi lạnh lẽo. Nhiệt độ hiển thị trên mặt đồng hồ dạ quang là mười hai độ. Lạnh hơn ở trong bếp. Có thể chẳng có ý nghĩa gì; cũng có thể là rất nhiều. Tôi nhắm mắt lại, trấn tĩnh và chuẩn bị lắng nghe.

“Lucy, nhìn này!” giọng Lockwood rít lên. “Ông Hope kìa!”

Tim tôi đập loạn xạ. Tôi xoay người lại, thanh kiếm rút ra một nửa... chỉ để thấy Lockwood đang cúi xuống và bình thản nhìn một tấm ảnh trên chiếc bàn nhỏ cạnh tường. Cậu đang chiếu đèn pin vào nó: hình ảnh hiện lên giữa một quầng nhỏ ánh sáng vàng. “Cả bà Hope cũng ở đây nữa,” cậu nói thêm.

“Đồ ngốc!” tôi rít lên. “Tôi suýt nữa đã xiên cậu một nhát đấy.”

Cậu ta bật cười. “Ồ, đừng cau có thế chứ. Nhìn này. Cậu nghĩ thế nào?”

Trong ảnh là một cặp đôi tóc muối tiêu đứng trong vườn. Người phụ nữ, bà Hope, là phiên bản lớn tuổi, hạnh phúc hơn của người con gái chúng tôi đã gặp ở bên ngoài: khuôn mặt tròn, quần áo gọn gàng, một nụ cười rạng rỡ. Đầu bà ta cao ngang ngực người đàn ông đứng kế bên. Ông ta cao và hói, đôi vai xuôi, lưng khom, đôi cánh tay to lớn, có thể nói là cồng kềnh. Ông ta cũng cười rạng rỡ. Họ nắm tay nhau.

“Trông họ có vẻ vui vẻ đấy chứ?” Lockwood nói.

Tôi gật đầu vẻ ngờ vực. “Dù sao thì chắc chắn phải có một nguyên do cho Loại Hai. George nói Loại Hai luôn luôn có nghĩa rằng ai đó đã gây ra điều gì với một người nào đó.”

“Đúng thế, nhưng George có một trí óc nhỏ nhen và cay độc đáng sợ. Điều này nhắc tôi một việc: chúng ta nên tìm điện thoại và gọi cho cậu ấy. Tôi đã để lại giấy nhắn trên bàn, nhưng cho dù như thế đi nữa thì có lẽ cậu ấy vẫn cứ lo lắng về chúng mình. Hãy hoàn thành chuyến khảo sát trước đã.”

Cậu không tìm thấy bất cứ đốm-sáng-chết nào trong căn phòng khách bé nhỏ đó, còn tôi chẳng thể nghe thấy bất cứ thứ gì, và như thế tầng một đã xong. Nó khẳng định điều chúng tôi đã dự đoán từ trước. Thứ chúng tôi tìm kiếm sẽ ở trên tầng.

Quả là như vậy, khoảnh khắc tôi đặt chân lên bậc thang đầu tiên, tiếng gõ bắt đầu trở lại. Lúc đầu nó không to hơn âm thanh đã phát ra lúc trước, một tiếng lộp cộp rất nhỏ, như thể tiếng móng tay gõ vào lớp thạch cao trên tường, hoặc tiếng đóng đinh vào thân gỗ. Nhưng với mỗi bậc thang tôi leo, tiếng vọng lại tăng lên một chút, trở nên rõ ràng hơn nơi tai trong của tôi. Tôi nói điều này với Lockwood, cậu đang leo lên như một cái bóng không hình dạng sau lưng tôi.

“Cũng lạnh dần thêm nữa đấy,” cậu nói.

Cậu nói đúng. Với mỗi bậc thang nhiệt độ càng giảm thêm, từ chín độ, tới bảy độ, giờ tới sáu độ ở đây, quãng giữa cầu thang. Tôi ngừng lại, những ngón tay dò dẫm kéo khóa áo khoác, trong khi mắt vẫn trừng trừng ngước lên nhìn vào bóng tối. Cầu thang hẹp và chẳng có chút ánh sáng nào trên đầu tôi cả. Khu vực phía trên của ngôi nhà là nơi bóng tối vón cục lại. Tôi khao khát bật đèn pin lên, nhưng tôi đã cưỡng lại được thôi thúc đó, nó sẽ chỉ làm cho tầm nhìn của tôi kém hơn mà thôi. Một tay đặt trên chuôi kiếm, tôi tiếp tục chầm chậm bước lên cầu thang, tiếng gõ càng lúc càng trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết và cái lạnh châm chích vào da tôi.

Tôi bước lên tiếp. Tiếng gõ càng lúc càng lớn hơn. Giờ đây nó đã là tiếng cào, tiếng đập điên cuồng. Những con số trên mặt đồng hồ thì cứ giảm xuống, giảm xuống mãi. Từ sáu độ xuống năm, và cuối cùng xuống bốn.

Bóng tối ở hành lang tầng trên là một không gian vô định hình, ở phía bên trái tôi, những đoạn lan can màu trắng cao ngang đầu trông như một dãy những chiếc răng khổng lồ.

Tôi lên đến bậc thang cuối cùng, bước ra hành lang...

Và tiếng gõ đột ngột ngừng lại.

Tôi xem lại mặt dạ quang đồng hồ lần nữa: bốn độ. Thấp hơn mười một độ so với trong bếp. Tôi có thể cảm thấy hơi thở của mình đang bung thành khói trong không khí.

Chúng tôi đang đến rất gần.

Lockwood lướt lên trước tôi, bật đèn pin trong thoáng chốc để do thám. Những bức tường được dán giấy, những cánh cửa khép chặt, yên lặng tuyệt đối. Một bức tranh thêu trong khung tranh nặng nề: màu sắc đã phai nhạt, những con chữ trẻ con, Ngôi nhà yêu dấu. Nó đã được hoàn thành nhiều năm trước đây, khi ngôi nhà vẫn còn yêu dấu và an toàn, và không ai treo bùa sắt phía trên giường ngủ những đứa con của họ. Trước khi Vấn đề xuất hiện.

Hành lang có hình chữ L, bao gồm một khoảnh hình vuông nơi chúng tôi đứng, và một đoạn cán dài chạy đằng sau chúng tôi, song song với cầu thang. Bên dưới là sàn gỗ bóng loáng. Có năm cánh cửa: một phía bên phải chúng tôi, một thẳng phía trước và ba nằm cách quãng dọc theo đoạn cán. Tất cả chúng đều đóng chặt. Lockwood và tôi đứng lặng phắt, chỉ tập trung sử dụng thị giác và thính giác.

“Chẳng có gì cả,” cuối cùng tôi nói. “Ngay khi tôi lên tới đỉnh cầu thang, tiếng gõ đã dừng lại.”

Mất một lúc Lockwood mới lên tiếng. “Không thấy đốm- sáng-chết nào,” cậu nói. Từ sự nặng nề trong giọng nói của cậu tôi biết cậu cũng cảm thấy phiền muộn - cảm giác trì trệ quái lạ đó, cái sức nặng đè lên những cơ bắp, xuất hiện mỗi khi Khách ở gần. Cậu khẽ thở dài. “Hừm, mời quý cô trước, Lucy. Chọn một cánh cửa đi.”

“Không đâu. Tôi đã chọn cửa trong vụ trại trẻ mồ côi và cậu đã biết điều gì xảy ra sau đó rồi còn gì.”

“Nhưng cuối cùng hóa ra lại ổn thỏa cả, phải không nào?”

“Chỉ bởi vì tôi đã kịp cúi xuống. Thôi được, hãy chọn cửa này đi, nhưng cậu sẽ vào trước.” Tôi chọn cửa gần nhất, cánh cửa về phía bên phải. Hóa ra nó dẫn tới một phòng tắm mới được sửa lại. Những viên gạch lát hiện đại sáng lóe lên khi ánh đèn pin lia qua. Có một bồn tắm lớn màu trắng, một bồn rửa mặt và một bồn vệ sinh, và cả mùi hương thoang thoảng đâu đó của xà phòng hoa nhài. Chẳng ai trong chúng tôi tìm được điều gì đáng chú ý ở đây, dù nhiệt độ vẫn bằng mức ở hành lang.

Lockwood thử cánh cửa tiếp theo. Nó mở vào một phòng ngủ rộng phía sau nhà đã được chuyển đổi thành phòng làm việc có lẽ bừa bãi nhất London. Ánh đèn pin soi sáng chiếc bàn gỗ nặng nề đặt dưới một cửa sổ che rèm. Chiếc bàn hầu như bị che khuất dưới những chồng giấy, và những chồng ngất ngưởng hơn nữa được đặt bừa bãi khắp cả căn phòng. Một dãy những giá sách tối màu, sách bày hỗn loạn, chạy dọc ba phần tư bức tường phía đằng xa. Có những tủ đồ cùng một chiếc ghế da cũ bên cạnh bàn, và căn phòng thoảng một mùi hương nam tính rất nhẹ. Tôi ngửi thấy mùi nước hoa sau cạo râu, mùi rượu whisky, thậm chí cả mùi thuốc lá.

Không khí lúc này lạnh cóng. Mặt đồng hồ đo ở thắt lưng tôi chỉ hai độ.

Tôi bước cẩn trọng vòng qua những chồng giấy và kéo rèm hé ra một phần, đủ xáo động để làm bụi rơi xuống khiến tôi phát ho. Ánh sáng trắng yếu ớt từ những căn nhà phía bên kia khu vườn trôi nổi vào căn phòng.

Lockwood đang nhìn tấm thảm cổ đã sờn trên nền sàn gỗ, lấy mũi giày di qua di lại trên đó. “Có vết lõm cũ,” cậu nói. “Đã từng có một chiếc giường ở đây trước khi ông Hope chuyển đến...” Cậu nhún vai, xem xét xung quanh căn phòng. “Có lẽ ông ấy quay trở lại để sắp xếp giấy tờ của mình.”

“Chính là đây,” tôi nói. “Đây chính là nơi có Nguồn. Hãy xem nhiệt độ này. Và cậu không cảm thấy nặng nề, gần như tê cứng sao?”

Lockwood gật đầu. “Thêm vào đó đây là nơi bà Hope nhìn thấy 'hình dáng chuyển động' trứ danh ấy.”

Một cánh cửa đóng sầm lại, rất to, đâu đó phía dưới chúng tôi trong căn nhà. Cả hai đứa nhảy dựng lên. “Tôi nghĩ cậu nói đúng,” Lockwood nói. “Chính là chỗ này. Chúng mình nên tạo một vòng tròn ở đây.”

“Bằng mạt sắt giũa hay bằng xích?”

“Ồ, mạt giũa thôi. Mạt giũa là được rồi.”

“Cậu chắc chứ? Giờ còn chưa tới chín giờ, thế mà năng lượng của nó đã mạnh rồi.”

“Không mạnh đến thế đâu. Thêm vào đó, cho dù ông Hope muốn gì đi nữa, tôi không tin là ông ấy sẽ đột ngột trở nên xấu xa hung bạo. Mạt giũa là quá đủ rồi.” Cậu lưỡng lự. “Thêm nữa...”

Tôi nhìn cậu. “Thêm nữa cái gì cơ?”

“Tôi quên không mang theo xích. Đừng có nhìn tôi như thế. Mắt cậu trông buồn cười lắm đấy.”

“Cậu quên mang theo xích ư? Lockwood...”

“George lấy nó ra để bôi dầu và tôi không kiểm tra xem cậu ấy đã bỏ lại chưa. Bởi thế thực ra đó là lỗi của George. Nghe này, chuyện đó không vấn đề gì đâu. Chúng mình không cần đến xích cho một vụ như thế này, phải không nào? Hãy rải mạt sắt đi trong khi tôi xem những căn phòng khác. Rồi chúng ta sẽ tập trung vào nơi này.”

Tôi còn rất nhiều điều nữa để nói, nhưng giờ không phải lúc. Tôi hít một hơi thật sâu. “Hừm, đừng vướng vào rắc rối nhé,” tôi nói. “Lần trước khi cậu đi lang thang trong một vụ khác, cậu đã tự nhốt mình trong nhà vệ sinh đấy.”

“Một hồn ma đã khóa tôi ở trong đấy, tôi đã nói với cậu mãi mà.”

“Đó là cậu nói thế, nhưng chẳng hề có tí bằng chứng nào...” Nhưng cậu đã đi rồi.

Công việc đó chẳng mất nhiều thời gian của tôi. Tôi kéo vài chồng giấy đã ngả vàng phủ bụi về phía tường và tạo một khoảng trống giữa phòng. Rồi tôi kéo tấm thảm sang một bên, và rải mạt giũa thành một vòng tròn có bán kính khá nhỏ để khỏi tốn. Đây là chỗ nương náu chính của chúng tôi, nơi chúng tôi có thể rút lui vào khi cần kíp, nhưng chúng tôi có thể còn cần tới những vòng tròn khác nữa, phụ thuộc vào việc chúng tôi tìm thấy gì.

Tôi ra hành lang. “Tôi xuống dưới lấy thêm mạt sắt đây.”

Tiếng Lockwood vọng ra từ một phòng ngủ gần bên. “Ừ. Cậu đặt luôn ấm nước nhé?”

“Ừ.” Tôi bước tới cầu thang, liếc nhìn vào cửa phòng tắm đang mở. Khi tôi đặt hai tay lên lan can cầu thang, gỗ ở đó lạnh cóng. Tôi ngập ngừng trên đầu cầu thang, lắng nghe thật kỹ, rồi bước xuống về phía hành lang tầng dưới sáng lờ mờ. Xuống được vài bậc tôi nghĩ mình đã nghe thấy một âm thanh ào tới phía sau, nhưng khi quay lại tôi chẳng nhìn thấy gì. Tay đặt trên chuôi kiếm, tôi tiếp tục bước xuống dưới rồi đi dọc theo hành lang tới nơi ánh sáng ấm áp trong căn bếp chiếu qua vết nứt trên cánh cửa. Ánh đèn mờ ảo là vậy mà vẫn làm tôi phải nheo mắt khi bước vào. Tôi chén một chiếc bánh quy mặt cười, tráng đám cốc và lại đặt ấm lên đun. Rồi tôi xách hai chiếc túi vải len thô lên và xoay xở dùng chân đẩy cánh cửa hành lang mở ra. Tôi di chuyển ngược trở lại, do căn bếp sáng đèn, hành lang dường như trở nên tối hơn cả lúc trước. Chẳng có âm thanh nào trong nhà. Tôi không thể nghe thấy bất cứ thứ gì từ Lockwood; chắc cậu vẫn đang tiếp tục xem xét những căn phòng ngủ cuối cùng. Tôi chầm chậm leo cầu thang, từ chỗ mát, tới lạnh, rồi lạnh hơn, chật vật giữ những chiếc túi nặng nề ở hai bên người.

Tôi lên tới hành lang và đặt những chiếc túi xuống cùng với một tiếng thở dài khe khẽ. Khi ngẩng đầu lên để gọi Lockwood, tôi thấy một cô gái đang đứng đó.

« Lùi
Tiến »