Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 3

Tôi sững người; trong một thoáng tim tôi đập loạn xạ và tôi chẳng thể nào nhúc nhích được lấy một thớ thịt. Tất nhiên, một phần đơn giản là do bị sốc, nhưng còn có nhiều lý do hơn thế. Một sức ép nặng trịch lạnh lẽo như tấm bia đá chặn lên ngực tôi; tứ chi tôi như bị vùi trong bùn. Một trạng thái mê mệt băng giá len vào sâu thẳm trong não. Trí óc tôi tê liệt, cơ thể trở nên uể oải; tôi cảm giác như mình sẽ chẳng bao giờ có sức mạnh để di chuyển được nữa. Một tâm trạng, có thể là sự tuyệt vọng, đã choán lấy tôi, tôi cũng chẳng còn năng lượng để thực sự quan tâm tới nó nữa. Giờ chẳng có gì quan trọng nữa, cái thân tôi thì càng không. Tôi chỉ có thể mong mỏi, và cũng chỉ xứng đáng nhận được sự tĩnh lặng và tê liệt hoàn toàn này.

Nói theo cách khác, tôi đang trải qua ma-khóa, đó là hiệu ứng của Loại Hai khi chúng quyết định để năng lượng của chúng ảnh hưởng lên bạn.

Một người bình thường có thể sẽ đứng đó tuyệt vọng và để mặc cho Khách chi phối ý chí lên họ. Nhưng tôi là một thám tử. Tôi đã từng đối mặt với điều này trước kia rồi. Bởi thế tôi cố sức lấy lại hơi thở khó nhọc từ không khí đã bị đông cứng, rũ sạch làn sương mù khỏi trí óc. Tôi ép mình phải sống. Và tôi chầm chậm đưa hai tay về phía những vũ khí ở thắt lưng.

Cô gái đứng ở giữa chừng căn phòng ngủ nay là phòng làm việc, ngay đằng trước tôi. Tôi có thể thấy cô ta ở chính giữa khung cửa mở. Cô ta khá xanh xao, nhưng tôi nhìn rõ cô ta đứng chân trần trên tấm thảm đã được cuộn lại - hay, nói chính xác hơn, giữa nó, vì mắt cá chân cô ta chìm trong thớ vải của tấm thảm như thể cô ta đang lội trong nước biển. Cô ta mặc một chiếc váy in họa tiết mùa hè rất đẹp, dài đến mắt cá chân, với những bông hoa hướng dương lớn màu cam sặc sỡ. Đó không phải một mẫu thiết kế mới. Chiếc váy, chân tay cùng mái tóc dài sáng màu của cô ta được một thứ ánh-sáng-khác lờ mờ, nhợt nhạt soi rọi, như thể bởi thứ gì đó từ rất xa. Và gương mặt cô ta...

Gương mặt cô ta là một khối đặc bóng tối. Không chút ánh sáng nào tới được đó cả.

Khó nói chính xác, nhưng tôi đoán cô ta khoảng chừng mười tám. Lớn tuổi hơn tôi, nhưng không quá nhiều. Tôi đứng đó một lúc, băn khoăn về điều này, mắt dán chặt vào cô gái không có mặt và hai tay lần về thắt lưng.

Rồi tôi nhớ ra mình không cô độc trong ngôi nhà này.

“Lockwood,” tôi gọi. “Ôi, Lockwood...” tôi nói, cố tỏ vẻ nhẹ nhõm nhất có thể. Khi có mặt của Khách thì tốt nhất nên tránh bộc lộ các dấu hiệu của sự sợ hãi - sợ hãi, tức giận và các cảm xúc mãnh liệt khác. Bọn họ sẽ tiêu hóa những thứ đó rất dễ dàng; chúng làm cho họ nhanh hơn và hung hăng hơn. Không có tiếng trả lời, bởi vậy tôi hắng giọng và thử lại lần nữa. “Ôi, Lockwood...!” Tôi dùng ngữ điệu của một bài hát vui vẻ, như thể đang nói với một em bé hay một con thú cưng đáng yêu. Tôi cũng đành phải thử làm thế, bởi cậu đâu có thèm trả lời.

Tôi quay đầu và gọi to hơn một chút. “Ôi, Lockwood, đến đây đi mà...''

Giọng cậu nghèn nghẹn vọng lại từ phía hành lang. “Đợi chút, Luce. Tôi vừa tìm thấy một thứ...”

“Trời ơi! Tôi cũng thế...”

Khi tôi quay lại nhìn, cô gái đã tới sát hơn, gần ra đến hành lang. Gương mặt vẫn tối đen, nhưng những mảng ánh-sáng-khác trôi nổi, xoay quanh thân thể cô ta đã sáng rõ hơn lúc trước nhiều. Hai cổ tay xương xẩu của cô ta ép sát vào bên người, ngón tay uốn cong như những lưỡi câu. Đôi chân trần của cô ta rất đỗi gầy guộc.

“Cô muốn gì?” tôi hỏi.

Tôi lắng nghe. Những từ ngữ nhẹ tựa lông hồng chạm tới tai tôi. “Tôi lạnh.”

Những đoạn đứt quãng. Bạn chẳng mấy khi thu được nhiều hơn những đoạn đứt quãng. Giọng nói nhỏ bé đó là một tiếng thì thầm phát ra từ rất xa, nhưng cũng gần đến khó chịu. Nó dường như gần với tôi hơn nhiều so với tiếng trả lời của Lockwood trước đó.

“Ôi, Lockwood!” tôi gọi lần nữa. “Khẩn cấp đấy...”

Bạn có tin được không? Tôi cảm nhận thấy một thoáng khó chịu trong câu trả lời của cậu. “Đợi một chút đã nào, Lucy. Có một thứ rất thú vị ở đây. Tôi vừa thấy một đốm-sáng-chết - một đốm thực sự, thực sự yếu ớt. Có thứ gì đó kinh khủng đã xảy ra trong cả phòng ngủ phía trước nữa! Nó mơ hồ tới nỗi tôi gần như đã bỏ qua nó, bởi thế hẳn nó đã xảy ra cách đây lâu rồi. Nhưng, cậu biết không, tôi nghĩ nó rất khủng khiếp... Có nghĩa là - chỉ là một giả thuyết thôi, tôi chỉ đang đưa ra các ý tưởng - có thể đã có hai vụ tử vong kinh hoàng trong căn nhà này... Cậu nghĩ thế nào?”

Tôi khẽ chặc lưỡi. “Tôi nghĩ mình có thể giúp cậu với giả thuyết đó,” tôi ngân nga, “chỉ cần cậu ra ngoài này thôi.”

“Vấn đề là,” cậu tiếp tục, “tôi không biết cái chết đầu tiên có liên hệ gì với nhà Hope hay không. Họ mới chỉ ở đây hai năm, phải không? Bởi vậy có lẽ những xáo động mà chúng ta đang trải qua không...”

“... thực sự do người chồng gây ra?” tôi nói to. “Phải rồi, khá lắm! Không phải do ông ấy!”

Một khoảng lặng ngắn. Cuối cùng cậu đã chú ý. “Sao cơ?”

“Tôi nói rằng đó không phải do người chồng, Lockwood! Giờ thì ra đây đi!”

Bạn có thể nhận ra rằng tôi đã thoáng từ bỏ nỗ lực giữ thái độ nhẹ nhàng. Đó là bởi đối tượng trong phòng làm việc giờ đây đã nhận thấy sự kích động của tôi và lúc này cô ta đang trượt qua cửa. Móng chân trên hai bàn chân gầy gò xanh xao dài và cong vút.

Cả hai tay tôi đang đặt trên đai lưng. Một tay nắm chặt chuôi kiếm; tay kia nắm một ống Lửa Hy Lạp. Tất nhiên bạn thực sự không nên sử dụng pháo magiê ở trong nhà, nhưng tôi sẽ không mạo hiểm mạng sống của mình. Những đầu ngón tay của tôi lạnh như băng nhưng cũng ướt mồ hôi; chúng trượt trên bề mặt kim loại.

Một chuyển động xuất hiện phía bên trái tôi. Tôi liếc thấy Lockwood bước ra hành lang. Chính cậu ấy cũng sững người. “À,” cậu nói.

Tôi gật đầu dứt khoát. “Đúng vậy đấy, lần sau khi tôi gọi cậu trong khi đang làm nhiệm vụ, thì hãy làm ơn lê mông ra đây nhanh gấp đôi nhờ cái.”

“Tôi xin lỗi. Nhưng tôi thấy là cậu đã kiểm soát tình hình tốt đấy. Cô ta đã nói gì chưa?”

“Rồi.”

“Cô ta đã nói gì vậy?”

“Cô ta nói là cô ta lạnh.”

“Hãy nói với cô ta rằng chúng ta có thể giải quyết chuyện đó cho cô ta. Không, đừng làm chuyện gì vớ vẩn với vũ khí của cậu - nó chỉ làm tình hình tệ hơn thôi.” Cô gái đã trượt thêm một chút gần hơn tới hành lang; đáp lại, tôi bắt đầu rút kiếm. “Hãy nói với cô ta chúng ta có thể giải quyết được,” Lockwood nói lại lần nữa. “Nói với cô ta chúng ta có thể tìm thấy thứ cô ta đã lạc mất.”

Tôi làm thế, bằng giọng điềm tĩnh nhất có thể. Chẳng có tác dụng mấy. Hình dáng đó chẳng hề co lại hay thay đổi, hay hóa thành hơi, hay tan ra, hay làm bất cứ điều gì mà cuốn cẩm nang Fittes đã đoan chắc rằng các hồn ma sẽ làm khi bạn cho họ hy vọng được giải thoát.

“Tôi lạnh,” giọng nói nhỏ đó lại cất lên; và rồi một lần nữa, to hơn nhiều, “Lạc lõng và lạnh.”

“Là gì vậy?” Lockwood đã cảm thấy sự tiếp xúc, nhưng không thể nghe được âm thanh.

“Cũng vẫn những từ đó, nhưng tôi phải nói với cậu, Lockwood ạ, lần này nó không giống với lời nói chuyện của một cô gái cho lắm. Nó nghe rất sâu và rỗng, và vang vọng như thể trong hầm mộ.”

“Chuyện đó chẳng bao giờ tốt cả, phải không?”

“Đúng vậy. Tôi nghĩ chúng ta nên coi đó là dấu hiệu.” Tôi rút thanh kiếm ra. Lockwood cũng làm thế. Chúng tôi đứng đối diện với hình dáng đó trong yên lặng. Không bao giờ tấn công trước. Luôn chờ đợi, dụ cho họ để lộ ra ý định. Xem họ làm gì, họ đi đâu; nghiên cứu các hình thái hành vi của họ. Giờ đây cô ta gần tới nỗi tôi có thể nhận ra đường nét mái tóc dài sáng màu buông xuống quanh cổ; nhìn thấy những mụn ruồi và những vết nám trên da cô ta. Tôi ngạc nhiên vì hình vọng lại có thể mạnh đến thế này. George gọi đó là “ý nguyện muốn tồn tại”, sự từ chối để mất những gì đã từng có. Tất nhiên, không phải tất cả họ đều xuất hiện theo cách này. Tất cả phụ thuộc vào tính cách của họ khi còn sống, và chính xác điều gì đã xảy ra khi cuộc sống đó kết thúc.

Chúng tôi chờ đợi. “Cậu có thể nhìn thấy mặt cô ta không?” tôi hỏi. Tầm nhìn của Lockwood tinh tường hơn tôi.

“Không. Nó bị ẩn đi rồi. Nhưng phần còn lại thì rất sáng. Tôi nghĩ nó là...”

Cậu ngừng lại; tôi nâng tay lên. Lần này âm thanh tôi nghe thấy vô cùng trần trụi và yếu ớt. “Tôi lạnh,” giọng nói thì thào. “Lạc lõng và lạnh. Lạc lõng và lạnh... và CHẾT!”

Vầng sáng xung quanh cô gái vụt chói lòa một vẻ bất hạnh, và trong khoảnh khắc tấm mạng bóng tối bị nhấc ra khỏi khuôn mặt. Tôi gào lên. Ánh sáng biến mất. Một chiếc bóng lao tới phía tôi, hai cánh tay xương xẩu vươn ra. Không khí lạnh cóng ùa vào người tôi, đẩy tôi về phía cầu thang. Tôi vấp chân ở mép cầu thang và ngã ngửa ra sau. Buông thanh kiếm, tôi tuyệt vọng với một cánh tay bám lấy một góc của bức tường. Tôi treo mình trên khoảng không trống rỗng, cơn cuồng phong táp vào người, những đầu ngón tay trượt trên lớp giấy dán tường trơn, lạnh. Bóng hình đó đã tiến đến gần. Tôi sắp rơi xuống.

Rồi Lockwood lao bật vào giữa chúng tôi, lưỡi kiếm của cậu rạch một hoa văn phức tạp vào không khí. Cái bóng lùi lại, tay giơ lên che ngang mặt. Lockwood lại rạch một hoa văn khác, lưỡi sắt sáng lòa tạo thành những bức tường bao vây cô ta từ nhiều mặt. Hình dáng đó co lại. Cô ta lao vút vào phòng làm việc và Lockwood truy đuổi theo sau.

Hành lang trống không. Cơn gió đã lặng đi. Tôi quờ quạng vào bức tường, đu thẳng người lên đỉnh cầu thang và quỳ sụp xuống. Tóc tôi xòa vào mắt; một chân vẫn còn thò ra khỏi bậc thang trên cùng.

Chậm rãi mà cương quyết, tôi đưa tay ra với lấy thanh kiếm. Vai tôi đau âm nơi khớp cánh tay.

Lockwood quay trở lại. Cậu cúi xuống gần tôi, đôi mắt điềm tĩnh quét qua bóng tối nơi hành lang. “Cô ta có chạm vào cậu không?”

“Không. Cô ta chạy đâu rồi?”

“Tôi sẽ chỉ cho cậu.” Cậu giúp tôi đứng dậy. “Cậu chắc là cậu ổn cả chứ, Lucy?”

“Tất nhiên rồi.” Tôi vén tóc khỏi mặt, ấn mạnh thanh kiếm trở vào bao ở thắt lưng. Vai tôi hơi nhói đau, nhưng không sao. “Vậy thì,” tôi nói và bắt đầu bước về phía phòng làm việc. “Hãy bắt đầu vào việc thôi.”

“Để lát nữa.” Cậu chìa một cánh tay ra, ngăn tôi bước lên trước. “Cậu cần nghỉ ngơi.”

“Tôi ổn mà.”

“Cậu đang nóng giận. Không cần thiết phải thế. Cú tấn công đó có thể hạ gục bất cứ ai. Tôi cũng bất ngờ về nó.”

“Cậu đã không đánh rơi kiếm.” Tôi đẩy tay cậu ra. “Nghe này, chúng ta đang lãng phí thời gian đấy. Khi cô ta quay trở lại...”

“Cô ta không nhắm vào tôi. Năng lượng đó tập trung hoàn toàn vào cậu, cố gắng hất cậu xuống cầu thang. Tôi nghĩ giờ chúng ta đã biết ông Hope ngã xuống cầu thang như thế nào. Nhưng điều tôi muốn nói là, cậu cần phải bình tĩnh đã, Lucy. Cô ta sẽ hấp thụ sự tức giận của cậu cực nhanh và trở nên mạnh hơn.”

“Ừ, tôi biết,” tôi nói cắm cảu. Tôi nhắm mắt lại, hít một hơi thật sâu, và rồi một hơi nữa, tập trung làm những điều mà cuốn Cẩm nang đã khuyến nghị: kiểm soát bản thân mình, thả lỏng việc kiềm chế cảm xúc. Sau một lát tôi đã kiểm soát được trở lại. Tôi thoát ra khỏi cơn giận dữ của mình, và thả nó rơi xuống sàn như lột lớp da chết.

Tôi lại lắng nghe. Căn nhà yên lặng, nhưng đó là sự yên lặng khi tuyết rơi, nặng nề và ngột ngạt. Tôi có thể cảm thấy nó đang quan sát tôi.

Khi tôi mở mắt ra, Lockwood đang đứng đút tay trong túi áo khoác, yên lặng chờ đợi trong bóng tối nơi hành lang. Thanh kiếm của cậu đã trở lại nơi thắt lưng. “Thế nào rồi?” cậu hỏi.

“Tôi cảm thấy tốt hơn rồi.”

“Cơn giận dữ đã qua rồi chứ?”

“Không còn chút nào sót lại.”

“Tốt rồi, bởi vì nếu như cậu không cảm thấy ổn định, chúng ta sẽ về nhà ngay lúc này.”

“Chúng ta sẽ không về nhà,” tôi điềm tĩnh nói, “và tôi sẽ nói với cậu nguyên do tại sao. Con gái bà Hope sẽ không cho chúng ta vào đây một lần nữa. Bà ấy nghĩ chúng ta còn quá trẻ. Nếu từ giờ đến ngày mai chúng ta không giải quyết được vụ này, bà ấy sẽ không cho chúng ta làm nữa và đẩy công việc này cho Fittes hay Rotwell. Chúng ta cần tiền, Lockwood. Chúng ta sẽ giải quyết vụ này ngay bây giờ.”

Cậu không động đậy. “Nếu là các đêm khác,” cậu nói, “tôi có thể sẽ đồng ý với cậu. Nhưng các thông số đã thay đổi. Đây không phải một ông già tội nghiệp làm phiền bà vợ góa của mình; đây gần như chắc chắn là hồn ma của nạn nhân trong một vụ giết người. Và cậu biết bọn họ là như thế nào mà. Bởi vậy nếu cậu không tập trung, Luce...”

Dù đã bình tĩnh và ổn định, tôi vẫn thấy hơi khó chịu với vẻ bề trên của cậu. “Đúng thế,” tôi nói, “nhưng vấn đề thực sự không phải ở tôi, phải không nào?”

Lockwood nhăn mặt. “Ý cậu là sao?”

“Ý tôi là xích sắt ấy.”

Cậu trợn mắt. “Ô, thôi nào. Đó chẳng phải là...”

“Những sợi xích sắt là đồ nghề tiêu chuẩn cho mỗi thám tử, Lockwood ạ. Chúng là vật dụng thiết yếu để tự vệ khi chúng ta đối mặt với một Loại Hai mạnh. Thế mà cậu đã quên không bỏ vào!”

“Chỉ bởi vì George cứ nhất quyết phải bôi dầu cho nó! Và nếu tôi nhớ không nhầm thì do chính cậu gợi ý đấy.”

“Ồ, vậy giờ hóa ra nó là lỗi của tôi sao?” tôi gào lên. “Thám tử nào cũng có thể quên mặc quần chứ không bao giờ quên xích, thế mà cậu thì làm được đấy. Cậu đã quá phấn khích về việc đến đây, đâm ra chúng ta có mang được gì đến đây thì cũng là kỳ tích đấy. George thậm chí còn khuyên chúng ta không nên đi. Cậu ấy muốn tìm hiểu thêm về ngôi nhà đã. Nhưng không. Cậu đã gạt cậu ấy đi.”

“Đúng vậy đấy! Là người chỉ huy tôi phải làm thế đấy. Trách nhiệm của tôi là...”

“... đưa ra các quyết định tồi? Đúng rồi, tôi nghĩ thế là chuẩn đấy.”

Chúng tôi đứng đó khoanh tay, nhìn nhau tóe lửa qua hành lang tối đen trong một căn nhà bị ma ám. Rồi, giống như mặt trời mọc, ánh mắt của Lockwood dịu đi thành một nụ cười nhăn nhở.

“Thế...” cậu nói. “Việc kiểm soát nóng giận của cậu đến đâu rồi vậy, Luce?”

Tôi khịt mũi. “Tôi thừa nhận tôi bực mình, nhưng lúc này tôi bực mình với cậu. Thế khác mà.”

“Tôi không chắc có khác không, nhưng tôi ghi nhận ý cậu nói về chuyện tiền bạc.” Cậu vỗ mạnh hai bàn tay đi găng vào nhau. “Được rồi, cậu thắng. George sẽ không tán đồng đâu, nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể mạo hiểm. Tôi đã đẩy lùi cô ta được chốc lát, và chúng ta có một lúc để thở. Nếu nhanh chân nhanh tay, chúng ta có thể giải quyết xong vụ này trong nửa tiếng.”

Tôi cúi xuống nhặt hai chiếc túi vải len thô lên. “Dẫn tôi tới chỗ đó đi.”

Chỗ đó hóa ra nằm tít sâu bên trong phòng làm việc: một khoảng tường trống giữa hai phần thụt vào của chiếc giá sách hỗn loạn lúc nãy. Trong ánh sáng chói mắt từ đèn pin của chúng tôi, chúng tôi nhìn thấy nó vẫn được phủ lớp giấy dán tường cũ của phòng ngủ, xám xịt, nhạt màu và bị bong ra gần phào tường. Những bông hồng mập mạp, hình dạng kỳ quặc chạy từ sàn lên tới trần theo những đường xiên.

Ở giữa khoảng không đó có treo một tấm bản đồ màu của Quần đảo Anh. Phần chân của bức tường bị che khuất bởi những chồng tạp chí địa lý cao đến ngang đùi, một vài trong số chúng bị những chiếc búa địa chất bụi bặm đè lên. Bản năng điều tra sắc bén của tôi mách bảo rằng ông Hope có lẽ đã từng là một nhà địa chất.

Tôi xem xét giá sách ở hai bên, thấy bức tường lồi ra như thế nào ở chỗ đó. “Một thành ống khói cũ,” tôi nói. “Vậy là cô ta đã vào đó hả?”

“Cô ta đã tan đi trước khi đến bức tường, nhưng đúng - tôi nghĩ thế. Nguồn trốn trong ống khói cũng là hợp lý, phải không?”

Tôi gật đầu. Đúng, hợp lý. Một cái hốc tự nhiên, đủ to cho bất cứ thứ gì.

Chúng tôi bắt đầu chuyển những chồng tạp chí ra xa, bê trên tay những ôm đầy sang phía bên kia căn phòng. Không gian là một vấn đề. Lockwood muốn vòng tròn ban đầu tôi tạo ra không bị vướng víu, và có một đường dẫn vào nó từ bức tường nơi chúng tôi đang làm việc, bởi vậy chúng tôi vứt hầu hết số tạp chí ở gần cửa và thậm chí ra cả hành lang. Cứ mỗi một vài giây chuyển đồ tôi lại ngừng tay lắng nghe thật kỹ, nhưng ngôi nhà vẫn yên ắng.

Khi chúng tôi đã dọn được một khoảng đủ rộng, tôi mở đám túi ra, đổ một hộp nhựa đựng mạt giũa nữa ra thành một đường cong ngang qua sàn nhà. Nó đại để tạo thành một hình bán nguyệt mở ra ngoài từ phần trọng yếu đó của bức tường. Tôi nối hai đầu lại bằng một đường thẳng chạy dọc chân bức tường, giữ khoảng cách chừng một mét để mạt sắt không bị lẫn với lớp vữa rơi xuống. Khi tôi hoàn thành thì đã có đủ không gian bên trong đó cho cả hai đứa chúng tôi đứng, cho cả hai chiếc túi vải len thô nữa. Sẽ khá an toàn, dù rằng không được đảm bảo bằng khi chúng tôi dùng tới xích sắt.

Tôi cũng kiểm tra lại vòng tròn ban đầu ở giữa phòng. Một chút mạt sắt đã bị vương vãi khi chân chúng tôi bước qua, nhưng tôi quét chúng trở lại vị trí.

Lockwood dỡ chiếc bản đồ địa lý xuống và dựng nó dựa vào cạnh bàn. Rồi cậu xuống dưới bếp và quay lại với hai chiếc đèn. Thời gian quan sát trong bóng tối đã qua; giờ là lúc phải hành động, và vì thế chúng tôi cần có đủ ánh sáng. Cậu đặt những chiếc đèn trên sàn nhà bên trong vành bán nguyệt và bật chúng lên ở mức yếu, hướng luồng sáng về phía bức tường trống. Ánh sáng soi tỏ bức tường như một sân khấu nhỏ.

Tất cả những việc đó mất khoảng chừng mười lăm phút. Cuối cùng thì chúng tôi đã đứng cùng nhau bên trong lớp mạt sắt, dao bấm và xà beng sẵn sàng, chăm chú nhìn bức tường. “Muốn nghe giả thuyết của tôi không?” Lockwood nói.

“Nói đi.”

“Cô ta đã bị giết trong ngôi nhà này hàng chục năm trước đây - lâu đến nỗi cô ta trở nên lặng lẽ. Rồi ông Hope đặt phòng làm việc của ông ấy ở căn phòng này, và điều đó vô tình kích thích cô ta. Điều đó cho thấy vẫn còn có gì đó của cô ta được che giấu ở đây; thứ gì đó cô ta quan tâm, làm cô ta cứ vương vấn mãi. Có thể là quần áo, hoặc tài sản nào đó; hoặc một món quà cô ta hứa tặng người khác. Hoặc là...”

“Hoặc là thứ gì đó khác,” tôi nói.

“Đúng vậy.”

Chúng tôi đứng yên và quan sát bức tường.

« Lùi
Tiến »