Đầu giờ chiều ngày hôm đó chúng tôi cuốc bộ một đoạn ngắn tới nhà ga tàu điện ngầm phố Baker. Thật tốt khi lại được ra ngoài, và cả được đi dưới ánh mặt trời dễ chịu nữa. Mỗi người chúng tôi đều cảm thấy sự thay đổi; tâm trạng của chúng tôi đã phấn chấn hơn. Chúng tôi mặc đồ bình thường. Lockwood mặc một chiếc áo khoác da dài màu nâu làm nổi bật cái dáng mảnh khảnh của cậu và thoải mái sải bước. George mặc một chiếc áo vét phồng gớm ghiếc với đường eo chim chiết cao làm nổi bật cái mông của cậu. Tôi mặc những thứ bình thường của mình: áo khoác, áo len cổ lọ, váy ngắn sẫm màu và quần tất. Tất cả chúng tôi đều mang kiếm (với tôi là thanh kiếm dự phòng lấy từ hành lang). Những món đó - và những vết xước cùng vết thâm tím trên mặt chúng tôi - là những dấu hiệu cho thấy nghề nghiệp và thân thế của chúng tôi: người ta dẹp sang một bên khi chúng tôi bước qua.
Tàu điện ngầm tuyến Jubilee đông đúc, bận rộn và đậm mùi bảo vệ ngọt ngào của oải hương. Đàn ông cài những nhành oải hương trên khuy áo; phụ nữ cài chúng trên mũ. Trên khắp toa tàu, những chiếc trâm cài tóc và kẹp cà vạt bằng bạc sáng lấp lánh dưới ánh đèn neon. Chúng tôi đứng yên lặng và nghiêm nghị khi chuyến tàu lăn bánh qua những đường hầm trên hành trình năm phút tới công viên Green. Không ai nói gì cả. Ánh mắt của đám đông dõi theo chúng tôi khi chúng tôi xuống tàu và bước dọc sân ga.
George lật giở cuốn từ điển tiếng Latin trong suốt hành trình. Khi chúng tôi bước lên thang cuốn, cậu lấy chiếc bút chì ra khỏi miệng và ghi chú thích cuối cùng lên một tờ giấy nháp.
“Được rồi,” cậu nói. “Tôi đã cố hết sức có thể. Những chữ đó là ‘Tormentum meum, laetitia mea’ , đúng không? Hừm, Tormentum có nghĩa là 'nỗi thống khổ' hoặc là 'sự hành hạ'. Laetitia tương đương với 'sự vui thích' hoặc 'hạnh phúc'. Meum và mea đều có nghĩa là 'của tôi'. Bởi vậy tôi dịch chữ trên mặt dây chuyền đó là 'Nỗi thống khổ của tôi, niềm hạnh phúc của tôi'.” Cậu đóng sập quyển từ điển lại. “Không phải thông điệp tình yêu lành mạnh nhất, phải không nào?”
“Khớp hoàn toàn với điều tôi đã cảm thấy,” tôi nói ngắn gọn. “Đó không phải một mối quan hệ lành mạnh. Nó đảo chiều giữa hai thái cực. Phân nửa thời gian là cảm giác hạnh phúc, nửa còn lại bị lấn át bởi ghen tuông và hờn ghét. Và đó là những gì đã thống trị về cuối.”
“Đừng nghĩ về nó nữa, Lucy,” Lockwood nói. “Cậu đã làm phần việc của mình rồi. Giờ George và tôi sẽ làm phần việc của bọn tôi. Cậu nghĩ ta sẽ mất bao lâu ở Trung tâm Lưu trữ hả George?”
“Không lâu đâu,” George nói. “Chúng ta sẽ tìm lại những tờ báo địa phương, bắt đầu từ ngày tháng lần trước tôi bỏ dở. Nếu có thêm bất cứ thông tin gì về Annabel Ward - chẳng hạn một vụ bắt bớ nào đó - chúng ta sẽ tìm thấy nó ngay lập tức. Rồi chúng ta có thể kiểm tra cả những tạp chí lá cải nữa - người ta nói cô ấy là người của công chúng mà.”
Chúng tôi rời khỏi nhà ga và bước lên giao lộ Piccadilly. Nắng chiều xiên chéo giữa những tòa nhà cao tầng; chúng tôi bước từ ánh sáng mặt trời rực rỡ vào trong bóng râm xanh thẫm và lại ra ngoài. Đã là cuối thu, công việc chuẩn bị cho buổi tối đã bắt đầu. Một người rải muối đẩy xe dọc đường phố, vãi những hạt muối tươi sang hai bên như tuyết rơi. Bên ngoài các khách sạn lớn, những người phục vụ nhồi vào thùng rác những bó oải hương khô đã sẵn sàng đốt lửa; những người khác đánh bóng những chiếc đèn ma treo bên trên các cánh cửa.
Tôi để những cơ bắp thâm tím của mình duỗi ra thoải mái khi bước đi; thật tốt khi cảm thấy sức mạnh đang quay trở lại. Lockwood khập khễnh đôi chút, nhưng ngoài ra thì hoàn toàn vui vẻ. Cậu đã tháo bỏ đám băng gạc trên cánh tay bị ma chạm để làn da tắm trong ánh mặt trời. “Nếu chúng ta có thể giải quyết vụ án cũ này,” cậu nói; “nếu chúng ta có thể vén mở vụ giết người và lấy lại công bằng cho cô gái ấy, vụ này sẽ trở nên vô cùng nổi tiếng. Nó sẽ hoàn toàn bù đắp cho việc chúng ta đốt cháy nhà người phụ nữ đó.”
“Và thêm vào đó sẽ giúp chúng ta giữ được Lockwood & Đồng sự,” tôi nói.
“Hy vọng thế...” Cậu lách tránh một người đàn ông đang chào bán bản đồ du lịch của những “vùng an toàn” trong thành phố và tảng lờ những lời nài nỉ của một người bán đồ sắt. “Nhưng chỉ khi chúng ta có được những vụ tốt, và phải kiếm ra chúng thật nhanh.”
“Các cậu hãy chú ý rằng DEPRAC cũng sẽ làm vụ này,” George chỉ ra. “Đó chưa bao giờ là ưu tiên của họ, nhưng họ cũng có điều tra những vụ giết người từ xưa, nếu chúng xảy ra trong quãng thời gian mà hiện nay người ta còn nhớ được.”
“Lại càng có lý do để hành động nhanh,” Lockwood nói. “Được rồi, hãy bước qua chỗ này.”
Chúng tôi rời khỏi đường, bước qua rãnh thoát nước không nắp đậy, hay còn gọi là “rãnh chảy”, chứa dòng nước chảy tách vỉa hè khỏi mặt đường. Ai cũng biết hồn ma lang thang không thích dòng nước chảy; hệ quả là những rãnh chảy nhỏ hẹp cắt chi chít quanh những đường phố mua sắm nổi tiếng ở khu West End xuất hiện, cho phép người ta an toàn dạo bước vào buổi tối. Trước đây chính phủ đã hy vọng mở rộng hệ thống này ra khắp thành phố, nhưng thực tế đã cho thấy đó là việc vô cùng tốn kém. Ngoài những chiếc đèn ma, khu vực ngoại ô phải tự chống đỡ cho mình.
Chúng tôi đi lên một đường nhánh, qua một cổng vòm đá lớn và bước ra đoạn đường cong của phố Regent. Không xa phía trước, một quầy hàng được dựng trên vỉa hè. Những lá cờ phấp phới bên trên một mái che màu đỏ máu vui mắt. Trên mỗi lá cờ đều có hình một huy hiệu sư tử màu vàng kim, và một chữ “R” hoa mỹ.
“Ồ, nhìn kìa,” George nói. “Hạt dẻ nóng! Ai muốn ăn một chút không?”
Một nhóm các cậu con trai và cô con gái mặc những chiếc áo khoác đỏ sậm đứng xung quanh quầy hàng, phát miễn phí những nhành oải hương, bom muối và kẹo cho những người qua đường. Hạt dẻ rang nóng nổ lách tách trên một vỉ nướng; một cậu mặt mụn cầm muôi to tướng đứng cạnh đó để đổ chúng vào trong những cốc giấy hình phễu. Tóc các thám tử này chải kỹ càng, kiếm được đánh bóng, gương mặt sạch sẽ và tươi cười; tất cả dường như được đẩy ra từ cùng một khuôn đúc nhợt nhạt, thiếu sinh khí. Họ là những đại diện của Rotwell, công ty thám tử lâu đời thứ hai ở London, và nhờ những chiến dịch tuyên truyền của họ, công ty nổi tiếng nhất trên diện rộng. Đằng sau quầy hàng, lùi lại một chút từ đường cái, văn phòng chính của Rotwell đứng sừng sững ở đó - một công trình hoành tráng, mặt ngoài nhẵn bóng với kính và đá cẩm thạch. Hình những con sư tử đang gầm gừ, giữ kiếm ở chân trước được khắc lên mặt kính của cánh cửa trượt đôi phía trước. Tôi biết bên trong văn phòng đó trông thế nào; tôi đã trượt một cuộc phỏng vấn ở đó.
Một cậu bé, không quá mười tuổi, đang mỉm cười, chìa ra một cốc phễu đựng hạt dẻ khi chúng tôi tiến tới. “Quà của Rotwell,” cậu ta nói. “Chúc một buổi tối an toàn.”
“Chúng ta sẽ không lấy,” Lockwood càu nhàu. “George, tôi muốn cậu chỉ đi qua thôi.”
“Nhưng tôi đang đói.”
“Chịu thôi. Cậu sẽ không đi trên phố với một chiếc cốc giấy như vậy trên tay. Quảng cáo cho đối thủ là có tội đấy.”
Cậu lờ cậu bé kia đi và bước qua. George lưỡng lự, rồi cầm lấy chiếc cốc và nhét vào trong túi. “Thế,” cậu ấy nói. “Khuất mắt rồi. Đối với tôi từ chối thức ăn miễn phí mới là có tội.”
Chúng tôi lách qua dòng người ken đặc và bước ra ở phía bên kia. Một vài phút sau chúng tôi đã đến một khoảnh sân yên tĩnh ngập bóng cây cách phố Regent một dãy nhà. Một tòa nhà khổng lồ xấu xí, mặt trước bằng gạch sừng sững đứng án ngữ. Một tấm biển sắt trên cửa ghi chữ: TRUNG TÂM LƯU TRỮ BÁO CHÍ QUỐC GIA.
Cặp kính của George sáng lên. Đây là lãnh địa của cậu; một thứ gần với nụ cười nhất tôi từng thấy nở ra trên khuôn mặt dính vệt hạt dẻ của cậu. “Chúng ta đến nơi rồi. Nói khẽ thôi nhé. Thủ thư ở đây khó tính lắm.” Cậu dẫn chúng tôi qua vạch sắt và đi qua những cánh cửa xoay.
Từ bé tới giờ tôi chưa từng đam mê đọc sách. Nhà tôi chẳng có mấy sách, và tôi đã thực tập ở chỗ ông Jacobs gần như trước khi đi học. Tất nhiên, tôi phải biết đọc để có thể hoàn thành bài tập của mình - bạn chẳng thể nào đạt được bất cứ chứng chỉ nào mà không phải trải qua một bài kiểm tra viết đơn giản - và tôi đã học thuộc Cẩm nang Fittes cho người săn ma năm lên mười hai. Nhưng sau đó? Nói thực là tôi đã quá bận làm việc để có thể dành thời gian cho sách vở. Đúng là ông Jacobs thi thoảng cử tôi tới thư viện địa phương để tra cứu chi tiết về những vụ treo cổ (khu vực xung quanh đồi Gibbet, cách thị trấn nhỏ của chúng tôi nửa dặm, nơi nổi tiếng có nhiều Khách), bởi thế không phải tôi hoàn toàn không quen thuộc với những tòa nhà đầy sách vở. Nhưng Trung tâm Lưu trữ Báo chí Quốc gia lớn hơn bất cứ nơi nào tôi từng thấy hước đó.
Tòa nhà này có sáu tầng rộng mênh mông, chạy xung quanh một giếng trời trung tâm bằng bê tông. Khi bạn đứng ở dưới sân giếng trời, giữa những cây cọ và các loại cây cối trong nhà khác, những giá sách và bàn đọc sách ở các tầng trên dường như với lên tới tận bầu trời. Một khối điêu khắc bằng sắt lớn được treo xuống từ mái vòm cao phía trên, vừa để trang trí, vừa để bảo vệ. Ở tất cả các tầng, những dáng người lom khom đang lật giở những tờ báo và tạp chí đã ngả vàng. Một vài người có lẽ đang nghiên cứu về Vấn đề, tìm kiếm những manh mối cho thứ dịch bệnh đang bao vây chúng tôi. Những người khác là thám tử: tôi đã nhìn thấy những chiếc áo khoác xanh dương của Tamworth lác đác xung quanh, rồi màu hoa cà của Grimble, và đây đó sắc màu xám xịt u ám của Fittes. Không biết đây là lần thứ bao nhiêu tôi tự hỏi tại sao Lockwood chưa lựa chọn một bộ đồng phục riêng cho chúng tôi.
Giống như tôi, Lockwood dường như có phần choáng ngợp, nhưng George đã thúc giục chúng tôi bước theo trong một phong thái tự tin. Chỉ sau một vài phút cậu đã đưa chúng tôi đi thang máy tới tầng bốn, đến ngồi ở một chiếc bàn trống, và sau khi biến mất một lúc, cậu thả xuống trước mặt chúng tôi tập hồ sơ màu xám đầu tiên.
“Đây là những tờ báo địa phương từ quận Richmond, bốn mươi chín năm trước,” cậu ấy nói. “Annabel Ward biến mất vào cuối tháng Sáu. Bài báo tôi tìm thấy xuất hiện khoảng chừng một tuần sau đó.”
“Lockwood, cậu bắt đầu với các số tháng Bảy nhé. Khả năng chúng sẽ là hữu ích nhất. Lucy, cậu xem hồ sơ các tháng mùa thu nhé. Tôi sẽ đi lấy các bản phát hành của tờ Xã hội London.”
Lockwood và tôi cởi áo choàng rồi ngoan ngoãn đắm mình vào những trang báo ly kỳ của tờ Người phán xử Richmond. Tôi nhanh chóng nhận ra nó chứa đựng nhiều câu chuyện về các bữa tiệc ở địa phương, những vụ mất chó mất mèo, các cuộc thi chăm sóc vườn hơn tôi hình dung về những gì có thể tồn tại trong vũ trụ này. Cũng có chút ít thông tin về Vấn đề khi người ta bắt đầu thảo luận về bản chất của nó. Tôi đã thấy họ bắt đầu kêu gọi dựng đèn ma (và cuối cùng chúng đã được dựng lên) và san phẳng các nghĩa địa, đồng thời rải muối (điều này đã không được thực hiện: nó quá tốn kém và gây ra nhiều tranh cãi; thay vào đó họ chỉ đơn giản rào sắt xung quanh). Nhưng tôi chẳng tìm thấy gì thêm về việc tìm kiếm cô gái bị mất tích đó.
Lockwood và George - đang lật giở xem những tấm ảnh đen trắng bóng loáng trong các cuốn tạp chí - cũng không may mắn hệt như tôi. Lockwood có vẻ bồn chồn; cậu chán nản nhìn đồng hồ.
Có mấy cái cái bóng đổ xuống trang báo của tôi. Ngẩng đầu nhìn lên, tôi thấy ba người đang đứng cạnh bàn và quan sát chúng tôi với vẻ đắc chí được che đậy vụng về. Hai thiếu niên, một đứa con trai và một đứa con gái; người kia là một chàng trai còn rất trẻ. Cả ba đều mặc áo khoác xám mềm mại và quần đen phẳng phiu của công ty săn ma lâu đời nhất, danh tiếng nhất ở London - công ty thám tử Fittes lừng danh. Những thanh kiếm của họ có chuôi kiểu Ý cầu kỳ, cổ điển và đắt hơn nhiều so với những thanh kiếm của chúng tôi. Bọn họ mang theo va li màu xám gọn gàng có in phù hiệu Fittes (trên áo cũng thế), hình một con kỳ lân bằng bạc đang đứng trên hai chân sau.
Lockwood và George đứng lên. Chàng trai trẻ tuổi kia cười với bọn họ.
“Chào Tony,” anh ta nói. “Lạ quá nhỉ? Trước tôi chưa từng gặp cậu ở đây đâu đấy.”
Tony. Chẳng có ai, trong sáu tháng trời tôi quen biết cậu, dám gọi cậu là Anthony. Trong thoáng chốc tôi đã cho là có một tình bạn tuyệt vời giữa tay giám sát của Fittes này và Lockwood; rồi tôi nhận ra phải ngược lại mới đúng.
Lockwood cũng cười, nhưng theo cái cách tôi chưa từng nhìn thấy trước đó. Không hiểu sao nó có vẻ gì đó rất hung ác. Những nếp nhăn sâu che khuất mắt cậu ấy. “Quill Kipps,” cậu nói. “Cuộc đời đối đãi với anh thế nào?”
“Bận. Bận lắm. Còn cậu thì sao, Tony? Thứ lỗi cho tôi, trông cậu tệ quá.”
“Ồ, có gì nghiêm trọng đâu. Chỉ là chấn thương một chút. Chẳng thể phàn nàn gì.”
“Đúng thế, tôi hình dung rằng cậu chẳng có thời gian để phàn nàn,” người thanh niên nói, “vì đã có bao nhiêu người phàn nàn về cậu rồi...” Anh ta chẳng có mấy cơ bắp, dáng vẻ mảnh khảnh như một chú chim. Anh ta có khi còn nhẹ cân hơn tôi. Anh ta có cái mũi nhỏ, hếch ngược lên, khuôn mặt hẹp đầy tàn nhang, cùng mái tóc nâu đỏ cắt cụt ngủn. Anh ta có bốn hay năm cái huy chương đính trên ngực áo khoác, và trên núm chuôi kiếm lấp lánh là một viên đá xanh lục. Hẳn bây giờ anh ta chẳng còn dùng đến thanh kiếm đó nhiều nữa. Tôi đoán chừng anh ta đã khoảng hai mươi tuổi, bởi thế những ngày thính nhạy đã ở lại phía sau anh ta. Năng lực của anh ta đã teo lại và tiêu biến mất rồi. Giống như Jacobs, sếp cũ của tôi, và tất cả những giám sát viên vô dụng khác đang bóp nghẹt công việc này, hiện giờ anh ta chỉ có thể sai vặt bọn trẻ con.
Lockwood không có vẻ bị xáo trộn nhiều bởi những lời khích bác đó. “Hừm, anh biết đấy,” cậu nói, “những chuyện như thế vẫn xảy ra mà. Thế... anh đang nghiên cứu gì vậy?”
“Một cụm ma ở đường hầm gần Moorgate. Tôi đang cố tìm ra xem họ là ai.” Anh ta nhìn đống giấy tờ của chúng tôi. “Tôi thấy là các cậu cũng đang nghiên cứu điều gì đó.”
“Đúng vậy.”
“Người phán xử Richmond... Ồ, tôi hiểu rồi. Vụ tai tiếng ở đường Sheen đây mà. Tất nhiên, ở Fittes, chúng tôi thường nghiên cứu trước khi đối đầu với Khách. Chúng tôi không đến nỗi ngu ngốc, các cậu biết mà.”
Cậu con trai đứng bên cạnh anh ta, cao lênh khênh với cái đầu to và mái tóc xám lông chuột bờm xờm, cười theo vuốt đuôi. Cô con gái chẳng phản ứng gì. Tính hài hước – kể cả một cách dễ dãi và giả tạo mà đáng ra cô ta nên có để về cùng phe của mình - dường như không phải kiểu của cô ta. Cằm cô ta nhỏ và hơi nhọn một chút. Mái tóc vàng của cô ta được cắt ngắn ở phía sau, phần tóc mái thì cắt chéo trước trán; đuôi nhọn của nó gần chạm vào mắt cô ta. Tôi nghĩ cô ta khá xinh đẹp, một vẻ đẹp cứng rắn và giả tạo. Cô ta nhìn tôi. “Ai đây?”
“Trợ lý mới,” Lockwood nói. “Cũng được một thời gian rồi.”
Tôi chìa tay về phía cô gái. “Lucy Carlyle. Còn cậu?”
Cô ta khẽ cười và nhìn dọc theo lối đi như thể có một gói khoai tây chiên hay thứ gì cô ta thấy thú vị hơn tôi nằm đó.
“Đi với Tony thì phải cẩn thận đấy, cô em ạ,” Quill Kipps nói. “Trợ lý trước của cậu ta có kết cục tồi tệ lắm.”
Tôi cười nhạt. “Không phải lo cho tôi. Tôi ổn.”
“Đúng thế, nhưng những điều tồi tệ cứ xảy ra với những người thân cận của cậu ta. Luôn luôn là như thế. Kể từ khi cậu ta còn bé cơ.”
Anh ta cố làm ra vẻ suồng sã, nhưng sắc điệu trong giọng nói đã phản bội anh ta. Có cái gì run rẩy trong đó mà tôi không hiểu được. Tôi liếc nhìn sang Lockwood. Cái cách cậu đứng rất khác. Vẻ bất cần của cậu đã cứng ngắc, trở thành thứ gì đó đanh thép và ít nhân nhượng hơn. Tôi biết cậu đang định nói gì đó, nhưng trước khi cậu kịp cất lời, George đã chen vào.
“Tôi cũng có nghe điều tiếng về anh đấy, Quill ạ,” cậu nói. “Cậu chàng trẻ tuổi mà anh cử vào hầm mộ Southwark một mình, trong khi anh 'chờ lực lượng hỗ trợ' ở ngoài cửa ấy, cậu chàng đó sao rồi hả Quill? Người ta đã tìm được cậu ta chưa?”
Kipps nhăn mặt. “Ai bảo cậu thế? Chuyện xảy ra không phải như thế...”
“Còn vị khách hàng bị ma chạm vì các thám tử của anh đã để lại một đoạn xương tay trong thùng rác của ông ta nữa.”
Anh ta đỏ mặt. “Đó chỉ là nhầm lẫn thôi! Bọn họ đã vứt nhầm túi...”
“Thêm vào đó anh cũng là trưởng nhóm có tỷ lệ thành viên tử vong cao nhất trong số các nhóm của Fittes, đấy là tôi nghe nói thế.”
“Ờm...”
“Không phải một bản lý lịch tuyệt vời lắm, phải không nào?” Có một khoảng yên lặng.
“Ồ, chưa kể anh quên cài khóa quần kìa,” George nói.
Kipps nhìn xuống và phát hiện ra sự thực không mấy vui vẻ trong câu nói đó. Mặt anh ta đỏ bừng. Những ngón tay của anh ta lần xuống chuôi kiếm; anh ta lùi lại nửa bước. George không di chuyển, mà lãnh đạm chỉ vào tấm biển GIỮ TRẬT TỰ treo trên tường.
Quill Kipps hít một hơi thật sâu. Anh ta vuốt tóc ra đằng sau, mỉm cười. “Thật tiếc tôi không khóa được cái mồm béo núc của cậu lại ở chỗ này được, Cubbins,” anh ta nói. “Nhưng rồi sẽ có lúc tôi làm điều đó.”
“Được thôi,” George nói. “Trong khi chờ đợi, sao anh không chọn tỉ thí với ai đó cùng cỡ với mình? Tôi nghĩ một con chuột nhảy hoặc chuột chũi cũng được đấy.”
Kipps khẽ rít lên một tiếng. Anh ta di chuyển; lưỡi kiếm đã ở trong tay...
Thoáng có chuyển động gì đó ở bên cạnh tôi; một tiếng 'keng' vang lên khi lưỡi sắt va vào nhau. Lockwood dường như chẳng hề thay đổi vị trí, nhưng thanh kiếm của cậu giờ đã vươn ra chéo qua chiếc bàn, bắt ngang lưỡi kiếm của Kipps và ấn chặt nó xuống.
“Nếu anh định lấy kiếm làm loạn, Quill,” Lockwood nói, “thì trước tiên nên biết cách dùng nó đã.”
Kipps chẳng nói gì. Một mạch máu nổi lên ở cổ anh ta; dưới lớp vải thanh nhã nơi tay áo mềm mại màu xám, cánh tay anh ta đang gồng lên. Tôi có thể thấy anh ta đang cố dịch chuyển thanh kiếm, đầu tiên về một bên, rồi chuyển sang bên kia, nhưng Lockwood, dù chẳng có vẻ gắng sức, vẫn chặn được anh ta. Hai lưỡi kiếm vẫn đứng nguyên, chủ nhân của chúng hầu như không cử động; George và tôi, và hai thám tử Fittes, cũng đứng im như thế, như thể bị tác động bởi sự lan truyền đầy phép thuật nào đó. Xung quanh chúng tôi, thư viện vẫn yên ắng.
“Cậu không thể giữ thế này mãi được,” Kipps nói.
“Đúng vậy.” Cánh tay Lockwood vặn lại; cậu hất cổ tay. Thanh kiếm của Quill Kipps bị giật khỏi tay anh ta. Nó bay thẳng lên trời và cắm phập mũi lên trần nhà.
“Được lắm,” tôi nói.
Lockwood mỉm cười, tra kiếm vào thắt lưng và ngồi trở lại ghế, để mặc Kipps thở phì phò qua mũi. Sau một chốc anh ta khẽ nhảy lên, hy vọng với được chuôi chiếc kiếm nhưng bị hụt mất vài phân. Anh ta lại nhảy lên lần nữa.
“Cao thêm chút nữa đi, Quill,” George nói vẻ động viên. “Anh sắp tóm được nó rồi đấy.”
Một lúc lâu sau Kipps phải trèo lên bàn mới có thể rút thanh kiếm ra. Các thám tử của anh ta yên lặng theo dõi, cậu con trai cười mỉa, cô con gái tóc hoe vàng thì mặt vẫn lạnh trơ như thế.
“Cậu sẽ phải trả giá vì chuyện này, Lockwood,” Kipps nói khi anh ta bước xuống đất. “Tôi thề tôi sẽ bắt cậu trả giá. Ai cũng biết DEPRAC sắp đóng cửa công ty của cậu, nhưng điều đó chưa đủ với tôi. Tôi sẽ tìm ra cách làm các cậu, cậu và mấy đứa bạn ngu ngốc của cậu, phải thực sự đau đớn. Bill, Kate, đi nào.”
Anh ta xoay người. Những thuộc hạ của anh ta cũng làm vậy. Như một vũ đoàn nhỏ, tập tành không đến nơi đến chốn, họ hối hả đều bước tiến về phía thang máy.
“Kể cả hồi tôi làm việc cùng anh ta, Kipps cũng rất dễ dàng nổi nóng,” George nhận xét. “Anh ta phải học cách kiềm chế một chút. Cậu có thấy thế không, Lockwood?”
Nhưng Lockwood đã lại vùi đầu vào đống hồ sơ, môi cậu ấy căng ra thành một đường mỏng. “Nào,” cậu nói. “Chúng ta có việc cần phải làm. Chúng ta không được lãng phí thời gian thêm nữa.”
Quả thực chỉ chừng một vài phút sau, thay đổi đột phá đã đến, và chính Lockwood là người tạo ra thay đổi đó. Với một tiếng huýt sáo đắc thắng khẽ và dài, cậu trỏ vào tờ báo trước mặt. Cô ấy ở đó. Annabel Ward. Một tấm hình khác, vẫn cùng mái tóc vàng, những đường cong và hàm răng trắng sáng quen thuộc. Lần này cô ấy đang mặc một kiểu đồ dạ hội; lần này cô ấy lên bìa tờ Người phán xử Richmond, bốn mươi chín năm trước.
ANNIE WARD: BẠN TRAI CŨ BỊ ĐIỀU TRA
Vụ việc cô Annabel “Annie” Ward, cô gái mất tích gần hai tuần nay, đã có diễn biến mới tối hôm qua khi cảnh sát bắt một trong số những bạn trai cũ của cô. Hugo Blake, 22 tuổi, một tay cờ bạc và một nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng, hiện đang bị tạm giữ ở đồn cảnh sát phố Bow. Anh ta vẫn chưa chính thức bị buộc tội.
Theo các nguồn tin của cảnh sát, Blake là một trong số những người ăn tối cùng cô Ward ở câu lạc bộ đêm Gallops vào tối thứ Bảy, ngày 21 tháng Sáu, đêm cô biến mất. Nhân chứng nói anh ta đã rời câu lạc bộ ngay sau cô Ward, và sau quá trình thẩm tra liên tục, anh ta thừa nhận đã lái xe đưa cô về nhà. Các nguồn tin cho biết cặp đôi này từng gần gũi nhiều tháng trước đó, nhưng tình cảm giữa họ đã nguội lạnh. Mối quan hệ giữa Blake và cô Ward gây ra nhiều điều tiếng trong giới nghệ thuật. Dưới sự ảnh hưởng của anh ta, cô đã từ bỏ một sự nghiệp diễn xuất đầy triển vọng, dù gần đây cô có nỗ lực tìm kiếm những vai diễn mới trong...
“Hugo Blake”, tôi khẽ nói. “Bạn trai cũ của cô ấy. Tôi cá rằng anh ta là người đã tặng cô ấy sợi dây chuyền.”
George gật đầu. “Và anh ta đã đưa cô ấy về nhà đêm đó... Hừm, tôi nghĩ chúng ta biết anh ta đã làm gì ở đó.”
“Tiếp tục tìm đi,” Lockwood nói. “Họ đã bắt giữ anh ta, nhưng anh ta có bị kết tội không? Chúng ta chỉ mới biết rằng anh ta có thể đã phải vào tù, cho dù họ không tìm ra được thi thể.”
Chẳng mất quá nhiều thời gian để tìm ra câu trả lời. Một đoạn tin ngắn đề ngày muộn hơn sau đó vài hôm đã ghi lại một cách rõ ràng rằng Hugo Blake không bị kết tội và đã được thả. Các nguồn tin dẫn lại lời Sở Cảnh sát Thủ đô rằng vụ Annabel Ward đã “đâm đầu vào một bức tường gạch”.
“Chả là bức tường gạch còn gì!” tôi hổn hển. “Bọn họ thật ngu ngốc! Cô ấy đã ở chính nơi đó mà!”
“Lúc đó họ không có đủ chứng cớ để bắt Blake đền tội,” Lockwood nói trong khi vẫn rà soát trang báo. “Anh ta là nghi can xác thực duy nhất trong vụ này, nhưng họ không có cơ sở để hỗ trợ giả thuyết đó. Anh ta nói đã đưa cô ấy về nhà và thả cô ấy xuống đó, nhưng anh ta không vào bên trong. Không ai có thể chứng minh điều ngược lại, và bởi vì họ không tìm được thi thể của cô ấy, hoặc bất cứ thứ gì khác để tiếp tục điều tra, họ không thể buộc tội được... Bởi vậy họ thả anh ta ra. Vụ này thật hoàn hảo. Có vẻ Blake là tên thủ phạm của chúng ta rồi.”
George ngả lưng vào ghế. “Lúc đó Blake bao nhiêu tuổi?”
“Hai mươi hai,” tôi nói. “Annie Ward tội nghiệp thì mới hai mươi.”
“Câu chuyện này đã xảy ra bốn mươi chín năm trước. Một thời gian dài đấy, nhưng lão giờ cũng mới bảy mốt tuổi thôi. Có lẽ lão vẫn còn sống.”
“Tôi cá lão vẫn còn sống,” tôi cay nghiệt nói. “Tôi cá là lão đã sống ung dung kể từ khi đó. Lão thoát được tội giết người cơ mà.”
“Cho tới bây giờ thôi,” Lockwood nói. Cậu ngoác miệng cười với chúng tôi. “Đây chính là điều chúng ta cần - miễn là chúng ta làm cho thật ngon ăn. Kế hoạch như thế này nhé. Chúng ta sẽ liên lạc với DEPRAC. Nếu Blake vẫn còn sống, lão sẽ bị bắt. Trong khi đó chúng ta sẽ liên lạc với các tòa soạn báo, kể với họ câu chuyện này. Kẻ giết người bị bắt sau năm mươi năm! Chuyện này sẽ tạo ra một làn sóng dư luận đấy.”
“Thế ổn đấy,” George chậm rãi nói, “nhưng tôi không chắc chúng ta có nên công bố rộng rãi ra công chúng hay chưa. Chúng ta còn phải nghiên cứu nhiều điều nữa, tìm hiểu quá khứ của Annie Ward.” Cậu ấy vỗ vào đống tạp chí Xã hội London ở bên cạnh mình. “Cô ấy hẳn phải ở đâu đó trong này. Và nếu chúng ta may mắn, chúng ta có thể còn tìm thấy cả những thứ hay ho về Blake nữa, điều đó có thể...”
“Các cậu cứ tiếp tục đi.” Lockwood đẩy chiếc ghế ra sau và đứng dậy. “Hãy cho tôi biết các cậu tìm thấy gì. Trong khi đó, tôi sẽ đi nói chuyện với một vài người. Sáng nay chúng ta đã mất ba khách hàng rồi. Và vì vận mệnh của công ty, chúng ta không thể à ơi được nữa.”
“Hừm...” George nghi ngại chỉnh lại cặp kính. “Đừng quá vội vã, vậy thôi.”
Lockwood cười rạng rỡ với cả hai chúng tôi. “Ồ, tôi sẽ cẩn thận mà. Cậu biết tôi rồi đấy.”