Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 80 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN 2 - TRƯỚC ĐÂY
CHƯƠNG 5

Nhiều người quả quyết rằng Vấn đề đã luôn tồn tại cùng với chúng ta. Họ nói ma quỷ chẳng có gì mới cả, và chúng vẫn luôn cư xử như thế. Chẳng hạn như câu chuyện đã có gần hai nghìn năm trước đây do nhà văn người La Mã Pliny kể lại. Câu chuyện kể về một học giả mua một ngôi nhà ở Athens. Ngôi nhà rẻ một cách đáng ngờ, và chẳng bao lâu ông ta nhận ra rằng nó bị ma ám. Ngay trong đêm đầu tiên Hồn Sống của một ông già dữ tợn bị cùm đã ghé thăm ông ta. Vị Khách vẫy ông ta đến gần, và thay vì bỏ chạy, ông ta theo bóng ma ra ngoài sân, ở đó ông ta thấy nó biến mất vào lòng đất. Ngày hôm sau vị học giả đã cho người hầu đào đúng chỗ đó. Quả nhiên, chẳng bao lâu sau họ đã đào lên được một bộ xương bị cùm. Bộ xương được mang chôn lại tử tế, và ngôi nhà không còn bị ám nữa. Kết thúc câu chuyện. Các chuyên gia nói rằng, đó là một hồn ma Loại Hai điển hình, với một mục đích điển hình đơn giản - ước vọng muốn sửa chữa một điều sai trái bị giấu kín. Cũng y như những bóng ma chúng ta phải chịu đựng thời nay. Bởi thế thực sự chẳng có gì thay đổi cả.

Xin lỗi, nhưng tôi không tin điều đó. Đồng ý đó là một ví dụ hợp lý về Nguồn bị che giấu - tất cả chúng ta đều biết vô số những ví dụ tương tự. Nhưng hãy để ý hai điều. Thứ nhất: người học giả trong câu chuyện không có vẻ gì lo lắng rằng ông ta có thể sẽ bị ma chạm, và sẽ sưng vù lên, cơ thể bầm tím và chết một cách đau đớn. Có lẽ chỉ là do ông ta ngu ngốc (chưa nói là do may mắn). Hoặc có lẽ Khách hồi xưa không nguy hiểm như bây giờ.

Và chắc chắn họ cũng không phổ biến nữa. Đó chính là điều thứ hai. Ngôi nhà bị ma ám trong câu chuyện của Pliny ấy? Có lẽ nó là ngôi nhà bị ma ám duy nhất ở Athens, chính vì thế mà thành ra rất rẻ. Ở đây, trong thành phố London hiện tại có hàng chục những ngôi nhà như thế, và lúc nào cũng có thêm nhiều những ngôi nhà khác kiểu vậy mọc lên, dù các công ty thám tử có làm gì đi nữa. Những ngày xưa đó, ma quỷ còn khá hiếm. Giờ đây chúng ta có cả một bệnh dịch. Bởi vậy tôi thấy có vẻ khá hiển nhiên là Vấn đề ngày nay không hề giống những gì xảy ra trước kia. Có thứ gì đó rất lạ và mới đã bắt đầu diễn ra khoảng năm mươi hoặc sáu mươi năm trước, và chẳng ai có chút manh mối chết tiệt nào về nguyên do của chuyện đó.

Nếu bạn xem những tờ báo cũ, giống như George vẫn thường làm, bạn có thể thấy những vụ người ta bắt gặp ma ở Kent và Sussex vào khoảng giữa thế kỷ trước thi thoảng được nhắc đến đâu đó. Nhưng phải khoảng một thập kỷ sau đó, một loạt những vụ việc khác mới thực sự thu hút nhiều chú ý, chẳng hạn như vụ Nỗi kinh hoàng Highgate và vụ Bóng ma ở con đường bùn đất. Ở mỗi vụ, những hiện tượng siêu tự nhiên đột ngột bùng phát kéo theo rất nhiều cái chết khủng khiếp. Những cuộc điều tra thông thường không mang lại kết quả gì, và một vài cảnh sát cũng đã hy sinh. Cuối cùng hai nhà nghiên cứu trẻ tuổi, Tom Rotwell và Marissa Fittes, đã tìm được cách lần theo dấu những vụ ma ám về Nguồn tương ứng của nó (trong vụ Nỗi kinh hoàng là một chiếc sọ người bị xây gạch bịt kín; trong vụ Bóng ma là thi thể của tên cướp đường bị đóng cọc ở một giao lộ). Chiến công của họ được ngại ca rất nhiều, và lần đầu tiên sự tồn tại của Khách thực sự in dấu trong tâm trí công chúng.

Trong những năm tiếp sau đó, rất nhiều vụ ma ám khác bắt đầu xuất hiện, đầu tiên là ở London và phía Nam, rồi từ từ trải khắp đất nước. Không khí sợ hãi bao trùm khắp nơi. Những vụ nổi loạn và biểu tình nổ ra; các nhà thờ và giáo đường trở nên phát đạt vì người ta tìm đến đó để mong được cứu rỗi linh hồn. Chẳng bao lâu sau cả Fittes lẫn Rotwell đều thành lập những trung tâm tâm linh để đáp ứng nhu cầu, mở đường cho những đối thủ kém hơn. Cuối cùng ngay cả chính phủ cũng vào cuộc, ban hành luật giới nghiêm khi đêm xuống, và đưa đèn ma vào sản xuất cho những thành phố lớn.

Tất nhiên, chẳng biện pháp nào trong số đó thực sự giải quyết được Vấn đề. Điều tốt nhất có thể nói là cùng với thời gian, đất nước này đã dần quen sống với hiện thực mới. Những công dân trưởng thành thu mình lại, đảm bảo nhà họ trữ đầy đủ sắt, và giao phó việc kiềm chế các nguy cơ siêu nhiên cho các công ty thám tử. Tới lượt các công ty thám tử, họ ra sức tìm kiếm những nhân viên giỏi nhất. Và bởi vì sự nhạy bén tâm linh gần như chỉ bộc lộ ở những người còn rất trẻ, nên các thế hệ thiếu nhi như chúng tôi có cơ hội đứng đầu chiến tuyến.

Tôi tên là Lucy Joan Carlyle, được sinh ra trong thập kỷ chính thức thứ tư của Vấn đề, khi nó đã trải khắp quốc đảo chúng tôi, và thậm chí cả những thị trấn nhỏ nhất cũng có đèn ma và tất cả những làng mạc đều có chuông cảnh báo. Bố tôi là người bốc vác ở một ga tàu hỏa phía Bắc nước Anh, nơi những mái ngói đá đen và những bức tường đá nằm len chặt giữa bao ngọn đồi xanh ngát. Ông người nhỏ thó, mặt đỏ, lưng còng, gân guốc và lông lá như một con vượn. Hơi thở của ông sặc mùi bia nâu loại mạnh, hai tay ông rắn chắc và rất mau lẹ khi cần trừng phạt bất cứ đứa con nào quấy rối sự lầm lì, lãnh đạm của mình. Tôi không nhớ ông đã từng gọi tên tôi bao giờ chưa; với tôi ông xa lạ và độc đoán. Sau khi ông bị tàu cán năm tôi lên năm, cảm xúc thực sự duy nhất của tôi là lo sợ ông có thể sẽ không để chúng tôi yên. Lúc ấy, những quy định mới của chính phủ trong luật Cái Chết Không Đúng Lúc được thực hiện sát sao. Các thầy tu rắc mạt sắt trên đường tàu nơi tai nạn xảy ra; họ đặt hai đồng xu bạc trên mắt ông; treo một cái bùa sắt xung quanh cổ để cắt đứt mối quan hệ với hồn ma của ông. Những biện pháp đó đã hoàn thành tốt sứ mệnh của chúng. Ông chẳng bao giờ quay trở lại. Mẹ tôi nói thậm chí nếu quay trở lại đi nữa, thì ông cũng chẳng thể gây ra rắc rối cho chúng tôi. Ông sẽ chỉ ám quán rượu của vùng.

Buổi sáng tôi đến trường, một tòa nhà bê tông nhỏ nằm bên bờ sông ở vùng ngoại ô thành phố. Buổi chiều tôi chơi ở những đồng cỏ đẫm nước hoặc trong công viên, nhưng luôn vểnh tai lắng nghe tiếng chuông giới nghiêm, và trở về an toàn trong ngôi nhà nhỏ của chúng tôi trước khi mặt trời lặn hoàn toàn. Khi đã về nhà, tôi giúp thiết lập hàng rào phòng ngự. Nhiệm vụ của tôi là đặt những cây nến oải hương lên các bậu cửa sổ và kiểm tra những chiếc bùa treo. Các chị tôi thắp những ngọn đèn và đổ nước mát vào rãnh nước chạy bên dưới hiên nhà. Tới lúc đó tất cả đã sẵn sàng để kịp lúc mẹ tôi hối hả chạy vào nhà, ngay khi màn đêm bắt đầu buông xuống.

Mẹ tôi (hãy hình dung một người to lớn, hồng hào và phiền muộn) giặt đồ cho hai khách sạn nhỏ trong thành phố. Những thứ tình cảm mẫu tử ấm áp bà từng có đã bị bào mòn đi bởi công việc và sự mệt mỏi, nên bà chẳng còn mấy năng lượng để dành cho lũ con gái của mình, mà tôi là đứa thứ bảy và là con út. Ban ngày bà chủ yếu ở bên ngoài; buổi tối, bà ngồi sùm sụp trong làn khói oải hương, lặng lẽ xem ti vi. Bà chẳng mấy khi dành cho tôi bất kỳ sự chú ý nào, và để cho các chị tôi chăm lo cho tôi là chủ yếu. Với tôi, bà chỉ có một mối quan tâm duy nhất là sau này tôi sẽ tự kiếm sống thế nào.

Bạn thấy đấy, tất cả mọi người đều biết rằng có một thứ Năng lực chảy trong gia đình tôi. Mẹ tôi đã nhìn thấy ma hồi bà còn trẻ, trong khi hai chị tôi có đủ Nhãn lực để nhận việc gác đêm ở thành phố Newcastle, cách đây ba mươi dặm. Tuy vậy, chẳng ai trong số họ thực sự có tố chất thám tử. Có thể thấy rõ ràng rằng tôi khác biệt. Tôi có độ nhạy cảm khác thường với những chuyện liên quan tới Vấn đề.

Một lần nọ, chắc là hồi tôi sáu tuổi, khi đang chơi trên đồng cỏ ngập nước cùng với Mary, chị kế ngay trên tôi, chúng tôi làm mất quả bóng của chị ấy trong bụi cây và đã tìm kiếm nó rất lâu.

Cuối cùng khi chúng tôi tìm thấy nó, vùi sâu trong những rễ cây và thứ đất sét vàng dính nhớp, thì ánh sáng đã gần tắt hẳn. Bởi thế khi tiếng chuông vang vọng qua những cánh đồng thì chúng tôi vẫn đang lần đường dọc theo lối mòn cạnh bờ sông để trở về.

Chị Mary và tôi nhìn nhau. Từ hồi còn bé tí, chúng tôi đã được cảnh báo về điều gì có thể xảy ra nếu chúng tôi ở ngoài khi trời tối. Chị Mary bắt đầu khóc.

Nhưng tôi là một bé gái can trường, nhỏ thó, đen nhẻm và không biết sợ. “Không sao đâu chị,” tôi nói. “Vẫn còn khá sớm nên chúng sẽ chỉ yếu như những đứa bé thôi. Đấy là nếu có gì ở quanh đây, mà em nghĩ chắc là không đâu.”

“Không chỉ có chuyện đó,” chị tôi nói. “Là mẹ cơ. Mẹ sẽ đánh chị sưng mông.”

“Hừm, mẹ cũng sẽ đánh em nữa mà.”

“Chị lớn hơn em. Mẹ sẽ đánh chị cực đau cho mà xem. Em sẽ không sao đâu, Lucy.”

Thực tình tôi nghi ngờ điều đó. Mẹ tôi giặt chăn chín tiếng mỗi ngày, hầu hết là bằng tay, và bà có hai cẳng tay to như đùi lợn. Bà chỉ cần phát một cái thôi là mông tôi rung rinh trong cả một tuần. Chúng tôi vội vã về nhà trong sự im lặng đầy sợ hãi.

Khắp xung quanh chúng tôi là lau sậy, bùn lầy và buổi hoàng hôn xám xịt đang dần trùm xuống. Phía trước mặt, những ngọn đèn thành phố nhấp nhánh trên một mỏm đồi, là lời nhắc nhở và cột mốc dẫn đường cho chúng tôi. Tinh thần chúng tôi phấn chấn hơn; chúng tôi có thể nhìn thấy những bậc thang cỏ dẫn lên phía con đường.

“Có phải mẹ đang gọi không?” tôi đột ngột hỏi.

“Gì cơ?”

“Có phải mẹ đang gọi chúng mình không?”

Chị Mary lắng nghe. “Chị chẳng nghe thấy gì cả. Mà dù gì thì nhà chúng mình cũng cách đây cả mấy dặm đường.”

Quả thực như thế. Thêm vào đó, dường như thứ tiếng yếu ớt, mỏng manh đó không phải vọng lại từ phía thành phố.

Tôi phóng tầm mắt qua vùng đầm lầy về phía dòng sông tối đen đang lẩn khuất chảy giữa những ngọn đồi. Thật khó mà chắc chắn, nhưng tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy một bóng người đứng ở xa xa giữa đám sậy, một vệt tối còng xuống như con bù nhìn. Khi tôi nhìn cái bóng, nó bắt đầu di chuyển - không quá nhanh, nhưng cũng không quá chậm - theo một đường thẳng mà dường như sẽ cắt qua con đường phía trước chúng tôi.

Tôi thấy mình không muốn gặp người đó cho lắm, cho dù đó là ai. Tôi vui vẻ huých khuỷu tay chị tôi. “Chạy đua đoạn cuối này nhé,” tôi nói. “Chạy nào! Em thấy lạnh rồi.”

Và thế là chúng tôi chạy dọc lối mòn, và cứ vài mét tôi lại nhảy lên để quan sát và thấy con người bí ẩn đó đang hết sức cố gắng để bắt kịp chúng tôi, sải từng bước khập khiễng lách qua những thân sậy. Nhưng điều quan trọng là chúng tôi đã đi nhanh hơn và đến chỗ các bậc cỏ an toàn. Khi tôi nhìn trở lại từ hàng rào thì đồng cỏ ngập nước chỉ còn là một khoảng màu xám đơn điệu rộng bao la, chẳng có gì trong đó cho tới tận chỗ dòng sông uốn lượn, và chẳng có tiếng ai gọi chúng tôi giữa những bụi sậy cả.

Tối muộn, sau khi hết đau mông, tôi kể với mẹ về bóng người nọ, và bà nói tôi nghe về một cô gái thất tình đã tự tử ở đó, từ hồi mẹ còn trẻ. Tên cô ta là Penny Nolan. Cô ta đã lội ra giữa đám sậy, nằm xuống dòng sông và trầm mình tự tử. Như bạn đã có thể đoán ra, cô ta trở thành một Loại Hai đói khát, và đã gây rắc rối hết lần này đến lần khác cho những người từ thung lũng trở về muộn. Qua nhiều năm, thám tử Jacobs đã tốn nhiều sắt ở đó để tìm Nguồn, nhưng ông ấy chẳng bao giờ tìm ra, bởi vậy có lẽ tới giờ Penny Nolan vẫn tản bộ ở đó. Cuối cùng họ thay đổi lối đi và bỏ hoang cánh đồng. Giờ đây nó trở thành một bãi hoa dại xinh đẹp.

Những sự kiện như thế đảm bảo rằng chẳng mấy chốc Năng lực của tôi đã nổi tiếng khắp khu vực. Mẹ tôi nóng lòng chờ tới khi tôi tám tuổi, rồi đưa tôi đến gặp thám tử Jacobs tại văn phòng của ông ở bên cạnh quảng trường thành phố. Việc đó rất đúng thời điểm, bởi một thám tử của ông vừa hy sinh trong khi làm nhiệm vụ ba ngày trước. Tất cả mọi thứ đều thuận lợi. Mẹ tôi có tiền lương tuần của tôi, tôi có công việc đầu tiên của mình, và thám tử Jacobs có thêm học trò mới.

Sếp tôi là người cao lớn, nhợt nhạt, ông đã điều hành văn phòng của mình hơn hai mươi năm qua. Dù được dân chúng trong thành phố tôn kính, nghề nghiệp khiến ông xa cách với họ, và vì thế ngày càng toát ra vẻ thần bí. Da ông xám xịt, mũi khoằm và ria mép đen, và ông mặc một chiếc áo vét màu đen hạt huyền hơi lỗi mốt một chút theo kiểu người lo việc đám ma. Ông hút thuốc lá gần như liên tục, bỏ mạt giũa lộn xộn trong túi áo khoác, và chẳng mấy khi thay quần áo. Thanh kiếm của ông đã ngả vàng với những vết ố ngoại chất.

Mỗi tối, khi hoàng hôn buông xuống, ông dẫn năm hoặc sáu thám tử nhí của mình đi tuần xung quanh hạt, phản ứng theo những tiếng chuông báo động, hoặc nếu mọi thứ yên ắng, kiểm tra những nơi công cộng. Những thám tử lớn tuổi nhất, những người đã vượt qua bài kiểm tra Cấp Ba, đeo kiếm và mang đai lưng đồ nghề; những đứa bé nhất, như tôi, chỉ mang theo những túi đồ lề. Dù vậy, được là một phần của nhóm và của công ty quan trọng này, ngẩng cao đầu bước đi trong chiếc áo khoác màu vàng mù tạt, với ông Jacobs vĩ đại dẫn đầu cả bọn, dường như vẫn là điều tuyệt vời đối với tôi.

Trong những tháng tiếp theo đó, tôi đã học cách trộn muối và magiê đúng tỷ lệ, cách rải mạt sắt tùy theo mức năng lượng bóng ma có thể có. Tôi đã thành thạo việc đóng gói các túi đồ và kiểm tra đuốc, đổ dầu vào đèn và kiểm tra những sợi xích. Tôi đánh bóng những thanh kiếm. Tôi pha trà và cà phê. Và khi những chiếc xe tải chở đồ nghề từ công ty Sunrise ở London tới, tôi phân loại những quả bom cùng những chiếc ống và xếp chúng lên giá.

Chẳng bao lâu ông Jacobs phát hiện ra rằng tôi nhìn Khách vừa đủ tốt, nhưng nghe Khách thì tốt hơn bất cứ ai. Chưa lên chín, tôi đã lần theo được những tiếng thầm thì ở Kho Thóc Đỏ tới chỗ cột đèn gãy đánh dấu mồ chôn tên cướp. Trong vụ việc đê hèn ở khách sạn Thiên Nga, tôi đã cảm nhận được những tiếng bước chân nhè nhẹ, lén lút lần theo lối đi phía sau chúng tôi, kịp cứu tất cả chúng tôi khỏi bị ma chạm. Công ty đã thưởng cho tôi bằng tốc độ thăng tiến mau chóng. Tôi vượt qua Cấp Một và Cấp Hai trong thời gian nhanh gấp đôi bình thường, và trong sinh nhật thứ mười một của mình, tôi qua được Cấp Ba. Trong cái ngày trứ danh đó tôi đã trở về nhà với thanh kiếm của riêng mình, một tờ giấy chứng nhận ép giấy bóng kính, một cuốn cẩm nang Fates dành cho người săn ma thửa riêng và (quan trọng hơn, điều mà mẹ tôi quan tâm) là mức lương tháng tăng vọt. Tôi giờ đây là người kiếm cơm chính cho cả nhà, bốn đêm làm việc mỗi tuần của tôi cũng kiếm được nhiều hơn mẹ tôi làm việc trong cả sáu ngày dài. Bà ăn mừng bằng cách mua một chiếc máy rửa bát mới và một chiếc ti vi to hơn.

Tuy vậy, thực sự tôi không dành nhiều thời gian ở nhà cho lắm. Các chị của tôi đều đã chuyến đi cả, ngoại trừ chị Mary, hiện đang làm việc ở một siêu thị địa phương, và tôi chẳng bao giờ có gì nhiều để nói với mẹ. Bởi vậy tôi dành thời gian tỉnh táo của mình (thường là vào buổi đêm) với những thám tử trẻ khác trong công ty của ông Jacobs. Tôi thân thiết với họ. Chúng tôi làm việc cùng nhau. Chúng tôi vui vẻ. Đôi khi chúng tôi cứu mạng nhau. Nếu các bạn quan tâm, thì tên của họ là Paul, Norrie, Julie, Steph và Alfie-Joe. Giờ họ đã chết cả rồi.

Lớn lên tôi trở thành một cô gái cao ráo, đường nét nổi bật, đậm người hơn tôi mong muốn, với đôi mắt to, lông mày rậm, một chiếc mũi dài quá mức và cặp môi dày. Tôi không đẹp, nhưng như mẹ tôi có lần đã nói, sắc đẹp không phải nghề nghiệp của tôi. Tôi rất nhanh nhẹn, nếu không nói là cực kỳ khéo dùng kiếm, và có khát vọng làm tốt mọi công việc. Tôi làm theo các mệnh lệnh một cách rất hiệu quả, và làm việc xuôi chèo mát mái với đội của mình. Tôi từng hy vọng sẽ sớm vượt qua Cấp Bốn, và sẽ sớm trở thành một trưởng bộ phận, đủ sức dẫn đầu nhóm nhỏ của mình và đưa ra những quyết định riêng. Cuộc sống của tôi rất nguy hiểm nhưng đầy thành quả, và tôi đã có thể hài lòng đôi chút - nếu như không phải vì một sự kiện quan trọng.

Người ta nói rằng khi còn là một cậu nhóc, thám tử Jacobs đã được đào tạo bởi công ty thám tử Fittes ở London. Bởi vậy, chắc chắn đã có thời ông nổi như cồn. Nhưng lúc này thì ông không còn được thế nữa. Tất nhiên rồi, giống như tất cả những người lớn khác, các giác quan của ông đã trở nên kém sắc bén từ lâu; bởi vì ông không thể dò ma được dễ dàng nữa, ông dựa vào chúng tôi để làm tai mắt cho mình. Chuyện này khá công bằng. Tất cả những người giám hộ khác đều làm như vậy. Công việc của họ là sử dụng kinh nghiệm và trí óc nhanh nhạy để hướng dẫn những thám tử trẻ khi Khách xuất hiện, để phối hợp kế hoạch tấn công, và khi cần thiết, hỗ trợ trong các tình huống khẩn cấp. Trong những năm đầu tôi ở công ty, ông Jacobs đã làm điều này khá tốt. Nhưng vào một thời điểm nào đó trong sự nghiệp, giữa những giờ bất tận ngồi chờ và quan sát trong bóng tối, ông bắt đầu đánh mất sự can đảm của mình. Ông lùi lại ở rìa vùng bị ma ám, do dự không muốn bước vào. Hai tay ông run lên, ông hút thuốc liên tục; ông gào lên ra lệnh từ đằng xa. Ông nhảy lên khi thấy những chiếc bóng. Một đêm nọ, khi tôi lại gần ông để báo cáo, ông tưởng nhầm tôi là Khách. Trong cơn hoảng sợ ông đã phất một đường kiếm và cắt mất một mảng trên mũ tôi. Tôi thoát chết chỉ bởi vì tay kiếm của ông ấy không được vững.

Tất nhiên lũ thám tử chúng tôi biết tỏng việc ấy, và chẳng ai trong số chúng tôi để tâm về điều đó. Nhưng ông là người trả lương cho chúng tôi, và ông là một người quan trọng trong thị trấn bé nhỏ của chúng tôi, bởi vậy chúng tôi cứ kệ như thế, và tin tưởng vào trực giác của chính mình. Và trên thực tế, trong một thời gian dài đã không có chuyện gì tồi tệ xảy ra, cho tới đêm đó ở Cối xay nước Wythburn.

Có một cối xay nước đầy tai tiếng ở giữa đường tới thung lũng Wythe. Đã có những vụ tai nạn, một hoặc hai người chết; và nó đã bị đóng cửa nhiều năm. Một công ty gỗ địa phương muốn sử dụng nó để làm văn phòng khu vực, nhưng họ muốn chắc chắn nó an toàn trước đã. Họ đến gặp Jacobs và yêu cầu ông tới kiểm tra, đảm bảo rằng không có gì gây hại ở đó.

Chúng tôi đi đến thung lũng vào chiều muộn và tới đó ngay sau chạng vạng. Đó là một buổi tối mùa hè ấm áp và lũ chim đang gọi nhau trên những lùm cây. Những vì sao chiếu sáng trên đầu. Cối xay là một khối lớn sẫm màu nằm giữa những tảng đá và đám tùng, bách. Dòng suối chảy lững lờ phía dưới con đường rải sỏi.

Cánh cửa chính của cối xay nước đã được khóa lại bởi một cái khóa móc. Kính trên khung cửa đã vỡ; một tấm gỗ được đóng qua quýt bịt lỗ hổng đó lại. Chúng tôi tập hợp bên ngoài cánh cửa đó, kiểm tra các thiết bị của mình. Thám tử Jacobs, theo thói quen, tìm chỗ ngồi và thấy một chỗ ở gốc cây gần đó. Ông châm một điếu thuốc. Chúng tôi vận dụng Năng lực của mình, và báo cáo lại. Tôi là người duy nhất thu nhận được gì đó.

“Cháu nghe thấy tiếng ai đó đang khóc,” tôi nói. “Rất khẽ, nhưng khá gần.”

“Khóc kiểu gì cơ?” ông Jacobs hỏi. Ông đang nhìn những con dơi bay vụt qua trên đầu.

“Như thể một đứa trẻ.”

Jacobs lơ đãng gật đầu; ông không nhìn tôi. “Hãy lấy căn phòng thứ nhất làm căn cứ,” ông nói với chúng tôi, “và kiểm tra lần nữa.”

Cái khóa đã bị gỉ sau nhiều năm, còn cánh cửa kẹt cứng và cong vênh. Chúng tôi đẩy mở nó ra, soi đèn pin vào một căn sảnh rộng và hoang phế. Căn phòng có trần thấp và rất nhiều mảnh vụn trên những viên gạch sàn nứt vỡ. Có những chiếc bàn và ghế tựa ngả lưng, những mớ giấy nhớ cũ dán trên các bức tường, và thứ mùi của đồ đạc mục nát. Bạn có thể nghe thấy tiếng con suối chảy đâu đó phía dưới sàn nhà.

Chúng tôi bước vào căn sảnh đó, kéo theo một dải khói thuốc lá. Thám tử Jacobs không vào cùng. Ông ở bên ngoài trên cái gốc cây, nhìn chằm chặp xuống hai đầu gối.

Chúng tôi đi sát nhau, vận dụng các Năng lực của mình một lần nữa. Tôi lại nghe thấy tiếng khóc đó, lần này to hơn. Chúng tôi tắt đèn pin đi và săn tìm xung quanh; và chẳng bao lâu sau chúng tôi nhìn thấy một bóng hình phát sáng nhỏ xíu, đang cúi gập ở đằng xa, cuối lối đi dẫn sâu vào trong cối xay. Khi chúng tôi bật lại đèn pin, lối đi dường như không có gì.

Tôi quay trở ra để báo cáo những gì chúng tôi phát hiện được. “Paul và Julie nói rằng nó trông giống một đứa bé con. Cháu không thể nhìn ra các chi tiết được. Nó rất mơ hồ. Và nó không di chuyển.”

Thám tử Jacobs gảy tàn thuốc xuống cỏ. “Nó không có bất kỳ phản ứng nào với các cháu sao? Nó không cố lại gần các cháu sao?”

“Không, thưa ông. Các bạn khác nghĩ nó là một Loại Một yếu, có lẽ là tiếng vọng của một đứa trẻ đã làm việc ở đây rất lâu về trước.”

“Được rồi, tốt thôi. Hãy dùng sắt đẩy lùi nó. Rồi các cháu có thể tìm kiếm chỗ đó.”

“Vâng, thưa ông. Chỉ là, thưa ông...”

“Gì thế, Lucy?”

“Có... điều gì đó không ổn về nó. Cháu không thích nó.”

Đầu điếu thuốc rực đỏ trong bóng tối khi thám tử Jacobs rít vào rất nhanh. Tay ông run run, dạo này tay ông lúc nào cũng run như thế; giọng ông có vẻ khó chịu. “Không thích nó hả? Đó là tiếng trẻ con khóc. Tất nhiên là cháu không thích nó rồi. Cháu có nghe thấy gì khác không?”

“Không, thưa ông.”

“Có thể là một âm thanh khác? Từ một Khách thứ hai, mạnh hơn?”

“Không...” Và thực sự là như thế. Tôi không nghe thấy bất cứ thứ gì nguy hiểm. Tất cả mọi thứ trong đợt kiểm tra đều có vẻ mỏng manh, dễ vỡ, gợi lên sự yếu đuối. Âm thanh đó, hình dáng đó... hầu như chúng chẳng hề xuất hiện ở đó. Chỉ là một Bóng yếu điển hình. Chúng tôi có thể xử lý nó trong chớp mắt. Nhưng đồng thời, tôi không tin tưởng nó. Tôi không thích cái cách nó thu mình lại rất chắc và nhỏ như thế.

“Những người khác nói sao?” ông Jacobs hỏi.

“Họ nghĩ ca này khá dễ, thưa ông. Các bạn ấy rất muốn tiến hành luôn. Nhưng đối với cháu điều đó có vẻ... không ổn.”

Tôi có thể nghe thấy ông dịch người trên gốc cây. Gió thổi xuyên qua đám cây cối. “Ta có thể ra lệnh cho họ rút ra, Lucy. Nhưng những cảm giác mơ hồ chẳng ích lợi gì. Ta cần một lý do xác đáng.”

“Không có, thưa ông... cháu nghĩ chắc là không sao...” Tôi thở dài, lưỡng lự. “Có lẽ ông vào cùng với cháu nhé?” tôi nói. “Ông có thể cho cháu biết ý kiến của ông.”

Một khoảng yên lặng nặng nề. “Cứ làm việc của các cháu đi,” thám tử Jacobs nói.

Những người khác đã mất kiên nhẫn. Khi tôi nhìn thấy bọn họ, thì họ đã tiến dọc lối đi đó, kiếm giương lên, bom muối sẵn sàng. Cách đó không xa, hình thù phát sáng đã cảm nhận được chất sắt đang tiến lại gần. Nó nao núng và co lại, sáng lập lòe lúc mờ lúc tỏ như một cái ti vi chỉnh kênh không chuẩn. Nó bắt đầu trôi về phía góc lối đi.

“Nó đang di chuyển đấy!” có ai đó nói.

“Nó đang mờ đi!”

“Nhìn kỹ nhé! Đừng để mất nó đấy!”

Nếu không quan sát được điểm biến mất của hồn ma, thì việc định vị Nguồn sẽ trở nên khó nhọc hơn nhiều. Cả đội vội tiến ào lên phía trước. Tôi rút kiếm ra, khẩn trương để bắt kịp với những người khác. Chiếc bóng giờ đã mờ tới mức gần như đã biến mất. Những e sợ của tôi đột nhiên dường như trở nên ngớ ngẩn.

Nhỏ như một đứa trẻ sơ sinh, và vẫn tiếp tục thu nhỏ lại, bóng ma lê bước khổ sở quanh góc khuất, biến mất khỏi tầm nhìn. Các đồng nghiệp của tôi vội vã đuổi theo nó; tôi cũng tăng tốc. Dù vậy, tôi chưa kịp tới được chỗ ngoặt thì một chớp lửa chói lòa xé toạc bức tường đằng trước tôi. Âm thanh chói tai của sắt nóng chảy và một tiếng nổ duy nhất của pháo magiê. Trong ánh sáng ngắn ngủi của chớp lửa tôi nhìn thấy một bóng ma khổng lồ đang to dần. Ánh sáng vụt tắt.

Rồi những tiếng gào thét bắt đầu cất lên.

Tôi ngoái đầu lại, nhìn về lối đi qua căn sảnh về phía cánh cửa đang mở. Trong bóng tối chạng vạng xa xôi tôi nhìn thấy đốm đỏ nhỏ xíu của điếu thuốc.

“Ông ơi! Ông Jacobs!”

Chẳng có gì.

“Ông ơi! Chúng cháu cần giúp! Ông ơi!”

Đầu điếu thuốc bùng sáng lên khi ông thám tử rít một hơi. Không có tiếng trả lời đáp lại. Ông không di chuyển. Rồi gió gào rú dọc hành lang và suýt nữa quật tôi ngã xuống. Những bức tường của cối xay chao đảo; cánh cửa đang mở đóng sập.

Tôi chửi thề trong bóng tối. Rồi tôi rút một chiếc ống từ đai lưng của mình, giơ cao thanh kiếm, và chạy quanh góc hành lang về phía những tiếng la hét.

Ở phiên thẩm tra của ban điều tra những cái chết bất thường, thám tử Jacobs đã bị những người họ hàng của các thám tử hy sinh chỉ trích nặng nề, và vô số tin đồn về ông ta cũng đã được gửi tới tòa, nhưng chẳng đưa tới điều gì. Ông ta cãi rằng ông ta đã hành động hoàn toàn phù hợp với những thông tin tôi mang đến cho ông ta về sức mạnh của Khách. Ông ta khẳng định đã không nghe thấy những tiếng kêu cầu cứu của tôi, hoặc bất cứ thứ âm thanh nào từ bên trong cối xay, cho tới khi tôi phá được cửa sổ tầng trên và lộn nhào từ mái nhà xuống đất và thoát chết. Ông ta đã không nghe thấy bất cứ tiếng la hét nào.

Khi tôi đưa ra chứng cứ, tôi cố gắng miêu tả cảm giác khó chịu ban đầu mình cảm thấy, nhưng đã bị buộc phải thừa nhận rằng tôi đã không dò tìm được gì chắc chắn cả. Nhân viên điều tra, trong lời kết luận của mình, đã nhận xét rằng thật đáng tiếc khi báo cáo của tôi không thể hiện được chính xác hơn năng lượng của Khách. Nếu nó chính xác hơn, thì có lẽ nhiều người đã được cứu mạng. Lời phán quyết của ông ta là Tử vong do tai nạn bất ngờ, vốn là một điều bình thường trong những tình huống như thế. Những người họ hàng kia được Quỹ Fittes đền bù, và kèm theo là những tấm bia nhỏ tưởng nhớ con cháu họ ở quảng trường thị trấn. Cối xay bị phá hủy, muối được vãi khắp cả chỗ đó.

Jacobs mau chóng trở lại làm việc sau đó. Ai cũng cho rằng, sau một thời gian ngắn nghỉ ngơi vượt qua nỗi đau vụ tai nạn, tôi sẽ vui vẻ đoàn tụ với ông ta. Đó không phải quan điểm của tôi. Tôi chờ ba ngày để hồi phục sức khỏe. Sáng sớm ngày thứ tư, khi mẹ và chị còn đang ngủ, tôi gói ghém đồ đạc của mình vào một chiếc ba lô nhỏ, đeo kiếm vào và rời khỏi nhà mà không hề liếc nhìn lại. Một giờ sau tôi đã ở trên chuyến tàu tới London.

« Lùi
Tiến »