Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 6

CÔNG TY LOCKWOOD & ĐỒNG SỰ,

công ty thám tử điều tra các thế lực siêu nhiên nổi tiếng, đang cần tuyển một Thám tử Hiện trường Cấp thấp. Nhiệm vụ bao gồm phân tích và xử lý các vụ ma ám tại hiện trường, úng viên đáp ứng được yêu cầu phải là người NHẠY CẢM với các hiện tượng siêu nhiên, ăn mặc đàng hoàng, ưu tiên nữ, và không được quá mười lăm tuổi. Không nhận những kẻ vô công rồi nghề, lừa đảo và những người có tiền án tiền sự.

Nộp đơn viết tay kèm ảnh,

tới 35 Portland Row, London Wl.

Tôi đứng trên đường nhìn chiếc taxi rời đi. Tiếng động cơ xa dần. Rất tĩnh lặng. Ánh mặt trời yếu ớt lấp lánh trên mặt nhựa đường và trên những dãy xe đỗ nối đuôi nhau ở hai bên lề đường. Cách đó một quãng, một bé trai đang chơi trong một khoảng nắng bụi bặm, nó đang di chuyển những con ma và thám tử bằng nhựa trên nền bê tông. Những thám tử có những thanh kiếm nhỏ xíu; những con ma trông giống như những tấm chăn nhỏ nổi bồng bềnh. Ngoài thằng bé ra, xung quanh chẳng có ai.

Khu vực này của London rõ ràng là một khu dân cư. Ở đây toàn những ngôi nhà chung tường cỡ lớn theo phong cách Victoria, với những sân hiên có cột chống treo những giỏ oải hương và những căn hộ ở tầng hầm có cầu thang thẳng từ đường đi vào. Tất cả mọi thứ đều toát ra vẻ cố níu kéo những ngày huy hoàng đã qua - những căn nhà và những con người nhìn về một quá khứ tốt đẹp hơn. Có một cửa hàng tạp hóa nhỏ ở góc đường, kiểu cửa hàng hỗn tạp bán đủ mọi thứ từ cam cho tới xi đánh giày, từ sữa cho tới pháo magiê. Bên ngoài quán tạp hóa là một chiếc đèn ma bằng kim loại đã cũ, treo trên một cây cột hoa văn vỏ sò cao chừng hai mét rưỡi. Những cánh cửa chớp rộng gắn bản lề lớn đóng im ỉm và trơ trụi, những bóng đèn chớp sáng đã tối om, những thấu kính bị che khuất. Từng mảng gỉ sét nở bung như địa y trên khắp bề mặt sắt.

Phải làm việc quan trọng nhất trước đã. Tôi nhìn bóng mình phản chiếu trên cửa chiếc xe gần nhất, gỡ mũ xuống và vuốt tóc. Trông tôi có giống một thám tử giỏi không? Trông tôi có giống một người có kinh nghiệm và những phẩm chất phù hợp với công việc không? Hay trông tôi giống một kẻ vô danh tiểu tốt đầu bù tóc rối đã bị sáu công ty thám tử từ chối trong vòng bảy ngày? Thật khó mà nói được.

Tôi bước lên con đường đó.

Số 35 Portland Row là một nhà dân mặt trước sơn trắng, cao bốn tầng, với những cửa chớp màu xanh lá đã phai màu và những bông hoa màu hồng mọc trong những chậu cây đặt dưới cửa sổ. Nó phảng phất cái không khí của sự đổ nát, thậm chí còn hơn cả những ngôi nhà hàng xóm xung quanh. Tất cả các bề mặt của nó nhìn như thể cần đến một chút sơn, hoặc có lẽ chỉ cần chùi rửa thôi cũng được. Một tấm bảng gỗ đính phía bên ngoài hàng rào ghi:

CÔNG TY ĐIỀU TRA A.J. LOCKWOOD & ĐỒNG SỰ

NẾU ĐẾN SAU KHI TRỜI TỐI, HÃY RUNG CHUÔNG VÀ

ĐỢI BÊN TRONG VÀNH SẮT.

Tôi dừng lại một chút, bâng khuâng nghĩ ngợi về ngôi nhà mặt phố đẹp đẽ của công ty Tendy & Các Con Trai, về những văn phòng rộng rãi của các công ty Atkins và Armstrong; nhưng trên tất cả là tòa nhà kính sáng lấp lánh của công ty Rotwell trên phố Regent... Nhưng chẳng cuộc phỏng vấn nào trong số đó đem lại kết quả tốt đẹp cho tôi. Tôi chẳng có lựa chọn nào khác. Giống như sự xuất hiện của tôi đây, đó đơn giản là điều bắt buộc phải làm.

Đẩy cánh cổng kim loại ọp ẹp, tôi bước vào một lối đi nhỏ gạch lát đã vỡ. Phía bên phải tôi là những bậc cầu thang dựng đứng dẫn xuống một khoảnh sân tầng hầm, một khoảng bóng râm che quá nửa bởi dây thường xuân và cây cối không được cắt tỉa cùng đám cây trồng trong chậu. Có một đường lát gạch sắt hẹp cắt ngang lối đi, và trên một chiếc cột phía trong có treo một chiếc chuông lớn với thanh gõ bằng gỗ lủng lẳng. Phía trước là một cánh cửa sơn đen.

Bỏ qua chiếc chuông, tôi bước qua lằn ranh và gõ cửa một cách dứt khoát. Sau một chốc, một cậu trai lùn, béo, đầu tóc bóng mượt, đeo cặp kính to bự nhòm ra.

“Ồ, lại một người nữa,” cậu ta nói. “Tôi tưởng chúng tôi đã xong rồi mà. Hay cậu là nhân viên mới của Arif?”

Tôi nhìn cậu ta. “Arif là ai?”

“Chủ cửa hàng ở góc đường. Ông ấy thường cử người đưa bánh rán tới vào khoảng tầm này. Có vẻ cậu không mang theo bánh rán.” Cậu ta trông có vẻ thất vọng.

“Không. Tôi mang kiếm đây.”

Cậu thiếu niên thở dài. “Vậy tôi đoán cậu là một ứng viên nữa. Tên gì?”

“Lucy Carlyle. Cậu là ông Lockwood đó hả?”

“Tôi hả? Không.”

“Tôi có thể vào được chứ?”

“Được thôi. Cô gái trước vừa mới xuống dưới rồi. Trông là thấy cô ta sẽ không trụ lại được lâu.”

Ngay khi cậu ta đang nói, một tiếng hét chất chứa nỗi sợ hãi cực độ vang lên từ bên trong ngôi nhà, và vang vọng lại trên những bức tường phủ đầy thường xuân của khoảnh sân bên dưới. Chim chóc bay toán loạn từ đám cây ra đường phố. Tôi nhảy ngược trở lui vì sốc, hai tay tự động dịch chuyển đến chuôi kiếm. Tiếng hét lắng xuống thành tiếng rên rỉ nức nở và chẳng mấy chốc thì lắng hẳn. Tôi tròn mắt nhìn gã thiếu niên ở ngưỡng cửa, cậu ta vẫn chẳng hề nhúc nhích.

“À, chúng ta đến rồi,” cậu ta nói. “Chẳng phải tôi đã nói rồi sao? Cậu sẽ là người tiếp theo. Vào đi.”

Cả cậu thiếu niên lẫn tiếng hét khiến tôi không còn thật tự tin, và tôi gần như muốn về cho rồi. Nhưng sau hai tuần ở London, tôi gần như đã hết lựa chọn; ở đây mà không xong nữa thì chẳng mấy chốc tôi sẽ phải đăng ký gác đêm cùng với những đứa trẻ vô vọng khác. Chưa kể, có cái gì đó trong cách cư xử của gã thiếu niên kia, một chút trơ trẽn trong dáng đứng của cậu ta, cho tôi thấy cậu ta phần nào đoán chừng tôi sẽ bỏ chạy. Tôi không thể chấp nhận điều đó. Bởi vậy tôi bước nhanh vượt qua cậu ta vào một hành lang rộng, mát mẻ.

Sàn nhà được lát gỗ và kê nhiều giá sách gỗ gụ. Trên đó bày rất nhiều mặt nạ của các dân tộc cùng với các đồ tạo tác khác - những chiếc bình và tranh thánh, những vỏ sò và vỏ quả bầu được trang trí rực rỡ. Một chiếc bàn con để chìa khóa đặt ngay bên trong cửa với một cây đèn bên trên, đế đèn có hình dáng như một chiếc đầu lâu pha lê. Đằng sau bàn là một chậu cây to, mẻ vành, cắm đầy ô, gậy ba toong và kiếm. Tôi dừng lại bên cạnh một giá treo áo khoác.

“Chờ một tẹo,” cậu con trai nói. Cậu ta vẫn đứng đợi ở chỗ cánh cửa mở.

Cậu ta lớn tuổi hơn tôi một chút, và thấp hơn tôi, dù rằng mập mạp hơn nhiều. Cậu ta béo lùn, không có đặc điểm nào nổi bật ngoại trừ chiếc cằm vuông khá bự. Đằng sau cặp kính, mắt cậu ta xanh biếc. Mái tóc màu hung của cậu ta gọi tôi nhớ đến một chiếc đuôi ngựa, rủ dày che rợp lông mày. Cậu ta đi giày thể thao màu trắng, mặc quần bò đã bạc, sơ vin hờ, áo phồng lên xung quanh bụng.

“Sắp rồi,” cậu ta nói.

Từ phía sâu bên trong căn nhà một giọng rì rầm càng lúc càng to dần. Một cánh cửa hông bật mở: một cô gái ăn mặc đẹp đẽ đột ngột xuất hiện, đôi mắt sắc tóe lửa, khuôn mặt trắng bệch, tay kéo lê chiếc áo khoác nhăn nhúm. Cô ta liếc qua tôi với vẻ giận dữ và khinh thường, rồi chửi thẳng mặt cậu béo, đá vào cửa trước khi đi qua nó, và biến mất.

“Hừm. Đúng chỉ là ứng viên loại hai thôi,” cậu béo nhận xét. Cậu ta đóng cửa và gãi chiếc mũi bự của mình. “Thôi được, nếu cậu muốn theo tôi...”

Cậu ta dẫn lối vào một phòng khách nhỏ ngập nắng, tường sơn trắng gợi nên một vẻ hân hoan, được trang trí với những đồ tạo tác và vật tổ. Hai chiếc ghế ngả lưng và một chiếc xô pha vây quanh một bàn nước thấp, dài. Cũng bên cạnh đó, đang cười ngoác mồm, là một cậu cao gầy mặc vét sẫm màu. “Tôi thắng rồi, George,” cậu ta nói. “Tôi đã biết là còn một người nữa mà.”

Khi bước tới để chào cậu ta, tôi sử dụng các giác quan của mình, như tôi vẫn thường làm. Vận hết công suất của tất cả các giác quan, ý tôi là - cả giác quan bên ngoài lẫn bên trong. Để không bỏ lỡ bất cứ điều gì cả.

Thứ dễ nhận thấy nhất là một vật thể to, hình tròn nằm trên bàn, được che phủ dưới một chiếc khăn tay chấm bi xanh trắng. Liệu nó có liên quan gì tới thái độ bực dọc của cô gái lúc trước không? Tôi nghĩ nhiều khả năng lắm chứ. Cũng có thoảng những âm thanh nữa - thứ gì đó tôi có thể gần như nghe được, nhưng chúng cứ nghèn nghẹt trong trí óc tôi. Tôi nghĩ nếu tập trung tôi có thể nghe được... nhưng thế cũng có nghĩa là phải đứng yên như tượng, mắt nhắm, mồm mở to, và đó chẳng bao giờ là cách tuyệt vời để bắt đầu một cuộc phỏng vấn cả. Bởi vậy việc tôi làm chỉ là bắt tay cậu con trai kia.

“Xin chào,” cậu ta nói. “Tôi là Anthony Lockwood.”

“Lucy Carlyle.”

Cậu ta có đôi mắt sáng, sẫm màu và nụ cười nhếch mép khá đẹp. “Rất vui được gặp cậu. Uống trà nhé? Hay George đã mời cậu uống thứ gì rồi?”

Cậu béo làm một cử chỉ vẻ xem thường. “Tôi nghĩ tôi sẽ đợi xong bài kiểm tra đầu tiên đã,” cậu ta nói. “Xem cô ấy có còn ở đây không. Sáng nay tôi đã tốn nhiều túi trà lắm rồi.”

“Thì cứ tạm thời tin tưởng cô ấy trước,” Anthony Lockwood nói, “và đi đặt ấm nước đi.”

Cậu chàng kia có vẻ lưỡng lự. “Được thôi - nhưng tôi thấy cô ấy sẽ bỏ cuộc thôi.” Cậu ta chầm chậm xoay gót và nặng nhọc lê bước ra hành lang.

Anthony Lockwood vẫy tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống ghế. “Cậu thông cảm với George nhé. Bọn tôi đã bắt đầu phỏng vấn từ lúc tám giờ sáng, và cậu ấy đói rồi. Cậu ấy đã rất tin tưởng rằng cô gái hồi nãy là người cuối cùng.”

“Xin lỗi nhé,” tôi nói. “Tôi cũng e là tôi không mang bánh rán cho các cậu rồi.”

Cậu ta nhìn tôi sắc lẹm. “Điều gì khiến cậu nói thế?”

“George đã nói với tôi về các nhu yếu phẩm được chuyển đến cho các cậu hằng ngày.”

“Ồ. Thế mà tôi cứ tưởng cậu là một bà đồng.”

“Thì tôi là vậy mà.”

“Ý tôi là, theo một cách không bình thường. Thôi bỏ đi.” Cậu ta ngồi xuống chiếc ghế xô pha đối diện và vuốt phẳng mấy tờ giấy trước mặt mình. Cậu ta có khuôn mặt hẹp với chiếc mũi dài và mái tóc đen bù xù. Tôi gần như choáng váng khi nhận thấy cậu ta chẳng nhiều tuổi hơn tôi là mấy. Phong thái của cậu ta tự tin đến nỗi ban đầu tôi không để ý cậu ta trẻ đến vậy. Tới giờ tôi mới băn khoăn tự hỏi tại sao trong phòng lại không có người giám sát nào.

“Tôi thấy trong thư của cậu,” cậu ta nói, “viết là cậu tới từ miền Bắc nước Anh. Từ đồi Cheviot. Có phải đã có một vụ nổi tiếng ở hạt đó vài năm trước không nhỉ?”

“Vụ nỗi kinh hoàng ở mỏ than Murton,” tôi nói. “Đúng vậy. Hồi đó tôi năm tuổi.”

“Các thám tử của Fittes đã phải từ London xuống đó để đương đầu với Khách, đúng không?” Lockwood nói. “Trong cuốn Từ điển địa lý những vụ ma ám ở nước Anh của tôi có ghi như vậy.”

Tôi gật đầu. “Chúng tôi không dám nhìn vào chúng vì sợ chúng cướp mất linh hồn, và tất cả mọi người phải dán kín các cửa sổ tầng một, nhưng tôi vẫn cứ lén nhìn ra ngoài. Tôi nhìn thấy chúng trôi giữa đường dưới ánh trăng. Chúng nhỏ xíu như những bé gái.”

Cậu ta nhìn tôi vẻ bối rối. “Bé gái ư? Tôi tưởng chúng là hồn ma của những người thợ mỏ bị chết trong một tai nạn dưới lòng đất chứ.”

“Ban đầu thì đúng là như thế. Nhưng chúng là Biến Hình. Chúng đã thay đổi nhiều hình dạng trước khi nhận hình dạng cuối cùng.”

Anthony Lockwood gật đầu. “Tôi hiểu rồi. Bắt đầu thấy quen rồi đấy... OK, như thế hiển nhiên cậu đã biết từ trước,” cậu ta tiếp tục, “rằng cậu có Năng lực. Cậu có Nhãn lực, tất nhiên là tốt hơn so với tất cả những đứa trẻ khác, và có lòng dũng cảm để sử dụng nó. Nhưng theo lá thư của cậu, đó không phải sức mạnh thực sự của cậu. Cậu có thể nghe nữa. Và cậu có sức mạnh Mạc lực.”

“Hừm, Thính lực là sức mạnh thực sự của tôi,” tôi nói. “Khi còn nằm nôi tôi thường nghe thấy những tiếng thì thầm trên đường phố - sau giờ giới nghiêm, khi tất cả người sống đã vào trong nhà cả. Nhưng tôi cũng có Mạc lực tốt, dù rằng nó thường bị hòa lẫn cùng với những điều tôi nghe thấy. Thật khó để phân tách chúng. Đối với tôi, Mạc lực đôi khi kích thích tiếng vọng của những điều đã xảy ra.”

“George cũng có thể làm một chút cái đó đấy,” cậu ta nói. “Còn tôi thì không. Với Khách thì tai tôi điếc đặc. Nhãn lực là sức mạnh của tôi. Những đốm-sáng-chết và dấu vết của hồn ma, và tất cả những tàn dư của cái chết nữa...” Cậu ta cười. “Một chủ đề vui vẻ quá, phải không? Giờ quay lại nhé, ở đây ghi rằng cậu bắt đầu công việc với một thám tử địa phương ở miền Bắc...” Cậu ta xem lại tờ giấy. “Tên là Jacobs. Đúng không?”

Tôi cười nhạt; trong dạ căng thẳng, bồn chồn. “Đúng thế.”

“Cậu đã làm việc cho ông ấy trong vài năm.”

“Đúng vậy.”

“Vậy là ông ấy đã huấn luyện cậu, phải không? Cậu đã đạt được chứng chỉ Cấp Bốn cùng với ông ấy?”

Tôi khẽ dịch người trên ghế. “Đúng vậy. Từ Cấp Một tới Cấp Bốn.”

“OK...” Lockwood nhìn tôi chăm chú. “Tôi thấy là cậu không thực sự mang theo những chứng chỉ gốc của mình. Hoặc bất cứ thư giới thiệu nào từ ông Jacobs. Như thế có vẻ hơi bất bình thường, phải không? Thông thường trong những tình huống như thế này cần phải có thư giới thiệu chính thức.”

Tôi hít một hơi thật sâu. “Ông ta không cho tôi thư giới thiệu,” tôi nói. “Hợp đồng của chúng tôi kết thúc... đột ngột.”

Lockwood chẳng nói gì. Tôi có thể thấy cậu ta đang đợi nghe chi tiết hơn.

“Nếu cậu muốn nghe toàn bộ câu chuyện, tôi có thể kể,” tôi nặng nề nói. “Chỉ là... nó không phải thứ tôi thích thú gì, thế thôi.”

Tôi chờ đợi, tim đập thình thịch. Đây là khoảnh khắc quyết định. Tất cả các cuộc phỏng vấn đều đã kết thúc quanh giây phút này.

“Thế thì để lúc khác vậy,” Anthony Lockwood nói. Rồi cậu ta cười với tôi, một tia sáng ấm áp dường như lan tỏa khắp căn phòng. “Cậu biết không, chẳng hiểu cái gì làm George chậm trễ đến vậy. Một con khỉ đầu chó được huấn luyện tử tế cũng đã có thể mang trà đến lúc này rồi. Thực sự ta phải làm bài kiểm tra thôi.”

“Phải, những bài kiểm tra đó gì vậy?” tôi hấp tấp nói. “Nếu cậu không phiền.”

“Có gì đâu. Đó là những bài kiểm tra chúng tôi sử dụng để đánh giá các ứng viên. Thành thực mà nói tôi không quá tin tưởng vào những lá thư giới thiệu của người ta, Carlyle ạ. Tôi muốn được trực tiếp thấy Năng lực của họ hơn...” Cậu ta nhìn đồng hồ. “Tôi sẽ đợi George thêm một phút nữa. Trong khi chờ đợi, tôi chắc rằng cậu muốn biết thông tin về chúng tôi. Chúng tôi là một công ty mới, mới đăng ký được ba tháng. Tôi có chứng chỉ toàn phần năm ngoái. Chúng tôi được DEPRAC* công nhận, nhưng - phải nói rõ rằng - chúng tôi không làm việc cho họ, như Fittes hay Rotwell hoặc bất cứ công ty nào loại đó. Chúng tôi độc lập, và chúng tôi thích như thế. Chúng tôi nhận những công việc chúng tôi muốn và không thì thôi. Tất cả khách hàng của chúng tôi đều là khách hàng tư, những người có vấn đề với Khách, muốn giải quyết nhanh gọn và êm thấm. Chúng tôi giải quyết những vấn đề của họ. Họ trả cho chúng tôi khá hời. Tóm lại về công ty thì là như thế. Có câu hỏi gì không?”

Khi vấn đề về quá khứ gần đây của tôi đã được dẹp sang một bên, lúc này con đường của tôi đã khá rộng mở. Tôi sẽ không làm hỏng cơ hội này. Tôi ngồi ngay ngắn trên ghế xô pha, cố sao cho lưng thật thẳng, hai tay đặt gọn ghẽ trên đùi. “Ai là người giám sát các cậu?” tôi hỏi. “Tôi cũng cần gặp họ chứ?”

Một nét nhăn thoáng qua trên trán cậu con trai. “Không có người giám sát ở đây. Không có người lớn. Đây là công ty của tôi. Tôi là người chịu trách nhiệm. George Cubbins là phó.” Cậu ta nhìn tôi. “Nhiều ứng viên có vấn đề với mô hình này, bởi vậy họ đã không đi được quá xa. Chuyện này có làm cậu bận tâm không?”

“Ồ không,” tôi nói. “Không, tôi thích như thế mà.” Có một khoảng lặng ngắn. “Thế... luôn chỉ có hai cậu à? Chỉ có cậu và George?”

“Hừm, thường thì bọn tôi có một trợ lý. Hai người là đủ để đương đầu với hầu hết các Khách, nhưng trong những vụ khó thì cả ba đứa bọn tôi cùng đi. Ba là con số kỳ diệu mà.”

Tôi chậm rãi gật đầu. “Tôi hiểu rồi. Thế điều gì đã xảy ra với trợ lý vừa rồi vậy?”

“Robin tội nghiệp ư? Ồ, cậu ấy... đi tiếp.”

“Sang một công việc khác ư?”

“Có lẽ 'ngừng việc' thì sẽ chính xác hơn. Hoặc, thực chất, 'ra đi'. À, tốt rồi! Trà!”

Cửa hành lang mở ra và mông cậu chàng mập mạp cài số lùi qua nó, theo sát là phần còn lại của cậu ta. Cậu ta trịnh trọng quay lại và bước tới, mang theo một chiếc khay với ba chiếc cốc bốc khói và một đĩa bánh bích quy. Cho dù cậu chàng đã làm gì trong bếp trong suốt thời gian đó đi nữa, thì lúc này trông cậu ta tơi tả hơn lúc trước: áo đã bỏ ra khỏi quần, và vạt tóc giờ đã che xuống mắt. Cậu ta đặt khay lên chiếc bàn bên cạnh cái khối được che khăn, và nhìn tôi nghi hoặc. “Vẫn còn ở đây hả?” cậu ta nói. “Tưởng là giờ này cậu đã chạy mất tiêu rồi chứ.”

“Chưa làm bài kiểm tra mà George,” Lockwood ung dung nói. “Cậu vào vừa kịp lúc.”

“Tốt lắm.” Cậu ta lấy cái cốc lớn nhất và lui về chiếc ghế xô pha.

Có một khoảng lặng lịch sự khi những chiếc cốc được chuyển cho từng người, đường sữa được mời và bị từ chối. “Nào, lấy một chiếc bánh quy đi,” Lockwood nói. Cậu ta đẩy chiếc đĩa về phía tôi. “Cậu ăn đi. Nếu không George sẽ ăn hết đấy.”

“OK.”

Tôi lấy một chiếc bánh quy. Lockwood cắn một miếng lớn và phủi tay.

“Phải rồi,” cậu ta nói. “Chỉ một vài bài kiểm tra thôi, Carlyle ạ. Chẳng cần phải lo lắng gì đâu. Cậu sẵn sàng chứ?”

“Sẵn sàng.” Tôi có thể cảm thấy hai con mắt bé xíu của George đang dán chặt vào mình, và thậm chí cả giọng điệu hững hờ của Lockwood cũng chẳng thể che giấu được sự háo hức. Nhưng họ đang đối diện với người đã một mình sống sót qua vụ Cối xay Wythburn. Tôi sẽ không lo lắng vì chuyện này đâu.

Lockwood gật đầu. “Thế thì chúng ta sẽ bắt đầu ở đây.” Cậu ta uể oải với tay về phía chiếc khăn tay chấm bi, và sau một khoảng lặng trang trọng, lật nó sang một bên.

Trên bàn là một bình trụ thủy tinh to, trong và dày, trên đỉnh bịt một nút nhựa màu đỏ. Có những tay cầm nhỏ ở gần đỉnh trụ để bê: nó gọi cho tôi nhớ những bình thủy tinh cổ hẹp loại lớn mà bố tôi thường dùng để ủ bia. Tuy vậy, thay vì thứ chất lỏng màu nâu lên men, nó chứa một thứ khói màu vàng bết đặc - không bất động hoàn toàn, mà dịch chuyển rất chậm. Ở chính giữa là một thứ gì đó to và sẫm màu.

“Cậu nghĩ đây là cái gì?” Lockwood hỏi.

Tôi khom người, nhìn kỹ thứ đó. Khi xem xét thật gần, tôi nhận thấy cái nút có một vài vành bảo vệ và được gắn xi hai lần. Có một ký hiệu nhỏ được chạm nổi trên thành ống: một mặt trời tỏa sáng nhưng đồng thời cũng là một con mắt.

“Nó làm bằng thủy-tinh-bạc,” tôi nói. “Do công ty Sunrise sản xuất.”

Lockwood gật đầu và khẽ cười. Tôi cúi người sát hơn. Tôi dùng móng tay ngón giữa gõ vào thành thủy tinh; ngay lập tức làn khói bị đánh thức, lăn tăn lan ra phía ngoài từ điểm va chạm, và cùng lúc đó trở nên dày hơn, vón cục hơn. Khi tan ra, nó để lộ vật thể được chứa trong chiếc bình: một cái sọ người đã nâu và ố đen, được gắn chặt dưới đáy.

Những gợn khói méo mó, vặn vẹo; chúng làm thành vẻ kinh hoàng của một khuôn mặt, với cặp mắt trợn trống rỗng và cái miệng há hốc. Chỉ một chốc sau khuôn mặt đó nhập vào chiếc sọ phía dưới. Tôi bật người ra xa chiếc bình. Khuôn mặt hóa thành những dải ruy băng như những dòng suối xoắn quanh thành bình và lúc này đã trở lại đứng yên.

Tôi hắng giọng. “Đó là một chiếc bình ma,” tôi nói. “Cái sọ là Nguồn, và con ma đó gắn với nó. Tôi không biết nó thuộc loại gì. Có thể là Ma Khí hoặc là Hồn Sống.”

Nói rồi, tôi ngồi ngả lưng ra sau trong một tư thế trễ nải, vô tư lự, như thể xử lý Khách trong bình đã là công việc hằng ngày trong tuần của tôi. Sự thực là tôi chưa từng nhìn thấy con nào và ma hình vừa rồi đã làm tôi sốc. Nhưng không đến mức quá sốc: sau tiếng thét của cô gái lúc trước, tôi đã đoán chừng sẽ có thứ gì đó. Thêm vào đó tôi đã từng nghe nói đến những vật chứa như thế này từ trước rồi.

Nụ cười của Lockwood dừng khựng lại, như thể không chắc nên tỏ ra ngạc nhiên, thích thú hay thất vọng. Cuối cùng, thích thú đã chiến thắng. “Tuyệt, đúng rồi,” cậu ta nói. “Tốt lắm.” Cậu ta phủ khăn tay trở lại trên chiếc bình trụ đó, và hơi chật vật xếp nó khuất xuống dưới bàn.

Cậu béo húp soạt một ngụm trà. “Cô ấy đã run,” cậu ta nói. “Cậu có thể thấy điều đó.”

Tôi lơ câu nhận xét đi. “Cậu kiếm được chiếc bình ở đâu vậy?” tôi hỏi. “Tôi tưởng chỉ có Rotwell và Fittes có chúng thôi chư.”

“Câu hỏi thì để sau nhé,” Lockwood nói. Cậu ta mở một ngăn kéo bàn nước, lôi ra một chiếc hộp nhỏ màu đỏ. “Giờ, nếu có thể, tôi muốn kiểm tra Năng lực của cậu. Tôi đã có vài thứ sẵn sàng rồi. Nếu cậu cảm nhận được thì nói cho tôi biết nhé” - cậu ta mở chiếc hộp và lấy một vật đặt lên bàn - “cậu có thể cảm nhận được âm vọng siêu tự nhiên gì ở đây?”

Đó là một chiếc cốc sứ trắng loại thông thường đã cũ, đế có rãnh và mẻ một miếng ở tay cầm. Có một vết trắng lạ phía trong miệng cốc, nó dày hơn về phía đáy cốc, trở thành một cục cặn cứng.

Tôi cầm chiếc cốc lên tay và nhắm mắt lại, xoay từ đằng này sang đằng kia, khẽ lướt tay trên bề mặt cốc.

Tôi lắng nghe, đợi những tiếng vọng... Chẳng có gì đến với tôi cả.

Thế này thì không ổn rồi. Tôi lắc đầu, xóa sạch những điều phân tâm khỏi trí óc mình, cố hết sức chặn tiếng xe cộ thi thoảng lại vang lên trên đường phố bên ngoài, và những tiếng xì xụp uống trà vọng tới còn thi thoảng hơn nữa từ ghế xô pha của George. Tôi cố lần nữa.

Không, vẫn chẳng có gì.

Sau một vài phút tôi đầu hàng. “Tôi xin lỗi,” cuối cùng tôi nói, “tôi chẳng cảm nhận được bất cứ thứ gì cả.”

Lockwood gật đầu. “Tôi hy vọng là không. Đây là chiếc cốc George dùng để đựng bàn chải đánh răng của cậu ấy. Tốt. Bài kiểm tra tiếp theo nào.” Cậu ta cầm chiếc cốc lên và tung nó về phía cậu béo, cậu này bắt lấy nó với một vẻ sung sướng.

Tôi thấy mình chưng hửng; tôi biết má mình đang đỏ ửng.

Tôi cầm ba lô đứng phắt lên. “Tôi không ở đây để làm trò cười,” tôi nói. “Tôi sẽ tự tìm đưòng ra.”

“Ồ,” George nói. “Nóng tính quá.”

Tôi nhìn cậu ta. Mái tóc của cậu ta, cái khuôn mặt tròn ú, bóng nhẫy của cậu ta, cặp kính nhỏ ngớ ngẩn của cậu ta: tất cả mọi thứ ở cậu ta đều làm tôi giận tím gan tím ruột. “Đúng thế đấy,” tôi nói. “Đứng ra đằng này và tôi sẽ cho cậu thấy chính xác là tôi nóng tính cỡ nào.”

Cậu ta chớp mắt nhìn tôi. “Được thôi.”

“Cậu có nhúc nhích gì đâu.”

“Hừm, đây là một chiếc ghế xô pha sâu lòng. Tôi cần chút thời gian mới đứng dậy được.”

“Thôi nào, cả hai cậu,” Anthony Lockwood nói. “Đây là một buổi phỏng vấn, không phải một trận đấu quyền anh. George: im miệng đi. Carlyle: tôi xin lỗi vì đã làm cậu giận, nhưng đây là một bài kiểm tra nghiêm túc, và cậu đã xuất sắc vượt qua. Cậu sẽ rất ngạc nhiên khi biết rằng rất nhiều ứng viên của chúng tôi đã bịa ra những câu chuyện trời ơi đất hỡi về thuốc độc, tự tử và giết người. Chỉ cần câu chuyện ôn hòa nhất của họ là sự thực, nó cũng đã là chiếc cốc bị ma ám dã man nhất ở London rồi. Giờ xin mời hãy ngồi xuống. Cậu có thể nói với tôi điều gì về những thứ này?”

Từ chiếc ngăn kéo dưới bàn: ba thứ mới, được đặt cạnh nhau trước mặt tôi. Một chiếc đồng hồ đeo tay của nam giới, mạ vàng quanh viền, với dây đeo bằng da màu nâu đã cũ; một mảnh ruy băng bằng ren màu đỏ; và một con dao nhíp mỏng, lưỡi dài, cán nạm ngà.

Tôi thấy bớt khó chịu với các chiêu trò của họ. Đây là một thử thách ra trò. Tôi quắc mắt nhìn George rồi ngồi xuống và trải mấy đồ vật đó ra xa nhau một chút, để cho những đặc tính bị ẩn giấu (nếu có) của chúng không bị lẫn vào nhau. Rồi tôi cố gắng làm thanh sạch đầu óc kỹ càng nhất có thể, rồi cầm từng chiếc một lên.

Thời gian trôi đi; tôi kiểm tra mỗi thứ ba lần.

Tôi đã làm xong. Khi mắt tôi lấy lại được tiêu cự, tôi thấy George đang chúi mũi vào một cuốn truyện tranh cậu ta kiếm được từ đâu đó, còn Lockwood đang ngồi như cũ, hai tay đan vào nhau, quan sát tôi.

Tôi hớp một ngụm thật dài thứ trà đã nguội. “Có ứng viên nào khác của các cậu cảm nhận đúng chưa?” tôi khẽ hỏi.

Lockwood mỉm cười. “Thế cậu có cảm nhận được đúng không?”

“Những tiếng vọng rất khó phân biệt,” tôi nói, “và tôi nghĩ chính vì thế mà cậu đã đưa cho tôi tất cả cùng một lúc. Chúng đều rất mạnh, nhưng khác hẳn nhau về chất. Cậu muốn thứ nào trước?”

“Con dao.”

“Được. Con dao có một vài tiếng vọng mâu thuẫn nhau: tiếng cười của một người đàn ông, những tiếng súng, thậm chí có thể là tiếng chim hót. Nếu có một cái chết gắn liền với nó - mà tôi nghĩ hẳn là phải thế, vì tôi có thể cảm thấy tất cả những điều này - nó không thể là một cái chết bạo lực hoặc buồn khổ. Cảm giác mà tôi có từ nó rất nhẹ nhàng, gần như là vui vẻ.” Tôi nhìn cậu ta.

Mặt Lockwood không tỏ vẻ gì cả. “Thế còn mảnh ruy băng?”

“Những dấu vết trên mảnh ruy băng,” tôi nói, “mờ nhạt hơn trên con dao, nhưng sắc thái tình cảm mạnh hơn nhiều. Tôi nghĩ tôi đã nghe thấy tiếng khóc, nhưng nó rất loáng thoáng. Điều tôi cảm nhận rõ nhất là nỗi buồn; khi tôi cầm nó, tôi cảm giác như tim mình tan vỡ.”

“Còn về chiếc đồng hồ?” Mắt cậu ta chăm chú nhìn tôi. George vẫn đang đọc cuốn truyện tranh của cậu ta - Đêm Ả Rập kinh hoàng; cậu ta uể oải giở một trang sách.

“Chiếc đồng hồ...” tôi hít một hơi thật sâu. “Những tiếng vọng ở đây không mạnh như trên dải ruy băng hay trên con dao, nó làm tôi nghĩ rằng chủ nhân của nó chưa chết - hoặc đã không chết trong khi đang đeo nó, theo bất cứ cách nào. Nhưng dù sao thì đã có cái chết gắn liền với nó. Rất nhiều cái chết. Và... nó không hề dễ chịu. Tôi đã nghe thấy tiếng ai đó cao giọng và... và gào thét, và...” tôi rùng mình khi nhìn nó khẽ lóe sáng trên bàn cà phê. Mỗi một vết khứa trên chiếc vỏ đồng hồ mạ vàng đó, mỗi một vết xước trên sợi dây đeo nhỏ bé bằng da cong queo đã sòn đó đều khiến tôi kinh hãi. “Đó là một thứ đê hèn,” tôi nói. “Tôi chẳng thể cầm nó được lâu. Tôi không biết nó là gì hay cậu kiếm được nó từ đâu, nhưng chẳng ai nên chạm vào thứ này, không bao giờ. Chắc chắn nó không dành cho một cuộc phỏng vấn ngu ngốc.”

Tôi nhoài ra trước, lấy hai chiếc bánh quy cuối cùng từ đĩa và ngồi ngả lưng mà nhai sồn sột. Đó là một trong những khoảnh khắc khi con sóng Bất Cần xô vào ta, và ta thả lỏng người nằm ngửa trên đó, nhìn lên trời cao. Tôi đã quá mệt. Đây đã là buổi phỏng vấn thứ bảy trong nhiều ngày vừa rồi. Hừm, tôi đã làm tất cả những gì mình có thể, và nếu Lockwood và tên George ngu ngốc này không nhận ra giá trị của những nỗ lực ấy - thì thực sự tôi cũng chẳng bận tâm.

Có một khoảng lặng dài. Hai tay Lockwood đan vào nhau giữa hai đầu gối; cậu ta ngồi ngả người về trước như một cha xứ trên bệ xí, nhìn vào hư không, với một vẻ đau đớn, trầm ngâm trên khuôn mặt. George lúc này vẫn đang vùi đầu trong cuốn truyện tranh. Có lẽ đối với cậu ta, tôi hiện diện mà cũng như không.

“Hừm,” cuối cùng tôi nói, “tôi chắc là tôi biết phải ra lối nào.”

“Nói với cô ấy quy tắc về bánh quy đi,” George nói.

Tôi nhìn cậu ta. “Gì cơ?”

“Nói với cô ấy đi, Lockwood. Chúng ta phải thẳng thắn về điều này nếu không sẽ là thảm họa đấy.”

Lockwood gật đầu. “Quy tắc ở đây là mỗi thành viên của công ty chỉ được lấy một chiếc bánh quy khi đến lượt. Hãy thật công bằng và trật tự. Lấy hai cái cùng lúc những khi căng thẳng là không được.”

“Một chiếc bánh quy mỗi lần ư?”

“Đúng vậy.”

“Ý cậu là tôi đã được nhận vào làm?”

“Tất nhiên cậu đã được nhận,” cậu ta nói.

« Lùi
Tiến »