Số 35 Portland Row, tòa nhà vừa là nơi ở vừa là trụ sở của các thám tử công ty Lockwood & Đồng sự, là một nơi khá bất ngờ. Từ phố trông vào thì vuông vắn và thấp tè, nhưng thực sự nó nằm trên đỉnh của một sườn dốc thoai thoải, bởi thế phần lưng của nó chìa ra cao hơn hẳn phía trên một đống lộn xộn những khu vườn quây tường gạch. Nó có bốn tầng, từ nhỏ tí xíu (tầng gác mái) cho tới rộng thênh thang (tầng hầm). Nhìn chung ba tầng ở bên trên được dùng để ở trong khi tầng hầm được dùng làm văn phòng; trên thực tế, cách phân chia như thế dường như thường bị xóa nhòa. Chẳng hạn như khu vực để ở có tất cả các loại cửa bí mật dẫn tới những giá vũ khí, hoặc mở ra để trở thành bảng phi tiêu, hoặc giường dự phòng, hoặc những tấm bản đồ khổng lồ của thành phố London với những cây ghim màu ghim đầy bên trên. Trong khi đó tầng hầm cũng được sử dụng làm khu giặt giũ, điều đó có nghĩa là bạn sẽ tập động tác xoay nửa người kiểu Wessex trong phòng tập kiếm với một chuỗi tất treo trên một dây phơi quần áo cạnh đầu bạn, hoặc đổ đầy muối vào các hộp trong khi chiếc máy giặt gầm gào ầm ĩ cạnh tai.
Tôi ngay lập tức thích mọi thứ thuộc về ngôi nhà, dù rằng nó cũng làm tôi bối rối. Nó là một ngôi nhà lớn, đầy những thứ đắt tiền của người lớn, ấy vậy mà chẳng có bóng dáng của người lớn đâu cả. Chỉ có Anthony Lockwood và trợ lý của cậu ta, George. Và giờ là tôi nữa.
Buổi chiều đầu tiên ở đó, Lockwood dẫn tôi đi xem một vòng. Cậu ta chỉ cho tôi xem gác mái trước, thấp tè dưới những mái chìa dốc. Gác mái có hai phòng: một phòng tắm nhỏ tí xíu, trong đó bồn rửa mặt, vòi hoa sen và bồn vệ sinh như chồng lên nhau; và một phòng ngủ áp mái rất đẹp, chỉ vừa đủ rộng cho một chiếc giường đơn, tủ quần áo và tủ ngăn kéo. Đối diện với giường, một chiếc cửa sổ mái vòm có chấn song nhìn ra phố Portland Row tới tận chỗ cây đèn ma ở góc phố.
“Đây là chỗ tôi ngủ hồi còn bé,” Lockwood nói. “Đã lâu rồi không có ai dùng nó; người trợ lý hồi trước, Chúa thương xót linh hồn cậu ấy, đã chọn sống ở bên ngoài. Cậu có thể dùng nó, nếu cậu thích.”
“Cảm ơn,” tôi nói. “Tôi rất thích.”
“Tôi biết phòng tắm khá nhỏ, nhưng ít nhất thì nó là của riêng cậu. Có một phòng to hơn ở dưới tầng, nhưng phải dùng chung khăn tắm với George.”
“Ô, tôi nghĩ ở đây là ổn rồi.”
Chúng tôi rời khỏi gác mái, nối đuôi nhau xuống những bậc thang hẹp. Hành lang phía dưới tối và ảm đạm, với một tấm thảm tròn màu vàng ở giữa sàn. Những giá sách ở góc nhà được nhét đầy những quyển sách bìa mềm đủ thể loại: những cuốn Niên giám Fittes và Lý thuyết linh hồn của Mottram đã cũ sờn, cùng một loạt tiểu thuyết rẻ tiền - hầu hết là chuyện giật gân và trinh thám hư cấu - thêm cả những tác phẩm nghiêm túc về tôn giáo và triết học. Trong hành lang và phòng khách bên dưới, rất nhiều đồ tạo tác của các dân tộc được trang hoàng trên tường - bao gồm cả một loại lục lạc dường như được làm từ xương người.
Lockwood bắt gặp tôi đang nhìn nó. “Đó là cây đuổi ma của người Polynesia*,” cậu ta nói. “Thế kỷ 19. Dùng để xua đuổi các linh hồn bằng âm thanh chói tai.”
“Có tác dụng không vậy?”
“Chẳng biết nữa. Tôi vẫn chưa dùng thử. Có lẽ cũng đáng để thử đấy.” Cậu ta chỉ vào một cánh cửa gần đó. “Đó là phòng tắm, nếu như cậu cần đến. Đây là phòng tôi, còn kia là phòng George. Tôi sẽ cẩn thận khi bước chân vào đó. Có lần tôi đã bước vào khi cậu ấy đang khỏa thân tập yoga.”
Tôi vất vả lắm mới xua được hình ảnh đó ra khỏi đầu. “Vậy đây là nhà của cậu hồi cậu còn bé?”
“À, hồi đó thì nó thuộc về bố mẹ tôi. Giờ nó là của tôi. Và tất nhiên là cả của cậu nữa, chừng nào cậu còn làm việc ở đây.”
“Cảm ơn cậu. Thế có phải bố mẹ cậu đã...”
“Giờ tôi sẽ dẫn cậu xem bếp,” Lockwood nói. “Tôi nghĩ giờ George đang nấu bữa tối đấy.” Cậu ta bắt đầu bước xuống cầu thang.
“Trong đó là gì vậy?” tôi hỏi đột ngột. Có một cánh cửa mà cậu ta không đả động đến; nó không khác biệt gì so với những cánh cửa khác, và ở ngay cạnh phòng cậu ta.
Cậu ta cười. “Đó là phòng riêng, nếu cậu không phiền. Đừng lo, nó không thú vị lắm đâu. Đi nào! Vẫn còn rất nhiều thứ để xem dưới này đấy.”
Tầng một - bao gồm phòng khách, thư viện và bếp - rõ ràng là trái tim của ngôi nhà này, căn bếp là nơi chúng tôi sẽ sử dụng nhiều nhất. Nó là nơi chúng tôi tập trung ăn nhẹ trước các chuyến điều tra; cũng chính là nơi chúng tôi cùng nhau ăn bữa muộn vào buổi sáng ngày hôm sau. Dáng vẻ của nó phản ánh sự hòa quyện giữa công việc và thời gian nghỉ ngơi. Trên các bề mặt ngổn ngang mọi thứ vụn vặt thông thường- những hộp bánh quy, những tô hoa quả, những túi khoai tây chiên - nhưng cũng có cả những túi muối và sắt, đã được cân đo cẩn thận và sẵn sàng để dùng. Có những thanh kiếm thò ra đằng sau đám thùng rác và những đôi ủng làm việc lấm lem những vệt sinh chất đang được ngâm trong một cái xô. Kỳ lạ nhất là chiếc bàn bếp và tấm khăn trải bàn lớn màu trắng trên đó. Che phủ phân nửa tấm khăn là một mạng lưới những ghi chú nguệch ngoạc, những biểu đồ, và cả những bức vẽ về một số kiểu Khách - Hồn Chết, Ma Hoang và Bóng.
“Bọn tôi gọi đây là tấm khăn suy ngẫm,” Lockwood nói. “Chuyện này không nhiều người biết, nhưng tôi đã xác định được vị trí xương của ma cà rồng phố Fenchurch bằng cách vẽ phác sơ đồ đường phố ở đây bằng trà và pho mát nướng vào bốn giờ sáng đấy. Bọn tôi có thể ghi lại những lưu ý, những giả thuyết, lần theo những luồng suy nghĩ thú vị... Nó là một công cụ rất hữu dụng.”
“Cũng là chỗ tiện để trao đổi những tin nhắn lỗ mãng khi một vụ điều tra nào đó bế tắc và chúng tôi không thèm nói chuyện với nhau nữa,” George nói. Cậu ta đang đứng cạnh bếp trông nồi thịt hầm.
“Ồ, thế chuyện đó có xảy ra thường xuyên không?” tôi hỏi.
“Không, không, không,” Lockwood nói. “Hầu như chẳng bao giờ.”
George mạnh tay đảo thịt hầm. “Cứ đợi đi rồi cậu sẽ thấy.”
Lockwood vỗ hai tay vào nhau. “Tốt rồi. Tôi đã chỉ cho cậu xem văn phòng chưa nhỉ? Cậu sẽ chẳng bao giờ đoán được lối vào ở đâu đâu. Nhìn này - nó ở đằng này.”
Hóa ra văn phòng làm việc dưới tầng hầm của Lockwood & Đồng sự được dẫn thẳng ra từ bếp. Đó không hẳn là một cánh cửa bí mật - tay nắm cửa sờ sờ trước mắt - nhưng nhìn từ bên ngoài thì nó chẳng khác gì cửa một chiếc tủ đồ bình thường. Lớp gỗ và hình dạng tay nắm của nó giống y chang cửa những chiếc tủ bếp khác. Tuy vậy, khi bạn mở nó ra, một chiếc đèn nhỏ bật lên, để lộ ra một cầu thang xoắn ốc dốc đứng xuống dưới.
Dưới chân cầu thang là một dãy các căn phòng thông thống, trơ gạch không trát, được ngăn cách bởi những khung vòm, cột và các khoảng tường rộng trát vữa. Chúng được chiếu sáng bởi một cửa sổ rộng nhìn ra khu vườn sum sê ở phía trước nhà và những cửa sổ trần đặt nghiêng trổ xuống từ mặt sân chạy dọc nhà. Khu vực lớn nhất chứa ba chiếc bàn, một tủ đựng hồ sơ, hai chiếc ghế bành màu xanh cũ kỹ và một chiếc giá sách khá ọp ẹp mà Lockwood đã lắp ghép lại để chứa giấy tờ của mình. Một quyển sổ cái lớn màu đen nằm hoành tráng trên chiếc bàn chính giữa.
“Sổ ghi các vụ điều tra của chúng tôi,” Lockwood nói. “Nó có lịch sử tất cả những vụ chúng tôi điều tra. George đã biên soạn nó và tham chiếu chéo tất cả mọi thứ với những tập hồ sơ ở trên kia.” Cậu ta khẽ thở dài. “Cậu ấy thích sắp xếp các thứ. Tôi thì chỉ động việc nào làm việc đấy.”
Tôi liếc nhìn những hộp hồ sơ trên giá. Mỗi một hộp đều được gắn nhãn ngăn nắp theo loại và tiểu loại: Loại Một: Bóng; Loại Một: Ma Ẩn; Loại Hai: Yêu Tinh; Loại Hai: Ma Khí và tất cả những thứ khác, ở cuối dãy là một tập hồ sơ mỏng được ghi nhãn Loại Ba. Tôi nhìn nó.
“Cậu đã bao giờ thực sự gặp Loại Ba chưa?” tôi hỏi.
Lockwood nhún vai. “Chẳng bao giờ. Tôi không chắc chúng có tồn tại không nữa.”
Qua một khung vòm ở mé văn phòng chính là một phòng phụ, hoàn toàn trống trơn ngoại trừ một giá kiếm, một tô bột phấn và hai hình nộm Khách được treo từ xà nhà xuống bằng xích sắt. Một hình nộm đội mũ bê rê, còn hình nộm kia đội mũ chớp cao. Cả hai đều đầy lỗ.
“Đây là Joe và Esmeralda,” Lockwood nói. “Chúng được đặt tên theo Quý cô Esmeralda và Joe Bồng Bềnh, hai con ma nổi tiếng trong Hồi ký của Marissa Fittes. Đưong nhiên đây là phòng tập kiếm. Chúng tôi tập kiếm ở đây mỗi buổi chiều. Tất nhiên, cậu đã thành thạo kiếm lắm rồi, vì cậu đã qua được Cấp Bốn...” Cậu ta liếc nhìn tôi.
Tôi gật đầu. “Tất nhiên rồi. Đúng thế. Chắc chắn.”
“... nhưng luyện tập để giữ sức khỏe thì cũng chẳng mất gì phải không? Tôi muốn thấy cậu trổ tài. Còn đằng này” - Lockwood dẫn tôi tới một cánh cửa kim loại có khóa móc được xây chìm vào tường - “là nhà kho tối mật của chúng tôi. Hãy xem bên trong nhé.”
Nhà kho này là khu vực tách biệt duy nhất của tầng hầm - một căn phòng nhỏ, không cửa sổ, đầy những giá đồ và những chiếc hộp. Tất cả những vật dụng quan trọng đều được cất giữ ở đây - rất nhiều ấn bạc, xích sắt, pháo và hộp các loại đặt hàng trực tiếp từ công ty Sunrise. Vào lúc này, nó cũng là nơi chứa chiếc bình ma, với cái đầu lâu màu nâu bị dính chặt dưới đáy cùng vật chủ ngoại chất, được che giấu bên dưới mảnh vải chấm bi.
“George thỉnh thoảng lấy nó ra làm thí nghiệm,” Lockwood nói. “Cậu ấy muốn quan sát hồn ma phản ứng như thế nào với các kích thích khác nhau. Bản thân tôi muốn cậu ấy phá hủy thứ đó đi, nhưng chả hiểu sao cậu ấy cứ bám chặt lấy nó.”
Tôi nhìn mảnh vải một cách ngờ vực. Cũng như trong cuộc phỏng vấn, tôi nghĩ mình có thể gần như nghe được một âm thanh của linh hồn, một tiếng ngân khe khẽ ở rìa vùng nhận thức. “Thế... cậu ấy đã kiếm được nó từ đâu thế?” tôi hỏi.
“Ồ, cậu ấy đã đánh cắp nó. Tôi nghĩ lúc nào đó cậu ấy sẽ kể cho cậu nghe về chuyện này. Nhưng thực ra nó không phải chiến tích duy nhất mà chúng tôi có ở dưới này. Lại đây xem nào.”
Ở bức tường phía sau của tầng hầm là một cánh cửa kính hiện đại dẫn ra khu vườn, được gia cố bởi những song chắn ma bằng sắt. Kế bên nó, bốn chiếc giá được tán đinh vào bức tường gạch: Chúng chứa một bộ sưu tập những chiếc hộp thủy-tinh-bạc, mỗi hộp đựng một thứ đồ. Một vài thứ đã cũ, những thứ khác rất hiện đại. Trong số đó, tôi nhận ra một bộ bài; một mớ tóc vàng dài; một chiếc găng tay phụ nữ có vết máu; ba chiếc răng người; một chiếc cà vạt được gấp lại. Chiếc hộp tráng lệ nhất chứa một bàn tay xác ướp, đen đúa và quắt lại như một quả chuối ủng, đặt trên một tấm đệm lụa đỏ.
“Đó là tay của một gã cướp biển,” Lockwood nói. “Có lẽ là vào khoảng thế kỷ 18. Nó thuộc về một gã bị treo cổ và bêu nắng ở Bến Tử hình*, nơi bây giờ là quán rượu Chuột Nhắt Và Súng Hỏa Mai. Hồn ma của hắn là một Ma Ẩn; hắn đã gây rất nhiều rắc rối cho các cô phục vụ quán rượu cho tới khi tôi đào nó lên. Hừm, đây là tất cả những thứ mà George và tôi đã tập hợp lại được trong suốt sự nghiệp của chúng tôi cho đến lúc này. Một vài trong số chúng là những Nguồn thực sự và rất nguy hiểm: chúng phải được khóa kỹ, nhất là về đêm. Những thứ khác chỉ cần lưu tâm một chút - nếu cậu là một người nhạy cảm - giống như ba thứ tôi đã cho cậu xem trong buổi phỏng vấn.”
Tôi đã nhìn thấy chúng ở ngăn dưới cùng: con dao, dải ruy băng, chiếc đồng hồ câm lặng.
“Đúng vậy...” tôi nói. “Cậu chưa từng nói với tôi chúng là gì.”
Lockwood gật đầu. “Tôi xin lỗi vì những tác động nặng nề của chúng tới cậu, nhưng tôi đã không ngờ cậu cảm nhận chúng mạnh mẽ đến vậy. Con dao là của chú tôi, ông ấy sống ở nước ngoài. Ông ấy đã mang nó theo mình trong những chuyến đi dạo và đi săn. Ông ấy đã mang nó theo mình khi gục xuống chết vì đột quỵ giữa lúc đang săn bắn. Ông ấy là một người đàn ông tử tế; chính vì thế mà cậu đã nói rằng con dao có mang một chút tính cách của ông ấy.”
Tôi hồi tưởng lại một chút về những cảm giác yên bình mà tôi đã cảm nhận được từ con dao đó. “Đúng vậy.”
“Dải ruy băng đó là từ một ngôi mộ người ta khai quật ở Nghĩa trang Kensal Green, năm ngoái người ta đã dựng rào chắn sắt xung quanh vành đai của nó. Trong quan tài là một người phụ nữ - và một đứa bé con. Dải ruy băng đó từng ở trên mái tóc người phụ nữ.” Ký ức về cảm giác của tôi khi tôi cầm mảnh lụa đó quay trở lại; mắt tôi đẫm nước. Tôi hắng giọng và làm ra vẻ bận tâm xem xét những chiếc hộp gần nhất. Sẽ không ổn nếu để cho Lockwood thấy sự nhu nhược. Sự yếu đuối là thứ nuôi dưỡng Khách; sự yếu đuối và những tình cảm ủy mị. Những thám tử giỏi cần điều ngược lại: khả năng kiểm soát toàn diện và sức mạnh tinh thần. Sếp cũ của chúng tôi, Jacobs, đã mất đi sức mạnh tinh thần. Và điều gì đã xảy ra? Tôi suýt nữa đã chết.
Tôi nói bằng một giọng lãnh đạm, vẻ chỉ quan tâm đến công việc. “Thế còn chiếc đồng hồ?”
Lockwood nhìn tôi chăm chú. “Phải rồi... chiếc đồng hồ. Cậu đã đúng khi cảm nhận thấy tàn dư độc ác của nó. Thực sự nó là vật kỷ niệm vụ đầu tiên thành công của tôi.” Cậu ta trịnh trọng ngừng lại. “Ắt hẳn cậu đã nghe về tên sát thủ Harry Crisp chứ?”
Tôi tròn mắt. “Không phải vụ giết người đồng-xu-trong-khe đấy chứ?”
“Ờ, không. Đó là vụ Clive Dilson.”
“Ồ! Ý cậu là gã giữ đầu người trong tủ lạnh ư?”
“Không... đó là Colin Buchanan-Prescott.”
Tôi gãi cằm. “Thế thì tôi chưa từng nghe về hắn ta.”
“Ồ.” Lockwood có vẻ hơi mất hứng. “Tôi hơi ngạc nhiên một chút đó. Ở miền Bắc nước Anh chẳng lẽ không có báo chí gì sao? Hừm, chính nhờ tôi mà vụ Harry Crisp mới dẹp được đấy. Tôi đang tuần tra vùng dân cư Tooting, săn tìm những hồn ma Loại Hai, và bất chợt nhận thấy tất cả những đốm-sáng-chết trong khu vườn của hắn ta. Người ta đã không tìm thấy chúng bởi vì hắn ta đã khôn ngoan rải mạt giũa khắp nơi sau những vụ giết chóc để khống chế những hồn ma. Và sau này người ta mới vỡ lẽ ra rằng, khi đeo chiếc đồng hồ đó, hắn ta có thói quen thú vật là dụ dỗ...”
“Ăn tối nào!” George đang nghiêng người trên đỉnh cầu thang, tay cầm một cái muôi.
“Lúc khác tôi sẽ kể cho cậu nghe về nó nhé,” Lockwood nói. “Chúng ta phải đi thôi. George sẽ bực nếu chúng ta để thức ăn nguội đấy.”
Nếu như tôi biết ngay từ đầu rằng tôi thích những thứ kỳ dị trong căn nhà mới của mình, thì chẳng bao lâu sau tôi cũng hình thành ngay những quan điểm rõ rệt về hai người bạn thám tử của mình. Và ngay từ khi mới bắt đầu những quan điểm đó đã khác nhau hoàn toàn. Lockwood, chưa gì tôi đã thích cậu rồi. Cậu dường như là cả một trời khác biệt so với thám tử Jacobs xa cách và bội bạc; sự thú vị và tính gắn bó của cậu được thể hiện rõ. Đây là con người tôi cảm thấy mình có thể đi theo; có lẽ là để tin tưởng nữa.
Nhưng còn George Cubbins? Không. Cậu ta làm tôi khó chịu. Tôi đã vô cùng nỗ lực để không bực tức với cậu ta trong ngày đầu tiên, nhưng điều đó là không thể.
Riêng về ngoại hình cậu ta nhé. Có điều gì đó trong ngoại hình của cậu ta luôn châm ngòi cho những bản năng tồi tệ nhất của người khác. Mặt cậu ta có một vẻ đáng tát rất đặc biệt - một bà xơ có khi cũng ngứa ngáy muốn nhảy vào đấm cậu ta - trong khi cặp bàn tọa của cậu ta như đang than trời mong mỏi một cú đá vào đúng chỗ. Cậu ta lù đù lừ đừ lê bước trong nhà như thứ gì đó mềm nhũn sắp tan chảy. Áo cậu ta thòi ra ngoài quần, giày thì siêu bự, dây tuột lòng thòng. Tôi đã từng nhìn thấy những xác sống có dáng đi đẹp hơn George.
Và còn mái tóc rủ đó nữa chứ! Và cặp kính ngớ ngẩn đó nữa! Tôi khó chịu trước mọi thứ về cậu ta. Cậu ta cũng có một tiểu xảo là nhìn tôi bằng bộ mặt đờ ra, trống rỗng mà không hiểu sao cũng có thể xem là cái nhìn thô lỗ. Cứ như thể cậu ta đang phân tích tất cả những khuyết điểm của tôi, và tự hỏi tôi sẽ bộc lộ những khuyết điểm nào tiếp theo, về phần mình, tôi đã cố hết sức để tỏ ra lịch sự trong bữa tối đầu tiên, và kiềm chế bản năng gốc của mình, đó là cầm xẻng đập vào đầu cậu ta.
Tối muộn hôm đó, khi từ phòng ngủ của mình xuống, tôi ngập ngừng một chốc ở hành lang tầng hai. Tôi liếc nhìn qua những giá sách, xem xét cái đuổi ma của người Polynesia... và đột nhiên thấy mình đứng bên ngoài cánh cửa phòng ngủ kia, phòng Lockwood đã nói là riêng tư. Nó là một cánh cửa trông rất bình thường. Có một hình chữ nhật mờ nhạt in dấu trên lớp gỗ, khoảng dưới tầm mắt một chút, nơi một tấm biển hay một miếng nhãn dán đã được gỡ bỏ. Ngoài ra thì hoàn toàn chẳng có gì. Có vẻ không có khóa cửa.
Ngó vào bên trong thì dễ thôi, nhưng rõ ràng như thế là sai trái. Tôi chỉ đang quan sát cánh cửa thì George Cubbins bước ra khỏi phòng cậu ta, một tờ báo gập lại kẹp dưới nách. Cậu ta liếc xéo qua. “Tôi biết cậu đang nghĩ gì, nhưng đó là phòng cấm.”
“Ồ... cánh cửa này ấy hả?” Tôi bình thản lùi lại khỏi nó. “Ừ... Sao cậu ấy cứ đóng nó lại thế?”
“Tôi không biết.”
“Cậu đã từng nhìn vào bên trong chưa?”
“Chưa.” Cặp kính nhìn tôi. “Tất nhiên là chưa từng rồi. Cậu ấy đã yêu cầu tôi không được làm thế.”
“Tất nhiên, tất nhiên. Đúng rồi. Thế...” Tôi cố cười một cách đáng yêu nhất có thể. “Cậu đã ở đây bao lâu rồi.”
“Khoảng một năm.”
“Vậy chắc hẳn cậu biết Anthony rất rõ?”
Cậu mập đẩy nhanh cặp kính lên mũi. “Gì thế này? Một cuộc phỏng vấn nữa ư? Thế thì phải nhanh lên nhé. Tôi còn phải vào nhà vệ sinh.”
“Xin lỗi, đúng vậy. Tôi chỉ đang băn khoăn về ngôi nhà và về cách cậu ấy có được nó. Ý tôi là, ngôi nhà thì có đủ mọi thứ, và Lockwood chỉ ở đây một mình. Ý tôi là, tôi không hiểu...”
“Ý cậu là,” George ngắt lời, “bố mẹ cậu ấy đâu? Phải không?”
Tôi gật đầu. “Đúng thế.”
“Nếu cậu có thể trụ lại đây đủ lâu để có thể hỏi cậu ấy, cậu sẽ biết rằng cậu ấy không muốn nói chuyện về họ. Tôi nghĩ họ là những người nghiên cứu về linh hồn: cậu có thể thấy điều đó từ những thứ được treo trên tường. Họ cũng đã rất giàu có: cậu có thể thấy điều đó từ ngôi nhà. Nhưng dù thế nào thì họ cũng đã ra đi lâu rồi. Tôi tin rằng Lockwood đã được một người họ hàng nuôi nấng trong nhiều năm. Rồi cậu ấy được Sykes 'Đào mộ' đào tạo trở thành thám tử, và bằng cách nào đó đã lấy lại được ngôi nhà.” Cậu ta chỉnh lại tờ báo và bước ngang hành lang. “Chắc chắn cậu có thể dùng khả năng tâm linh nhạy bén của mình để biết được nhiều hơn.”
Tôi nhăn trán sau lời nói của cậu ấy. “Được họ hàng nuôi nấng? Vậy là bố mẹ cậu ấy...”
“Dù nói thế nào, thì tôi nghĩ rằng như thế có nghĩa bố mẹ cậu ấy đã qua đời.” Nói xong cậu ta đóng cánh cửa phòng tắm.
Chẳng khó để đoán tôi thích người đồng nghiệp nào hơn, khi tối đó tôi nằm thao thức dưới mái chìa tầng áp mái. Một bên là: Anthony Lockwood - sôi nổi và nhiệt huyết, sẵn sàng dấn thân vào những bí ẩn mới; một anh chàng rõ ràng hạnh phúc nhất khi được bước vào một căn phòng ma ám, tay đặt hờ trên chuôi kiếm. Bên kia là George Cubbins: đẹp trai như một hộp bơ thực vật vừa mới mở, duyên dáng như một cái khăn lau bàn ướt nằm nhàu nhĩ trên sàn nhà. Tôi đoán cậu ta sẽ hạnh phúc nhất khi được bao quanh bởi những đống hồ sơ bụi bặm và những chồng đĩa thức ăn, và - bởi vì cậu ta rất dễ nổi cáu, và có vẻ tôi là một người dễ gây khó chịu - tôi xác định sẽ tránh xa cậu ta hết mức có thể. Nhưng chưa gì tôi đã cảm thấy hài lòng khi hình dung đến cảnh dấn thân vào bóng tối với Lockwood bên cạnh mình.