Cầu Thang Gào Thét

Lượt đọc: 83 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 8

Cuối buổi sáng là khoảng thời gian ưa thích để Lockwood gặp gỡ khách hàng mới. Nó cho cậu cơ hội để hồi phục sau những chuyến điều tra đêm trước. Cậu luôn tiếp khách ở cùng căn phòng khách nơi tôi đã tới phỏng vấn, có lẽ bởi vì những chiếc ghế xô pha thân thiện và cách bài trí những cái vợt bắt ma phương Đông đã mang đến một không gian phù hợp cho những cuộc thảo luận vượt qua những điều cũ rích và lạ lùng.

Trong ngày làm việc đầu tiên của tôi ở Portland Row, chỉ có một vị khách duy nhất tới theo lịch hẹn trước lúc mười một giờ: một quý ông chừng hơn sáu mươi tuổi, khuôn mặt béo phị và não nùng, một vài lọn tóc bóng mượt chán chường vắt ngang mái đầu. Lockwood ngồi với ông ta bên bàn nước. George đứng cách đó một quãng ở chiếc bàn viết mặt nghiêng, ghi chép lại cuộc nói chuyện vào quyển hồ sơ lớn màu đen. Tôi chẳng có vai trò gì trong cuộc nói chuyện đó cả. Tôi ngồi ở một chiếc ghế cuối phòng, lắng nghe những gì đang diễn ra.

Người đàn ông gặp rắc rối với ga ra để xe nhà mình. Ông ta nói cháu gái ông ta nhất quyết không bước vào. Con bé bảo đã nhìn thấy những thứ gì đó, nhưng nó là một đứa dễ bị kích động và ông ta không biết liệu có nên tin lời nó hay không. Dẫu vậy, với sự cẩn trọng cần thiết (ông ta đang phùng má ra để nhấn mạnh sự lưỡng lự cao độ của mình), ông ta đã đến với chúng tôi để được tư vấn.

Lockwood lịch sự hỏi “Cháu gái ông bao nhiêu tuổi rồi, thưa ông Potter?”

“Sáu tuổi. Nó luôn là một đứa bé chua ngoa.”

“Và em ấy nói đã nhìn thấy gì ạ?”

“Nó nói những thứ linh ta linh tinh. Một chàng trai trẻ, đứng ở đằng xa của ga ra, bên cạnh thùng gỗ. Con bé nói cậu ta rất gầy.”

“Vâng. Thế anh ta ở nguyên một chỗ, hay có di chuyển gì không ạ?”

“Chỉ đứng nguyên một chỗ thôi, con bé nói thế. Lần đầu tiên, con bé đã nói chuyện với cậu ta, nhưng cậu ta không đáp lời, chỉ nhìn thôi. Tôi không biết có phải con bé bịa ra không nữa. Nó đã nghe nhiều chuyện về Khách khi chơi với bạn bè rồi.”

“Cũng có thể, thưa ông Potter, cũng có thể. Còn ông không nhận thấy có điều gì khác lạ trong ga ra sao? Chẳng hạn nó không lạnh bất thường so với bên ngoài sao?”

Một cái lắc đầu. “Cũng lạnh... nhưng đó là một cái ga ra, bởi thế sao mà khác được chứ? Và để tôi trả lời luôn trước khi cháu hỏi: chẳng có gì xảy ra ở đó cả. Chẳng có ai... cháu biết đấy, chết hay làm sao cả. Nó mới được xây, chỉ 5 năm thôi, và tôi luôn khóa cửa cẩn thận.”

“Vâng...” Lockwood chắp hai tay vào nhau. “Ông có nuôi chó mèo không, ông Potter?”

Người đàn ông chớp mắt; ông ta dùng một ngón tay mập mạp vuốt một mảng tóc rũ xuống trán. “Tôi chẳng thấy chuyện đó có liên quan gì.”

“Cháu chỉ muốn biết liệu ông có nuôi chó, hoặc mèo trong nhà không.”

“Vợ tôi nuôi hai con mèo. Giống mèo Xiêm màu trắng sữa. Những con vật nhỏ bé, gầy gò, ngang bướng.”

“Và chúng có thường xuyên vào nhà để xe không?”

Người đàn ông ngẫm nghĩ. “Không. Chúng không thích vào đó. Chúng luôn tránh xa chỗ này. Tôi nghĩ chắc là bởi vì chúng không muốn bộ lông nhỏ xíu quý giá của chúng bị vấy bẩn từ bụi và mạng nhện ở khắp nơi.”

Lockwood nhìn lên. “À, ông có vấn đề gì với lũ nhện trong ga ra không, ông Potter?”

“Chà, chắc có cả bầy ở đó. Chúng giăng mạng nhanh tới nỗi tôi chẳng quét kịp nữa. Nhưng mùa này thì luôn như thế, đúng không?”

“Cháu không chắc. Chậc, cháu sẵn lòng nhận vụ này. Nếu tiện thì tối nay chúng cháu sẽ tới, ngay sau giờ giới nghiêm. Từ giờ đến lúc đó, nếu như cháu là ông, cháu sẽ giữ cháu gái của ông tránh xa cái ga ra.”

“Ý cậu thế nào, Carlyle?” Lockwood hỏi khi chúng tôi ngồi trên chuyến xe buýt đi về phía Đông buổi tối hôm đó. Đó là chuyến xe cuối cùng trước giờ giới nghiêm trên tuyến này, những chiếc ghế không hề có người lớn, mà lúc nhúc lũ trẻ con đi gác đêm trong các nhà máy. Một vài đứa ngủ gà ngủ gật; những đứa khác lờ đờ nhìn ra ngoài cửa kính. Những chiếc gậy đồng hồ của chúng - dài gần hai mét, mũi bọc sắt - nẩy lên và kêu lách cách trong những chiếc giá cạnh cửa.

“Có vẻ như là một Loại Một yếu,” tôi nói, “bởi vì nó đứng yên và không có chuyển động rõ rệt nào về phía cô bé con. Nhưng tôi sẽ không chủ quan đâu.” Môi tôi căng ra khi tôi nói; tôi nghĩ về dáng hình nhỏ phát sáng trong bóng tối ở cái cối xay bị ma ám.

“Rất đúng,” Lockwood nói. “Tốt nhất là phải chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Ngoài ra, ông ấy đã nói rằng nơi đó rất nhiều nhện.”

“Cậu biết về nhện phải không, Carlyle?” George đang ngồi ở ghế đằng trước; cậu ta thoải mái liếc nhìn lại đằng sau về phía tôi.

Gần như ai cũng biết rằng trong khi lũ mèo không thể chịu được ma thì lũ nhện lại rất thích ma. Hoặc, ít nhất là chúng thích trường phát xạ tâm linh mà một số con ma phát ra. Những Nguồn mạnh, vẫn hoạt động tích cực và không bị động chạm đến trong nhiều năm, thường được phủ kín bởi tầng tầng lớp lớp mạng nhện bụi bặm giăng ra đó bởi bao nhiêu thế hệ nhện hau háu. Đó là một trong những thứ các thám tử tìm kiếm trước tiên. Dấu mạng nhện có thể dẫn ta thẳng tới nơi ta muốn tìm. Tất cả mọi người đều biết điều đó. Cô cháu gái sáu tuổi của ông Potter có lẽ cũng đã biết.

“Đúng,” tôi nói. “Tôi biết về nhện.”

“Tốt lắm,” George nói. “Chỉ hỏi vậy thôi.”

Chúng tôi xuống xe ở một quận phía Đông của thành phố rộng lớn, xám xịt này, không xa đoạn phía Bắc của con sông là mấy. Những con phố liền kề nhỏ hẹp chen chúc dưới bóng những chiếc cần cẩu ở bến cảng. Trời đã nhá nhem, các cửa hàng đang đóng cửa: những quầy chữa bệnh bằng phương pháp tâm linh, những người bán đồ sắt rong, những chuyên gia tự phong bán đồ đuổi ma nhập từ Hàn Quốc và Nhật Bản. Trong mấy tuần đầu tôi ở London, quy mô của chúng làm đầu óc tôi quay cuồng. Từ khắp mọi phía người ta hối hả trở về nhà. Ở những giao lộ, những chiếc đèn ma đã được thắp sáng, những cửa chập của chúng chầm chậm nâng lên.

Lockwood dẫn đường vào một con phố nhỏ, thanh kiếm lấp lánh dưới chiếc áo choàng dài nặng nề, đung đưa kiểu cách đằng sau cậu. George và tôi bước kế bên.

“Vẫn như mọi khi, Lockwood ạ,” George nói, “chúng ta làm vụ này vội quá. Cậu chẳng cho tôi đủ thời gian để điều nghiên ngôi nhà và đường phố một cách tử tế. Tôi có thể sẽ tìm ra rất nhiều thông tin liên quan nếu cậu cho tôi thêm một ngày.”

“Đúng vậy, nhưng việc điều nghiên chỉ đến đấy thôi,” Lockwood nói. “Chẳng gì có thể thay thế được việc thám hiểm thực sự. Với lại, tôi nghĩ cô Carlyle đây sẽ thích cuộc thám hiểm này. Cô ấy có thể sẽ nghe được gì đó.”

“Là người có Thính lực có thể sẽ mạo hiểm đấy,” George bình luận. “Năm ngoái có một cô làm cho Epstein và Hawkes. Tai nghe tốt, trí óc vô cùng nhạy cảm. Nhưng cô ta đã quá hoảng loạn vì tất cả những âm thanh mình nghe thấy, cuối cùng cô ta nhảy xuống sông Thames.”

Tôi cười nhạt. “Marissa Fittes cũng có kiểu Năng lực của tôi đấy,” tôi nói. “Bà ấy chẳng nhảy xuống đâu cả.”

Anthony Lockwood cười to. “Nói hay lắm, Carlyle! Đúng thế đấy, giờ im đi nào, George. Chúng ta đến nơi rồi.”

Ngôi nhà của khách hàng chúng tôi nằm trong cụm bốn ngôi nhà song lập giữa một dãy phố liền kề khác. Kiến trúc căn nhà khá hiện đại. Ga ra của nó được xây gạch, đằng trước có một cửa cuốn kim loại, bên cạnh là một cửa hông dẫn vào bếp. Đồ đạc bên trong ga ra gồm có ba chiếc xe máy cũ đang được sửa chữa ở các mức độ khác nhau, đây là sở thích của ông Potter. Cũng có một chiếc bàn gia công dài và một bức tường treo các giá dụng cụ, và gần về phía cuối ga ra, một chồng cao những thùng gỗ, hầu hết đều chứa đầy những bộ phận máy và bánh xe cũ cùng những động cơ hỏng.

Điều đầu tiên chúng tôi để ý là dù chiếc bàn gia công và những giá dụng cụ khá sạch sẽ, khu vực để đồ lại bị phủ một lớp mỏng mạng nhện mới giăng màu xám. Những sợi tơ nhện sáng mờ treo giữa đống thùng và dốc nghiêng xuống sàn nhà; trong ánh sáng đèn pin của chúng tôi, có thể thấy lũ nhện to xù đang lén lút di chuyển giữa những công chuyện bí ẩn nào đó.

Chúng tôi dành vài giờ đầu tiên tiến hành đo lường và quan sát một cách cặn kẽ. George sốt sắng ghi chép những dấu hiệu hạ nhiệt nhỏ nhất, nhưng tất cả chúng tôi đều nhận thấy rằng càng muộn, một luồng không khí băng giá siêu tự nhiên càng trở nên rõ rệt. Một thứ âm khí chua lòm cũng bốc lên - thứ mùi của sự phân hủy nhẹ. Gần nửa đêm, cảm giác ớn lạnh cuộn lên trong không gian; tôi cảm thấy lông gáy dựng đứng. Một hình hài mơ hồ hiện ra ở góc xa nhất của ga ra, gần những cái thùng. Nó rất yên lặng và bất động; như một quầng mây khói nhạt nhòa kích cỡ bằng một người lớn. Chúng tôi lặng lẽ quan sát nó, tay đặt sẵn sàng trên đai lưng, nhưng không có dấu hiệu nguy hiểm nào xuất hiện. Sau khi nấn ná trong mười phút, hình dáng đó biến mất. Không gian trở lại quang quẻ.

“Một chàng trai trẻ,” Lockwood nói. “Mặc một kiểu đồng phục bằng da. Có ai thấy thế không?”

Tôi lắc đầu. “Không, xin lỗi. Nhãn lực của tôi không được tốt bằng của cậu. Nhưng...”

“Điều chúng ta thu nhận được ở đây là rất rõ ràng, Lockwood,” George cắt ngang. “Tôi có nhìn thấy bộ đồng phục đó, và nó xác nhận điều tôi đã phỏng đoán trước khi chúng ta vào bên trong. Đây là một ngôi nhà khá hiện đại. Hầu hết các ngôi nhà khác trong khu phố cổ hơn, kiểu nhà liền kề trước chiến tranh. Hồi xưa có lẽ cũng đã từng có một ngôi nhà liền kề ở đây, ngay nơi chúng ta đang đứng. Nhưng nó đã biến mất. Tại sao ư? Bởi vì nó bị trúng bom trong những trận oanh tạc thời chiến. Quả bom phá hủy ngôi nhà có lẽ đã giết chết chàng trai mà chúng ta mới vừa nhìn thấy. Anh ta là một hồn ma từ trận Blitz*, có lẽ là một người lính nghỉ phép về thăm nhà, và thi thể anh ta đang nằm đâu đó trong lòng đất dưới chân chúng ta.” Cậu ta giắt chiếc bút vào trong túi quần một cách dứt khoát, gỡ cặp kính ra lau vào áo.

Lockwood nhăn trán. “Cậu nghĩ thế à? Có thể lắm... Dù rằng tôi chẳng thấy đốm-sáng-chết nào quanh đây cả.” Cậu ấy vò cằm đăm chiêu suy nghĩ. “Nếu thế, thì khách hàng của chúng ta sẽ không vui đâu. Ông ấy sẽ phải phá bỏ cái ga ra này.”

George nhún vai. “Khó đấy. Ông ấy cần phải tìm ra bộ hài cốt. Ông ấy còn làm được gì khác chứ?”

“Xin lỗi,” tôi nói, “nhưng tôi không đồng tình với các cậu.”

Họ nhìn ngang sang tôi. “Gì cơ?” George nói.

“Tất nhiên là tôi không nhìn Khách được rõ như các cậu,” tôi nói, “nhưng có lẽ tôi đã nhận thấy một điều mà các cậu đã bỏ qua. Tôi đã nghe thấy một giọng nói ngay trước khi ma hình đó biến mất. Các cậu có nghe thấy không? Không hả? Hừm, âm thanh rất yếu ớt nhưng khá rõ ràng. 'Không có thời gian. Chẳng kịp kiểm tra phanh.' Lời bóng hình đó nói là như thế. Nó được lặp lại hai lần.”

“Hừm, thế có nghĩa là gì?” George hỏi.

“Nó có nghĩa là,” tôi nói, “Nguồn có thể không phải ở dưới sàn, và nó có thể chẳng liên quan gì tới Blitz cả. Tôi nghĩ nó ở trong một trong những cái thùng kia. Chúng dùng đựng gì nào?”

“Đồ lặt vặt,” George nói.

“Phụ tùng xe máy,” Lockwood nói.

“Phải, những món phụ tùng xe máy mà khách hàng của chúng ta đã thu nhặt về từ khắp mọi nơi. Chậc, chúng đến từ đâu? Lịch sử của chúng thế nào? Tôi chỉ băn khoăn không biết liệu rằng có thể nào một trong số chúng tới từ một chiếc xe máy có liên quan tới một vụ tai nạn nào đó - có lẽ là một tai nạn chết người - hay không.”

George khịt mũi. “Một vụ tai nạn giao thông? Cậu nghĩ Nguồn là một chiếc xe máy hỏng ư?”

“Có thể nào bộ quần áo hồn ma mặc chính là bộ đồ da của người đi xe máy không?” tôi nói.

Một thoáng yên lặng. Lockwood gật đầu chậm rãi. “Các cậu biết không,” cậu ấy nói, “có thể bộ quần áo đó, ở thời điểm đó... Hừm, chúng ta sẽ phải kiểm tra lại. Ngày mai chúng ta sẽ hỏi khách hàng liệu chúng ta có thể xem xét những thùng đồ đó kỹ lưỡng hơn không. Còn bây giờ - cảm ơn Carlyle, vì phân tích rất thú vị đó. Năng lực của cậu rất ấn tượng!”

Nói để các bạn biết, tôi đã đúng. Một trong số những cái thùng có chứa phần nát vụn còn lại của một chiếc xe phân khối lớn đường dài với những chỉ số đo rất đáng chú ý khi chúng tôi mở ra. Sau đó chúng tôi mang nó ra khỏi ga ra và gửi tới lò đốt Fittes, và câu chuyện kết thúc ở đấy. Nhưng trong đêm hôm ấy, khi cuối cùng chúng tôi cũng trở lại được Portland Row, lời khen ngợi của Lockwood vẫn vang vọng trong tai tôi. Tôi phấn chấn tới nỗi chẳng thể đi ngủ ngay. Thay vì về gác mái của mình, tôi làm một chiếc bánh kẹp dưới bếp và rồi lang thang trong thư viện, một căn phòng tôi chưa khám phá kỹ càng trước đó.

Đó là một căn phòng tối, tường ốp gỗ sồi, đối diện với phòng khách qua hành lang. Những bức rèm nặng nề rủ xuống các ô cửa sổ; những giá sách màu đen chạy kín tường chất đầy những cuốn sách bìa cứng. Phía trên lò sưởi treo một bức sơn dầu vẽ hình ba quả lê xanh. Những chiếc đèn cây xiên đứng rũ xuống như những con diệc; ánh sáng từ một trong những chiếc đèn đó soi tỏ Anthony Lockwood, đang ngả người sang một bên trên chiếc ghế tựa êm ái. Đôi chân dài, mảnh khảnh của cậu duyên dáng gác lên tay ghế; vạt tóc trên trán cậu rủ xuống cũng duyên dáng chẳng kém, che khuất cặp lông mày. Cậu đang đọc một cuốn tạp chí.

Tôi lưỡng lự ở cửa.

“Ồ, Carlyle.” Cậu ngồi thẳng dậy, cười với tôi tỏ ý chào mời. “Mời - vào đi. Cứ ngồi bất cứ chỗ nào cậu muốn, có lẽ trừ chiếc ghế màu nâu ở góc đó. Đó là ghế của George, và tôi e rằng cậu ấy thường nằm ườn ở đó mà chỉ mặc độc quần lót. Tôi hy vọng cậu ấy sẽ từ bỏ được thói quen đó khi bây giờ có cậu ở đây. Đừng lo, cậu ấy sẽ không tới lúc này đâu; cậu ấy đã đi ngủ rồi.”

Tôi ngồi trên chiếc ghế da đối diện ghế cậu. Đó là một chiếc ghế mềm mại và thoải mái, và chỉ bị giảm giá trị một chút bởi một cái lõi táo đã quắt lại đặt gọn ghẽ trên một tay ghế. Lockwood, sau khi tới bật chiếc đèn đằng sau đầu tôi, khéo léo nhặt nó lên mà không nói lời nào rồi bỏ nó vào thùng rác. Cậu thả người lại vào ghế, đặt cuốn tạp chí vào lòng rồi đan hai tay đặt lên đùi.

Chúng tôi cười với nhau. Rồi đột nhiên tôi nhớ ra chúng tôi là hai người xa lạ. Giờ đây, sau khi tất cả những cuộc phỏng vấn, chuyến đi giới thiệu ngôi nhà và những chuyến điều tra đã tạm thời qua đi, tôi thấy mình chẳng biết phải nói gì nữa.

“Tôi đã nhìn thấy George ở trên tầng,” cuối cùng tôi nói. “Cậu ấy có vẻ hơi... kỳ quặc một chút.”

Lockwood phẩy tay. “Ồ, cậu ấy ổn mà. Thi thoảng cậu ấy tâm trạng tí thôi.”

Yên lặng một lúc. Tiếng tích tắc đều đều từ chiếc đồng hồ trang trí cầu kỳ phía bên trên lò sưởi càng lúc càng rõ ràng.

Anthony Lockwood hắng giọng. “Carlyle, thế...?”

“Cứ gọi tôi là Lucy,” tôi nói. “Nó ngắn hơn và dễ gọi hơn, và thân mật hơn một chút. Ý tôi là bởi vì chúng ta sẽ làm việc cùng nhau. Và còn sống chung trong một căn nhà nữa.”

“Tất nhiên rồi. Cậu nói đúng...” Cậu nhìn xuống tờ tạp chí, rồi lại ngẩng lên nhìn tôi. “Lucy, thế...” - cả hai chúng tôi đều cười ngượng ngùng - “cậu thích căn nhà này chứ?”

“Rất thích. Phòng của tôi tuyệt lắm.”

“Và phòng tắm... nó không quá nhỏ chứ?”

“Không. Nó hoàn hảo. Như ở nhà.”

“Như ở nhà ư? Tốt. Tôi rất lấy làm vui.”

“Còn về tên cậu,” đột nhiên tôi nói. “Tôi thấy George gọi cậu là 'Lockwood'.”

“Thường tôi dùng tên đó mà.”

“Có ai từng gọi cậu là 'Anthony' chưa?”

“Mẹ tôi từng gọi thế. Và bố tôi nữa.”

Ngừng một lát. “Thế 'Tony' thì sao?” tôi nói. “Cậu từng được gọi thế bao giờ chưa?”

“Tony ư? Nghe này, Car... xin lỗi... Lucy. Cậu có thể gọi tôi thế nào cũng được. Miễn là Lockwood hoặc Anthony. Nhưng xin đừng gọi là Tony, hoặc Ant. Và nếu như có lúc nào đó cậu gọi tôi là A Bự, thì tôi e rằng tôi sẽ chẳng có lựa chọn nào hơn là tống cổ cậu ra đường.”

Lại một khoảng lặng nữa. “Ơ, thế đã từng có người thực sự gọi cậu là A Bự sao?” tôi hỏi.

“Trợ lý đầu tiên của tôi. Cô ta chẳng trụ lại được lâu.” Cậu cười với tôi. Tôi vừa cười đáp lại, vừa lắng nghe tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ. Nó có vẻ đã to lên trông thấy. Tôi bắt đầu ước giá mà mình lên trên phòng từ nãy rồi.

“Cậu đang đọc gì thế?” tôi hỏi.

Cậu giơ lên. Bìa tạp chí có hình một người phụ nữ tóc vàng với hàm răng trắng sáng như những ngọn đèn ma đang bước ra khỏi một chiếc xe màu đen. Cô ta cài một cành oải hương lớn trên váy, và các cửa kính của chiếc xe đã được gia cố bằng lưới sắt. “Xã hội London,” cậu ấy nói. “Nó là một thứ giẻ rách chán chết. Nhưng ta cũng phải biết những gì đang diễn ra trong thành phố.”

“Và chuyện gì đang diễn ra?”

“Chủ yếu là tiệc tùng.” Cậu quẳng tờ tạp chí sang bên tôi. Nó chứa vô số ảnh những người đàn ông và phụ nữ ăn mặc thời thượng đang làm dáng trong những căn phòng đông người. “Cậu có thể nghĩ rằng Vấn đề sẽ làm người ta suy nghĩ lại về chuyện linh hồn vĩnh hằng,” Lockwood nói. “Nhưng đối với những người giàu, nó có hiệu ứng đối ngược. Bọn họ ra ngoài, ăn mặc bảnh bao, nhảy nhót cả đêm trong những khách sạn được phong ấn ở một nơi nào đó, phấn khích với cảm giác kinh hãi khi nghĩ rằng Khách đang rình mò bên ngoài... Bữa tiệc đó được DEPRAC tổ chức tuần trước. Những người đứng đầu của hầu hết các công ty thám tử quan trọng nhất đã đến đó.”

“Ồ.” Tôi nhìn quét qua những bức ảnh. “Cậu cũng được mời chứ? Tôi có thể xem ảnh cậu được không?”

Cậu ấy nhún vai. “Không đâu. Làm gì có suất.”

Tôi lật giở các trang tạp chí thêm một lúc nữa; chúng tạo thành một âm thanh sột soạt có nhịp điệu.

“Khi cậu nói trong tờ quảng cáo việc làm rằng Lockwood là một công ty nổi tiếng,” tôi nhận xét, “là có nói dối một chút, phải không?”

Những trang giấy lật mở, chiếc đồng hồ tích tắc. “Tôi sẽ nói đó là hơi phóng đại một chút,” Lockwood đáp. “Rất nhiều người làm tương tự. Chẳng hạn như cậu, cậu nói rằng đã đạt được đầy đủ các bằng cấp thám tử cho tới Cấp Bốn. Tôi đã gọi tới chi nhánh của DEPRAC khu vực miền Bắc nước Anh ngay sau cuộc phỏng vấn với cậu. Người ta nói cậu mới chỉ hoàn thành Cấp Một tới Cấp Ba.”

Cậu không có vẻ giận dữ; chỉ ngồi đó nhìn tôi với đôi mắt to, sẫm màu của mình. Đột nhiên miệng tôi khô khốc, tim tôi thình thịch trong lồng ngực. “Tôi... tôi... xin lỗi,” tôi nói. “Chỉ là...” Tôi hắng giọng. “Ý tôi là, tôi đủ Năng lực để đạt được những chứng chỉ đó. Chỉ là do thời gian học việc của tôi với Jacobs đã kết thúc một cách rất tồi tệ và tôi đã không tham dự kỳ sát hạch ấy. Và khi tôi tới đây... hừm, tôi thực sự cần công việc này. Tôi xin lỗi, Lockwood. Liệu có tốt hơn không nếu tôi kể với cậu về Jacobs - về câu chuyện đã xảy ra?”

Nhưng Anthony Lockwood đã giơ một bàn tay lên. “Không,” cậu ấy nói. “Không. Chuyện đó đâu có quan trọng gì. Dù điều gì đã xảy ra thì nó cũng đã là quá khứ. Tương lai mới là quan trọng. Và tôi đã biết rằng cậu đủ giỏi, về phần tôi, tôi có thể đảm bảo với cậu rằng một ngày nào đó công ty này sẽ trở thành một trong những công ty thám tử thành công nhất ở London. Hãy tin tôi đi, tôi biết mà. Và cậu có thể là một phần của nó, Lucy. Tôi nghĩ cậu rất giỏi, và tôi mừng vì cậu ở đây.”

Các bạn có thể hình dung mặt tôi đỏ ửng lên ngay tức thì - đó là sự kết hợp đặc biệt của ba thứ: sự ngượng ngùng do bị phát hiện, sự thích thú vì được khen và sự phấn khích với những giấc mơ do cậu bộc bạch. “Tôi không chắc George có tán đồng với cậu không,” tôi nói.

“Ồ, cậu ấy cũng nghĩ cậu đặc biệt mà. Cậu ấy kinh ngạc vì những gì cậu đã làm trong buổi phỏng vấn đấy.”

Tôi hồi tưởng lại về chuỗi âm thanh của George, từ tiếng khịt mũi và ngáp, tới cái giọng châm chích của cậu ta buổi tối hôm đó. “Đó là cách cậu ấy biểu thị sự chấp thuận sao?”

“Rồi cậu sẽ quen với cậu ấy thôi. George ghét những kẻ đạo đức giả - cậu biết đấy, những kẻ nói những điều tốt đẹp trước mặt cậu, và châm chích đằng sau lưng cậu. Cậu ấy tự hào vì đối lập với điều đó. Thêm nữa, cậu ấy là một thám tử xuất sắc. Cậu ấy đã từng được nhận vào Fittes làm,” Lockwood thêm vào. “Ở đó họ đánh giá cao sự lịch thiệp, kín đáo và thận trọng. Cậu biết cậu ấy trụ lại ở đó được bao lâu không?”

“Tôi nghĩ chắc khoảng hai mươi phút.”

“Sáu tháng. Cậu ấy giỏi cỡ đó đó.”

“Nếu họ chịu đựng được tính cách của cậu ấy lâu như thế, cậu ấy hẳn phải rất giỏi.”

Lockwood nở một nụ cười rạng rỡ với tôi. “Theo tôi thấy thì với cậu và George trong đội của tôi, chẳng có gì có thể cản bước chúng ta.”

Trong thoáng chốc, khi cậu nói điều đó, mọi thứ trở nên rất hợp lý. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng khi cậu cười như thế, thật khó để không đồng ý với cậu ấy.

“Cảm ơn cậu,” tôi nói. “Tôi hy vọng thế.”

Lockwood cười to. “Chẳng có gì mà phải 'hy vọng' ở đây cả. Với tài năng của chúng ta kết hợp lại, điều gì có thể không ổn được chứ?”

« Lùi
Tiến »