Hoặc do băng giá từ vụ ma chạm vẫn còn chạy trong các mạch máu của cậu, hoặc do các chấn thương khác - cùng với những cuộc thẩm tra kéo dài ở Sở Cảnh sát Thủ đô - đã làm cậu ấy kiệt sức, Lockwood rơi vào trạng thái ủ dột suốt cả ngày. Cậu ngủ (tôi cũng thế) gần hết buổi sáng; buổi trưa cậu ăn một chút, hầu như chẳng động vào món bánh nướng nhân thịt và món đậu George mới nấu. Cậu di chuyển chậm chạp; hầu như chẳng nói gì, điều rất không bình thường đối với Lockwood. Sau bữa trưa cậu vào phòng khách và ngồi đó với cánh tay bị thương chườm bằng những chai nước nóng, đờ đẫn nhìn ra ngoài cửa sổ.
George và tôi ở bên cạnh cậu bầu bạn trong yên lặng suốt cả buổi chiều. Tôi đọc một cuốn tiểu thuyết trinh thám rẻ tiền. George tiến hành những thử nghiệm với con ma bị nhốt trong bình bằng cách dùng một mạch điện nhỏ để gây sốc điện vào chiếc bình thủy tinh. Hoặc do đã mất sức phản kháng, hoặc do một nguyên nhân nào khác, con ma chẳng phản ứng gì.
Gần bốn giờ chiều, khi ánh sáng đã tắt dần, Lockwood làm bọn tôi giật mình khi đột nhiên nhờ lấy quyển hồ sơ điều tra của chúng tôi. Đó là lần đầu tiên cậu mở miệng sau hàng giờ đồng hồ.
“Sắp tới chúng ta có vụ gì vậy, George?” cậu hỏi, khi quyển sổ cái bìa đen được mang tới. “Có những vụ nào nổi bật?”
George lật giở tới những ghi chép mới nhất. “Chẳng có gì nhiều nhặn,” cậu ấy nói. “Có báo cáo về một 'hình dáng màu đen khủng khiếp' xuất hiện ở bãi đỗ xe một cửa hàng rượu vào đầu buổi tối. Có thể là bất cứ thứ gì từ một Hồn Tối tới một Sương Xám. Đáng lẽ chúng ta sẽ tới đó điều tra vào đêm nay, nhưng tôi đã gọi điện cho họ báo hoãn... Chúng ta cũng có một vụ 'tiếng gõ quái gở' được nghe thấy ở một ngôi nhà gần Neasden... Có lẽ là một Gõ Đá, thậm chí là một Yêu Tinh yếu, nhưng cũng chưa có đủ thông tin để khẳng định chắc chắn. Rồi có một 'bóng đen, bất động' được nhìn thấy ở cuối một khu vườn ở Finchley - có lẽ là một Ma Ẩn hoặc một Bóng... Ồ, và một yêu cầu khẩn cấp của bà Eileen Smithers ở Chorley. Tối nào, khi ở một mình vào đêm muộn, bà ấy cũng đều nghe thấy...”
“Khoan đã,” Lockwood nói. “Eileen Smithers à? Chẳng phải chúng ta đã làm việc với bà ấy trước đây rồi sao?”
“Rồi. Lần đó là 'tiếng hú lìa hồn rùng rợn' vang lên trong phòng khách và phòng bếp nhà bà ấy. Chúng ta đã nghĩ đó có thể là một Hồn Hét. Trên thực tế đó là Bumbles, con mèo nhà hàng xóm bà ấy, bị kẹt trong một bức tường rỗng.”
Lockwood nhăn mặt. “Ôi Chúa ới, tôi nhớ ra rồi. Còn lần này?”
“Một âm thanh 'kỳ quặc, như trẻ con khóc' trên tầng áp mái nhà bà ấy. Bắt đầu từ nửa đêm, khi...”
“Sẽ lại là con mèo chết tiệt đó cho mà xem.” Lockwood rút tay trái từ dưới những chai nước ra và cẩn trọng co duỗi những ngón tay. Làn da vẫn hơi xanh. “Nói cho cùng, đó không phải chương trình hấp dẫn nhất trong cuộc đời các thám tử tâm linh, phải không nào? Những Ma Ẩn, Bóng và Bumbles, chú mèo đực màu cam... Thế còn những vụ tốt như Nỗi kinh hoàng Mortlake và Hồn Chết Dulwich đâu rồi?”
“Nếu 'tốt' theo ý cậu là những hồn ma hùng mạnh, đầy thách thức,” tôi nói, “thì hôm qua là một vụ được đấy. Vấn đề là - chúng ta đã không ngờ tới nó.”
“Y như cảnh sát ở Sở Cảnh sát Thủ đô đã nhắc đi nhắc lại với tôi vậy,” Lockwood càu nhàu. “Không, tôi nói 'tốt' ở đây nghĩa là những vụ có thể đem lại tiền cho chúng ta. Những vụ vừa rồi không hẳn là đáng kể.” Cậu sụp người trở lại ghế.
Chẳng mấy khi Lockwood đề cập đến tiền bạc; đó không phải động lực thường trực của cậu ấy. Có một khoảng lặng chẳng lấy gì làm thoải mái. “Thật nực cười rằng George đã tìm được một chút thông tin về cô gái ma của chúng ta,” tôi vui vẻ nói. “Kể cho cậu ấy đi, George.”
George đã mong chờ cả ngày để giải phóng gánh nặng này khỏi lồng ngực mình. Cậu rút bài báo ra khỏi túi áo và đọc từ đầu đến cuối. Lockwood - người chẳng mấy hứng thú với danh tính của các Khách, kể cả khi họ không làm cậu bị thương - dửng dưng lắng nghe.
“Amabel Ward à?” cuối cùng cậu ấy nói. “Vậy ra đó là tên cô ta? Tôi băn khoăn không biết cô ta đã chết như thế nào...”
“Và kẻ nào đã giết cô ấy,” tôi thêm vào.
Lockwood nhún vai. “Năm mươi năm là khoảng thời gian dài. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được. Tôi quan tâm nhiều hơn tới hiện tại. Hồn ma của cô ta đã gây rắc rối thực sự cho chúng ta. Cảnh sát không hài lòng chút nào về vụ cháy đó.”
“Thế chuyện gì đã xảy ra ở chỗ họ đêm qua vậy?” George hỏi.
“Không có gì nhiều. Họ lấy lời khai của tôi. Tôi đã biện hộ cho vụ của chúng ta khá tốt - Khách nguy hiểm, tính mạng của chúng tôi bị lâm nguy, phải ứng phó lập tức với hoàn cảnh, và những thứ hiển nhiên khác nữa. Nhưng họ có vẻ không tin.” Cậu nghẹn giọng, nhìn ra ngoài cửa sổ lần nữa.
“Còn bây giờ?” tôi hỏi.
Cậu lắc đầu. “Chúng ta sẽ phải chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra.”
Và điều đó đến với chúng tôi nhanh hơn mong đợi. Chưa đến hai mươi phút sau, những tiếng gõ cộc cằn đã vang lên ở cửa trước. George đi ra để trả lời. Cậu quay trở lại với một tấm danh thiếp diềm xanh và một vẻ mặt thất thần đau khổ.
“Ông Montagu Barnes từ DEPRAC,” cậu chán chường nói. “Cậu có ở nhà chứ?”
Lockwood rên rỉ. “Tôi phải ở nhà. Ông ta biết rằng tôi đang ở trong tình trạng không thể ra ngoài được vào ngày hôm nay. Được rồi. Cậu dẫn ông ta vào đi.”
Cục Nghiên cứu và Kiểm soát Tâm linh, hay DEPRAC, là một trong những tổ chức quyền lực nhất ở đất nước này. Cơ cấu của nó nôm na là nửa thuộc chính phủ, nửa thuộc lực lượng cảnh sát, nhưng thực tế nó được rất nhiều thám tử lớn tuổi vận hành, họ là những người đã trở nên quá chậm chạp và thậm chí lụ khụ để có thể làm công việc giám sát. Một trong những công việc chính của họ là theo dõi các công ty thám tử và đảm bảo rằng họ tuân thủ các luật lệ.
Thanh tra Barnes khoái luật lệ hơn hết thảy. Ông ta nổi tiếng mẫn cán và vô cùng ghét những thứ gì không tuân theo từng câu từng chữ các nguyên tắc của DEPRAC. Lockwood và George đã đụng mặt với ông ta vài lần, hầu hết là trước khi tôi gia nhập công ty. Đây là lần đầu tiên tôi chạm mặt ông ta, bởi vậy tôi chăm chú quan sát ông ta khi ông ta bước vào phòng khách.
Đó là một người đàn ông nhỏ bé, mặc một bộ vét tối màu và khá nhàu nhĩ. Giày ông ta màu nâu và đã trầy da, cái quần thì quá dài. Ông ta mặc một chiếc áo mưa dài màu nâu buông tới tận mắt cá, đầu đội mũ quả dưa bằng da lộn màu nâu. Tóc ông ta mỏng và rũ xuống, nhưng bộ ria thì khác, nó hoành tráng, tua tủa và rậm rạp như một chiếc bàn chải cọ sàn mới tinh. Khó mà đoán tuổi; có lẽ ông ta đã ngoài năm mươi. Với tôi ông ta dường như vô cùng già, chỉ một bước chân ngắn nữa thôi là chính ông ta sẽ trở thành Khách. Ông ta có cái vẻ sầu muộn, cau có, cứ như thể người ta đã gây tê và phẫu thuật cắt bỏ tất cả ánh sáng và niềm vui khỏi thân thể ông ta, để lại cho ông ta làn da bùng nhùng và chảy xệ bên dưới hai mắt. Tuy nhiên, đôi mắt ấy lại rất sắc sảo, tinh tường.
Lockwood khó nhọc đứng lên, chào ông ta với cung cách vừa đủ thân mật và mời ông ta ngồi. George dẹp chiếc bình ma sang tủ ly và che phủ nó dưới tấm vải chấm bi. Tôi đi pha trà.
Khi tôi quay trở lại, ông Barnes đang ngồi ở chính giữa chiếc ghế xô pha, vẫn chưa cởi áo mưa và mũ, tay đặt trên hai đầu gối dạng ra. Cái tư thế đó cùng lúc vừa thể hiện vẻ hống hách lại vừa có vẻ kỳ quặc. Ông ta đang nhìn bộ sưu tập các đồ tạo tác ở trên tường.
“Hầu hết mọi người,” ông ta nói bằng một giọng có vẻ là giọng mũi, “thường trang hoàng nhà cửa bằng tranh phong cảnh hay tranh vẽ đàn vịt. Những thứ này không thể đảm bảo vệ sinh được. Cái thứ bị rỗ đó là gì vậy?”
“Đó là gậy linh hồn của người Tây Tạng,” Lockwood nói. “Ít nhất đã một trăm năm tuổi rồi. Cháu đoán rằng các thầy tu Tây Tạng đã bằng cách nào đó dẫn lối cho các hồn ma lang thang chui vào những khối cầu kim loại rỗng treo giữa những lá cờ đó. Ông quả rất tinh tường khi để ý đến nó, ông Barnes; đó là một trong những thứ giá trị nhất trong bộ sưu tập của cháu.”
Viên thanh tra khịt mũi. “Tôi thì thấy nó giống các vật thờ ngoại quốc lố lăng hơn...” Ông ta rời mắt khỏi đó để lướt sang nhìn vào mắt chúng tôi. “Hừm,” ông ta nói, “Tôi rất vui thấy cả hai cô cậu đều ổn. Thậm chí cả ngạc nhiên nữa. Khi tôi thấy các cô cậu trong vườn đêm qua, tôi đã nghĩ cô cậu sẽ phải ở trong bệnh viện cả tuần cơ đấy.” Có vừa đủ sự mập mờ trong giọng nói của ông ta để khiến tôi băn khoăn không biết có phải ông ta cũng đã mong chờ kết quả như thế.
Lockwood phác một cử chỉ tỏ vẻ hối tiếc. “Cháu xin lỗi vì đã không thể ở lại giúp đỡ mọi người,” cậu ấy nói. “Cháu đã muốn ở lại, nhưng các bác sĩ rất kiên quyết.”
“Ồ, cậu cũng chẳng thể làm được gì,” ông Barnes nói. “Cậu chỉ làm vưóng chân họ thêm thôi. Chính nhờ những nỗ lực quả cảm của lính cứu hỏa và các thám tử mà ngọn lửa mới được dập tắt. Họ đã cố gắng cứu được phần lớn ngôi nhà. Nhưng tầng trên thì đã bị cháy rụi hoàn toàn, chính là nhờ cô cậu đấy.”
Lockwood gật đầu dứt khoát. “Cháu đã khai với các đồng nghiệp của ông ở Sở rồi.”
“Tôi biết. Và tôi đã nói chuyện với bà Hope, chủ nhân ngôi nhà bị cô cậu phá hủy.”
“À. Bà ấy thế nào ạ?”
“Bà ấy điên lắm rồi, cậu Lockwood ạ, cậu cứ hình dung mà xem. Tôi chẳng thể hiểu được gì nhiều từ bà ấy. Nhưng bà ấy và cả con gái bà ấy đều rất tức giận, và họ đang yêu cầu bồi thường. Đây là trà của tôi hả? Tuyệt.” Ông ta cầm một chén lên.
Mặt Lockwood, vốn đã tái nhợt, nay càng trở nên nhợt nhạt hơn. “Cháu rất hiểu rằng họ đang tức giận,” cậu ấy nói, “nhưng, với tư cách người trong nghề, cháu xin nói những sự cố như thế này luôn xảy ra trong công việc của chúng ta. Lucy và cháu đã phải đối mặt với một Loại Hai nguy hiểm trước đó đã từng giết người và khi ấy đang đe dọa mạng sống của chúng cháu. Vâng, sự hủy hoại kèm theo đó thật là không may, nhưng cháu tin tưởng rằng DEPRAC sẽ hỗ trợ chúng cháu các chi phí...”
“DEPRAC sẽ không hỗ trợ các cô các cậu một xu nào cả,” ông Barnes nói và nhấp một ngụm trà. “Đó chính là lý do tôi tới đây. Tôi đã nói chuyện với cấp trên của mình, và họ nhìn nhận rằng các cô cậu đã coi nhẹ một vài quy định an toàn cơ bản trong cuộc điều tra của các cô cậu ở đường Sheen. Nghiêm trọng nhất, các cô cậu đã lựa chọn đối đầu với Khách mà không có xích sắt: và vụ cháy là hệ quả trực tiếp của quyết định đó.” Viên thanh tra lau khô ria mép bằng cạnh một ngón tay. “Các cô cậu phải tự mình bồi thường.”
“Nhưng chuyện này thật nực cười,” Lockwood nói. “Chắc chắn chúng ta có thể...”
“Chẳng có 'chúng ta' nào hết!” Ông Barnes dường như đột ngột trở nên giận dữ. Ông ta đứng dậy, khua khua cái chén. “Nếu cậu và cô Carlyle làm việc một cách đúng đắn - nếu các cô cậu rời khỏi ngôi nhà đó khi chạm mặt Khách lần đầu tiên, nếu các cô cậu trở lại với những thiết bị tốt hơn,” - ông ta trừng mắt nhìn chúng tôi - “hoặc với những thám tử giỏi hơn, thì ngôi nhà sẽ vẫn còn đó! Đó là lỗi của các cô cậu và tôi e rằng tôi không thể giúp đỡ. Và tôi sẽ nói các cô cậu nghe điểm chính yếu đây.” Ông ta lấy ra một gói từ trong túi áo khoác. “Các cố vấn pháp luật nhà Hope đã gửi tôi phong bì này. Họ yêu cầu bồi hoàn ngay lập tức cho những hư hỏng do vụ cháy gây ra. Tổng cộng là 60.000 bảng. Các cô cậu có bốn tuần để trả tiền bồi thường, nếu không họ sẽ kiện các cô cậu.” Ông ta mím môi. “Tôi hy vọng rằng cậu thực sự phong lưu như vẻ bề ngoài, cậu Lockwood ạ, bởi vì tôi có thể cam đoan rằng nếu cậu không hoàn thành nghĩa vụ này, DEPRAC sẽ phải giải tán công ty thám tử của cậu.”
Không ai động đậy. Lockwood và tôi ngồi như thể cả hai chúng tôi đã bị ma-khóa. George chầm chậm tháo cặp kính và lau vào áo len chui đầu của mình.
Giờ đây sau khi đã thông báo với chúng tôi cái tin trí mạng đó, thanh tra Barnes dường như bồn chồn không yên. Ông ta khệnh khạng đi lại xung quanh phòng, vừa nhìn ngắm những đồ tạo tác vừa uống trà.
“Ông để lá thư đó lên tủ ly hộ cháu,” Lockwood nói. “Cháu sẽ xem nó sau.”
“Tự ái chẳng ích lợi gì đâu, cậu Lockwood,” ông Barnes nói. “Đây là điều sẽ xảy ra khi một công ty thám tử không được điều hành đúng đắn. Không có người giám sát! Các công ty thám tử có người lớn đảm bảo mọi thứ được tiến hành với sự cẩn trọng tối đa dành cho tài sản và sự tổn thất tối thiểu đối với nhân mạng. Nhưng các cô cậu...” - ông ta phẩy tay vẻ ghê tởm - “Các cô cậu chẳng là gì cả, chỉ là một lũ trẻ chơi trò người lớn. Tất cả mọi thứ trong ngôi nhà này minh chứng cho điều đó, thậm chí cả thứ rác rưởi này trên tường.” Ông ta chăm chú nhìn một mảnh nhãn nhỏ. “ 'Cây bắt ma của Indonesia' à? Thật vớ vẩn! Quẳng nó vào viện bảo tàng ấy!”
“Bộ sưu tập đó là của mẹ cháu,” Lockwood nói khẽ.
Viên thanh tra không nghe thấy, ông ta lẳng chiếc phong bì lên trên tủ ly, và cùng lúc đó, nhận thấy thứ được che giấu dưới chiếc khăn tay chấm bi. Nhăn mặt, ông ta hất tấm vải ra, để lộ chiếc bình sương khói màu vàng. Trán ông ta càng nhăn tít. Ông ta cúi sát xuống, nhìn sâu vào bên trong. “Còn cái này? Cái thứ quái dị này là gì vậy? Lại một thứ mẫu vật kinh khủng đáng lẽ phải được hỏa thiêu từ lâu rồi...” Ông ta thô bạo gõ lên chiếc bình thủy tinh.
“Ờm, nếu là cháu, cháu sẽ không làm thế đâu,” Lockwood nói.
“Tại sao không?”
Một luồng sinh chất màu vàng đột ngột dồn lên; khuôn mặt ma đông kết lại hiện hình đối diện thẳng với ông Barnes. Mắt nó lồi như muốn bật hẳn ra ngoài; miệng nó ngoác ra, để lộ một dãy hàm răng lởm chởm như dãy Alps. Nó đang dùng lưỡi làm những điều đâu đâu.
Thật khó đoán chính xác ông thanh tra nhìn thấy ma hình đó rõ tới mức độ nào. Nhưng rõ ràng ông ta đã cảm nhận thấy điều gì đó. La lên một tiếng như khỉ hú, ông ta bật nẩy người lại kinh sợ. Tay ông ta giật lên cao; trà nóng, đặc, chảy xuống mặt và ngực áo sơ mi của ông ta. Chiếc chén rơi lóc cóc dưới sàn nhà.
“George,” Lockwood nói giọng ôn hòa, “tôi đã bảo cậu để cái bình đó ở tầng dưới cơ mà.”
“Ừ. Tôi quên mất.”
Ông Barnes chớp chớp mắt, há hốc miệng, đoạn lấy tay vuốt mặt. “Lũ ngốc vô trách nhiệm! Cái quái quỷ đó - nó là cái gì thế?”
“Cháu không chắc nữa,” George nói. “Có thể đó là một Hồn Sống loại nào đó. Xin lỗi về điều đó, ông Barnes, nhưng lẽ ra ông không nên nhìn sát như thế. Nó dễ bị giật mình bởi những hình dạng kỳ cục.”
Viên thanh tra đã giật một chiếc khăn giấy từ khay trà và đang thấm nước trên áo mình; lúc này ông ta quắc mắt nhìn tất cả bọn tôi. “Đây chính là điều tôi muốn nói tới đấy,” ông ta nói. “Không được giữ những chiếc bình như thế trong nhà riêng. Chúng cần phải được giữ trong những nơi an toàn, dưới sự kiểm soát của những tổ chức có trách nhiệm - hoặc, tốt hơn nữa, là bị phá hủy. Nếu con ma trong đó thoát ra thì sao? Nếu có đứa trẻ con nào tới và tìm thấy nó thì sao? Tôi mới chỉ nhìn lờ mờ thôi mà nó đã dọa tôi sợ suýt chết, thế mà các cô cậu để nó khơi khơi như thế trên tủ ly.” Ông ta cáu bẳn lắc đầu. “Như tôi đã nói đấy, các cô cậu chỉ coi công việc như trò chơi. Hừm, tôi đã nói những điều cần nói. Hãy đọc những giấy tờ này, cậu Lockwood, và nghĩ về điều cậu muốn làm. Hãy nhớ - các cô cậu chỉ có bốn tuần. Bốn tuần và 60.000 bảng. Không, không cần phải tiễn tôi làm gì; tôi tự ra được, miễn là không có con ma cà rồng nào xé xác tôi trong hành lang.”
Ông ta ụp chiếc mũ lên đầu và sầm sập bước ra khỏi phòng. Chúng tôi chờ cho đến khi nghe tiếng cửa trước đóng sập lại.
“Một cuộc gặp đáng chán và mệt mỏi trên nhiều khía cạnh,” Lockwood nói, “nhưng về cuối thì vui lên một chút.”
“Đúng vậy, phải không?” George khúc khích. “Quả là vô giá. Các cậu thấy vẻ mặt của ông ta chứ?”
Tôi cười nhăn nhở. “Tôi chưa từng thấy ai di chuyển nhanh như vậy.”
“Ông ta đã sợ chết điếng, phải không?”
“Đúng vậy. Thật tuyệt vời.”
“Rất buồn cười.”
“Đúng vậy.”
Tiếng cười của chúng tôi tắt dần. Có một khoảng lặng dài. Tất cả chúng tôi đều nhìn vào hư không.
“Cậu có trả nổi cho nhà bà Hope không?” tôi hỏi.
Lockwood hít một hơi thật sâu; việc đó dường như làm cậu đau - cậu cáu kỉnh xoa lên sườn. “Nói thẳng ra là: không. Tôi có ngôi nhà này, nhưng trong ngân hàng thì chẳng có mấy. Dù sao cũng chẳng đủ để sửa được nhà bà Hope. Cách duy nhất tôi có thể làm là bán chỗ này đi, và đó sẽ là dấu chấm hết cho công ty thám tử này, như ông Barnes đó đã lường trước...” Trong thoáng chốc cậu dường như co người lại trong ghế; rồi như thể một công tắc nào đó được bật lên và năng lượng quay trở lại. Cậu nở một nụ cười méo mó nhưng rạng rỡ với cả hai chúng tôi. “Nhưng điều đó sẽ không xảy ra, phải không nào? Chúng ta có bốn tuần! Thế là quá nhiều thời gian để kiếm tiền! Điều chúng ta cần là một vụ thực sự đáng chú ý để có thể làm chúng ta nổi tiếng, đồng thời tạo đà cho chúng ta.” Cậu chỉ vào quyển hồ sơ trên bàn. “Không làm những thứ rác rưởi Bóng hay Ma Ẩn gì nữa - chúng ta cần thứ gì đó thực sự làm nên tên tuổi chúng ta. Hừm... mai chúng ta sẽ lo tiếp... Không, cảm ơn George - tôi không muốn uống trà. Tôi hơi mệt rồi. Nếu các cậu cũng thấy mệt rồi, thì tôi đi ngủ đây.”
Cậu chúc ngủ ngon và bỏ đi. George và tôi ngồi đó, chẳng nói năng gì.
“Tôi đã không nói với cậu ấy, nhưng chúng ta vừa mất một vụ như thế rồi,” cuối cùng George nói. “Hôm nay họ đã gọi hủy. Cậu biết đấy, hẳn họ đã nghe về vụ cháy rồi.”
“Vụ quý bà mèo hả?”
“Không phải. Một trong những vụ thú vị cơ.”
“Bốn tuần không thực sụ đủ dài để kiếm số tiền đó, phải không?” tôi nói.
“Đúng vậy.” Cậu ngồi bắt tréo chân trên ghế xô pha, cằm ủ rũ gục xuống tay.
“Thật không công bằng,” tôi nói. “Chúng ta đã mạo hiểm mạng sống của mình!”
“Đúng vậy.”
“Chúng ta đã đối mặt và đẩy lùi một con ma ghê gớm! Chúng ta đã làm cho London trở thành một nơi an toàn hơn!”
“Đúng vậy.”
“Đáng lẽ chúng ta phải được khen thưởng mới phải chứ!”
George duỗi người, chuẩn bị đứng dậy. “Ý nghĩ hay đấy, nhưng mọi việc không diễn ra theo cách đó. Cậu đói chứ?”
“Không. Chỉ kiệt sức thôi. Tôi nghĩ tôi cũng đi ngủ đây.” Tôi nhìn cậu thu dọn đồ uống trà, và nhặt chiếc chén đánh rơi của viên thanh tra từ dưới xô pha. “Ít nhất thì cũng đã giải quyết được Annabel Ward,” tôi nói. “Cũng là chút an ủi.”
Cậu cằn nhằn. “Đúng vậy. Ít ra thì các cậu đã làm đúng chuyện đó.”