Tôi thức giấc đâu đó khoảng chừng nửa đêm, căn phòng chìm trong bóng tối và toàn thân tôi đau nhức. Tôi nằm ngửa - tư thế đỡ khó chịu nhất - hơi nghiêng người về phía cửa sổ. Một tay gập lại để trên gối, tay kia duỗi thẳng trên tấm chăn. Mắt tôi thao láo, đầu óc tôi tỉnh táo. Cứ như thể tôi chưa từng ngủ chút nào vậy, nhưng chắc hẳn tôi đã ngủ, bởi vì xung quanh tôi là sự yên ắng nặng nề, mượt như nhung của những giờ khắc câm lặng.
Những vết cắt trên người tôi đau nhói, những vết bầm nhức nhối; một ngày sau cú ngã, cơ bắp của tôi đang phục hồi tương đối tốt. Tôi biết có lẽ mình nên thức dậy và uống vài viên aspirin, nhưng lọ thuốc ở trong bếp tận dưới kia. Đi xuống lấy thì tốn sức quá. Tôi không muốn di chuyển. Người tôi cứng đờ, cái giường thì ấm áp mà không khí thì quá lạnh.
Tôi nằm yên, nhìn cái mái dốc của tầng áp mái. Sau một chốc, một đốm sáng trắng nhợt hiện ra bên ngoài khung cửa sổ, lúc đầu tối mờ, rồi sáng lóe lên. Đó là ánh sáng từ chiếc đèn ma, đều đặn như luồng sáng từ một ngọn hải đăng, chiếu tới tận góc cuối phố. Cứ ba phút rưỡi một lần, nó lại xuyên thủng bóng đêm với ánh sáng trắng chói lọi trong chính xác ba mươi giây, trước khi lại tắt đi. Về cơ bản, đèn ma được thiết kế để giữ an toàn cho các con đường, ngăn Khách không lảng vảng ở đó. Nhưng trên thực tế - bởi chẳng có mấy hồn ma lang thang trên các con đường trống - nó có tác dụng làm yên lòng, để mọi người nghĩ rằng các nhà chức trách đang làm điều gì đó.
Tôi nghĩ nó cũng có tác dụng theo cách riêng. Nó khiến ta thoải mái đôi chút. Nhưng khi tắt đi rồi, nó dường như làm cho bóng đêm trở nên càng sâu thẳm.
Khi đèn bật lên, tôi có thể nhìn thấy từng chi tiết căn phòng bé nhỏ của mình: những thanh xà trên trần nhà, những thanh chắn ma bằng sắt tối đen xung quanh cửa sổ, tủ quần áo mỏng dính tới nỗi tất cả móc treo quần áo của tôi trong đó đều phải để nghiêng. Trong đó chẳng có mấy chỗ trống - tôi thường phải chất quần áo của mình thành đống trên chiếc ghế cạnh cửa. Tôi đã thoáng nhìn thấy đống quần áo đó. Nó đã cao vống lên rồi. Ngày mai tôi sẽ phải sắp xếp lại.
Ngày mai... Bất kể Lockwood có tỏ vẻ can trường tới đâu, dường như không còn nhiều ngày mai cho chúng tôi. Bốn tuần... Bốn tuần để kiếm một số tiền không tưởng. Và chính sự ngoan cố của tôi đã giữ chúng tôi ở lại căn nhà đó sau đợt tấn công đầu tiên của cô gái ma. Chính tôi đã khiến cả hai đối mặt cô ấy một lần nữa, trong khi thu dọn đồ lề và bỏ đi có thể sẽ dễ dàng hơn nhiều.
Lỗi do tôi. Tôi đã quyết định sai lầm, giống như trong vụ Cối xay Wythburn. Lần đó tôi đã không tuân theo bản năng. Lần này tôi làm theo bản năng, nhưng bản năng đó đã sai. Dù theo cách này hay cách kia, khi bước vào khủng hoảng, thì kết quả cuối cùng luôn như nhau. Tôi đã gây rắc rối, và thảm họa theo đó mà xảy ra.
Ở bên ngoài đường phố, chiếc đèn ma lại tắt; căn phòng trở lại bóng tối. Tôi vẫn không di chuyển. Tôi đang hy vọng mình có thể lừa trí óc quay lại giấc ngủ. Nhưng tôi đang đùa với ai chứ? Tôi đang quá đau, quá tỉnh, quá mặc cảm tội lỗi - và cũng quá lạnh nữa. Tôi thực sự cần tới một chiếc chăn nữa từ tủ đựng đồ vải trong phòng tắm phía dưới.
Lạnh quá...
Tim tôi khẽ run rẩy khi tôi nằm đó trên giường.
Thực sự rất lạnh.
Và đó cũng không phải cái lạnh ẩm ướt bình thường của tiết trời giữa tháng Mười một. Nó là cái lạnh làm hơi thở của ta hóa khói khi ta ngủ. Nó là cái lạnh in sương giá lên mặt trong lớp kính cửa sổ phòng ta. Nó là cái băng giá tê cóng, buốt phổi, lan tỏa, và đối với tôi nó rất quen thuộc.
Tôi mở choàng mắt.
Bóng tối. Tôi nhìn thấy viền ngoài mờ nhạt của cửa sổ và xuyên qua đó, là đêm London nhuốm sắc cam. Tôi lắng nghe - nhưng chỉ nghe thấy tiếng mạch máu dộng trong tai. Tim tôi đập mạnh trong lồng ngực tới nỗi tôi nghĩ tấm chăn bông đắp bên trên cũng đang nhảy nhót theo. Tất cả các bó cơ trên người tôi đều căng cứng; tôi trở nên vô cùng cảnh giác, cảm nhận từng centimet vuông tiếp xúc trên da thịt mình - cái lướt qua của lớp vải trên chiếc váy ngủ cotton, sự ấm áp, mềm mượt của tấm chăn, sức ép của băng gạc lên những vết thương. Bàn tay đặt trên gối tự dưng siết lại; mồ hôi túa ra trong lòng bàn tay.
Tôi không nhìn thấy gì, chẳng nghe thấy gì, nhưng tôi biết.
Không chỉ có mình tôi trong căn phòng này.
Một phần nhỏ bé trong tâm trí tôi đang gào thét bảo tôi di chuyển. Hất cái chăn nặng nề ra mà đứng dậy. Làm gì sau đó thì tôi không biết - nhưng bất cứ điều gì cũng sẽ tốt hơn là chỉ nằm đó trong vô vọng, nghiến chặt nỗi sợ hãi giữa hai hàm răng mình.
Chỉ cần bật dậy thôi. Mở tung cửa ra. Chạy xuống cầu thang... Làm gì đó đi!
Tôi vẫn nằm bất động.
Một mẩu trí nhớ lạnh lẽo đã mách bảo tôi rằng chạy ra cửa có lẽ không phải quyết định thông minh. Bởi vì tôi đã nhìn thấy... Tôi đã nhìn thấy gì nhỉ?
Tôi chờ đợi. Chờ đợi luồng sáng.
Đôi khi ba phút là rất, rất lâu.
Dưới kia, gần cửa hàng góc đường, trong mạch điện giấu kín của chiếc đèn ma, một công tắc điện tử vừa được bật. Đằng sau những thấu kính lớn hình tròn, những bóng đèn magiê được bật lên, tưới ánh sáng trắng mát mẻ khắp đường phố. Ở trên cao nơi cửa sổ gác mái phòng tôi, ánh sáng đã trở lại.
Mắt tôi nhìn sang hướng cửa.
Đúng. Ở đó. Cái ghế và đống quần áo. Chúng hình thành một khối đen mờ không rõ hình dạng - nhưng cái khối đó cao hơn so với bình thường rất nhiều. Nếu lấy tất cả quần áo tôi có trên thế gian này và chất chúng thành đống ở đó với váy và áo len chui đầu ở dưới trong khi những chiếc tất vắt ở trên đỉnh, thì nó cũng chẳng thể nào cao, hoặc thuôn dài, như cái hình dáng đứng chỉ vừa đủ để có thể nhìn thấy trong khoảng tối gần cửa.
Nó không di chuyển. Nó không cần phải di chuyển. Tôi nhìn trừng trừng vào nó trong ba mươi giây khi vẫn nằm đờ người trên giường. Và thực sự tôi cũng cảm thấy người mình cứng đờ ra. Cơn ma-khóa đã xâm chiếm tôi một cách thật lén lút, mơ hồ, làm tôi hoàn toàn không nhận biết gì về nó cho tới tận lúc này.
Ánh sáng từ ngoài đường phố đã tắt.
Tôi cắn môi, đánh thức sự tập trung, xua đuổi cảm giác vô vọng trong đầu óc. Gồng hết sức để ép cơ thể cử động, tôi hất chăn ra khỏi người. Tôi lật người sang một bên, lăn tròn rồi đáp xuống sàn nhà.
Tôi nằm bất động.
Tất cả các cơ bắp của tôi đều đau nhức nhối; hành động mạnh mẽ đó chẳng cải thiện tình hình được chút nào. Nhưng giờ chiếc giường đã ở giữa tôi và cửa ra vào, cùng cái thứ đứng bên cạnh nó, và như vậy là tốt. Đó là điều duy nhất quan trọng vào lúc này.
Tôi ép người sát xuống thảm, đầu đặt trên hai bàn tay. Không khí lạnh buốt như băng đang cắn xé khoảng da hở ở hai bàn chân và cẳng chân tôi. Tấm thảm bị bao bọc bởi một lớp mỏng sương khói trắng lởn vởn, sáng mờ: sương ma, một thứ phụ phẩm thường có trong những vụ hiện hồn.
Tôi nhắm mắt lại, cố gắng trấn tĩnh, vểnh tai lắng nghe.
Nhưng cái điều vốn rất dễ dàng khi bạn quần áo chỉnh tề, đồ nghề đầy đủ, và có một thanh kiếm sáng lóa đeo bên hông, lại trở nên không đơn giản chút nào khi bạn đang mặc bộ váy ngủ màu hồng pha vàng, nằm dài dưới sàn. Cái điều vốn rất ổn khi bước vào một ngôi nhà bị ma ám trong công việc điều tra lại trở thành không ổn khi bạn ở trong chính phòng ngủ của mình, và vừa chợt nhìn thấy một thứ gì đó đã chết đứng cách đó vài mét. Bởi thế tôi chẳng nghe được bất cứ âm thanh siêu nhiên nào. Thứ mà tôi nghe được là âm thanh cơ bản của sự sống - tiếng tim tôi đập, tiếng phổi phập phồng.
Làm thế quái nào nó vào được vậy? Ở cửa sổ có sắt. Làm sao nó lên cao được thế này?
Bình tĩnh nào! Nghĩ đi. Tôi có thứ vũ khí nào trong phòng mình không - bất cứ thứ gì tôi có thể sử dụng được?
Không. Đai làm việc của tôi đang ở trên bàn bếp, cách cả hai tầng nhà phía dưới. Hai tầng! Nó có ở tận Trung Quốc thì cũng đến thế này mà thôi. Kiếm của tôi thì cũng vậy, đã tiêu tùng, bị cháy và tan chảy trong ngọn lửa ở đường Sheen. Tất cả những đồ dự phòng thì ở tầng hầm, nghĩa là cách ba tầng phía dưới! Tôi hoàn toàn không có khả năng tự vệ. Có lẽ cũng có nhiều đồ lặt vặt nằm rải rác đâu đây trong căn nhà, nhưng điều đó cũng là vô ích, bởi vì thứ đó đang bay lượn gần cửa.
Hoặc có phải vậy không? Không khí dịch chuyển. Tôi nổi da gà.
Nằm úp người như thế, tôi chẳng thể nâng đầu lên quá cao được nếu không chống tay lên. Tôi chỉ có thể nhìn thấy chiếc chân giường gần nhất, màu xám và sần sùi, những dải sương ma màu trắng xanh, và bức tường. Đằng sau lưng tôi là khoảng phòng trống. Nếu có thứ gì đó trôi nổi đằng sau lưng tôi vào lúc đó, tôi sẽ chẳng thể biết được.
Dù tối hay không, tôi cũng phải quan sát ngay lúc này. Tôi chuẩn bị sẵn sàng để nâng người dậy.
Ánh sáng từ ngoài phố lại bừng lên. Tôi chống thẳng hai tay, nghển đầu lên, nhìn lại về phía ấy qua mép tấm đệm...
Và cảm thấy sợ hãi đến mức tim tôi gần như ngừng đập. Cái hình dáng đó không còn ở cạnh cửa nữa. Không. Nó đã bay lên cao, chậm rãi, yên lặng, và giờ đang lượn vòng bên trên chiếc giường. Nó treo mình ở đó trong tư thế cúi gập để xem xét, sinh chất tạo thành vệt trên tấm nệm, những ngón tay dài màu đen của nó quờ xuống sờ soạng những mảng ấm trên tấm chăn mà tôi vừa mới nằm đắp.
Nếu nó vươn dài những ngón tay đó sang bên cạnh, thì chúng đã chạm vào tôi.
Tôi lại thụp xuống.
Xét theo nhiều khía cạnh thì cái giường vốn từ lâu không ai dùng mà tôi đã ngủ trên đó ít lâu là một thứ chẳng mấy giá trị. Có lẽ nó là chiếc giường đầu tiên Lockwood đã dùng trong những năm xửa năm xưa, hồi cậu ấy còn là một đứa bé con. Các khớp nối của nó ọp ẹp, tấm nệm của nó thì gồ ghề những đoạn lò xo. Nhưng có một thứ hữu ích ở nó: nó không có những chiếc ngăn kéo gắn bên dưới như kiểu giường hiện đại. Bởi vậy ở dưới còn rất nhiều không gian cho những chiếc khăn tay nhàu nát, những cuốn sách và bụi bặm, kể cả chỗ cho chiếc hộp nhỏ đựng đồ lặt vặt tôi mang từ nhà đến.
Và có rất nhiều không gian, vào lúc đó, cho một cô gái lanh lẹ.
Tôi không biết liệu rằng mình đã bò hay lăn; tôi không biết mình đã đè bẹp hay làm vỡ thứ gì. Tôi nghĩ tôi đã đập đầu vào cái gì đó, và ắt hẳn tôi đã làm bong băng gạc khỏi hai cẳng tay, bởi sau đó tôi nhận ra rằng thảm đã dính đầy máu. Một giây, có thể là hai: đó là khoảng thời gian tôi lao xuống dưới giường và thoát ra ở phía đằng kia.
Khi chui ra tôi bị bao bọc bởi thứ gì đó lạnh lẽo.
Nó to, xốp và phủ xuống tôi từ phía bên trên. Trong thoáng chốc tôi đã vùng vẫy trong hoảng loạn tột độ - rồi nhận ra đó chỉ là chiếc chăn của mình đang phủ xuống bên giường. Tôi hất chăn ra, cố hết sức đứng dậy. Ở phía đằng sau, trên chiếc giường, một luồng ánh-sáng-khác lóe lên giận dữ. Bóng đen đó lại đột ngột hiện rõ: một hình dáng nhợt nhạt, gầy gò trôi theo tôi, hai cánh tay với ra.
Tôi nhảy tới cánh cửa, giật tung cửa ra, và tuyệt vọng phóng xuống cầu thang.
Tới hành lang tầng hai, tôi va vào lan can cầu thang, những luồng gió lạnh bóp nghẹt cổ họng tôi. “Lockwood!” tôi gào to. “George!”
Cánh cửa phòng Lockwood ở bên trái. Một vệt sáng nhỏ xuất hiện nơi khe cửa bên dưới. Tôi chộp lấy tay nắm cửa, ngoái lại phía sau nhìn đốm sáng nhạt đang nhanh chóng kéo dài xuống những bậc thang. Tay nắm cửa di chuyển lên xuống nhưng chẳng ích gì; cánh cửa đã bị khóa, nó sẽ không mở ra. Tôi tuyệt vọng giơ nắm đấm để dộng vào cánh cửa gỗ. Ở góc quanh của cầu thang đã xuất hiện những ngón tay, rồi một bàn tay phát sáng đang duỗi dài...
Cánh cửa bật mở; ánh sáng vàng dịu của ngọn đèn bên trong cơ hồ làm tôi lóa mắt.
Lockwood đứng đó, mặc bộ pyjama kẻ sọc và chiếc áo choàng dài tối màu.
“Lucy?”
Tôi lao qua cậu mà chạy vào trong phòng. “Một con ma! Phòng tôi! Nó đang đến đấy!”
Tóc cậu hơi rối, gương mặt thâm tím của cậu mệt mỏi và buồn bã, nhưng ngoài ra thì cậu hoàn toàn bình tĩnh. Cậu không hỏi gì mà bước lùi lại phía sau, mặt hướng về phía cái ô màu đen của khung cửa. Có một chiếc tủ ngăn kéo bên cạnh cậu. Cậu với cánh tay lành mở ngăn kéo trên cùng mà không cần nhìn, rồi quả quyết thò tay vào bên trong. Tôi cảm thấy sự nhẹ nhõm dâng trào như một luồng hơi ấm. Ơn Chúa! Nó có thể là một quả bom muối hoặc một hộp mạt sắt chăng? Chẳng quan tâm. Bất cứ thứ gì cũng được.
Cậu lôi ra một mớ rối tung những gỗ, dây dợ và những mẩu kim loại. Những mẩu kim loại có hình như những con chim và thú. Lockwood cầm một thanh gậy gỗ và bắt đầu gỡ dây.
Tôi nhìn nó. “Cậu chỉ có chừng đó thôi à?”
“Kiếm của tôi ở dưới nhà rồi.”
“Đó là cái quái gì vậy?”
“Đồ treo cũi. Nó là của tôi hồi còn nằm nôi. Cậu cầm nó ở đây, và những con thú được treo từ bánh xe quay này. Nó tạo ra âm thanh vui nhộn lắm. Tôi thích nhất con hươu cao cổ mặt cười.”
Tôi nhìn về phía cánh cửa mở. “Hừm, rất tuyệt, nhưng...”
“Chúng bằng sắt, Lucy. Thế điều gì đã xảy ra vậy? Đầu gối cậu đang chảy máu kìa.”
“Một ma hình. Lúc đầu là quầng xạ tối, nhưng giờ ánh- sáng-khác xuất hiện. Các hiệu ứng cấp hai của ma-khóa và và cơn băng giá. Nó vừa mới theo tôi xuống cầu thang.”
Lockwood có vẻ thỏa mãn với món đồ treo cũi. Khi cậu cầm nó lên và xoay cổ tay, vòng tròn nhỏ những con vật treo quay tự do. “Cậu tắt đèn ngủ đi, được chứ?”
Tôi làm thế. Chúng tôi chìm vào bóng tối. Không có đốm sáng ma nào xuất hiện ngoài hành lang.
“Tin tôi đi, nó ở ngoài đó,” tôi nói.
“Được rồi. Chúng ta sẽ ra cửa. Khi cậu đi qua giường tôi, hãy nhặt một chiếc giày.”
Chúng tôi len lén đi ra cửa, với chiếc treo cũi chìa ra đằng trước, và cẩn trọng quan sát ra phía ngoài. Chẳng có dấu hiệu ma hình nào trên chiếu hành lang cả.
“Cậu lấy giày rồi chứ?”
“Rồi.”
“Ném nó vào cửa phòng George nhé.”
Với tất cả sức mạnh tôi có thể tập trung được, tôi ném nó băng qua hành lang. Nó đập uỳnh một cái thật mạnh vào cánh cửa đối diện. Chúng tôi chờ đợi, dõi vào bóng tối.
“Nó đã theo tôi xuống cầu thang,” tôi nói.
“Tôi biết. Cậu đã nói rồi mà. Nhanh nào, George...”
“Tiếng động tôi tạo ra chắc chắn làm cậu ấy thức dậy rồi.”
“Hừm, cậu ấy ngủ say lắm. A, cậu ấy đây rồi.”
Cuối cùng George cũng loạng choạng bước ra từ phòng mình, chớp chớp và đảo mắt như một con chuột đồng bị cận thị. Cậu mặc một bộ pyjama xanh dương lùng thùng cỡ bự, rộng hơn cỡ của cậu ít nhất ba số, được trang trí hình tàu vũ trụ và máy bay lòe loẹt cẩu thả.
“George,” Lockwood gọi, “Lucy nói cậu ấy đã nhìn thấy Khách, ở đây, trong ngôi nhà này.”
“Tôi đã nhìn thấy nó,” tôi nói quả quyết.
“Cậu có sắt đấy không?” Lockwood nói. “Chúng ta cần xem nó là gì.”
George dụi mắt; cậu lóng ngóng sờ xuống thắt lưng trong nỗ lực tuyệt vọng nhằm giữ cho quần không xệ xuống quá thấp. “Tôi không chắc lắm. Có thể có. Chờ tí.”
Cậu quay người lê bước vào trong. Có một khoảng lặng, theo sau là liên tiếp những tiếng lục lọi. Một lúc sau George quay trở lại, đeo một chiếc đai quàng chéo qua vai kiểu người chăn bò Nam Mỹ. Chiếc đai mấp mô những pháo sáng magiê, bom muối và hộp mạt sắt. Bên dưới nó treo một chiếc hộp thủy-tinh-bạc trống không. Cậu cầm một cuộn xích sắt, một thanh kiếm dài, chuôi chạm trổ hoa văn cầu kỳ, và có một chiếc đèn pin chòi ra hững hờ từ cạp quần pyjama cậu. Hai chân cậu xỏ trong một đôi giày bự chẳng. Lockwood và tôi nhìn cậu.
“Gì thế?” George nói. “Vài thứ nhỏ nhặt và mấy món đồ tôi giữ cạnh giường ấy mà. Phòng bị vẫn là hơn. Cậu có thể mượn một quả bom muối nếu cậu muốn, Lockwood.”
Lockwood giơ chiếc treo cũi kêu leng keng của cậu lên vẻ cam chịu. “Không, không, tôi sẽ ổn với cái này.”
“Nếu cậu chắc chắn như thế thì thôi vậy. Thế ma hình ấy ở đâu vậy?”
Tôi nói một vài câu ngắn gọn. Lockwood ra lệnh. Chúng tôi bắt đầu leo cầu thang.
Trước sự ngạc nhiên của tôi, lối đi quang quẻ. Cứ vài bước chúng tôi dừng lại quan sát và lắng nghe, nhưng không có kết quả gì. Cảm giác về cái lạnh đáng sợ đã biến mất; sương ma cũng đã tan đi, và tôi chẳng còn nghe thấy gì nơi tai trong của mình nữa. Lockwood và George cũng chẳng thu nhận được gì. Mối hiểm họa rõ ràng duy nhất là cạp quần pyjama của George, dưới sức nặng các món đồ của cậu, nó đang không ngừng đòi tụt xuống.
Cuối cùng chúng tôi cũng vòng quanh góc ngoặt. George rút đèn pin khỏi quần pyjama và lia quanh phòng tôi. Tất cả mọi thứ đều tối đen và tĩnh lặng. Tấm chăn nhàu nát của tôi vẫn nằm ở nơi tôi hất nó xuống, cạnh chiếc giường bề bộn. Đống quần áo trên ghế của tôi, mà tôi hẳn đã xô xuống khi ùa chạy ra ngoài, nằm vương vãi trên nền nhà.
“Chẳng có gì ở đây cả,” George nói. “Cậu chắc chắn về chuyện này chứ, Lucy?”
“Tất nhiên là tôi chắc chắn,” tôi cáu kỉnh. Tôi bước thật nhanh về phía cửa sổ, nhìn xuống dưới phố xa. “Dù rằng tôi thừa nhận tôi không cảm thấy nó vào lúc này.”
Lockwood đang quỳ gối, nheo mắt nhìn dưới gầm giường. “Từ những điều cậu nói, nó chắc hẳn là một con yếu - di chuyển chậm, chỉ lờ mờ cảm nhận về xung quanh nó, nếu không chắc chắn nó đã tóm được cậu. Có lẽ nó đã dùng hết năng lượng của mình và đã quay trở vào Nguồn.”
“Nhưng chính xác thì Nguồn đó là cái gì?” George nói. “Cái Nguồn mới vừa đột ngột xổ ra một cách bí ẩn như từ trên trời rơi xuống vào phòng Lucy đó đâu? Căn nhà được bảo vệ kiên cố. Chẳng có gì có thể xâm nhập được.” Cậu nhìn vào trong tủ quần áo của tôi, thanh kiếm sẵn sàng trong tay. “Chà, chẳng có gì trong này cả mà chỉ có những chiếc áo váy quyến rũ và... Ồ, Lucy - tôi chưa từng thấy cậu mặc cái đó.”
Tôi đóng sập cửa lại, suýt chút nữa kẹp luôn bàn tay béo mập của cậu. “Để tôi nói cậu nghe, tôi đã nhìn thấy ma, George. Cậu nghĩ tôi mù sao?”
“Không, tôi chỉ nghĩ cậu nhầm thôi.”
“Nghe này...”
“Chuyện này không hợp lý chút nào,” Lockwood xen ngang, “trừ phi Lucy mang một trong những đồ tạo tác tâm linh của chúng ta lên trên này. Cậu không mang gì lên, phải không Luce? Cậu đã không mang gì, ví dụ như bàn tay cướp biển lên đây để quan sát kỹ và quên không đặt nó trở lại vào trong hộp của nó đấy chứ?”
Tôi khẽ kêu lên một tiếng bực tức. “Đừng có ngốc thế chứ. Tất nhiên là tôi không làm thế rồi. Tôi sẽ không bao giờ mơ đến chuyện mang bất cứ thứ gì chưa được... chưa được phơng ấn đâu ra đấy... Ôi.”
“Hừm, George luôn mang chiếc bình của cậu ấy loanh...” Lockwood nhận ra vẻ mặt của tôi. “Lucy?”
“Ôi. Ôi không.”
“Cái gì vậy? Cậu đã mang thứ gì lên sao?”
Tôi nhìn cậu. “Đúng vậy,” tôi nói bằng giọng rất khẽ. “Đúng vậy, tôi nghĩ tôi đã mang lên một thứ.”
Cả George và Lockwood đều quay về phía tôi, lưng hướng về phía tủ quần áo và đống đồ lộn xộn nằm vương vãi trên sàn nhà. Khi họ bắt đầu nói, một ánh sáng nhàn nhạt lóe lên trên tường. Một hình dáng vươn lên từ sàn nhà đằng sau họ. Tôi nhìn những cánh tay và cẳng chân gầy guộc, chiếc váy với những bông hoa hướng dương màu cam, những lọn tóc dài tan ra thành làn sương xoáy như những con rắn, gương mặt méo mó một cơn thịnh nộ lạnh lẽo, dữ dội... Tôi hét lên một tiếng. Cả hai cậu con trai cùng quay lại, vừa kịp ngay khi những ngón tay với móng tay nhọn hoắt với ra tóm cổ họ. George vung thanh kiếm, chém nó kẹt vào góc tủ quần áo của tôi. Lockwood điên cuồng chọc chiếc treo cũi về phía trước. Bị năng lượng mạnh mẽ của sắt đánh vào; cô gái ma biến mất. Một luồng khí lạnh thổi khắp căn phòng, ép chặt bộ váy ngủ vào hai chân tôi.
Căn phòng áp mái lại tối om.
Có ai đó ho. George giật chuôi kiếm, cố gắng rút nó ra.
“Lucy...” Giọng Lockwood nhỏ như thầm thì. “Chẳng phải nó trông giống như...”
“Đúng vậy. Chính là nó đấy. Tôi rất, rất xin lỗi.”
George gắng sức rút; lưỡi kiếm tụt ra ngoài. Cậu lảo đảo bước sang một bên, và khi cậu làm vậy, có một tiếng cách sắc nhọn bên dưới giày cậu ấy. Cậu nhăn mặt, cúi xuống, nhặt lên thứ gì đó giữa đống quần áo vương vãi cạnh chiếc ghế. “Ôi!” cậu thốt lên. “Nó lạnh cóng!”
Lockwood lấy đèn pin chiếu vào thứ đang treo đung đưa dưới những ngón tay của George. Một mặt dây chuyền hơi móp, sáng lấp lánh khi nó xoay vòng trên một sợi dây chuyền vàng mỏng mảnh.
Lockwood và George nhìn nó chằm chằm. Họ nhìn tôi chằm chằm. George tháo hộp thủy-tinh-bạc từ thắt lưng và xếp gọn ghẽ sợi dây chuyền vào bên trong. Cậu đóng nó lại với một tiếng cạch dứt khoát.
Lockwood chầm chậm chếch đèn pin lên cho tới khi tôi bị đóng đinh trong luồng sáng yên lặng mà đầy vẻ buộc tội của nó.
“Ờ, đúng vậy,” tôi nói. “Sợi dây chuyền của cô gái đó... Ừm, cậu biết không, tôi đang định nói chuyện đó với cậu.” Đứng đó trong bộ đồ ngủ nhàu nát, thân thể băng bó, rũ rượi, tôi gắng cười tươi nhất có thể.