Tháng Chín năm 1941, một cuộc kiểm tra hiệu quả của chất độc Zyklon B do LG. Farben sản xuất đã được tiến hành tại Trại tập trung Auschwitz trên chín trăm tù nhân là binh lính Liên Xô. Kết quả buổi thử nghiệm, toàn bộ chín trăm người tử vong trong vòng mười phút, từ kết quả này, chất Zyklon B được đưa vào sử dụng cho các cuộc thảm sát tập thể người Do Thái.
Ngày 20 tháng Một năm 1942, tại Hội nghị Wannsee, Chính sách diệt chủng người Do Thái* cũng như quyết định đưa toàn bộ người Do Thái tới và lao động tại các trại tập trung phía Đông được Đảng Quốc Xã và Chính phủ thông qua.
Chu thich: Tên thường gọi là “Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái”, chỉ kế hoạch của Đức Quốc Xã trong Chiến tranh thế giới thứ Hai, mục đích tiêu diệt một cách có hệ thống toàn bộ người Do Thái ở các vùng châu Âu do Đức Quốc Xã chiếm đóng thông qua diệt chủng.
Như vậy, các trại tập trung với tên gọi “Trại huỷ diệt” như Auschwitz II-Birkenau, Majdanek được xây dựng tại những nơi đã bị Phát xít Đức chiếm đóng trên lãnh thổ Ba Lan, toàn bộ người Do Thái trong nước Đức và những nước châu Âu đã bị Đức chiếm đều được đưa tới các trại tập trung này bằng tàu hoả.
Gia đình Janssen cũng như toàn bộ những người khác đi trên chuyến tàu không hề hay biết mình đang đi đâu và sẽ phải làm gì.
Khi ý thức chỉ còn lờ mờ, cánh tay gần như kiệt quệ vì che chở cho các con, ông Janssen bỗng nghe thấy giai điệu bài “Tiếng xuân”* của Johann Strauss* đang vang lên từ đâu đó. Ông tưởng như mình đang nghe thấy tiếng vọng từ thế giới bên kia, bỗng một tiếng ruỳnh lớn vang lên cùng với sự rung lắc dữ dội và đoàn tàu dừng lại.
Chu thich: Tên gốc tiếng Đức là “Fruhlingsstimmen”, là một điệu valse chơi cho dàn nhạc giao hưởng, thường được hát với solo giọng soprano, ra đời năm 1882 và là một tác phẩm nổi tiếng của Johann Strauss II.
Chu thich: Johann Strauss II (1825-1899) là con trai của nhạc sĩ Johann Baptist Strauss, ông là một nhà soạn nhạc người Áo thiên về nhạc nhẹ, opera và các vũ khúc.
Tất cả ùa xuống khỏi tàu như ong vỡ tổ.
“Em nghe thấy tiếng nhạc!”
“Là Strauss!”
Andrew và Hannah vui mừng khi nghe thấy tiếng nhạc.
Cho dù màn diễn tấu như bị nhấn chìm giữa tiếng của đám đông hỗn loạn, nhưng rõ ràng ngay sát gần đó, dàn nhạc đang chơi bản “Tiếng xuân”. Không rõ đó là bản nhạc chào mừng hay có ý nghĩa gì, nhưng hai đứa trẻ thấy yên tâm đôi chút. Bởi vì thứ âm nhạc ấy gắn kết với niềm hi vọng.
Thế nhưng, đó là sự hiểu lầm chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc.
Ở sân ga, các sĩ quan chỉ huy và y sĩ đã đứng sẵn ở đó, bắt mọi người đứng thành một hàng, lần lượt hỏi tuổi và tình trạng sức khoẻ của từng người một.
“Andrew Janssen; năm tuổi.”
Andrew lí nhí trả lời, viên y sĩ chỉ lạnh lùng quay đầu ngón tay sang bên trái. Với cử chỉ lờ đờ như thể chỉ phát ra một lời thôi cũng khiến hắn thấy phiền hà, tên sĩ quan chỉ huy xếp Andrew sang hàng bên trái theo đúng chỉ thị của viên y sĩ.
“Pharmal Janssen, bảy mươi tư tuổi, huyết áp cao và luôn trong tình trạng chán chường…”
Ông chưa kịp nói hết câu thì viên y sĩ đã chỉ tay sang bên trái. Tên lính lớn tiếng quát nạt.
“Sang bên trái!”
Khi đứng vào hàng bên trái, ông ngay lập tức ôm lấy Andrew.
“Hannah Janssen, mười bốn tuổi.”
Viên y sĩ chỉ tay về bên phải.
Hannah cùng bố mẹ được phân sang hàng bên phải, bị chia cắt khỏi Andrew và ông.
Hàng bên trái gần như chỉ toàn những người bị bệnh, hoặc nói là họ bị bệnh, trẻ con, người già. Cứ chốc chốc những người này lại bị nhồi nhét lên một chiếc xe tải vận chuyển và đi mất, mỗi lần như vậy, người ta lại nghe thấy tiếng khóc xé lòng của những người mẹ bị cướp mất con thơ. Bà Janssen chứng kiến cảnh tượng ấy, cảm thấy chẳng phải chuyện tốt lành gì, bà trở nên hoảng loạn và cố túm lấy gã sĩ quan chỉ huy.
“Các người định đưa con tôi đi đâu!”
Ông Janssen níu lấy tay người vợ trông như đang muốn nhảy chồm ra ngoài.
“Mẹ, mẹ, mẹ ơi! Con sợ, con sợ lắm!”
“Andrew!”
Hannah cũng lấy hết sức bình sinh hét lên.
Tên sĩ quan bình thản nói.
“Trẻ con phải gửi ở nhà trẻ. Sẽ có ngày cả gia đình được đoàn tụ, cố chờ tới lúc đó đi.”
Cụ Pharmal nhìn bà Janssen gật đầu thật mạnh như muốn nói không có gì phải lo lắng.
Andrew bám chặt lấy cánh tay ông nội, mặt mếu máo như sắp khóc, nhìn chằm chằm về phía mẹ. Những đứa bé nhỏ hơn cả Andrew gào khóc ầm ĩ, một người phụ nữ bị cướp mất đứa con còn đỏ hỏn gục xuống, khóc rống lên như phát điên.
Vài chiếc xe chở hàng hoá tới, những người xếp hàng bên trái lần lượt bị bắt lên xe. Cũng có những đứa trẻ bị thảy lên xe như một món hàng. Khi việc đưa người lên xe kết thúc, những chiếc xe chở đoàn người tới Khu số Mười một, nơi nằm ngoài hàng rào dây thép bao quanh Trại tập trung.
Ngoài những người đã sống ở Trại tập trung vài ngày, trên xe chẳng ai hay biết mình đang bị đưa đi đâu cả.
Chỉ còn lại tiếng nhạc khoan thai thi thoảng ngân lên trong gió, như sợi tơ nhện nối những bất an cực độ với niềm hi vọng mong manh, giữ lại trái tim và tâm hồn những con người trên chuyến xe ở lại với thế giới này.
Nhưng chẳng tới ba mươi phút sau, những con người ấy hoá thành làn khói tro xám xịt nhuộm kín bầu trời Auschwitz.
Mọi chuyện diễn ra chuẩn xác, đúng quy trình và đơn giản giống như một công đoạn trong băng chuyền sản xuất của một nhà máy. Khi khói tan đi chút ít, đoàn người tiếp theo lại được đưa tới nơi, vậy nên bầu trời Auschwitz không có nổi một ngày quang đãng.
2.
Vợ chồng Janssen và Hannah vẫn tin rằng một ngày không xa sẽ được gặp lại Andrew và ông.
Nhóm những người trẻ tuổi và khoẻ mạnh túm tụm lại trước cổng trại Auschwitz II-Birkenau sau khi điểm danh xong. Trước cổng vào Trại tập trung có treo một biển hiệu lớn với dòng chữ “Lao động là con đường dẫn đến tự do” cứ như thật. Nhưng cũng chẳng tốn mấy thời gian, người ta nhận ra câu đó thực chất phải là “Lao động là con đường dẫn tới cái chết”.
Trong hàng rào dây thép gai hai lớp là hơn hai mươi nhà trại hai tầng bằng gỗ và bằng đá đứng liền kề nhau. Trong lúc những người mới tới đang chờ người ta phán quyết xem mình phải ở đâu, dàn nhạc tù nhân ăn mặc chỉnh tề bắt đầu xếp thành hàng ở lối đi vào trại. Khi dàn nhạc diễn tấu lần lượt từ các bản nhạc nhẹ nhàng cho đến các bài đồng dao Đức cũng là lúc những người lao động đã bị vắt kiệt sức lực và tinh thần lê bước trở về.
Có người vừa về tới cổng đã đổ gục xuống tắt thở. Chứng kiến cảnh tượng ấy, toàn bộ những người mới đến cuối cùng đã nhận ra số phận sẽ tới với mình.
Mẹ Hannah bị đưa tới phân khu số Năm, bố cô bé bị đưa tới khu số Bốn. Khi tới lượt Hannah, một nữ tù nhân đứng ở phía lính Cận vệ quân đội Hitler lên tiếng.
“Cô đang đeo đàn violin trên lưng phải không?”
“Sao ạ?”
Hannah quên mất việc mình đang đeo cây đàn trên lưng.
Lúc xuống khỏi tàu, toàn bộ hành lí xách tay đều bị gom hết lại, nhưng không có bất cứ ai bảo Hannah bỏ đồ đạc trên lưng xuống nên em cứ thế được cho qua. Chỉ có thể nói đây chính là vận may của Hannah.
“Tôi là Arles Bizet. Cô không cần phải sợ đâu. Tôi cũng là người Do Thái.”
Hannah nghĩ rằng cô ấy là một người phụ nữ xinh đẹp.
Mái tóc đen thẳng và đôi môi đỏ thắm khiến cô gái ấy giống như một bông hồng đầy kiêu hãnh.
Cô còn giống hoa hồng ở chỗ khiến người ta có cảm giác nếu bất cẩn chạm vào vì bị mê hoặc trước vẻ đẹp của đoá hoa thì sẽ bị gai đâm chảy máu. Lần đầu tiên Hannah nhìn thấy một người phụ nữ dù biết rõ mình là tù nhân nhưng vẫn có thể đường hoàng đầy kiêu hãnh đến vậy.
“Cô biết chơi đàn không? Cô chơi được tới đâu?”
Arles dồn dập ném các câu hỏi về phía Hannah, thấy vậy tên lính SS theo giám sát cô lên tiếng.
“Được, giao D15783 cho cô đó.”
Dường như chỉ có mình Arles được ở vị thế không bị gọi bằng mã số.
Sau này Hannah mới được biết, cô gái này là một nghệ sĩ violin rất nổi tiếng trên toàn châu Âu, Hitler đã cho người theo dấu cô để đảm bảo rằng cô không bị gửi vào phòng hơi ngạt. Tuy nhiên, vì cô lấy tên theo họ chồng nên sau khi thoát khỏi Trại tập trung Drancy ở Pháp, cô bị đưa tới Auschwitz.
Tệ hơn nữa là khi vừa đến, cô bị chuyển luôn vào khu thực nghiệm số Mười với tư cách tù nhân phục vụ các thí nghiệm y học. Nội dung thí nghiệm được lên kế hoạch là sẽ làm Arles mang thai sau đó lôi thai nhi ra và sử dụng các cơ quan nội tạng để tiến hành thí nghiệm.
Tuy nhiên, đến một ngày, một nữ bác sĩ ở khu số Mười có nguyện vọng được nghe nhạc cho ngày sinh nhật sắp tới, và lúc đó Arles bèn xưng tên thật.
Thế là cô được tuyển chọn làm người phụ trách chỉ huy cho việc thành lập dàn nhạc ở Trại tập trung của nữ, đồng thời được hưởng chế độ đãi ngộ đặc biệt như bây giờ.
Dù bị đặt trong hoàn cảnh khắc nghiệt, tinh thần và thể xác Arles vẫn như hai sinh vật sống hoàn toàn tách biệt. Cho đến lúc chết, tinh thần của cô cũng sẽ không bao giờ rời khỏi thế giới âm nhạc để rơi xuống chốn phàm trần.
Hannah tách mình khỏi hàng dài tù nhân và bắt đầu bước đi theo Arles.
“Em đã học violin từ cô Klaus được khoảng gần mười năm nay. Em vẫn chưa chơi được bản ‘Chaconne’ của Vitali, nhưng ngoài nó ra thì hầu hết các bài em đều đã luyện tập rồi.”
Hannah nhỏ nhẹ trả lời. Arles liền nói với giọng lớn hơn hẳn một bậc, vẻ mặt bất ngờ cứ như thấy đất trời đảo lộn.
“Thầy dạy của em là Klaus à? Thật khó tin. Cuối cùng thì tôi cũng có một thành viên dàn nhạc đáng giá rồi. Này em, em tên gì?”
“Em là Hannah Janssen, mười bốn tuổi ạ.”
“Em chơi được ‘Ave Maria’ của Schubert không? Người Đức ở đây ai cũng thích nghe bài đó. Đang trên đường nhưng em chơi thử đi.”
Hannah gỡ cây đàn đang đeo trên lưng xuống và chỉnh dây.
Hannah nhớ lại lời Klaus dặn, em phải luôn chơi đàn bằng cả trái tim dù ở bất cứ đâu. Em lên dây cót tinh thần cho mình. Dù nơi này có là Trại tập trung đầy rẫy sự tàn bạo, nhưng khi tiếng đàn violin đã cất lên thì người chơi phải luôn giữ cho mình trái tim kiên định, để có thể cảm nhận niềm vui, để bản thân được ngập tràn trong niềm hạnh phúc mà âm thanh mang lại. Hannah đã chơi đàn bằng cả tâm hồn để có thể hoà vào thế giới thanh bình ẩn trong giai điệu của “Ave Maria”.
Hannah vừa chơi được vài đoạn, Arles đã xen ngang.
“Tuyệt quá, em đúng là thiên tài. Thật tốt vì em đã tới đây. Chẳng cần phải nghe hết tôi đã biết em sẽ trở thành cánh tay phải của mình. Này ông đội trưởng đội Cận vệ, tôi sẽ chịu trách nhiệm toàn diện về cô bé này.”
Ngay với tên lính SS làm nhiệm vụ giám sát mình, Arles cũng nói với thái độ rất đường hoàng.
“Dàn nhạc à?”
“Đúng vậy. Trong khu đặc biệt có một phòng trống đúng không? Hãy đưa cô bé này đến phòng đó.”
“Ngươi may mắn đó. Cố gắng sống thêm và chơi nhạc cho hay vào đấy.”
Nói rồi, tên lính SS vẻ như đã yên tâm, rời đi lo công chuyện khác.
“A, mẹ em đâu rồi? Không thấy mẹ em, cả bố em nữa.”
Hannah chợt nhận ra chỉ có mình em rời khỏi hàng.
“Cả mẹ và bố em đều sang khu Lao động cưỡng bức rồi. Hannah, ở đây việc biết chơi nhạc là điều cực kì quan trọng. Nó sẽ trở thành tấm vé giữ lại sinh mạng cho em.”
“Ở khu Lao động sẽ thế nào ạ?”
“Ở đó, khốc liệt lắm…”
Arles không nói gì thêm, Hannah chợt nhớ lại hình ảnh những người lao động mà em nhìn thấy trong phút chốc khi vừa đặt chân xuống khỏi đoàn tàu.
Những con người gầy guộc với đôi mắt vô hồn. Có người phải kéo lê theo những người đã lao động kiệt sức tới mức không đi nổi để hàng lối không bị xô lệch. Trong số đó thậm chí có cả những người đã bỏ mạng.
Hannah không còn là một đứa trẻ ngây ngô không hiểu kết cục nào đang đón chờ những người phải vào khu Lao động.
3.
Nhờ có tay đội trưởng đội lính SS, chuyện về Hannah nháy mắt trở thành tin đồn lan đi trong hàng ngũ cán bộ ở Trại tập trung.
“Đến Arles Bizet còn phải khen nức nở đấy.”
“Một thiếu nữ thiên tài chỉ cần diễn tấu trong giây lát đã làm mê mẩn lòng người.”
“Xuất hiện một thiếu nữ mắt xanh xinh đẹp chơi violin ở Auschwitz.”
Không biết bao nhiêu danh xưng được đặt ra để nói về Hannah.
Dẫn Hannah tới phòng âm nhạc được xây bằng gạch, Arles liền tuyên bố luôn với chín thành viên trong dàn nhạc rằng bắt đầu từ ngày mai Hannah sẽ tham gia luyện tập và là thành viên chủ chốt hàng đầu.
Dù Arles vui tới mức muốn nhảy cẫng lên khi nghe tiếng đàn của Hannah, nhưng phản ứng của chín thành viên trong dàn nhạc khi nhìn thấy em thì chẳng thể gọi là vui mừng.
Có một sự choáng váng không thành lời trong căn phòng, khiến Hannah biết rằng em không nhận được sự chào đón giống như cách mà Arles vui mừng khi phát hiện ra em.
“Hannah, từ ngày mai em sẽ mặc cái này và bắt đầu luyện tập. Sau khi kết thúc điểm danh lúc sáng sớm, hãy tới luyện tập ngay. Khoảng chừng sáu giờ, em rõ chưa?”
“V… Vâng.”
“Lính SS sẽ chỉ cho em phòng mình. Ta vẫn còn phải cho mọi người luyện tập thêm lúc nữa, còn em hãy cứ thư giãn, lấy lại sức đi.”
Nói đến đó Hannah mới sực nhớ ra mình đã không ăn không uống gì, nhưng có lẽ do tâm trạng quá căng thẳng nên em chẳng còn cảm thấy đói.
Khi ra tới bên ngoài, người lính SS dẫn em đi tới một khu trại ở khá xa. Rõ ràng em nghe người ta nói trại ở gần ngay trước mặt nên cũng lấy làm lạ, nhưng vì Hannah không quen thuộc với Trại tập trung nên chỉ biết tuân theo chỉ dẫn mà thôi. Hannah được dẫn đến khu Lao động cách đó tận mấy trại, rồi bị bỏ mặc ở nơi có những chiếc giường được ngăn nhỏ ra như chuồng gà.
Ngày đầu tiên tới Trại tập trung Auschwitz II-Birkenau, Hannah không tài nào ngủ được vì nỗi buồn, nỗi cô đơn khi gia đình tan tác, vì cái bụng trống rỗng và vì cảm giác bản thân thật đáng thương.
Nơi ngủ là một trại gỗ tồi tàn không cửa sổ, ba người cùng chung một tấm chăn.
Trang phục ở đây chỉ có duy nhất bộ quần áo tù nhân mỏng và gần như tất cả mọi người đều mặc duy nhất một bộ nên bệnh ghẻ lở hoành hành. Có lẽ bọn họ ai cũng ngứa ngáy không chịu nổi nên tiếng gãi loạt soạt cứ văng vẳng bên tai Hannah suốt cả đêm.
Sáng sớm, khi Hannah vừa mới mơ mơ màng màng một chút thì một người lính SS vào báo rằng Arles Bizet đang tìm em. Vẫn chưa đến giờ điểm danh.
“Cô ở trong dàn nhạc của Arles Bizet à?”
Người tù nhân nằm cạnh Hannah bất chợt quay sang hỏi.
“Tôi cũng không rõ là dàn nhạc hay gì, nhưng cô Arles có dặn tôi hôm nay tới phòng âm nhạc để tham gia bài tập lúc sáng sớm.”
Hannah vừa nói xong thì lần này một người phụ nữ ngủ ở tầng trên phía trước em bật dậy.
“Khốn kiếp, loại chó vây đuôi theo bọn Phát xít.”
Cô ta còn nhổ nước bọt về phía Hannah. May rằng không trúng Hannah nhưng sự công kích cô bé phải nhận cũng chẳng khác việc bị phỉ nhổ là mấy.
Lần đầu tiên trong đời em bị những người lạ mặt thậm chí chẳng biết tên đối xử như vậy. Hannah không hiểu điều gì trong con người mình khiến họ phật lòng, cũng không thể cứ nhắm mắt mà xin lỗi, nên em vô cùng bối rối.
“Thôi đi.”
Trong lúc Hannah còn đang loay hoay không biết phải phản ứng ra sao thì người nằm bên cạnh đã lên tiếng đỡ lời. Nhờ vậy, em hiểu ra mình đang vấp phải sự đối xử không công bằng từ người khác và thấy nhẹ lòng một chút.
“Đến đây rồi thì thôi mấy kiểu ganh ghét vô nghĩa ấy đi.”
Hannah vô tình hướng ánh mắt cầu cứu tới người bên cạnh, cô này lại tỏ vẻ khó xử và lảng tránh ánh mắt của Hannah.
“Cả cô nữa, mau mau đi đến buổi tập gì gì đó của cô đi.”
Cô ta nói như thể hắt hủi Hannah, em hiểu rằng mình là kẻ bị người khác xa lánh.
Em nghĩ có lẽ chẳng phải bản thân em mà dàn nhạc mới là đối tượng bị người ta ghét bỏ. Nhưng đối với Hannah, chuyện ai bị ghét bỏ giờ cũng gần như nhau. Thậm chí em còn có suy nghĩ ngây ngô trẻ con rằng không phải họ ghét dàn nhạc, biết đâu họ muốn vào dàn nhạc thì sao, nhưng rồi em quên ngay điều đó.
Dù chưa hiểu rõ dàn nhạc là thứ gì, nhưng Hannah vẫn đi tới khu trại của Arles Bizet như một cách trốn chạy.
Vừa bước chân vào một góc nhỏ xíu được gọi là phòng âm nhạc, Hannah thấy Arles đứng đó, nổi giận đùng đùng quát tháo ầm ĩ.
“Hannah, muộn quá. Em quên buổi tập sáng nay à? Tôi đã nói là tập trung lúc sáu giờ cơ mà.”
Hannah không hiểu làm thế nào có thể biết đâu là sáu giờ khi không có đồng hồ, nhưng chín người của dàn nhạc đã bắt đầu luyện tập, họ cũng chẳng thèm bận tâm tới Hannah cùng chuyện đi muộn của em.
“Em xin lỗi. Hôm qua em không ngủ được…”
“Sao? Này, không phải em ở khu Lao động đấy chứ?”
“Em không biết ạ. Từ chỗ đó tới đây phải chạy qua ba khu trại khác. Khu trại em ở dựng bằng gỗ và không có cửa sổ ạ.”
“… Trời, tôi đã nói đến vậy với ông đội trưởng quân SS rồi, mà đến tai tên lính khác thì vẫn chẳng tới nơi tới chốn. Phòng của em ở ngay rìa khu nhà gạch trước mặt ấy. Cơ bản là em có phòng riêng, bên trong có giường chiếu đàng hoàng. Thậm chí có cả bàn nữa. Đồ ăn cũng đặc biệt luôn. Nào, thay ngay cái bộ đồ tù nhân đó sang bộ hôm qua tôi đưa cho em đi.”
Arles nói nhanh nhảu liến thoắng nhưng lại rất có uy, các đội viên trong dàn nhạc tỏ ra hơi sợ sệt. Mặc vào chiếc áo khoác trắng cùng chiếc váy dài xanh thẫm, Hannah cảm thấy trong lòng vui tươi hơn.
“Hannah, chúng ta cần phải luôn chỉnh trang gọn gàng.” Nói rồi, Arles cười mãn nguyện.
“Chúng ta đang tập bản ‘Hành khúc Radetzky’*. Mọi người chơi thử di nào.”
Chu thich: Tác phẩm được sáng tác bởi Johann Strauss I để kỉ niệm chiến thắng tại trận Custoza năm 1848 của Thống chế Joseph Radetzky von Radetz.
Arles vung gậy chỉ huy hướng dẫn dàn nhạc, nhưng chỉ được một lát, cô gõ cây gậy chỉ huy kêu lạch cạch và dừng màn diễn tấu.
“Hannah, như em nghe rồi đấy. Em cũng thấy rằng chúng ta cần khả năng của em thế nào chứ? Ở đây mọi người mới chỉ tập violin được hai đến ba năm. Cơ bản thì làm được, nhưng vẫn chưa thể gọi đó là âm nhạc được. Chơi đúng với nhạc phổ là cố lắm rồi. Chỉ trong nửa tháng nữa mà không thành thạo được ba bản nhạc thì chúng ta sẽ bị cho giải tán. Mà giải tán rồi thì sẽ ra sao? Phòng hơi ngạt đang đợi chúng ta. Hoặc là như vậy, hoặc là đi lao động. Đằng nào cũng sẽ chết thôi. Vẫn chưa chơi được một bản nhạc, không biết phải làm thế nào đây, nghĩ tới là tôi thấy muốn nôn mửa rồi.”
“Một bản nhạc cũng chưa được sao…?”
Hannah hiểu ra tình hình nghiêm trọng đến mức nào. Cuối cùng em đã hiểu vì sao Arles lại nghiêm khắc đến mức bất thường với việc đi muộn như vậy.
Dàn nhạc gồm bốn người chơi violin nhóm một, bốn người chơi violin nhóm hai và một người chơi viola. Hannah được giao nhiệm vụ luyện tập cho bốn người chơi violin nhóm một.
Trong nhóm có một cô bé tên Mary mặt đầy tàn nhang, hoàn toàn không biết đọc nhạc phổ, để giúp cô bé này tập luyện, Hannah phải chỉ dẫn bằng cách kéo từng âm một. Vì biết mình chơi không tốt, Mary lúc nào cũng mếu máo, nhưng dần dần, khi tạo ra được những âm giống như Hannah dạy, trên gương mặt cô bé đã thấy thấp thoáng nụ cười.
“Có phải người tiếp theo bị đuổi khỏi dàn nhạc là tớ không?”
“Sao?”
Nghe nói số lượng thành viên của dàn nhạc chỉ có hạn, với việc Hannah được chọn vào dàn nhạc, đã có một thành viên bị loại ra và chuyển tới khu Lao động.
Arles luôn vui mừng coi Hannah như vị cứu tinh khi em tham gia vào dàn nhạc. Nhưng đằng sau đó, một người đã buộc phải rời đi vì sự có mặt của Hannah. Nếu nghĩ đến bản thân mình ngày mai là người bị đuổi, thì phản ứng không hoan nghênh của dàn nhạc với Hannah cũng là điều dễ hiểu.
“Tớ biết mình là đứa vô dụng nhất ở đây, nên ngày nào cũng sống trong nơm nớp lo sợ. Nếu trong những người được chuyển tới hôm nay có một người nào đó biết chơi đàn thì phải làm sao. Thành thật mà nói khi biết tin cậu sẽ vào dàn nhạc tâm trạng tớ chẳng dễ chịu chút nào, nhưng tớ thấy rất xấu hổ khi mình lại có những suy nghĩ như vậy… Tớ xin lỗi.”
Hannah chỉ lắc đầu khi nghe Mary xin lỗi.
Đối với người vừa mới tới Trại tập trung như Hannah, em không thể hiểu hết những sức ép nặng nề mà Mary đang chịu. Điều đó khiến chính Hannah cảm thấy áy náy và muốn nói lời xin lỗi.
“Mary, hãy cùng cố gắng chơi tốt hơn nữa. Chỉ cần cậu giỏi hơn, giỏi tới mức dù sau này có thêm người biết chơi nhạc tới đây, cậu cũng vẫn giỏi hơn họ là được. Tớ sẽ dạy thật dễ nhớ, nên nếu cậu có chỗ nào không hiểu thì cứ hỏi tớ nhé.”
“Ừ, tớ sẽ cố gắng luyện tập nhiều hơn nữa.”
Tập luyện từ sáng sớm, tới trưa thì cả đội đã diễn tấu được hoàn chỉnh một đoạn khá dài. Arles nắm lấy tay Hannah, nỗi cảm kích căng tràn lồng ngực.
Ngay cả những thành viên dàn nhạc ban đầu chẳng quan tâm gì tới Hannah cũng nhận ra nhờ có Hannah tham gia mà việc luyện tập thuận lợi hẳn. Tất cả đều mừng ra mặt và chuyển qua nhiệt liệt chào đón Hannah. Thêm vào đó, điều đáng mừng nhất đối với các thành viên của dàn nhạc là thoát khỏi sự căng thẳng đến nghẹt thở của Arles, buổi tập tại phòng âm nhạc chuyển sang bầu không khí tươi vui.
Arles luôn đặt trình độ của mình làm tiêu chuẩn trong âm nhạc nên các yêu cầu của cô rất cao. Tuy vậy, do đang ở vị trí được lính SS coi trọng, nên chỉ cần cô yêu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống cũng như bữa ăn, thì hầu hết đều được đáp ứng. Cô đã tận dụng lợi thế đó, giúp cho cuộc sống của thành viên trong dàn nhạc tốt hơn, đến mức khó có thể đem cuộc sống của những người ở khu Lao động ra so sánh với tù nhân trong dàn nhạc. Chính vì điều này nên không ai có thể hận Arles.
4.
“Ai đó làm ơn cứu đứa bé! Mau cứu chúng tôi với!”
Khi vừa kết thúc buổi tập, tất cả nghe vọng lại từ bên ngoài toà nhà tiếng hét thảm thương của một người phụ nữ.
Arles cùng Hannah và một vài người trong dàn nhạc chạy ra ngoài thì thấy một người phụ nữ từ khu Lao động hớt hải chạy vào, hơi thở đứt đoạn. Gương mặt người phụ nữ xanh lét, đôi môi nứt nẻ run lên bần bật.
“Hannah, em không cần tới cũng được.”
Arles chạy đi cùng người phụ nữ từ khu Lao động, nói với lại ngăn không cho Hannah đuổi theo hai người.
Nhưng người vừa mới tới Trại tập trung như Hannah không hiểu được tấm lòng của Arles, em vẫn gắng hết sức chạy theo hai người phụ nữ trên đôi chân bé nhỏ. Arles chưa muốn cho Hannah biết về những gì xảy ra tại Trại tập trung, nhưng cô chẳng còn dư dả thời gian để bận tâm đến Hannah lúc này nữa.
Ở nơi họ tới, họ nhìn thấy một bà đỡ cùng một phụ nữ đang ôm đứa trẻ còn đỏ hỏn bị ba tên lính SS bao vây. Đứa trẻ vừa mới chào đời trong vòng tay bà đỡ ở khu Lao động.
“Bịt miệng nó lại.”
“Không.”
“Nếu không thì đưa nó đây.”
Người mẹ ôm chặt đứa bé và khóc thảm thiết. Bà đỡ gan dạ đứng chặn trước mặt hai mẹ con để bảo vệ che chắn họ khỏi những tên lính SS tàn ác.
“Ta không cho phép. Ta tuyệt đối không để ngươi giết đứa bé này! Đứa trẻ này là ánh sáng hi vọng của chúng ta.”
Người phụ nữ dang hai tay, tuyên bố mạnh mẽ như thể không tiếc sinh mạng của chính mình.
Arles rẽ đám đông đang vây quanh chứng kiến cảnh tượng đó để đi vào rồi tiến lên phía trước.
“Đợi đã, các ngươi định tước đoạt cả một sinh mạng chỉ vừa mới chào đời sao?”
Arles vừa thở hổn hển vừa hét lên giận dữ với tên lính.
“Arles. Cô cũng biết rồi chứ nhỉ. Không có chuyện phát sữa tới tận đây đâu. Có những mạng sống vô nghĩa, để sống thêm một chút lại càng thêm đau khổ mà thôi. Cô cũng nên hiểu chuyện đi.”
“Mạng sống có nghĩa hay không, không cần các người quyết định.”
“Mẹ nó không có sữa, những đứa trẻ như nó rồi cũng bị chết vì đói thôi. Giải thoát cho nó từ lúc nó còn chưa mở mắt có phải tốt hơn không!”
Vì quân SS có phần coi trọng Arles nên chúng vẫn nhẫn nại giải thích với cô. Nghe thấy những lời đó, Arles chùng xuống trong phút chốc.
Đúng thời khắc đó, một tên lính SS khác lạnh lùng lần lượt bắn chết đứa bé cùng người mẹ, sau đó là bà đỡ.
“Hans… Ngươi vừa làm gì…!”
Arles dường như biết tên lính SS vừa ra tay tàn nhẫn kia.
Cô nhìn về phía gã SS tên Hans, bàng hoàng như thể không sao tin nổi cảnh tượng bày ra trước mắt mình.
“Tôi chỉ làm công việc của mình thôi. Đúng là lãng phí mất hai viên đạn.”
“Sao có thể…”
Khi cô đang định nạt lại Hans, một thứ gì đó tựa như quả cầu làm từ bùn được ném vào mặt Arles.
“Cần gì thứ chó nuôi hèn hạ như ngươi ra mặt!”
“Phải đó, bọn này cần gì thứ như ngươi thương hại chứ!”
“Chẳng qua giúp kẻ yếu để tự thấy mình ưu việt hơn người chứ gì.”
Những người thuộc khu Lao động chứng kiến từ đầu tới cuối sự việc vừa xảy ra quay ra chỉ trích ngược lại Arles, dẫu biết cô cũng là một tù nhân, cũng là một người Do Thái giống như họ.
Gương mặt xinh đẹp của cô dính đầy bùn.
Những quả cầu nhớp nháp bị ném liên tục về phía Arles.
“Đi về căn phòng có giường ngủ, có đồ để thay của cô đi!”
“Cút đi!”
Khi mọi người liên tục ném những câu “Cút đi! “về phía Arles, cô không nói lại một lời, chỉ bặm môi thật chặt.
Hai bàn tay nắm chặt dần chuyển màu trắng bệch khi móng tay cô bấm xuống da.
Cô tới để giúp đỡ, ấy vậy mà cô lại bị chính những người tù nhân Do Thái mà cô vẫn luôn coi là đồng bào chỉ trích và không còn nơi nào để đi.
“… Híc.”
Arles cúi đầu, vội vã rời khỏi đó.
Chuyện có người bị giết hay bản thân bị người khác miệt thị đều là chuyện xảy ra như cơm bữa tại đây.
Arles đã không còn bị dao động bởi tất cả mọi chuyện xảy ra trong Trại tập trung nữa, cô cũng đã học được cách điều chỉnh cảm xúc của bản thân, khi phải nhận những đối đãi vô lí từ kẻ khác. Dẫu vậy, cô vẫn chưa thể quen được với nỗi đau.
Hannah đứng chìm giữa những bóng người, chứng kiến toàn bộ sự việc.
Đến ngày thứ hai sống tại Trại tập trung, một đứa trẻ như Hannah cũng nhận ra được lí do vì sao chẳng ai giải thích rõ điều gì về Trại tập trung cũng như việc dàn nhạc được đối đãi đặc biệt trong Trại.
5.
Buổi tối ngày tập luyện thứ hai, Hannah được chuyển tới căn phòng ở bên cạnh Arles.
Hannah được phân cho một căn phòng riêng, cửa sổ treo rèm, ngoài cảm giác đói bụng và luôn bị nằm dưới sự giám sát ra, Hannah thấy như mình đang ở một thế giới khác.
Bất chợt, Hannah lo lắng về gia đình. Không biết Andrew có khoẻ không, chứng đau lưng của ông có đỡ không. Em muốn đến chỗ người mẹ dịu dàng. Có lẽ giờ này bố đang lo cho em lắm.
Nước mắt trào ra khiến nỗi buồn càng dữ dội hơn.
Tại sao chúng ta phải gặp những chuyện này? Mình còn phải ở nơi này đến bao giờ? Không được tới trường, tương lai sau này sẽ ra sao? Bà giờ sao rồi? Vì sao chị lương thiện đến thế lại phải chết?…
Mình muốn ăn một chiếc bánh mì mềm xốp mới nướng, muốn ăn phô-mai. Một bát súp nóng ngon biết mấy.
Thấy lo vì Hannah khóc to mãi không thôi, Arles bước sang phòng em. Cô ôm lấy Hannah đang phủ phục khóc trên giường, nhẹ nhàng xoa lưng cho em.
“Em vẫn còn trẻ quá. Nhất định âm nhạc sẽ cứu rỗi linh hồn em. Hãy cố gắng lên. Chuyện này sẽ không kéo dài mãi mãi. Còn anh em của em thì sao rồi? Em không phải con một đúng không nào.”
Arles nói tới đây, Hannah đã chực nín khóc lại bắt đầu oà lên nức nở.
“Chị gái em đã chết rồi. Em trai Andrew của em cùng ông đều xếp hàng bên trái, bị họ đưa tới nhà trẻ…”
Em nghẹn lời, nói không ra tiếng.
Arles nín lặng không thể thốt nên lời. Cô chỉ còn biết cầu nguyện, mong sao sự thật đau đớn sẽ không đến được tai Hannah, rằng em trai cùng ông của em đã không còn trên cõi đời này nữa.
“Thôi nào, ngày mai buổi tập cũng sẽ bắt đầu từ rất sớm. Em hãy ngủ đi.”
Nói rồi Arles kéo chăn đắp cho Hannah, có lẽ đã mệt sau trận khóc nên chẳng mấy chốc mà Hannah bắt đầu thở đều đều và chìm vào giấc ngủ. Arles dịu dàng gạt những sợi tóc vàng dính trên khuôn mặt ướt nước mắt của Hannah.
6.
Ngày thứ năm từ lúc Hannah vào dàn nhạc.
Cuối cùng “Hành khúc Radetzky” cũng đã hoàn thành.
Còn mười ngày nữa để hoàn tất hai bản nhạc khác. Cả nhóm bắt đầu luyện tập “Khúc quân hành”* của Schubert, nhưng bản này đơn giản hơn nhiều so với “Hành khúc Radetzky” nên chỉ một chốc mọi người đã chơi được giai điệu chính, đến buổi chiều, mọi người bắt tay vào tập bài “Edelweiss”*.
Chu thich: “Three Marches Militaires, Op. 51, D. 733”, tác phẩm viết dưới dạng hành khúc, dành cho piano bốn tay.
Chu thich: Tên đầy đủ là “Es warein Edelweiss”, do Herms Niel viết nhạc và lời vào năm 1941 dành cho quân đội Đức.
Trong khoảng thời gian hoàn thành bản “Hành khúc Radetzky”, Mary mặt tàn nhang đã bắt đầu đọc được nhạc phổ, thậm chí cô bé còn rất tiến bộ trong kĩ thuật kéo vĩ cho âm luyến nữa.
Ở nơi này, đến cả kiếm nhạc phổ cũng là một công việc khó khăn.
Arles Bizet thường viết lại nhạc phổ theo những kí ức đọng lại trong đầu sau mỗi buổi tập. Cô còn biên soạn lại bản phối và chia ra các phần để ráp nối với nhau, thương thuyết với thành viên của dàn nhạc nam có thể phối hợp cho phần đồng diễn.
Trong số tù nhân có những người được quân SS chọn ra làm thuộc hạ với nhiệm vụ để mắt trông coi Trại tập trung, gọi chung là Kapo. Thỉnh thoảng khi có sinh nhật của tên trưởng nhóm Kapo hay một tên SS nào đó, Arles cũng bị gọi đi biểu diễn trong bữa tiệc mừng nên cô càng trở nên bận rộn.
Mary mặt tàn nhang thường luyện tập và học đọc nhạc phổ tới tận đêm muộn vì không muốn thành gánh nặng cho dàn nhạc cùng Arles. Nhưng gần tới ngày tổng diễn tập để hoàn thiện ba bản nhạc thì cô bé gục ngã vì cơn sốt.
May mắn không phải là sốt phát ban.
Arles nhờ cậy cô y sĩ ở khu Bệnh xá chăm sóc Mary hết mức có thể, đổi lại dàn nhạc sẽ biểu diễn chúc mừng vào ngày sinh nhật của cô ta trong tháng tới.
Tiện đường, Arles cũng rẽ vào phòng tập của dàn nhạc nam để nhờ họ cử một người chơi cello sang diễn tấu cùng, và khi đến nơi, Arles đứng thừ người ra không thốt nên lời.
Chỉ huy dàn nhạc nam chính là Klaus.
“Klaus? Bürger Klaus phải không?”
“Ồ, Arles đó sao. Đúng rồi; may quá, cô vẫn bình an.”
Klaus và Arles từ thời còn trẻ đã cùng nhau biểu diễn nhiều lần, họ luôn kính trọng nhau.
“Tại sao người Đức như anh cũng phải tới đây vậy Klaus?”
Arles hỏi vậy nhưng Klaus lại trả lời cô bằng một câu hỏi khác.
“Ở chỗ cô có cô bé nào tên Hannah không?”
“Ồ, có đấy.”
Arles đã nghe qua về Klaus từ Hannah nên gương mặt cô trở nên tươi tỉnh hẳn.
“Tôi đã nghe về anh từ Hannah rồi. Quả đúng là được Klaus chỉ bảo, giờ Hannah là cánh tay phải của tôi.”
“Chủ yếu là vợ tôi dạy cô bé.”
Đã từng có dịp gặp mặt bà vợ nhà Klaus, Arles gật gù với vẻ hiểu chuyện.
“Phu nhân khoẻ chứ ạ?”
“Vợ tôi vẫn đang sống thảnh thơi ở nhà. Cô ấy tự xoay xở được một mình nên tôi không phải lo lắng gì. Còn có cả học sinh của cô ấy nữa.”
“Vậy sao anh lại ở đây vậy Klaus?”
Arles không thể hiểu lí do Klaus có mặt ở Auschwitz.
“Tôi đã che giấu cả nhà Janssen. Ban đầu tôi bị đưa đến Trại tập trung Dachau. Hồi đó tôi cũng năng đi biểu diễn ở các căn cứ quân đội Đức hay Bộ Tổng chỉ huy nên được nhiều người biết mặt biết tên, nhờ vậy mà sau đó họ thả tôi ra. Nhưng khi biết gia đình Janssen bị chuyển tới Auschwitz, tôi đã đề nghị với ông Trại trưởng Trại Dachau chuyển tôi tới Auschwitz cùng với họ. Tôi đã ở với họ cũng mấy năm rồi, sao có thể bỏ mặc họ đi vào chỗ chết.”
“Đúng là, cũng có những người Đức tốt.”
Đó là một lời phát biểu cảm tưởng có chứa đựng sự mỉa mai.
Bản thân cô bị người Đức truy sát rồi đưa vào chốn này, giờ thật khó để nghĩ rằng lại có một người Đức cố gắng cứu người Do Thái.
“Chính trị biến thế giới này thành một thứ đảo điên, nhưng từng người từng người vẫn là những cá nhân tốt. Không phải chỉ riêng mình tôi là người Đức bị bắt đâu.”
“Nhưng chính người Đức các anh tán thành cái nền chính trị này, đúng không? Đừng nói với tôi những lời buồn cười kiểu như họ là người tốt. Vì cái chế độ này mà biết bao người bị giết, chắc anh không biết phải không? Ngày nào cũng như ngày nào, từ bốn nhà thiêu, khói cuộn lên không ngơi nghỉ đấy.”
Đối với Arles, lời Klaus nói chẳng là gì ngoài những mĩ từ sáo rỗng.
Cô biết Klaus là người tốt, nhưng chỉ cần nghĩ tới việc ông là người Đức thì mọi lời nói của cô đều trở nên cay nghiệt.
“Quả thực, mọi thứ đều thối nát. Đến đây rồi tôi mới nhận ra. Muốn sống sót, người ta phải khiến đầu óc mình tê liệt, để bản thân có thể lãnh đạm vô cảm trước vô số chuyện xảy ra. Nếu không làm vậy có lẽ sẽ phát điên mất.”
“Tôi đã thôi không nghĩ đến ý nghĩa của âm nhạc tồn tại ở nơi này. Thay vào đó tôi nhìn vào ý nghĩa của việc mình sống đơn thuần để theo đuổi thế giới của âm thanh.”
“Thế mới giống con người cô, Arles. Dường như qua âm nhạc cô đã hiểu mình nên làm gì rồi. Tôi đã nghĩ mình sẽ nhờ vào âm nhạc mà cứu gia đình Janssen ra khỏi nơi này nhưng…”
Ánh mắt Klaus ngập tràn tinh thần sẵn sàng đấu tranh vì lẽ phải, khiến Arles ngập ngừng không biết liệu có nên nói với Klaus hay không. Nhưng cô tự nói với chính mình rằng dầu cô giấu giếm, mọi chuyện cũng chẳng thể thay đổi được nữa. Cô quyết định mở lời.
“Chỉ còn Hannah và bố mẹ cô bé còn sống thôi.”
“Cô nói vậy là sao?”
“Xin anh đừng nói chuyện này với Hannah. Em trai và ông của Hannah đã bị đưa ngay đến phòng hơi ngạt mất rồi.”
Với gương mặt đau đớn tột cùng, Arles nói với Klaus tình hình cô nghe được từ Hannah.
“Là vậy sao… Tàn nhẫn quá.”
“Chúng tôi trở thành vật tế thần cho các con chiên của Chúa thay cho lũ cừu, lũ dê. Tại sao họ lại cần những vật hiến tế chứ, vì sao Người không cứu lấy con dân của Người, con người còn phải gây ra bao nhiêu tội ác nữa? Klaus, tất cả những chuyện này là sao chứ?”
Arles lần đầu tiên bật khóc kể từ khi tới Auschwitz.
Đã chịu đựng nhiều sự sỉ nhục, Arles giữ vững tinh thần bằng cách trốn chạy vào trong thế giới âm nhạc, nhưng sợi dây mỏng manh bị kéo căng bấy lâu đến lúc này đã đứt, nước mắt trào xuống đôi má của cô.
Klaus để cô khóc thoả thích trong lòng mình tựa như một người cha.
“Nghe này, Arles. Âm nhạc có lẽ là một vị thần toàn năng trên thế giới này. Đừng lo lắng!”
Nghe thấy hai tiếng âm nhạc, Arles lấy lại được tinh thần, cô lùi lại một bước, rời khỏi vòng tay Klaus và vuốt lại mái tóc bị rối của mình.
“Klaus, tôi xin lỗi.”
Khi nói lên những lời đó, Arles đã kìm nén được cảm xúc của mình.
“Nếu tâm trạng đã thoải mái hơn thì đừng để ý tôi. Mà này, Arles, cô cất công tới tận phòng nhạc này chắc cũng có lí do gì phải không?”
“Đúng vậy, Klaus. Tôi muốn mượn nhạc công chơi cello của bên anh. Ngày mai, dàn nhạc nữ chúng tôi có thể đi vào hoạt động rồi, nhưng tôi vẫn còn thiếu âm trầm…”
“Nếu không chê tôi đây thì bất cứ lúc nào cũng được.”
Klaus vốn là một nhạc công cello nên ông tự tiến cử mình với Arles.
“Có thật là anh chịu tới không? Nếu vậy dàn nhạc của anh có ổn không?”
“Tôi có một đề xuất.”
Klaus nghĩ ngợi điều gì đó, khoé miệng giãn ra, ông nói.
“Những lúc tôi không thể đến được, sẽ có một học sinh của tôi ở đây đi thay, cậu ấy tên Leo Rochester, người Ba Lan. Để tôi giới thiệu với cô luôn. Một cậu bé đẹp trai lắm đấy.”
“Nếu vậy thì may cho tôi quá. Vậy ngay chiều hôm nay anh có thể tới phòng nhạc của chúng tôi được không?”
“Được, tôi sẽ tới cùng Leo. Chúng tôi phải tập gì đây nhỉ?”
“‘Hành khúc Radetzky’, ‘Khúc quân hành’ và ‘Edelweiss’.”
“Đồng ý. Chúng tôi sẽ theo được ngay thôi.”
7.
Từ hôm đó, Arles chọn tin tưởng vào Chúa.
Cô từng chọn cách dựa dẫm vào một điều gì đó để giữ lấy hi vọng, nhưng thứ đó luôn sụp đổ hết lần này tới lần khác. Tuy vậy, từ nay cô chẳng nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra khi hi vọng không thành hiện thực nữa, cô chỉ muốn một lòng tin vào Chúa mà thôi.
Cho dù tuyệt vọng với hoàn cảnh hiện tại, cô vẫn khao khát được sống mãnh liệt, chính vì vậy nên cô cần niềm tin. Hơn nữa, có lẽ cách mà Klaus xuất hiện ở nơi địa ngục trần gian này khiến cô thấy ông như một vị thần thực sự.
Buổi chiều ngày hôm đó, Klaus và Leo cùng tới phòng nhạc của dàn nhạc nữ. Ở đó Klaus tìm thấy Hannah, cô bé đã gầy gò đi rất nhiều.
“Hannah!”
Nghe thấy tiếng Klaus gọi, Hannah ngoảnh lại và trong thoáng chốc cô bé không dám tin vào tai vào mắt của mình.
“Bác Klaus?”
Hannah nắm chặt cây đàn Klaus tặng trong tay trái, em mừng vui khôn xiết, chạy đến sà vào vòng tay đang rộng mở của Klaus.
“Cháu khoẻ mạnh là tốt lắm rồi, Hannah.”
“Bác Klaus, bác bị họ bắt sao? Vì gia đình cháu sao?”
“Không phải vậy đâu Hannah. Là ta muốn tới. Ta tới đây để che chở cho cháu.”
“Cô Klaus đâu rồi ạ?”
“Cô không sao cả, cháu không cần lo đâu. Khi nào cô cũng chăm lo nhà cửa chờ một ngày mọi người cùng trở về.”
Leo đứng ngay cạnh bên, mỉm cười lắng nghe những lời hai chú cháu nói với nhau.
Leo đã mất cả cha lẫn mẹ, cuộc trò chuyện của Klaus với Hannah làm cậu nhớ về gia đình mình. Ngay từ những giây phút đầu tiên, Leo đã thấy đâu đó trên gương mặt Hannah đôi nét giống với người em gái đã mất, nên cậu lập tức có cảm tình với cô bé.
Arles cũng giống như Leo, cô dõi theo Klaus và Hannah với ánh mắt đầy yêu thương, chọn lấy thời điểm thích hợp, cô quay về hướng những thành viên dàn nhạc của mình và nói.
“Đây là Bürger Klaus, người được mệnh danh là ‘Ngài đồng diễn Klaus’. Và một học trò của ông ấy, cậu Leo…”
“Leo Rochester ạ. Năm nay tôi mười tám tuổi. Rất vui được gặp mọi người.”
Leo có mái tóc đen thẳng, đôi mắt cậu màu xanh lục, hỏi ra mới biết cậu có dòng máu Ý chảy trong người. Nụ cười thanh thoát của cậu khiến tất cả thành viên dàn nhạc nữ nín thở, trong phút chốc quên mất nơi đây là Trại tập trung. Hannah bỗng cảm thấy ngượng vì mấy ngày rồi chưa được tắm, em muốn giấu cái đầu đầy gàu và cơ thể bốc mùi đi nên trốn ra sau lưng Klaus. Nhưng Klaus lại chẳng để ý đến tâm trạng ấy của Hannah, ông đẩy em ra trước mặt Leo giới thiệu.
“Leo, đây là Hannah, thiên tài vĩ cầm mà ta đã kể với con. Hai đứa gần tuổi nên hãy làm bạn với nhau nhé.”
Leo cầm lấy tay phải Hannah và hôn nhẹ lên mu bàn tay em.
Lần đầu tiên trong đời có người làm hành động đó với Hannah, khiến em giật mình vội vã rụt tay phải lại.
Thấy vậy tất cả mọi người cùng cười lớn. Arles cũng nheo mắt nhìn cảnh tượng ấy, nhưng rồi cô lập tức vỗ tay hai nhịp kéo tâm trạng lâng lâng của mọi người trở về với mặt đất.
“Nào bắt đầu thôi. Mai đã là buổi diễn chính thức rồi.”
Chỉ cần một lần là nhạc công cello đã hoà nhịp được với dàn nhạc nên việc luyện tập cho cả ba bản nhạc mất có ba mươi phút là xong.
Lúc đó, Klaus bèn đề nghị Arles cho phép dàn nhạc nam thỉnh thoảng được cùng luyện tập các tiết mục sau cùng với dàn nhạc nữ. Nếu tập hợp lại, họ có thể thành lập hẳn một đàn nhạc giao hưởng chứ không chỉ dừng ở việc phối hợp lồng ghép với nhau. Nhưng chủ trương âm nhạc chỉ giới hạn trong sự lồng ghép từ phía Arles quá mạnh mẽ nên Klaus đã không nhận được một cái gật đầu đồng ý.
8.
Cuối cùng ngày biểu diễn ra mắt dàn nhạc nữ cũng đến.
Ngày hôm đó, đúng từ sáu giờ, dàn nhạc nữ do Arles chỉ huy tập trung tại cổng Trại, khi họ đang chơi chuyển tiếp liên tục giữa “Hành khúc Radetzky” và “Khúc quân hành” thì hàng người đi lao động khổ sai bắt đầu tiến ra.
Mấy ngày nay chỉ giam mình trong phòng âm nhạc để luyện tập nhưng Hannah chưa một lần tự hỏi vì sao bản thân và mọi người phải nỗ lực đến cùng cực như vậy.
Arles Bizet là người quyết định sẽ chơi bản nhạc nào, đến bao giờ phải biểu diễn được thành thục. Vậy nên Hannah chỉ nghĩ tới việc làm sao để thực hiện những gì Arles đưa ra, em chẳng có đủ thảnh thơi để băn khoăn vì sao lại phải chơi bản nhạc này, ta chơi nó vì ai, ý nghĩa gì ẩn chứa trong đó. Chỉ riêng việc hoàn thành được mục tiêu trước mắt thôi đã buộc Hannah phải nỗ lực hết mình rồi.
Trong lúc đi, những người lao động quay sang dàn nhạc, nhổ nước bọt về phía họ và mắng chửi “lũ chó của bọn Phát xít”. Hành động ấy chẳng phải chỉ một hai lần.
Hannah nhớ tới buổi sáng đầu tiên ở Trại tập trung, khi em bị gọi là “chó nuôi của Phát xít”, cây vĩ đang di chuyển của em bỗng nhiên dừng lại. Có lẽ họ đang tự động viên cái cơ thể gầy guộc chỉ còn da bọc xương của mình. Những con người phải kéo lê cơ thể nặng nề ngay từ trước khi bắt đầu làm việc, bị lùa đi lao động cưỡng ép khổ sai theo đúng nghĩa đen. Nhìn từ vị trí của họ mới thấy dàn nhạc sống thảnh thơi và an toàn tới thế nào.
Cùng là tù nhân mà tựa như Thiên Đàng và Địa Ngục.
Bọn họ thù ghét sự tồn tại của dàn nhạc cũng là lẽ thường tình. Hannah cảm thấy xấu hổ về chính bản thân mình vài ngày trước đây, khi em có ý nghĩ rằng những người ở khu Lao động biết đâu còn muốn vào dàn nhạc.
Nếu Hannah ở trong hoàn cảnh đó, hẳn chính bản thân em cũng sẽ phỉ báng, căm hận dàn nhạc, những người luôn được yên ổn ở vị trí an toàn.
Thấy gương mặt Hannah xìu xuống và trở nên u ám, Klaus ngồi chơi cello bên cạnh lắc đầu động viên em.
“Đừng để ý!”
Dù bị lỡ nhịp hoà tấu trong giây lát nhưng Hannah theo kịp lại ngay.
Khi hàng người cuối cùng tiến ra, hình ảnh một người phụ nữ đang ho lụ khụ và một người đàn ông lo lắng nhìn bà từ phía sau lọt vào mắt Hannah.
Không lẫn vào đâu được, đó chính là cha mẹ em.
Hannah mừng vui khôn xiết vì thấy cha mẹ vẫn còn sống, nhưng cũng không khỏi lo lắng cho người mẹ đang đổ cơn ho với cơ thể trông kiệt quệ.
Từ trước tới nay, em chưa thấy mẹ ốm đau thực sự bao giờ, nên cảnh tượng này lại càng làm em nóng ruột. Hannah muốn làm gì đó để cha mẹ chú ý tới em, khi đến nhịp đưa vĩ lên, em mạnh dạn hất vĩ lên cao rồi vẫy qua vẫy lại thật lực. Bố em hình như đã nhận ra cử chỉ quen thuộc của con, ông nói nhỏ gì đó vào tai vợ.
Mẹ Hannah suốt từ đầu chỉ cúi mặt xuống ho sù sụ, nhưng rồi bà cũng ngẩng được lên và cùng bố em nhìn về phía dàn nhạc. Tìm thấy bóng hình con, họ liền giơ tay vẫy.
“Hannah… Han…nah!”
Mẹ gọi lớn tên em, xen lẫn những tiếng ho.
Do đột ngột hít mạnh vào quá nhiều khí, mẹ Hannah lại ho khùng khục, phải cúi gập người trông rất khổ sở nhưng vẫn không chịu ngừng gọi tên con. Bố chỉ gào lên tiếng “Hannah” đúng một lần duy nhất rồi nở nụ cười rạng rỡ.
Hannah vui mừng khôn xiết.
Bố mẹ em mỉm cười, khẽ gật đầu. Thế nhưng, tên lính SS Hans đứng đó chứng kiến tất cả, hắn liền vác theo một thanh sắt dài, định dùng nó đánh bố mẹ Hannah vì tội la lớn tiếng.
Hannah giật mình, đánh rơi cây đàn violin xuống đất, em chạy ngay tới chỗ bố mẹ chẳng kịp nghĩ ngợi gì.
“Hans, xin ông dừng tay! Xin hãy dừng lại! Họ là bố mẹ tôi!”
Đó là tên Cận vệ Hans hôm trước Hannah đã thấy.
Bữa trước, lần đầu tiên Hannah nhìn thấy Hans là khi hắn liên tiếp giết chết một đứa bé vừa mới lọt lòng cùng với mẹ và bà đỡ, sau đó em còn nghe nhiều tin đồn nói rằng hắn được giao nhiệm vụ truy tìm và giết hại những người lao động đã trở nên yếu ớt.
Hắn nói chỉ dùng súng thôi thì thật tẻ nhạt, cho nên sở thích của hắn là đánh bằng gậy sắt đến khi người ta chết mới thôi. Vì thế, trong Trại tập trung, hắn được biết tới với cái tên “Con quỷ sát nhân Hans”.
Chỉ cần để Hans thấy bộ dạng yếu ớt là coi như chấm hết, hắn sẽ giết người đó theo cách mà hắn thích. Vậy nên, hễ thấy Hans đi vòng quanh dò xét là mọi người đều nén cơn ho, bôi đất đỏ lên má để có sắc hồng, cố sống cố chết tỏ ra khoẻ mạnh để thoát khỏi con mắt cú vọ của Hans.
“Mày nói gì?”
Hans hung hãn quay về phía Hannah với vẻ mặt của một con quỷ, như thể hắn muốn biết ai là kẻ dám phá ngang thú vui của hắn. Hắn định phó mặc mình cho cơn bực bội và đánh bầm dập kẻ dám mở mồm. Ít nhất thì trong đầu hắn cũng đã có suy nghĩ ấy.
Mẹ dùng hết sức bình sinh hét lớn khi thấy Hannah chạy đến.
“Đừng lại đây, Hannah!”
“Không được tới đây!”
Bố cũng xua tay lia lịa như muốn ngăn không cho Hannah tới gần.
“Là tại tôi ra hiệu cho hai người họ… Xin đừng đánh bố mẹ tôi!”
Đứng chắn trước Hans mình đồng da sắt là cô bé Hannah vang danh “Thiếu nữ thiên tài”, “Tiểu mĩ nhân” của Trại tập trung.
Đương nhiên Hans cũng biết đến những lời đồn về Hannah như bao kẻ khác, hắn có vẻ bất ngờ đôi chút khi thấy Hannah với thân hình gầy guộc run lẩy bẩy nhảy ra chắn trước mặt mình.
Hannah dang hai cánh tay tiến lên một bước như thể thách thức, “nếu muốn đánh hãy đánh tôi đi”.
Đương nhiên chẳng cần đến gậy sắt, Hans vẫn có thể dễ dàng bẻ gãy thân hình bé nhỏ ấy, nhưng bộ dạng dù run lẩy bẩy vẫn tiến về phía trước một cách quả cảm của Hannah dường như khiến Hans bớt hung hãn lại. Tuyệt đối không có chuyện hắn cảm động bởi tình cảm thiêng liêng giữa cha mẹ và con cái, hắn chỉ đơn giản cảm thấy nếu đánh gục Hannah lúc này thì chẳng còn gì thú vị.
“… Hừ. Mày dám phá đám tao à?”
Nói rồi hắn cầm cây gậy sắt huơ huơ hai ba cái về phía Hannah như thể doạ nạt “lần sau sẽ tới lượt mày”. Tiếng sắt xé gió vun vút rít lên bên tai Hannah.
“Hannah…!”
Bố mẹ ôm chặt lấy Hannah.
Hannah gục trong vòng tay mẹ như thể sợi chỉ căng thẳng trong em đã đứt lìa. Bố ôm trọn lấy cả hai mẹ con. Không phải Hannah không hoang mang lạ lẫm khi thấy vòng tay mẹ, bộ ngực mẹ đã gầy tọp hẳn đi, nhưng đã lâu lắm rồi em mới được cảm nhận hơi ấm của cha mẹ, nên em buông một tiếng thở phào nhẹ nhõm.
“Vừa rồi chỉ bỏ qua cho Hannah thôi! Không được phá hàng lối. Đi mau lên.”
Hans nói và lại làm động tác vung cây gậy sắt.
Mẹ hình như định đưa cho Hannah một mảnh giấy nhưng lại từ bỏ ý định ấy và nắm chặt nó trong tay, quay trở về hàng. Bọn Kapo (những người Do Thái cũng là tù nhân nhưng giữ nhiệm vụ quản thúc các tù nhân khác theo lệnh của Đức Quốc Xã) lấy dùi cui đánh vào bắp chân bố mẹ Hannah như để trách phạt họ vì tội làm loạn hàng lối. Bố mẹ Hannah lại tiếp tục bước đi.
“Bố! Mẹ! Mẹ ơi!”
Hannah thét gọi bố mẹ khi họ dần dần đi khuất.
Khó khăn lắm mới gặp được bố mẹ, vậy mà lòng em tràn ngập nỗi buồn. Sống ở cùng một nơi mà em lại cảm thấy muôn trùng xa cách.
… Và rồi, đó cũng là hình ảnh cuối cùng của bố mẹ mà Hannah còn được thấy trong đời.
9.
Buổi chiều khi đón đoàn người lao động cưỡng bức trở về, vì dàn nhạc nam ra biểu diễn nên Hannah không thể nào biết được ngày hôm đó cha mẹ em đã đi qua cổng Trại tập trung trong dáng vẻ nào.
Klaus và Leo trông thấy thi thể đầy máu của một người phụ nữ đã chết với cái đầu vỡ toác, cùng xác một người đàn ông có sáu lỗ đạn ở lồng ngực, bên cạnh thi thể của hàng chục người khác, được khiêng đi trên cáng ở phía cuối hàng người.
Chính là vợ chồng Janssen.
Ngay khi thấy hai vợ chồng Janssen trong bộ dạng thảm thương ấy, Klaus bỏ diễn tấu, đuổi theo tên Kapo canh chừng ở cuối hàng và túm cổ hắn.
“Tên kia, vợ chồng Janssen làm sao vậy?”
“Ta không biết tên ai là Janssen. Ở đây nếu ngươi đọc số thì may ra…”
“Cùng là người Do Thái mà ngươi nói được câu đó à? Là người phụ nữ với gương mặt đầy máu kia.”
Klaus đấm mạnh vào mặt tên Kapo.
Như vậy vẫn chưa đủ, khi tên Kapo đã ngã nhào xuống đất, Klaus liền nhảy lên cưỡi trên người hắn, tay túm lấy cổ áo hắn.
Klaus tuy tướng hình to lớn nhưng tính tình vốn ôn hoà, hiếm khi thấy ông lớn tiếng quát nạt ai bao giờ, vậy nên các thành viên trong dàn nhạc đều kinh ngạc, chỉ biết chôn chân đứng ngây người nhìn cảnh đó.
“Tôi… tôi sẽ kể mà… Anh bỏ tay ra khỏi người tôi đi đã.”
Klaus buông tay ra, tên Kapo xoa xoa cái cổ bị kéo lên và bắt đầu thuật lại.
“Có lính SS ở đây nên tôi chỉ nói nhanh thôi. Cô ta mấy ngày nay đã bị ho và sốt, nghi là viêm phổi. Đáng nhẽ ra cô ta nên vào Bệnh xá, nhưng chắc biết ở đấy thì người bệnh khỏi hay chưa khỏi đều bị đưa đến phòng hơi ngạt tuỳ theo tâm trạng của bác sĩ nên cô ta không chịu vào và hôm nay vẫn chọn con đường đi lao động…”
Nhưng cơn ho của mẹ Hannah quá nặng, đến nửa chừng thì những người ở quanh đó đều khó chịu và kêu mẹ em đừng lây cho người khác, một vài người phụ nữ đi đằng trước và sau mẹ em bắt đầu đánh vào người bà. Chẳng ngờ vụ việc xích mích ấy đến tai Hans, tên ác quỷ giết người ấy đã đánh toàn bộ những người tham gia vụ náo loạn ấy đến chết, không sót một ai. Tên Kapo liến thoắng kể.
“Lúc đó, có một người đàn ông, có lẽ là chồng của cô ta, đã một mình xông ra kháng cự lại, anh ta nắm lấy thanh sắt của Hans. Nhìn thấy thế một tay SS khác đã dùng súng bắn chết anh ta tại chỗ. Anh ta đổ gục xuống người cô ta. Đến tôi còn bị tên Hans đánh nhừ đòn vì tội giám sát không tốt đây này, đúng là phiền phức hết mức.”
Nói rồi, hắn lấy tay xoa xoa má trái sưng tấy, hất Klaus ra rồi chạy biến vào bên trong cổng Trại Auschwitz.
Klaus khuỵu gối trước cổng Trại tập trung, vừa vò đầu bứt tóc vừa gào khóc.
Chuyện gì đã xảy ra? Ông cho rằng một người Đức như mình đến Trại tập trung ít nhất cũng có thể bảo vệ được gia đình Janssen. Nhưng hoá ra sức lực của ông có hạn.
Mà ngay từ đầu, có lẽ ông đã tự huyễn hoặc mình bởi ý nghĩ một người Đức sẽ cứu được cả một gia đình người Do Thái.
Klaus tự trách mình.
Vốn dĩ cái chết của vợ chồng Janssen là do vô tình bị cuốn vào cuộc bạo động giữa những tù nhân, Klaus không cần phải cảm thấy có trách nhiệm. Nhưng nếu không tự đổ lỗi cho mình về cái chết của hai vợ chồng và khiến bản thân tin rằng mình cần bám trụ cuộc sống này thay phần của họ, Klaus sẽ không thể gượng dậy mà sống tiếp.
Vậy là cả gia đình Janssen chỉ còn duy nhất Hannah sống sót.
10.
Từ vài ngày trước, xung quanh Klaus cũng liên tiếp xảy ra những việc đau buồn.
Đầu tiên là chuyện của chàng trai thổi sáo tên là Kelly.
Kelly cùng vợ và mẹ đều bị đưa tới Trại tập trung, nhưng chỉ có duy nhất Kelly được chọn vào dàn nhạc, còn vợ và mẹ anh đều không biết số phận ra sao.
Nhưng Kelly không bao giờ than thở với mọi người xung quanh, anh thường hay nói đùa khiến các thành viên trong dàn nhạc nam bình tâm hơn. Trong những tháng ngày cùng cực cận kề với cái chết, Kelly vẫn có thể bông đùa mọi chuyện một cách nhẹ nhàng. Nhìn vào, ai cũng nghĩ anh là người lạc quan và có tinh thần mạnh mẽ.
Chuyện bắt đầu vào một ngày, khi dàn nhạc đang biểu diễn.
Đó là một ngày hiếm hoi trời trong xanh không có cột khói nào. Mang trong mình tâm trạng háo hức muốn biểu diễn thật hay, tiếng sáo của Kelly vang lên trong vắt. Lúc dàn nhạc đang biểu diễn, ba xe tải chở tù nhân đi qua trước mặt họ.
Loáng thoáng nghe thấy một giọng nói quen thuộc phát ra từ chiếc xe tải thứ ba, Kelly ngẩng mặt lên. Tiếng rên rỉ như bị nghẹn lại khiến anh không hiểu người đó đang nói gì, nhưng anh nghe được rõ ràng giọng nói thống khổ ấy đang lẫn trong những tiếng gào thét đau đớn khác.
Kelly chợt cảm thấy điềm chẳng lành, anh dừng chơi sáo, lắng tai nghe về hướng có giọng nói phát ra. Từ phía trong song sắt của xe tải, một cánh tay khẳng khiu như que củi khô vươn về phía dàn nhạc. Chẳng phải ai khác, mà chính là người mẹ năm nay đã bảy mươi tuổi của Kelly.
Nếu không chơi nhạc, chắc chắn anh đã nhận ra tiếng gào thét của mẹ sớm hơn. Giọng nói của mẹ anh hoàn toàn bị xoá nhoà trong tiếng nhạc, đến nỗi anh đã không nhận ra mẹ cho tới tận lúc chiếc xe tải chạy qua ngay trước mắt.
Anh đã thổi sáo để đẩy mẹ anh đến chỗ chết ư?
Vậy mà thậm chí anh còn hào hứng định chơi thật hay nữa.
Thứ âm nhạc dồn con người ta vào chỗ chết mà còn có hay hoặc dở sao?
Kelly đứng lặng bàng hoàng. Khoảnh khắc sau đó, khi ý thức lại được, anh vụt chạy đuổi theo chiếc xe tải.
“Dừng lại đi! Đó là mẹ tôi! Cứu với!”
“Kelly! Kelly…! Kelly…!”
Chiếc xe chạy ngày một xa dần, đến lúc chẳng còn nghe tiếng gọi nào nữa.
Kelly vấp phải hòn đá và ngã lộn nhào, mất một lúc anh cứ nằm sấp mặt xuống đất chẳng buồn động đậy, giờ phút này anh thậm chí không thể đứng dậy bằng sức của mình.
Đối với Kelly, chuyện này chẳng khác gì chính tay anh vừa mới chôn sống mẹ. Trên đời này, ai có thể tha thứ được cho kẻ dám động tới người mẹ đã sinh ra mình chứ riêng Kelly thì không, đó là tôn nghiêm cả đời anh theo đuổi.
Từ sau đó, Kelly giống như một con người hoàn toàn khác, anh như kẻ mất hồn.
Nếu cứ để mặc như vậy có thể anh sẽ tính tới chuyện tự tử. Lo sợ điều ấy, Klaus đã dặn các thành viên dàn nhạc thay nhau trông chừng anh. Đúng như những gì Klaus lo ngại, vào một buổi tối, sau khi vừa kết thúc điểm danh, Klaus nhìn thấy Kelly đang chạy hết tốc lực về phía hàng rào dây kẽm gai nối với lưới điện cao áp. Trước khi anh đâm đầu vào hàng rào, Klaus đã kịp thời tóm lấy và khoá chặt hai tay anh lại.
“Kelly, bình tĩnh lại đi!”
“Để tôi chết đi! Xin anh đấy!”
“Mọi người đều hiểu cảm giác của cậu. Bình tĩnh lại đi!”
“Để tôi chết! Hãy để tôi chết đi!”
Kelly tự đấm vào trán mình, gục xuống khóc lóc.
Kể từ đó về sau, con người rạng rỡ như mặt trời của Kelly đã biến mất, anh hầu như chẳng nói năng gì nữa.
Anh chỉ đang sống, chẳng còn gì khác. Là người chỉ huy dàn nhạc, Klaus có nghĩa vụ phải trông coi Kelly khi anh rơi vào tình trạng suy sụp, nhưng ông không thể cứu được trái tim một con người. Lúc này ngoài việc để mặc Kelly thì Klaus không còn biện pháp nào khác.
Sau sự việc của Kelly được ba ngày, lại có một biến cố khác.
Người ta phát hiện ra Asher Cohen, người lĩnh xướng của dàn nhạc đã chết, máu trào ra từ miệng.
Cohen là người hướng đạo, trong Do Thái giáo gọi người như ông là Rabbi. Một Rabbi không chỉ hướng đạo cho các tín đồ mà còn là luật sư, người tư vấn tâm lí, cố vấn tài chính, họ mang trong mình vai trò tiếp nhận rất nhiều những tâm tư thắc mắc và sẻ chia chúng, gánh lấy trọng trách như một người phán xử trong xã hội người Do Thái. Bản thân Cohen cũng là một người có nhân cách tuyệt vời, được tất cả mọi người tin cậy.
Trước khi Cohen tự sát một tuần, người chơi kèn trumpet tên Jacob đã tới trao đổi với ông.
“Tôi bị quân Phát xít chặt mất bàn tay phải vì dám chống lại chúng. Chúng đã bắt hết bạn bè tôi ở khu Lao động lên thuyền rồi đồng loạt cho thuyền nổ tung trên vịnh. Chúng gọi đó là thí nghiệm sức công phá. Tôi đã không kiềm chế được khi nghe một tên SS kể lại chuyện đó với giọng dương dương tự đắc nên đã dùng tay phải đấm hắn. Tôi không biết phải làm sao bây giờ…”
Jacob ôm lấy chỗ bàn tay phải đã mất, Rabbi nhìn anh với ánh mắt nhân từ. Nhìn vào đôi mắt như mặt nước tĩnh lặng của Rabbi, tâm trạng cuồng loạn của Jacob cũng bình yên trở lại. Chẳng phải lần đầu tiên Jacob đi xưng tội, nhưng con người mắc phải đầy những lỗi lầm của anh trước đây đã bao giờ được chấp nhận tới mức này chưa nhỉ.
“Jacob, anh may mắn lắm. Nếu anh chơi một nhạc cụ nào khác thì có thể sẽ rất khó khăn, nhưng kèn trumpet thì chỉ cần luyện tập tay trái là được. Không sao đâu. Cổ tay phải thì… có lẽ vì lí do nào đó buộc phải rơi mất khi đi qua biển lửa, nhưng có lẽ nhờ vậy mà nó được tự do. Anh vẫn đang được Chúa Trời che chở.”
Quả đúng là như vậy. Jacob vốn có thói lấy trộm đồ, nhiều lần khi anh chợt nhận ra thì đã động tay động chân mất rồi. Cũng không phải anh ta sống trong cảnh nghèo khó đến mức phải trộm cắp để kiếm miếng ăn, những thứ anh ta lấy cũng chỉ là điếu thuốc lá, cái bút mực, cái lược, cái ô,… thường chẳng phải là thứ gì đắt giá đến mức người ta muốn có bằng được.
Khi trở lại làm chủ bản thân, Jacob thường ân hận đánh thật mạnh vào tay phải của mình, nhưng khi nghe thấy lời của Rabbi, anh lại có cảm giác thanh thản với suy nghĩ “Thế là cuối cùng ta cũng được thoát khỏi tật xấu bao lâu nay”. Dù mất đi bàn tay phải nhưng Jacob vẫn cảm thấy niềm hạnh phúc trong lòng.
Con chiên cảm thấy hạnh phúc nhưng ngược lại Rabbi lại thấy đau thắt trong tim.
Bởi hiện giờ, ông phải đứng nhìn hầu hết những tín đồ trước đây bị bắt đến Trại tập trung làm lao động khổ sai, và tận mắt chứng kiến từng người từng người bỏ mạng.
Khi Rabbi gặp những người lao động, họ đã nhìn Rabbi với ánh mắt căm hận ông chưa từng thấy và chỉ tay về phía ông.
“Ngươi chỉ cứu lấy bản thân mình và bỏ mặc bọn ta!”
Rabbi là người đại diện cho xã hội người Do Thái, mang trong mình lòng tự trọng cao, vậy nên ông bị tổn thương nặng nề bởi những lời nói ấy và đã cắn lưỡi tự vẫn ngay đêm hôm đó. Toàn bộ sự tình sau này được một người Do Thái từng theo đạo ở khu Lao động kể lại cho Klaus. Người này biết được nỗi khổ tâm mà Rabbi phải gánh chịu, vì thế nên anh ta cũng muốn người có trách nhiệm với dàn nhạc là Klaus biết những chuyện này.
Klaus luôn luôn chỉ nghĩ đơn giản rằng Rabbi điềm đạm và mạnh mẽ, nhưng ông không thể nhận ra việc ở trong vị trí an toàn, với tư cách thành viên dàn nhạc khiến người đó cảm thấy bẽ bàng và đau khổ đến nhường nào.
Klaus không thể không trách chính mình, về chuyện của Kelly, chuyện của Rabbi và về nỗi bất lực khi mình có mặt ở đó mà chẳng thể ngăn cản những tấn thảm kịch này.
Trong hoàn cảnh ấy, sự việc của cha mẹ Hannah lại đường đột xảy ra.
Cả dàn nhạc đã biết Hannah được gặp lại cha mẹ mình, chẳng ai có thể ngờ cha mẹ em cuối cùng lại nhận một cái kết bi thương ngay sau đó. Mỗi khi gặp Hannah, tất cả các thành viên đều lần lượt động viên em với gương mặt rạng rỡ.
“Tốt quá rồi, Hannah nhỉ. Vậy là kể từ giờ ngày nào cậu cũng gặp được họ rồi.”
Edyth bắt chuyện với Hannah, vui mừng như thể đó là chuyện của chính mình.
“Ừ, tớ sẽ luyện tập thật nhiều, để khiến cho bố mẹ được an tâm. À mà có việc này tớ quên mất! Mẹ tớ biết chơi piano.”
“Vậy mau nói cho cô Arles biết thôi. Thế thì có thể cứu được cả mẹ cậu nữa.”
“Cô Arles cũng nói vậy lúc tới đây… Nhất định là vì bận quá nên cô ấy quên thôi. Chốc nữa tớ phải nói mới được… Nhưng, còn mẹ của Edyth thì sao rồi?”
Lần đầu tiên Hannah hỏi thăm về gia đình Edyth.
“Bố tớ là luật sư, còn mẹ tớ là bác sĩ. Vì bố mẹ đều đi làm bận bịu nên gần như tớ được vú em nuôi lớn. Khi những cuộc lùng bắt người Do Thái nổ ra, cả nhà tớ đã tính đến việc trốn sang Thụy Sĩ. Nhưng thật không may, đúng lúc vừa gom góp xong tài sản để cho vào túi thì bị một tên Đảng viên Phát xít phát hiện. Cái túi đó bị tịch thu, mọi người đã chống lại. Vì đó là tất cả số tiến cần thiết để sống sót. Sau đó thì… cả bố và mẹ tớ… đều bị giết, ngay trước mắt tớ. Tớ không muốn nhớ lại chuyện đó nữa…”
Nói đến đó, cô bé rơm rớm nước mắt.
“Ôi, Edyth, tớ xin lỗi…”
“Đừng để tâm. Hannah hãy trân trọng bố mẹ nhé. Vì họ còn đang sống… Nơi này chứa nỗi đau của rất nhiều người. Vậy nên, những chuyện đáng vui thì mình cứ vui cho trọn, nếu không sẽ mất tinh thần lắm.”
11.
Chiều ngày hôm đó, các thành viên dàn nhạc nữ được đưa đến khu vực gần giàn hoả thiêu, cách khu phòng nhạc khoảng một ki-lô-mét.
Một ngày không biết có bao nhiêu chuyến xe lửa đưa người tới Auschwitz, họ được chia ra thành nhóm người đi lao động cưỡng bức và nhóm bị chở tới phòng hơi ngạt. Những người bị đưa đến phòng hơi ngạt hoàn toàn không biết mình sẽ đi đâu. Lí do là bởi cùng lúc họ đặt chân xuống sân ga, dàn nhạc liền chơi những bản nhạc như thể hoan nghênh họ. Được chào đón bởi một thứ âm nhạc tươi vui khiến cơ thể như trở nên khoẻ khoắn, hàng dài những người tù nhân sẽ có ảo giác rằng có lẽ họ không bị đưa tới một nơi quá tệ.
Âm nhạc lúc đó biến thành một thứ công cụ để đánh lừa con người.
Tuy nhiên gần đây, việc phân chia thành nhóm lao động và nhóm đưa tới phòng hơi ngạt thậm chí còn không được tiến hành.
Toàn bộ những người được đưa đến đều bị chuyển tới phòng hơi ngạt. Vì chuyện này mà phòng hơi ngạt trở nên quá tải, ngay đến bọn trẻ cũng bị cho vào lò thiêu sống.
Đứng ở khu trại cách đó khá xa vẫn nghe thấy được những tiếng hét khủng khiếp. Để nhấn chìm tiếng gào thét và để bưng bít hành vi tội ác man rợ của mình, quân đội bắt dàn nhạc biểu diễn.
Dàn nhạc nữ do Arles Bizet chỉ huy đứng ngay gần cửa ra vào lò thiêu, chơi những bản nhạc du dương giống như đang chế giễu những xác chết trần trụi.
Dù đang ở giàn thiêu nhưng họ không được phép chơi những bản nhạc cầu hồn khóc thương cho những người đã chết. Lâu lâu các thành viên lại bất chợt nghe được những tiếng la hét thảm thiết, nhưng họ chỉ biết nhắm chặt mắt, vừa co vai vừa chơi đàn. Phải làm như vậy, bởi nếu họ dừng chơi nhạc hay dám buông đàn để bịt tai thì chính mạng sống của họ sẽ bị rút ngắn.
Biết được sự thực quá ư khủng khiếp, đôi chân Hannah run lẩy bẩy không ngừng, âm sắc từ cây đàn violin của em trở nên hỗn loạn mặc cho em cố gắng đến thế nào. Edyth chơi vị trí violin hai, không thể chịu nổi những tiếng kêu và mùi bốc lên, cô bé vừa chơi đàn vừa nôn thốc nôn tháo xuống dưới chân.
Tối hôm đó, theo lệnh của Arles, toàn bộ thành viên dàn nhạc tập hợp ở phòng âm nhạc, nghe lịch trình và nội dung biểu diễn của ngày mai, đồng thời tổ chức một buổi họp.
“Hôm nay dù là ngày đầu tiên diễn tấu chính thức nhưng các bạn đã làm rất tốt. Tôi chắc các bạn có rất nhiều mối suy tư, nhưng rất mong các bạn tập trung chơi đàn thôi, đừng nghĩ ngợi gì cả. Hãy chỉ quan tâm đến việc mình tạo ra được những âm thanh tuyệt vời đến thế nào.”
Nghe Arles nói vậy, Edyth lắc đầu thật mạnh và bắt đầu nói với vẻ kích động.
“Em không chịu đựng nổi chuyện này. Em sẽ bỏ dàn nhạc. Thà đi lao động khổ sai còn hơn. Chúng ta đang chơi nhạc vì ai đây? Chúng ta chơi nhạc vì điều gì? Mọi người hãy trả lời đi!”
Chẳng ai trả lời được câu hỏi ấy.
Dù từng người trong dàn nhạc đều mang theo tâm trạng giống như Edyth nhưng không ai có thể đưa ra bất cứ câu trả lời nào sau ngày hôm nay.
“Đã vậy thì em quay về khu Lao động đi.”
Arles lạnh lùng nói với Edyth.
Edyth quay lại nhìn Arles với dáng vẻ nao núng trước những lời em không ngờ tới. Dù được đồng cảm, em cũng không nghĩ mình lại bị đáp trả thẳng thừng đến thế.
“Tôi không chỉ nói với mình Edyth thôi đâu. Nếu ở lại đây khiến các bạn đau đớn thì ngay ngày mai có thể đến khu Lao động. Nếu bạn chịu nhường vị trí của mình trong dàn nhạc thì có cả đống người ngoài kia đang muốn ngồi vào vị trí đó. Cứ việc lao động quần quật mười tiếng một ngày trong cái lạnh khắc nghiệt với tấm thân tàn tạ gầy guộc mà chẳng có lấy chút đồ ăn. Nếu các bạn cho rằng cuộc sống ấy tốt hơn thì có thể đi ngay lập tức.”
Trước những lời lẽ nghiêm khắc của Arles, không chỉ Edyth mà toàn thể thành viên có mặt ở đó đều nín lặng.
Tất cả mọi người lúc này đều có một suy nghĩ, thà rằng cứ lao vào làm lụng chẳng cần suy nghĩ gì có lẽ sẽ nhẹ nhõm hơn là bị lợi dụng, mượn tay để trợ giúp chôn vùi những người đồng bào cũng là tù nhân khác.
Dù vậy, ở dàn nhạc, dẫu không đầy đủ, họ vẫn còn có đồ ăn, vẫn có quần áo mặc, được cấp phòng riêng để sống. So với những người ở khu Lao động hằng ngày phải uống thứ súp như nước lã, mặc bộ quần áo tù mỏng tang và ngủ co quắp trong những khu trại như chuồng ngựa thì quả thật là khác một trời một vực. Từ bỏ cuộc sống hiện tại cũng có nghĩa là đi tìm cái chết.
Arles ngồi xuống cạnh Edyth, khác với những lời lẽ nghiêm khắc lúc nãy cô trút lên em, Arles xoa lưng Edyth bằng cử chỉ nhẹ nhàng.
“Những điều Edyth vừa nói, chắc hẳn mọi người đều một lần, không, từ nay về sau sẽ rất nhiều lần phải hỏi đi hỏi lại chính mình. Mọi người nghĩ tôi có thể bình thản được à? Không hề. Từ một năm trước, tôi đã phải chịu đựng những cảm xúc giống hệt Edyth lúc này mà sống tiếp. Vậy nên tôi sẽ nói chuyện này với các bạn. Hãy nghe kĩ lời tôi.”
Không một ai có thể phản đối khi nghe những lời đó của Arles. Cô nhìn quanh gương mặt mọi người rồi đưa tay vỗ nhẹ lên tóc Edyth.
“Trước hết, Edyth… tuy tôi nói những lời gay gắt với em, nhưng tôi mong em sẽ sống sót cùng với dàn nhạc. Không một ai ở nơi này chết vì họ muốn chết cả. Tôi không muốn cái chết của họ trở thành vô nghĩa. Hãy sống sót, hãy vạch trần thảm hoạ diệt vong ở nơi địa ngục này. Sẽ nhanh thôi, quân đội Liên Xô hoặc quân đội Anh sẽ tới cứu chúng ta. Tất cả hãy cùng sống cho tới lúc đó.”
Những lời nói ấy của Arles chứa đựng sức mạnh, tưởng như việc sống sót không chỉ là vấn đề của từng cá nhân nữa. Dường như Arles muốn nói với họ, nếu đã được chọn vào dàn nhạc thì sống sót chính là số mệnh của mỗi người.
“Mọi người biết người thổi sáo của dàn nhạc nam tên Kelly chứ? Anh ấy hầu như không còn nói chuyện với ai nữa, chỉ vùi mình vào âm nhạc. Anh ấy không phải kẻ kì lạ khùng điên, những gì anh ấy đã trải qua có thể xảy tới với chúng ta bất cứ lúc nào. Nghe này, dù cùng là người Do Thái nhưng dàn nhạc của chúng ta nhất định sẽ không bị bắt đưa tới nơi lao động khổ sai chết chóc. Đồ ăn vẫn sẽ được cung cấp ở một mức độ nào đó nếu chúng ta còn tiếp tục đem đến những thanh âm. Quần áo đương nhiên được chuẩn bị cẩn thận khi chúng ta diễn tấu. Nhưng, các bạn đã bao giờ nghĩ xem số thức ăn đó, những bộ quần áo đó là từ đâu ra chưa? Hannah!”
“…”
Hannah không biết.
Dù trong Trại tập trung thiếu thốn đủ thứ, Hannah vẫn có đủ áo quần kể từ khi em gia nhập dàn nhạc. Dù chưa từng nghĩ tới nhưng em không thể xoá bỏ những thắc mắc trong đầu.
“Tất cả đều là di vật của những người đã chết. Cả bánh xà phòng duy nhất ở kia, ruột bên trong gối, mọi thứ đều được làm từ mỡ và tóc của những người đã chết.”
Hannah, Edyth và toàn bộ thành viên dàn nhạc rùng mình đưa tay lên che mặt.
“Chúng ta làm gì ư? Tóm gọn lại, những gì chúng ta làm cũng giống như lũ Kapo tồi tệ đó. Lấy lòng lũ Phát xít, vui vẻ đứng nhìn những đồng loại của mình tiến gần tới cái chết, chúng ta không vui vẻ gì, đúng thế. Nhưng không thể tránh được việc bị người khác đánh giá như vậy.”
Rosa, một cô bé khiêm nhường, ít nổi bật và cùng chơi ở vị trí violin một như Hannah cất tiếng.
“Tôi, tôi quyết định rồi. Về lí do vì sao chúng ta chơi nhạc. Khi đoàn tàu tới, dù chỉ trong giây lát thôi, tôi muốn giúp lòng họ nhẹ nhõm hơn. Ở giàn hoả thiêu, tôi sẽ chơi vì những người đang sống trong các khu trại. Khi ở cổng Trại tập trung, tôi chơi nhạc để cầu cho mọi người có thể mạnh khoẻ làm việc và sống sót trở về. Những buổi biểu diễn lúc chiều tối, tôi chơi vì những người trở về trong mệt mỏi.”
Arles tiếp lời.
“Chơi nhạc để tẩy não bọn Phát xít, biến chúng thành những kẻ không thể sống nổi nếu thiếu âm nhạc. Chơi nhạc để rửa sạch tội lỗi cho những đồng loại lầm lạc Kapo.”
Edyth gật đầu với Arles và tiếp lời.
“Và chơi vì chính bản thân chúng ta.”
Hannah muốn nói em chơi nhạc vì bố mẹ, nhưng nghĩ tới những người bạn đã mất cả gia đình của mình, em đành giữ điều ấy lại trong lòng.
Arles đứng dậy, dang rộng đôi tay.
“Đúng vậy, đúng là tinh thần này. Nếu cần nghĩ, hãy cứ nghĩ về những điều tích cực. Nếu có chạy trốn, hãy tìm đến với thế giới của âm thanh. Tôi không tha thứ cho ai chọn cái chết. Ngày mai, chúng ta vẫn sẽ tập trung lúc sáu giờ.”
12.
Khi vừa ra khỏi phòng âm nhạc, Hannah sực nhớ ra việc quan trọng nhất.
“Cô Arles, sáng nay em đã gặp bố mẹ em.”
Hannah gọi Arles lại với hi vọng có thể đưa mẹ em vào dàn nhạc.
“Đúng, đúng vậy. Cái tên Hans đó, một lúc nào đó tôi sẽ đấm vào mặt hắn! Cha mẹ em vẫn ổn chứ?”
“Vâng… Có việc này, liên quan tới mẹ em ạ.”
“Ôi trời, thật sự xin lỗi em nhé. Mấy ngày nay cứ liên tục như vậy thành ra tôi quên khuấy đi mất. Ngày mai tôi sẽ tới nói với Trại trưởng là dàn nhạc cần mẹ em tham gia. Nhân tiện, cả cha em nữa, tôi nghĩ nếu là thổi sáo chắc ông sẽ làm được thôi, tôi cũng sẽ nhờ Klaus nhé.”
Những lời đó của Arles khiến Hannah vui mừng khôn xiết.
Được ở cùng mẹ và thậm chí cả bố nữa, với Hannah chuyện này cứ như một giấc mơ.
“Arles, Hannah… Không cần làm thế nữa…”
Đột nhiên giọng Klaus vang lên trong bóng tối. Arles quay lại, cao giọng hỏi.
“Anh nói thế là sao? Klaus!”
Klaus ôm lấy Hannah, giọng ông run rẩy.
“Cha mẹ con… họ đã…”
Klaus không thể nói hết. Nhìn bộ dạng suy sụp của Klaus, Hannah dứt khoát dùng hai tay ấn ngực ông để vùng thoát ra.
“Không thể nào, dối trá! Thầy Klaus là đồ nói dối! Sáng nay con vừa thấy mẹ mà. Con đã gặp họ rồi.”
“Trong lúc lao động, có một vụ bạo động xảy ra, không may là bố mẹ con bị cuốn vào, khiến cả hai đều bỏ mạng…”
“Họ không chết đâu. Bố mẹ con không thể chết được!”
Hannah lùi lại, Klaus nắm lấy tay trái của Hannah kéo về phía mình rồi lại ôm chặt em trong lòng một lần nữa.
Hannah gào khóc rất to. Những giọt nước mắt của Klaus cũng rơi trên tóc Hannah.
Arles, Edyth, Rosa cùng tất cả mọi người dù đang trên đường quay trở về phòng cũng tiến lại gần ôm lấy Klaus và Hannah, họ cùng khóc.
Tiếng khóc của họ cùng với khói từ giàn hoả thiêu bay lên hoà vào bầu trời đêm Auschwitz.
“Hannah, đây là di vật của mẹ con.”
Klaus lấy ra một mảnh giấy nhăn nhúm đưa cho Hannah, cô bé lúc này đã thấm mệt, chỉ còn rấm rứt khóc. Di vật của mẹ là bức thư gửi cho Hannah.
“Mẹ con đã nắm chặt thứ này trong tay.”
Hannah lấy mu bàn tay gạt nước mắt trên mặt, cầm lấy bức thư từ tay Klaus, em vuốt nhẹ những nếp nhăn, cố không làm rách mảnh giấy.
“Hannah thương yêu,
Hannah, con có bị đói không? Con có ngủ được một mình không? Con có bị ốm không? Con có thấy cô đơn mà khóc nhè không? Có người nào đối xử tử tế với con không? Ngày nào mẹ cũng lo cho con và Andrew. Cứ mỗi buổi tối, mẹ lại cầu nguyện ngày mai sẽ được gặp Hannah mạnh khoẻ rồi mới ngủ được. Giờ đây mẹ mới thấy thật may mắn làm sao khi đã cho con học đàn violin. Mẹ đã nghe được lời đồn đại về một thiếu nữ chơi đàn violin. Mẹ biết chắc đó chính là Hannah. Mỗi khi nghe thấy tiếng nhạc, mẹ lại thầm nghĩ có thể Hannah đang ở đây và cảm thấy như được tiếp thêm sức mạnh. Bố con vẫn khoẻ. Mong rằng cả nhà sẽ sớm được quay lại cuộc sống trước đây. Cho tới lúc đó, mẹ sẽ không chịu thua bất cứ bệnh tật nào. Dù cuộc sống có khổ cực tới đâu, mẹ cũng sẽ mơ về ngày mai mà sống. Dù có bất cứ chuyện gì xảy ra đi nữa. Vậy nên, Hannah, con cũng đừng gục ngã. Con đừng bao giờ quên, mẹ luôn luôn dõi theo con.
Tái bút, mẹ may mắn có được giấy và bút, thỉnh thoảng mẹ sẽ viết thư cho con. Con hãy cất vào đâu đó, trong hộp đàn cũng được, để không bị phát hiện nhé.
Mùng Một tháng Năm năm 1943
Mẹ”
Hannah đọc lá thư của mẹ trong tiếng nấc.
Mẹ quan tâm lo lắng đến em rất nhiều, nhưng bản thân mẹ hằng ngày phải đi lao động vất vả, không biết mẹ đã đói bụng đến mức nào. Trời lạnh giá đến thế, thể trạng mẹ không tốt chắc khổ cực lắm. Giờ đây em có lo lắng cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa rồi, dẫu vậy hình ảnh mẹ gầy gò sáng hôm nay vẫn cứ in sâu trong lòng em không rời ra được.
“Cha mẹ con thật dịu dàng.”
Những lời Klaus thì thầm bên tai gợi về trong Hannah những kỉ niệm của em với mẹ từ những ngày xưa cũ.
Hồi còn ở nhà Klaus, em chẳng nghĩ gì tới mẹ mà cứ nhận phần bánh mì mẹ đưa. Mẹ vẫn hay kể chuyện bên gối của em và Andrew cho tới lúc hai đứa ngủ. Nụ cười của mẹ, người mẹ luôn tươi cười của em chẳng còn ở bất cứ đâu trên cõi đời này. Bố cũng không còn ở đây nữa.
Hannah nắm chặt bức thư của mẹ trong tay, một lần nữa em lại khóc nức nở rất to, nước mắt nước mũi đầm đìa thấm ướt ngực áo của Klaus.
13.
Ngày hôm sau Arles vào phòng gọi Hannah.
“Hannah, tình thế cấp bách này sẽ còn kéo dài. Không phải tôi muốn bắt em cố quá sức, nhưng đừng nghĩ ngợi gì nữa mà hãy chỉ tìm tới thế giới âm nhạc thôi. Nhất định em sẽ làm được. Nào, đi thôi! Mọi người vẫn đang đợi em. Mọi người cần em, để tất cả chúng ta được sống. Em sẽ sống, sống thay cả phần gia đình mình nữa!”
Hannah vẫn nằm phủ phục trên giường không động đậy. Arles kéo cánh tay trái của Hannah nhưng em gạt bàn tay ấy đi. Arles tóm lấy vai Hannah lật em nằm ngửa ra rồi ngay sau đó đưa tay tát vào má phải của cô bé.
“Thôi làm nũng đi! Chẳng phải chỉ mình em đâu. Rosa, Edyth và cả Mary ốm yếu nữa, tất cả đều đã mất hết gia đình rồi. Tôi rất hiểu tâm trạng em lúc này. Tôi hiểu cảm giác không muốn tập, cảm giác không muốn chơi đàn… Nhưng, chúng ta được sống nhờ vào âm nhạc. Những người đã chết, họ đã muốn sống đến thế nào… Không, những người đi lao động hằng ngày, họ khổ cực tới mức sống trong suy nghĩ thà rằng chết đi còn hơn. Làm gì có chuyện em không hiểu được những điều đó đúng không? Nào, chơi đàn đi! Hãy chơi đàn để dù chỉ còn một mình vẫn có thể sống, có thể mạnh khoẻ mà trở về.”
Arles cầm lấy cây đàn violin đặt cạnh giường Hannah, gảy dây Rê để chỉnh âm. Thấy lạ, cô thử kéo lại dây Rê một lần nữa, rồi sau đó kéo cả dây Rê và dây Mi.
“Hannah, đàn của em, hình như âm hơi trùng lên nhau, cứ như là tạo ra vọng âm ấy. Tiếng đàn khác hẳn với hôm qua. Lạ quá…”
Hannah giật mình như nghĩ ra điều gì đó rồi ngồi bật dậy.
“Hôm qua, em nhét lá thư kỉ vật của mẹ vào thùng đàn qua khe chữ S. Nhưng sau đó lại thấy nếu bức thư cứ lạo xạo trong thùng đàn suốt cũng không ổn nên em nghĩ là phải lấy nó ra, lúc em dùng lòng bàn tay vỗ vào chỗ tì cằm thì nó bị mắc ở trong, không di chuyển gì thêm. Có lẽ bức thư mắc tít ở sâu bên trong nên em chẳng nhìn thấy nó nữa… Chắc do bức thư nên đàn mới như vậy.”
Arles mỉm cười.
“Vậy đúng như em nói rồi. Mảnh giấy bị gập lại mấy lần giống như một cột chống âm nên sẽ gây ra cộng hưởng một chút. Nhưng nhờ vậy mà giờ đây cây đàn này lại tạo ra những âm thanh tuyệt vời không cây đàn bình thường nào làm được.”
Nói rồi Arles chơi thử đoạn đầu bản “Ave Maria” của Schubert. So với lúc cây đàn phát ra những đơn âm trong trẻo, tiếng đàn giờ đây dày và có âm vực rộng hơn.
“Mẹ em đã hoá thành thanh âm và dõi theo em đấy.”
Nghe Arles nói vậy, Hannah mạnh mẽ gật đầu. Thế rồi, em ôm cây đàn vào lòng như thể đang ôm lấy mẹ, khe khẽ nở nụ cười.
Đúng lúc đó, cửa phòng Hannah vang lên tiếng gõ cửa.
“Cô Arles, Hannah, mau lên thôi, sắp muộn rồi.”
Người tới là Leo, anh chàng chơi cello. Có vẻ cậu lo lắng về tình hình của Hannah nên mới ghé qua phòng. Cậu cố làm giọng bình thản như thể không có chuyện gì xảy ra khi gọi hai cô trò.
Hannah và Arles nhìn nhau cười rồi cả hai lớn tiếng đồng thanh đáp.
“Vâng.”
Nghe thấy tiếng trả lời khoẻ khoắn của Hannah, Leo cảm thấy yên tâm.
Arles bước chậm lại để Leo và Hannah có thể đi sóng bước bên nhau. Dù đang ở trong hoàn cảnh như bây giờ nhưng bỗng nhiên Arles lại có cảm giác, hai người trẻ tuổi này thật xứng đôi. Cô nghĩ rằng nếu Leo trở thành chỗ dựa tinh thần cho Hannah khi cô bé đang hết sức đau buồn vì mất cha mẹ thì thật tốt.
Về phần Hannah, em không muốn bị Leo nhìn thấy gương mặt với đôi mắt sưng đỏ vì khóc nên cố tình đi lùi về sau, chậm hơn Leo tầm hai bước chân, nhưng Leo bất ngờ quay đầu về phía Hannah, vòng tay khoác vai em.
“Hannah, khóc nhiều quá, em sẽ biến thành con tắc kè hoa đấy.”
Cậu mỉm cười trêu Hannah.
“Anh Rochester, thật quá đáng.”
Hannah giấu mặt sau bụng đàn.
“Có trốn cũng muộn rồi, cô tắc kè hoa à. Cứ gọi anh là Leo là được rồi.”
Nghe Leo nói những lời đó, Hannah lại càng áp sát mặt vào sau thân đàn.
Và rồi, Hannah nhận ra làm thế này cũng vừa hay để chườm mát mi mắt sưng tấy và nóng ran của mình. Không biết vì sao cô bé thấy lòng mình yên ổn, bình tâm lạ thường. Kể từ đó, sau mỗi lần khóc, em lại áp phần bụng đàn lên mí mắt để làm nó dịu đi.
Khi đến phòng tập trung, vì mọi người đều vui mừng vây quanh Hannah, nên em cũng cố gắng hết khả năng để có thể mỉm cười đáp lại. Trong hoàn cảnh tồi tệ này, có những người bạn chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau chính là điều đáng quý không gì đánh đổi được đối với Hannah lúc ấy.
Klaus nháy mắt với Leo. Thấy thế, Arles gật đầu kiên định, cất cao giọng ra hiệu cho cả đội.
“Nào các bạn, từ hôm nay sẽ là xuất phát điểm của dàn nhạc Bizet và Klaus.”
14.
Trong sự che chở bao bọc của bạn bè, Hannah đắm chìm vào thế giới âm nhạc với vai trò là cánh tay phải của Arles Bizet.
Khi chìm vào thế giới âm nhạc, Hannah có thể tiếp nhận được hiện thực tàn khốc xảy ra ở ngoài kia, tất thảy đều giống như diễn biến của một bộ phim điện ảnh. Cả khi chơi nhạc tiễn hàng người đi lao động, em không còn để ý đến những con người đau đớn trong thân hình gầy guộc nữa mà dồn hết toàn bộ tâm trí chú ý tới việc mình chưa chơi tốt ở tiết tấu nào của bản nhạc thứ bao nhiêu. Trong môi trường khắc nghiệt này, tài năng của Hannah lại càng ngày càng được mài giũa.
Đến tối, khi chỉ còn lại một mình, Hannah cũng đánh giá lại những gì mình chơi, hoặc giúp Arles viết nhạc phổ, cố gắng để bản thân không nghĩ đến một điều gì khác. Thỉnh thoảng, Hannah còn được quân SS gọi đi biểu diễn cho một ngày đặc biệt nào đó thay cho Arles.
Đối với tù nhân, có mối liên hệ với lính SS đồng nghĩa với việc có cơ hội nhận được sự châm chước, kéo dài cuộc sống, nhưng với một cô bé mười bốn tuổi như Hannah, em vẫn sợ hãi vô cùng khi phải một mình tới chỗ đội Cận vệ. Suốt trên đường về từ buổi biểu diễn, em cứ suy nghĩ xem có cách nào tốt hơn không.
Rồi đến một ngày, em rụt rè hỏi một người lính SS.
“Nếu có thêm âm trầm thì phần biểu diễn của tôi sẽ hay hơn…”
“Ừm, quả đúng là như thế. Chơi cello thì… hoặc là Klaus hoặc là Rochester nhỉ. Được, lần sau cô có thể đi cùng họ.”
Hannah vui như mở cờ trong bụng.
Kể từ đó về sau, em luôn mong chờ có dịp được đi biểu diễn thay cho Arles. Nếu có người cùng đi thì việc biểu diễn không còn đáng ngại nữa. Em còn được hưởng đặc quyền của người biểu diễn, đó là được đãi một bữa ăn. Hơn nữa, nếu biểu diễn tốt em có thể chứng minh được sự cần thiết của dàn nhạc, điều đó khiến Hannah luôn cố gắng hết mình.
Không biết từ bao giờ, những âm sắc từ cây đàn violin của cô thiếu nữ với đôi mắt xanh và mái tóc vàng đã chinh phục được trái tim quân SS. Thậm chí đến tên ác quỷ Hans trước những bài biểu diễn của Hannah cũng kiềm chế lại bản tính hung ác, chẳng khác gì chú chó, chú mèo con.
“Gay thật, vẫn còn phải đưa gần một trăm người nữa từ phòng hơi ngạt tới lò thiêu nhưng giờ lò thiêu đã đầy quá rồi…”
Một ngày nọ, đám lính SS gặp rắc rối với việc xử lí một số lượng lớn xác người.
Nghe được lời này của đồng bọn, Hans nghĩ ra một cách xử lí thú vị mà hắn thấy nên đem ra áp dụng. Đối với hắn, đó là một sáng kiến tuyệt hảo tới mức khiến hắn cảm giác bản thân đúng là một thiên tài mới có thể nghĩ ra chuyện đó.
“Vậy là hôm nay còn khoảng một trăm người phải không, cứ giao cho tao đi!”
“Nếu là mày thì chắc chắn chẳng phải chuyện gì hay ho rồi.”
“Ở cái Trại tập trung này, hay với dở thì có gì khác nhau?”
“Dù chúng ta có được Chúa Trời ủng hộ thì cái gì cũng có giới hạn của nó, Hans à. Bọn này cũng đã phải vài lần im lặng trước những hành động mất nhân tính của mày rồi. Mày sẽ phải xuống địa ngục đấy, Hans.”
“Mày nói gì thế? Tao phải xuống địa ngục thì mày cũng vậy thôi. Mày giết người một cách nhân đạo hả? Ở nơi này thì cần gì biết giết người nhân đạo hay vô nhân đạo chứ. Nếu không làm những chuyện đó thêm thú vị, thì ngày qua ngày mày chỉ là một con rô-bốt trong băng chuyền giết người này thôi.”
Hans lâng lâng trong ý tưởng của mình, hắn bắt một nhóm tù nhân ở trần đào một cái rãnh dài và sâu hoắm.
Sau đó, hắn bắt những người vừa đào rãnh đứng xếp thành một hàng, đứng quay lưng về phía cái rãnh đó. Tiếp theo hắn sắp xếp phân chia vị trí cho một vài tên lính SS, rồi chẳng để ai kịp lên tiếng, chúng lần lượt nổ súng. Tiếng súng vang lên, những thân hình trần truồng như những hình nhân ma-nơ-canh liên tiếp đổ xuống hố, cả trăm mạng người trong phút chốc đã hoá thành phân bón cho đất.
Đám lính SS khác đã lặng lẽ bỏ đi, nhưng Hans vốn rất giỏi bắn tốc độ cao nên hắn còn vui vẻ huýt sáo giai điệu bản “Ave Maria” với nhịp điệu nhanh, vừa nhún nhảy vừa đưa súng bắn vào giữa trán những nạn nhân của hắn.
Chứng kiến quang cảnh ấy, thậm chí đến đồng bọn cũng nghĩ hắn giống hệt như ác quỷ. Trong số những tù nhân đứng xếp hàng ở đó, dĩ nhiên có cả trẻ con, bị đẩy vào tình huống không nỡ nổ súng ấy, nhiều lính SS còn phải nhìn sang hướng khác, nhưng Hans thì không, hắn chỉ thản nhiên trình diễn tay nghề bắn súng điêu luyện của mình, không hề gặp khó khăn ngay cả khi chiều cao mục tiêu thay đổi trồi lên thụt xuống.
“A ha ha ha. Lũ Do Thái dơ bẩn.”
“Hans. Mày có thể dừng huýt sáo bản ‘Ave Maria’ đi không. Giống như đang báng bổ Thiên Chúa ấy.”
“Thiên Chúa vĩ đại, hay là ta vĩ đại… Tất cả đều thán phục trước đôi tay điệu nghệ này.”
“Tao hiểu rồi. Dù gì cũng xin mày chừa ‘Ave Maria’ ra.”
Chưa hết, ở gần đó, hắn còn lập ra một đội, bắt họ vận chuyển gạch đến địa điểm cách năm trăm mét, sau khi chuyển xong lại bắt họ bê về đúng vị trí ban đầu. Cũng có lúc buổi sáng hắn bắt người ta đào một cái hố, đến chiều lại bắt họ lấp cái hố vừa đào ấy đi. Suốt một ngày trời, hắn bắt những người tù nhân thực hiện đi thực hiện lại những hành động giống nhau vô nghĩa, khiến cho các tù nhân lần lượt phát điên. Đến lúc đó Hans sẽ ra lệnh cho những người đã mất trí ấy.
“Nhảy vào hàng rào dây thép gai kia đi!”
Những người tù nhân hét lên, chạy bổ về phía lưới điện không ngần ngại và bị điện giật chết.
Những ý tưởng này của Hans đều bắt nguồn từ gợi ý của những y sĩ trong Trại, nói là để khảo sát tâm lí con người khi làm đi làm lại những hành động đơn giản và vô nghĩa. Tuy nhiên đối với Hans mà nói, đây là trò hết sức thú vị.
Tối hôm đó, hành động của Hans khiến đám lính trong nhóm quân SS cảm thấy tâm trạng trở nên tồi tệ, họ yêu cầu Hannah và Leo chơi bản “Ave Maria” gần bàn rượu. Không biết từ bao giờ, cặp đôi Hannah và Leo rất hay được gọi tới các buổi biểu diễn đặc biệt cho sĩ quan và lính tráng SS canh giữ Trại tập trung.
“Ave Maria” bị cấm biểu diễn ở bên ngoài, nhưng lính SS lại luôn muốn nghe bản nhạc này. Những con quỷ đội lốt người không máu không nước mắt, chỉ có lúc nghe bản nhạc này là trở nên trầm mặc, thậm chí có kẻ mắt bỗng rưng rưng.
Đến cả Hans khi đứng trước âm nhạc cũng chỉ là một con người. Hắn nhắm mắt, cất giọng nói nhẹ nhàng như thể được gói trọn trong một chiếc chăn êm.
“Bản ‘Ave Maria’ cô chơi tại sao lại khác biệt như thế…?”
Một tên đồng nghiệp của hắn nói với đôi mắt đỏ hoe.
“Vì bản nhạc này đang rửa trôi tội ác tày trời của chúng ta. Đặc biệt là ngươi đó, Hans!”
“Ờ… có lẽ là vậy đó…”
Những tưởng Hans sẽ nhảy dựng lên điên cuồng trước lời mỉa mai của tên cận vệ kia, nhưng không, có một con người thành thật khác của hắn đang ở đó. Hannah hết sức bất ngờ trước những lời nói ấy.
Họ nghĩ điều gì là tội lỗi? Có phải họ chẳng hề thích thú khi ngược đãi người Do Thái hay không? Nếu nghĩ đó là tội ác, tại sao họ vẫn gây nên chúng? Hannah muốn thốt lên vô vàn câu hỏi.
Từ ngày hôm ấy, Hannah cảm thấy dường như mình đã nhìn ra một nỗi đau chung với những người Đức đang làm vai trò giám sát chính em và mọi người.
Trên đường biểu diễn về, Hannah và Leo đã nói chuyện về việc này.
“Được đi biểu diễn với em trong những dịp thế này anh mới hiểu ra một vài điều. Có vẻ như bọn họ cần âm nhạc đến mức gần như khao khát. Ban đầu anh nghĩ đó là do bản tính dân tộc. Nhưng lí do có lẽ không chỉ có thế. Nói thế nào nhỉ? Giả sử trong bọn họ vẫn còn lại chút nhân tính, thì anh nghĩ rằng phải chăng họ cần đến âm nhạc để níu giữ lại chút nhân tính ấy? Em có hiểu những gì anh muốn nói không, Hannah?”
Hannah gật đầu đáp lại.
“Đó là khoảnh khắc họ chìm trong nỗi đau đớn, giống như người sói không muốn hoá sói vào đêm trăng tròn và khao khát níu kéo phần trái tim con người đang dần dần biến mất.”
“Phải, đúng là thế đấy! Họ không hoàn toàn là quái vật, phải chăng tư tưởng chính trị đã biến con người thành người sói? Ra là vậy… Hannah, em cũng cảm nhận được điều này.”
Hannah vừa nói chuyện với Leo vừa nhớ lại, vẫn có những người Đức tốt giống như vợ chồng Klaus, và cả những người lính SS khi nghe âm nhạc của em cũng trở nên hiền lành, tặng thưởng em nhiều thứ. Nghĩ đến đó, em bỗng băn khoăn không hiểu liệu rằng căm hận người Đức cho tới hết cuộc đời mình có phải là điều đúng đắn hay không.
Leo và Hannah nói chuyện về rất nhiều điều, về trường học, về bạn bè, về những gì cả hai cảm nhận lúc này và dần dà họ trở thành một phần không thể thiếu của nhau.
Đối với Hannah, nếu không có Leo, và đối với Leo, nếu không có Hannah, mỗi người đều sẽ chẳng tìm được sức mạnh để sống sót trong Trại tập trung đầy rẫy đau khổ này.