CÂY VĨ CẦM AVE MARIA

Lượt đọc: 887 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Khúc trung gian
người dân cõi tiên bồng 1.

“Các bạn có biết trên đời này có ‘người dân cõi tiên bồng’ không?”

Một buổi tối, Klaus ngồi kể chuyện với toàn bộ dàn nhạc.

“Cõi tiên bồng ạ?”

Hannah bất giác hỏi lại vì mới lần đầu tiên nghe thấy hai chữ tiên bồng.

“Đúng thế, người dân cõi tiên bồng. Tiên bồng là một từ trong tôn giáo của người Ấn Độ cổ xưa, mang ý nghĩa là ‘thế giới ở trên trời’. Trong những nghiên cứu về việc xây dựng đất nước mới, một nhà thơ người Mỹ tên Whitman* đã dùng từ này để gọi người Nhật, bắt nguồn từ dáng vẻ lễ độ và đường hoàng của một nhóm người Nhật với trang phục Samurai trong lần đầu tiên họ tới New York.”

Chu thich: Tên đầy đủ là Walter “Walt” Whitman (1819-1892), nhà thơ, nhà báo người Mỹ, tác giả tập thơ “Lá cỏ” nổi tiếng thế giới.

“Klaus, chuyện này có thật à? Họ thật sự tồn tại trên đời sao?”

Arles vươn người ra trước hỏi.

Toàn bộ ba mươi tư thành viên dàn nhạc lạch cạch kéo ghế lại gần quây quần xung quanh Klaus. Uống chút rượu whisky thó được từ chỗ quân SS xong, Klaus hay chuyện hơn hẳn bình thường.

“Hồi đó là thời kì Chiến tranh thế giới thứ Nhất, trước khi tôi lấy vợ. Tính ra cũng khoảng ba mươi năm trước rồi. Tôi phục vụ cho quân đội Đức, đóng quân ở Thanh Đảo, Trung Qụốc, lúc đó là cứ điểm quân sự của Đức. Vào tháng chín năm 1919, chúng tôi bị quân Nhật bao vây rồi bị bắt đưa đến Trại tập trung Bando, Naruto ở vùng Tokushima Nhật Bản với tư cách tù binh quân đội Đức. Hiện nay Nhật và Đức là hai nước đồng minh, nhưng hồi đó lại đối địch nhau. Tính đến năm 1920, có khoảng một nghìn quân nhân người Đức bị bắt làm tù binh ở Bando.”

Nghe đến mấy tiếng “Trại tập trung”, ai nấy đều nhăn mặt. Lần đầu tiên mọi người nghe chuyện trước đây Klaus cũng đã từng ở trong một trại tập trung. Nơi đó lại là trại tập trung của một nước đối địch thì có lẽ chẳng khác gì cuộc sống nô lệ. Tất cả sợ hãi không dám nghĩ liệu Klaus đã phải chịu những tra tấn khủng khiếp tới mức nào.

“Vậy là, trước đây thầy Klaus cũng từng ở trong một trại tập trung ạ?”

Klaus hơi mỉm cười và nói.

“Đúng rồi, tôi là người đi trước đấy nhé.”

“Không biết Nhật Bản ở đâu nhỉ?”

Arles tò mò hỏi.

“Nhật Bản là một nước châu Á nằm phía Đông Trung Quốc, phía Đông tiếp giáp với đại dương rộng lớn gọi là Thái Bình Dương, đi xa hơn nữa là lục địa châu Mỹ.”

Klaus cầm một cành cây gãy, vạch bản đồ lên nền đất của phòng âm nhạc. Rosa nghiêng đầu nhìn vào tấm bản đồ.

“Vậy Đức nằm ở đâu ạ?”

Klaus vẽ thêm phần phía Tây địa cầu, dùng đầu nhọn của cành cây chỉ vào vị trí của Đức.

“Ở chỗ này.”

Tất cả mọi người đều kêu ồ lên vì bất ngờ trước một nước Nhật quá đỗi xa xôi.

“Vậy là, anh đã từng sống ở một nơi ngoài nước Đức.”

“Đúng thế.”

Klaus lại đổ thêm whisky vào cốc.

Arles rất tò mò muốn biết câu chuyện về sau. Không chỉ riêng Arles mà toàn bộ những thành viên dàn nhạc ở đó đều muốn nghe về cuộc sống của Klaus ở trại tập trung.

Auschwitz chẳng khác gì một địa ngục trần gian, vậy còn cuộc sống tù đày ở những trại tập trung khác thì sao, tất cả đều muốn biết.

“Rồi sao nữa, Klaus?”

“Ở Bando cũng giống như ở đây, cũng có rất nhiều khu trại được dựng. Điều khác biệt lớn nhất là ở đó không có phòng hơi ngạt và giàn thiêu. Nhớ quá…”

2.

Ánh mặt trời chói chang chiếu thẳng vào mặt tôi không chút nhân nhượng.

Xung quanh khu Trại tập trung với những dãy nhà gỗ là binh lính Nhật đứng bao vây trang bị súng đến tận răng, tôi cảm giác rằng chúng tôi sẽ không thể nào chạy trốn khỏi nơi này được. Trên đất Nhật nơi tôi lần đầu đặt chân đến, ánh sáng mặt trời phản chiếu khó chịu hơn tôi tưởng tượng, cơ thể đổ mồ hôi ướt đầm đìa, nhưng trong sự căng thẳng cao độ, kì lạ thay tôi không còn cảm nhận nổi cái nóng.

Khi nhìn thấy cổng vào Trại tập trung, lần đầu tiên tôi cảm nhận được cái nóng và ngẩng lên nhìn về phía mặt trời. Bất chợt tôi cảm giác có mùi thuỷ triều tràn vào trong khoang mũi.

Vậy là tôi đã đặt chân tới một miền đất chưa biết đến văn minh, nơi sinh sống của tộc người man rợ.

Lúc đó tôi mới chỉ sống trên đời này mười tám năm ngắn ngủi.

Dù mang theo súng bên mình, tôi chưa từng giết một ai. Những kẻ man rợ tò mò nhòm qua khe hở giữa những tên lính Nhật nhìn về phía chúng tôi, đến cả ánh mặt trời chói chang cũng xuyên xuống người tôi không thương tiếc…

Hai đầu gối tôi đột nhiên mềm nhũn, tôi cứ thế đổ ập người về phía trước.

Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang bị hai tên lính Nhật xốc hai cánh tay và kéo lê đi. Nghe loáng thoáng những tiếng xì xào của đám người từ phía xa, tôi cứ để mình chìm trong ảo giác, còn mạng sống có ra sao cũng mặc.

Được một lúc, đột nhiên có ai đó dùng chân đá hất ngửa tôi lên. Cùng lúc đó, tôi bị một làn nước lạnh xối thẳng vào mặt.

Ý thức đã trôi xa của tôi bị kéo lại khiến tôi bừng tỉnh.

Tôi giật mình và lắc mạnh đầu một cái, nghe thấy tiếng ném xô và tiếng bọn lính Nhật cười ha hả. Thông thường người ta có quyền nổi giận nếu bị cười chế giễu, nhưng tôi lúc đó vẫn còn nhỏ tuổi, ngỡ ngàng không biết phải tỏ thái độ thế nào.

“Làm cái gì thế?”

Đúng lúc đó, một người lính Nhật lớn tiếng quát.

Hội lính Nhật đang cười trêu tôi đột nhiên tái mặt và im thin thít, dường như tất cả đều biết người đàn ông kia. Giọng ông không phải kiểu phê bình quát tháo một tù binh là tôi, mà đúng hơn là đang dạy dỗ chấn chỉnh những hành động hèn kém của đám lính.

Người đàn ông vừa nạt đám lính Nhật tiến gần tới chỗ tôi, ông ta đưa tay trái áp vào lưng và dựng tôi dậy. Trên ngực ông gắn rất nhiều huy chương, quanh miệng ông là một bộ râu đen vĩ đại.

Một quân nhân rất oai phong.

Dường như lo lắng cho tôi, ông ta tự tay cho tôi uống nước, luồn hai cánh tay xuống nách tôi và xốc người tôi lên. Tuy tôi không hiểu ngôn ngữ của một quốc gia khác, nhưng trực giác mách bảo tôi rằng ông ta đang bảo tôi đứng dậy.

Mượn tạm cánh tay của người đàn ông, tôi lảo đảo đứng dậy được, lúc đó, ông ta liền mỉm cười.

Trong phút chốc tôi tưởng ông ta chế nhạo mình, nhưng tôi không nhìn ra nét nào trên gương mặt ông đang tỏ vẻ coi thường người khác. Quân nhân của đất nước nào lại có thể mỉm cười với tù binh của nước đối địch cơ chứ…? Tôi hoàn toàn không hiểu nổi hành động của ông ta.

Sau đó tôi bị đưa ra chỗ tập trung trước cổng Trại Bando, toàn bộ lính Đức bị bắt làm tù binh đều đã xếp thành hàng ở đó.

Những cậu lính trẻ đội mũ thuỷ thủ, lục quân, hải quân, sĩ quan, binh nhì, rồi cả quân tình nguyện dân quân, đủ kiểu lính tráng đứng lẫn lộn với nhau. Quần áo cũng đa dạng nào trắng, nào kaki, rồi đến xanh nước biển hoặc màu rêu.

Người lính để râu vừa nãy đứng trước mặt chúng tôi, sau đó nghiêm trang giơ tay chào.

Ông ta chào chúng tôi xong, vài người lính Nhật đang đứng xếp một hàng phía trước cũng đưa tay lên chào theo. Giống như nụ cười ban nãy, đây là lần đầu tiên tôi thấy có người chào kẻ địch như vậy.

Không hiểu những người này đang định làm gì…

Người lính để râu bắt đầu phát biểu.

Nhìn tình hình này, có lẽ ông ta chính là Trại trưởng, người có quyền lớn nhất ở đây. Không chỉ lính Đức, mà những người quản lí Trại và cả những người dân tụ tập xung quanh vì tò mò đều lắng nghe ông ta nói.

“Họ chiến đấu vì Tổ quốc, rồi gãy kiếm, cạn tên mà trở thành tù binh, chúng ta ắt hiểu tình thế này đều tương tự với cả hai bên. Người dân cũng phải chú ý, không nên vô cớ mà nhìn họ chằm chằm, rồi tỏ thái độ chế giễu khiến những người ngoại quốc này cảm thấy khó chịu.”

Những lời này được Đại uý Takagi biết tiếng Đức dịch song song nên lính Đức cũng có thể hiểu được.

Toàn bộ lính Đức ở đây đều bất ngờ, mọi người ngơ ngác nhìn nhau. Tôi cũng tưởng tai mình nghe nhầm, bất giác đưa tay gõ vào cái đầu đang ngơ ngẩn.

Đối với tù binh mà ông ta bảo là “không được khiến họ cảm thấy khó chịu”…?

Thấy vẻ ngỡ ngàng của chúng tôi, ông Trại trưởng với bộ râu rậm lại nở một nụ cười. Dù quan sát ông ta chăm chú trong sự hoài nghi, tôi vẫn không thể tìm được một nét tà ác nào trong nụ cười ấy.

Ở phía bên ngoài hàng rào thép, những người dân man rợ mặc thứ áo quần kì lạ gọi là kimono đang đứng nhìn vào, nhưng khi bài phát biểu của Trại trưởng kết thúc thì họ lũ lượt kéo nhau rời đi.

Sau khi điểm danh, chúng tôi được đưa sang một phòng khác, ở đây quân y tiến hành kiểm tra sức khoẻ hết sức nhanh chóng. Hình như tôi không có vấn đề gì, nhưng thấy tôi gầy guộc tong teo quá nên người y sĩ khám cho tôi quay sang nói gì đó với người lính đứng bên cạnh.

Kiểm tra sức khoẻ xong là đến giờ ăn. Họ bày ra trước mặt chúng tôi cơm, xương gà ninh với rau củ, chỗ thịt gà còn lại được xào với khoai. Tôi đã hoang mang không biết ở một đất nước man rợ và mông muội, người ta sẽ cho mình ăn gì nên hoàn toàn bất ngờ bởi đồ ăn thức uống họ đưa ra tuy đơn giản nhưng vẫn rất đàng hoàng.

Sau khi ăn xong, khoảng vài chục người lính có thân hình gầy gò trong đó có cả tôi được phát thêm một nửa củ khoai đỏ. Củ khoai màu đỏ của vùng Naruto có vị ngon ngọt rất riêng mà trước giờ tôi chưa từng nếm.

Một lúc sau, chúng tôi được phân công làm khá nhiều việc.

Đầu tiên là dùng cuốc xới đất, sau đó chúng tôi được ra lệnh cho cát lên trên, tiếp theo đó là đóng bốn cái cọc gỗ sâu xuống đất.

Lúc đó tôi đã chuẩn bị tâm lí rằng mình đang dựng pháp trường cho chính mình, nhưng hoá ra đó là xà tập thể dục cho tù nhân chúng tôi.

Khẩu hiệu ở đây là “Tinh thần khoẻ mạnh ngụ trong cơ thể khoẻ mạnh”. Ngày đầu tiên đến Trại tập trung đã toàn xảy ra những chuyện khiến tôi không tin nổi vào tai mình.

3.

Từ đó, chúng tôi vỡ ruộng ở vùng thung lũng phía sâu trong Trại tập trung, trồng rau và khoai, chăn lợn, bò, gà. Ban đầu tôi chỉ nghĩ mình được giao việc trông coi chăm sóc, sau này khi biết mọi thứ đều nhằm mục đích giúp bọn tôi có thể tự chủ cuộc sống của mình, tôi không tìm nổi từ nào diễn tả được cảm giác vui mừng đó.

Khi lúa mì tới kì thu hoạch, chúng tôi xay hạt thành bột, cho vào túi rồi khuân tới xưởng bánh mì do chính mình dựng nên. Sau đó có một vài người lính Đức sẽ nướng bánh. Mùi hương đó thật đặc biệt, khiến chúng tôi cảm thấy bồi hồi.

Rau thịt và bánh mì chúng tôi tự làm ra đều được bày lên bàn ăn. Thực phẩm đơn sơ là thế nhưng vẫn quá thịnh soạn, đến mức không thể nghĩ rằng đó là bữa ăn trong Trại tập trung, đã vậy sự cân bằng dinh dưỡng trong ăn uống cũng luôn luôn được tính đến. Việc ăn những sản phẩm do chính tay mình làm ra giúp chúng tôi nhớ lại cảm xúc đơn thuần, đó là biết ơn Chúa Trời đã ban ơn và cho chúng tôi một thiên nhiên trù phú.

Đến một ngày, chúng tôi phát hiện có hai đứa trẻ bản địa bị mùi bánh mì dẫn tới đang thập thò ngó vào từ phía ngoài tấm lưới sắt. Anh thợ làm bánh David dừng tay, bẻ đôi cái bánh mì mới nướng định đưa cho hai đứa bé.

David mà tôi biết là một người lúc nào gương mặt cũng cau có cáu kỉnh, nhìn chẳng có mấy thiện cảm.

Không biết là lũ trẻ thấy David khó gần hay chỉ đơn giản sợ người ngoại quốc, chúng cứ giật lùi về sau, nhưng rồi, nhìn chiếc bánh mì mới nướng nóng hổi đang được đưa ra khỏi tấm lưới, chúng lại dè dặt tiến lại gần.

Hai đứa hết nhìn bánh lại nhìn mặt David.

Dù có vẻ thích cái bánh mì nhưng trước gương mặt không biến sắc của David, chuyện đưa tay ra cầm bánh dường như thật khó khăn.

Vẫn với gương mặt đáng sợ không thay đổi, David dúi một mẩu bánh vào bàn tay bé nhỏ của hai đứa trẻ, rồi anh đưa tay lên miệng mình, lặp đi lặp lại động tác ấy như muốn ra hiệu cho chúng “Ăn đi”. Bọn trẻ cuối cùng cũng chịu thua trước cám dỗ của bánh mì, chúng cắn vào miếng bánh nóng hổi tưởng như có thể rơi khỏi tay bất cứ lúc nào. Chúng ăn một miếng, mắt tròn xoe ngạc nhiên bởi vị ngọt nhè nhẹ và sự mềm mại bông xốp không sao tả nổi, chẳng mấy chốc chúng đã đánh chén sạch chỗ bánh được cho.

Lũ trẻ cúi gập đầu chào David rồi vừa cười đùa vừa chạy đi. David dõi theo bọn trẻ qua tấm lưới một lúc, ánh trời chiếu rực đỏ chiếu sáng khuôn mặt nhìn nghiêng của anh. Môi anh bặm lại, khoé miệng hướng xuống khiến mặt anh trông vẫn khó đăm đăm như thường lệ. Nhưng trong mắt tôi, David có vẻ đang rất vui.

Chẳng bao lâu sau, nhờ sự sắp xếp của Trại trưởng, bánh mì của David bắt đầu được bán cho người dân bản địa.

Không chỉ bánh mì, toàn bộ số tiến doanh thu từ sản phẩm chăn nuôi, nông sản và cả lớp học nhạc được chia ra, ba mươi phần trăm nộp vào phí vận hành Trại tập trung, hai mươi phần trăm đóng góp cho Quỹ bảo hiểm sức khoẻ, nửa còn lại lính Đức được tự do sử dụng.

Vào thời đó, Nhật chưa có chế độ bảo hiểm sức khoẻ mà chỉ có ở Bando.

Nhờ vào chế độ này, mỗi khi có ai ốm đau đều có thể an tâm tiếp nhận các biện pháp chữa trị tốt mà không mất tiền.

Bánh mì của David bán chạy như tôm tươi, mỗi khi đến lúc nướng bánh, người dân trong vùng lại đứng xếp thành hàng dài trước cổng. Chúng tôi thì lấy giấy cuộn bánh mì, đưa bánh cho mọi người và nhận tiền, cứ như nhân viên trong cửa hàng vậy.

Họ thiếu cảnh giác tới mức chỉ có một người lính Nhật đứng canh chừng. Chưa kể, anh ta chỉ đứng im nhìn mọi việc nên thực ra có ở đó mà cũng như không. Nhờ bánh mì bán chạy nên chúng tôi còn được phép mở cửa hàng phía bên ngoài, tuy cũng chỉ là ở ngay trước cổng Trại thôi.

Một ngày, có hai thanh niên đến quầy hàng mua bánh mì đã bắt chuyện với mấy anh lính Đức đứng ở đó cùng một vẻ mặt đầy quyết tâm. Tôi quan sát cảnh ấy từ xa, lát sau, một người lính khác tới, hai thanh niên cùng đi với người lính vào phòng Trại trưởng. Sau đó đến lượt David cũng được gọi vào.

Trong câu chuyện sau này tôi được nghe kể lại, hai người thanh niên đó muốn theo nghề làm bánh mì, cuối cùng họ được nhận làm học trò của David và bắt đầu làm việc cho tiệm bánh.

Đây cũng là dấu mốc khởi đầu cho mối quan hệ giao lưu giữa người Nhật và người Đức chúng tôi, khi cả hai phía chung lòng làm một điều gì đó.

Mặc dù lúc đầu khi tiếp xúc với nhau cả hai bên còn nhiều điều lúng túng, nhưng David kiên trì dùng ngôn ngữ cơ thể, động tác chân tay, dạy đi dạy lại cách nhào bột và ủ bột cho hai cậu học trò.

Hai anh chàng người Nhật trẻ tuổi lại rất nghiêm túc nên cái gì cũng nhớ được ngay, dần dần họ còn thông thạo cả tiếng Đức, và David cũng học được tiếng Nhật từ hai học trò của mình.

David luôn mang gương mặt đăm chiêu và khó tính của một nghệ nhân lành nghề. Ban đầu có lẽ vì quan tâm đến tâm trạng của học trò, anh hay nở nụ cười gượng gạo, nhưng rồi trong quá trình cùng làm việc với hai cậu thanh niên, dần dần anh đã cười được một cách tự nhiên. Anh trở thành một David tươi vui với đôi mắt sáng và tiếng cười nồng ấm.

4.

Tôi học nhạc từ khi còn nhỏ, các bài học thường ở trình độ cao vì mục tiêu tôi hướng tới là trở thành nhạc công chơi cello hàng đầu. Vậy nên đối với tôi, trong âm nhạc thắng thua là tất cả, xét cho cùng nó chỉ là một công cụ để tìm đến chiến thắng mà thôi. Đương nhiên vì những suy nghĩ như thế nên tôi chẳng có mấy kỉ niệm đẹp đẽ, thậm chí nếu lảng tránh âm nhạc được thì tôi muốn lảng tránh nó suốt đời.

Tuy nhiên, khi dàn nhạc được thành lập trong Trại tập trung, tôi được thu nạp như một lẽ đương nhiên. Nhưng lúc đó chẳng có cello. Dĩ nhiên ở một nước cực Đông như Nhật Bản, chẳng dễ gì kiếm được nhạc cụ phương Tây nên chúng tôi quyết định tự làm. Chúng tôi đẽo gọt gỗ, kéo dây đàn, thử mở đại khái một cái lỗ hình chữ S. Thế rồi kì lạ thay, cây đàn cũng phát ra được những âm thanh có âm vực gần với một chiếc cello. Đúng là một phát kiến thú vị.

Trong lúc luyện tập, được sự cho phép của Trại trưởng Matsue, một cây đàn piano, một cây đàn organ rồi đến cello, violin, viola, trumpet mỗi loại vài chiếc được nhập về qua cảng Kobe.

Chúng tôi cảm thấy rất vui và biết ơn về việc này. Tôi và Engel nhanh chóng lo việc kiểm tra chỉ số kích cỡ của các cây đàn, tôi phụ trách đàn cello còn Engel phụ trách đàn violin, sau đó tiến hành chiêu mộ những người biết chơi nhạc dưới sự chỉ đạo của một nghệ nhân làm đàn violin tên Paul, rồi bắt tay ngay vào việc chế tác nhạc cụ, mô phỏng theo những gì mà chúng tôi có.

Chưa biết âm thanh thế nào nhưng trước mắt chúng tôi đã có thể tạo ra nhiều nhạc cụ.

Trong số đó, Paul đã tranh thủ những lúc có nhiều thời gian để chăm chút tỉ mỉ tạo ra một cây đàn violin hạng nhất, gửi gắm vào nó mong ước mang hoà bình của Bando đến với mọi nơi trên toàn thế giới.

Dù không có được những dụng cụ đảm bảo thì anh vẫn còn đó tay nghề của mình. Tuy nhiên, đến giai đoạn hoàn thiện cây đàn, Paul không thể kiếm được loại véc-ni tốt.

Với đàn violin, véc-ni là thứ ảnh hưởng lớn đến âm thanh, nên không thể chọn bừa bất cứ loại véc-ni nào. Trong khi vẫn chưa kiếm được véc-ni loại tốt thì Paul lại mắc cúm Tây Ban Nha rồi qua đời ở Trại tập trung.

Trong lúc hấp hối, Paul đã gửi gắm lại cho tôi cây đàn violin làm di vật của mình. Sau khi được trả tự do, tôi mang theo cây đàn về Đức, gửi ở một xưởng đàn ở Stuttgart. Sau khi được mài giũa cẩn thận một lần nữa, người ta sơn cho cây đàn loại véc-ni Cremona hạng nhất, đến năm 1924 chiếc đàn được xuất xưởng với cái tên của Paul.

Có lẽ để kỉ niệm khoảng thời gian sống vui vẻ ở Bando mà Paul đã khắc lên chốt đàn những kí tự “D.B.L.” mang ý nghĩa “cuộc đời tuyệt vời”.

5.

“Tôi sẽ thành lập dàn nhạc giao hưởng Engel!”

Sau khi đã tập hợp đầy đủ nhạc cụ, dàn nhạc giao hưởng được thành lập theo lời kêu gọi của Engel, chúng tôi nhanh chóng đi vào luyện tập bản “Cá hồi”* của Schubert.

Chu thich: Tác phẩm nổi tiếng của Franz Schubert viết cho giọng đơn ca với đệm piano. Nhưng về sau, do bài hát được yêu thích mà Schubert được yêu cầu viết thêm một tác phẩm thính phòng dựa trên bản nhạc này.

Ở vùng đất Bando có núi có sông, chúng tôi thân là tù binh chiến tranh nhưng vẫn có thể chơi nhạc…

Bản nhạc đầu tiên được chọn là giai điệu trùng khớp với tâm trạng phấn chấn ấy của chúng tôi.

Đồng đội của tôi là những người đầy sức sống như những chú cá hồi thực thụ. Nói thật, đó là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi biết rằng hoà chung tiếng đàn cùng với bạn bè lại vui đến thế. Đến tận lúc đó tôi mới thực sự tận hưởng âm nhạc từ trái tim và cảm thấy mình thật may mắn khi là một người chơi nhạc.

“Cá hồi” là một bản ngũ tấu với piano. Đặc biệt, chương bốn được biết đến rất rộng rãi và thường biểu diễn nhạc đi kèm với lời hát. Bảo là chúng tôi có dàn hợp xướng thì cũng có đấy, nhưng ban đầu, nhiệm vụ chơi độc tấu ở đoạn này được giao cho tôi.

Khi chúng tôi bắt đầu tập, rất nhiều trẻ con kéo tới, dường như chúng bị tiếng nhạc thu hút, đến mức ngày nào cũng bám ngoài hàng rào để xem chúng tôi luyện tập.

Khi chúng tôi tới gần, lũ trẻ liền chạy tán loạn như đám nhện con vỡ trận, vậy mà ngày nào chúng cũng tới xem. Dần dà có mấy đứa trong đám trẻ mang đến vài cái hộp đựng bánh có gắn thanh tre.

Có vẻ chúng đã tự làm ra những thứ từa tựa như cây đàn violin mà chúng trông thấy.

Bọn trẻ nhớ được giai điệu, vừa đồng thanh hát vừa len lén nhìn về phía chúng tôi. Một đứa trông mập mạp có vẻ như là đầu sỏ của cả lũ lúc nào cũng đóng vai chỉ huy, nhiếc móc những chỗ sai của dàn nhạc tí hon, vừa rung rung cái bụng phệ vừa xoay xoay cái gậy tre. Chúng tôi trông cảnh đó thấy thú vị vô cùng, di chuyển ra một vị trí khác để vừa luyện tập vừa có thể trông thấy lũ trẻ rõ hơn.

Cứ mãi như thế cho tới một ngày, Trại trưởng Matsue nhờ chúng tôi dạy nhạc cho lũ trẻ.

Tôi cũng bắt đầu dạy cello cho hai đứa nhóc. Do không có nhạc cụ nhỏ cho trẻ con nên chúng tôi phải bắt đầu từ việc nhìn cỡ người của chúng rồi cùng nhau đẽo cây làm đàn, đó là những kỉ niệm không thể nào quên đối với cả tôi và lũ trẻ.

Đến khi căng dây và cây đàn phát ra những âm thanh đầu tiên, chúng tôi lại cùng nhảy cẫng lên ăn mừng. Bọn trẻ cứ đến chỗ chúng tôi là không chịu về, cha mẹ chúng lo lắng, đi đi lại lại ở ngoài tấm lưới sắt, nhưng nghe nói Trại trưởng đã xua tan nỗi bất an của họ.

Ngoài ra, tôi còn giúp người chơi guitar Dahn ghép khung đàn và thân đàn. Đổi lại anh ta dạy tôi chơi guitar. Trong lớp học guitar của Dahn có đến năm học sinh.

Dahn nói với tôi.

“Đúng là, tôi nào có ngờ rằng đến lúc bị bắt làm tù binh lại được làm ra cây đàn guitar mà mình yêu thích, còn nhận cả học trò… Vận đời của con người mới thú vị làm sao.”

Tay chơi đàn violin nổi tiếng Engel ngồi bên nghe thấy thế mới xen vào.

“Tôi đồng cảm với cậu. So với tụi học sinh Đức đến học như một chuyện đương nhiên thì học sinh ở đây nhiệt tình hơn hẳn. Những học sinh được tôi dạy sẽ đóng vai trò trung tâm, mai này trở thành cội nguồn gây dựng nền âm nhạc phương Tây trên chính đất Nhật. Nghĩ tới đó là tôi lại thấy mình mang sứ mệnh lớn lao quá, người run lên vì phấn khích.”

Thỉnh thoảng Trại trưởng lại tới xem tình hình lớp học.

“Khà khà, cứ tôn trọng lẫn nhau thế này thì chẳng còn cần đến mấy cuộc chiến tranh vô nghĩa nữa, như vậy có phải tốt không…? Cậu Engel này, cậu nghĩ xem có cách nào phổ biến việc này rộng ra không nhỉ?”

Engel liền nói.

“Tôi có ý này. Chúng ta hãy tổ chức một buổi giao lưu văn hoá. May có Trại trưởng nên hoạt động âm nhạc mới được nở rộ, nhờ ông giúp đỡ tận tình mà chúng tôi còn có đủ nhạc cụ, lập được dàn nhạc Mandoline* Mondlicht, dàn nhạc giao hưởng Engel, dàn hợp xướng Janssen. Chúng tôi cũng muốn biết nhiều hơn về văn hoá truyền thống của Nhật.”

Chu thich: Dàn nhạc chơi các loại nhạc cụ dòng Mandoline gồm có Mandolin, Mandola, Mandocello, Mandobass, Mandolone.

“Ý tưởng hay lắm. Nếu mượn được sân đền chắc có thể tổ chức được một buổi như thế đấy.”

Xưởng in do tù nhân trong khu trại lập ra cử ba người phụ trách bắt đầu in tờ rơi hướng dẫn cho buổi biểu diễn đầu tiên của ngày hội văn hoá.

6.

Hôm diễn ra ngày hội, trời quang đãng không một gợn mây.

Trại trưởng Matsue bắt đầu bài diễn văn của mình.

“Thưa mọi người, hôm nay chúng tôi tổ chức lễ hội văn hoá được trông đợi suốt những ngày qua. Đã hơn nửa năm kể từ ngày chúng ta đón các người bạn Đức tới đây. Trong thời gian qua, chúng ta có cơ hội tiếp xúc với văn hoá của cả hai nước, cùng với việc có được những trải nghiệm quý báu, chúng ta đã cùng vun đắp tình bằng hữu dựa trên suy nghĩ tất cả cùng là con người. Tôi hi vọng hôm nay từng người chúng ta sẽ chia sẻ thời gian với nhiều người tại đây, nhờ vào việc giao lưu văn hoá biến nơi này trở thành nền móng cho hoà bình.”

Phát biểu của Trại trưởng truyền tới chúng tôi thông qua lời phiên dịch của Đại uý Takagi.

“Thật may là hôm nay thời tiết cũng rất ủng hộ. Dưới bầu trời xanh này, chúng ta hãy tự giải phóng mình khỏi những thứ quan niệm ngu ngốc về đồng minh hay kẻ địch, sao không cùng nhau xây dựng nền hoà bình? Trong phong tục ‘tiếp đãi’ của chúng ta, có một truyền thống tồn tại từ hơn một nghìn năm trước, nhắc chúng ta rằng tất cả những người đặt chân tới vùng Shikoku này, dù là người ta không quen biết, dù trái tim họ ngập tràn bất hạnh, kể cả đó là kẻ mang theo tội lỗi, thì chúng ta vẫn sẽ đón nhận họ vô điều kiện. Hãy cùng cho một tràng pháo tay để kỉ niệm ngày hôm nay, ngày mở màn thời đại chúng ta được hưởng thụ thành quả của cả một quãng thời gian dài nỗ lực ấy.”

Trại trưởng vừa nói xong, lính Đức dành một tràng vỗ tay cho người Nhật, người Nhật cũng dành một tràng vỗ tay cho lính Đức.

Những người dân địa phương gọi chúng tôi, bảo chúng tôi chơi bản “Cá hồi” của Schubert và những điệu Valse của Strauss. Bọn họ ngồi im, dường như bất ngờ và bị cuốn vào những âm sắc của âm nhạc Tây Âu lần đầu tiên nghe thấy.

Trong lúc biểu diễn tôi hơi lo lắng, bởi những bản nhạc chúng tôi chơi đều tươi vui nên họ không cần phải nghiêm trang đến thế làm gì… Nhưng đến khi màn diễn tấu kết thúc, một nhóm những cô đào hát đứng dậy, vừa vỗ tay, vừa luôn miệng tấm tắc khen “Âm thanh tuyệt quá!”. Người dân cũng cười tươi roi rói, vừa gật gù vừa bắt đầu vỗ tay vang dội. Trại trưởng tiến tới ngỏ ý muốn bắt tay Engel và từng người trong nhóm chúng tôi.

Tôi cảm thấy âm nhạc là thứ ngôn ngữ cộng đồng tuyệt đối giúp con người ta thấu hiểu lẫn nhau bằng tâm hồn, vượt qua biên giới hay những rào cản dân tộc.

Tôi đã từng biết bao lần muốn từ bỏ chiếc đàn cello của mình, vậy nhưng lúc này, từ tận đáy lòng, tôi thấy mình may mắn xiết bao khi được tạo ra âm nhạc.

Trên thế giới này có rất nhiều quốc gia, từ xưa tới nay cũng chẳng đếm hết số lượng những cuộc chiến sống còn nổ ra vì quyền lợi của đất nước. Điều đó đến nay vẫn đang tiếp diễn như một lẽ đương nhiên, và trong tương lai có lẽ vẫn sẽ lặp đi lặp lại. Thế nhưng, khi nhìn từ lịch sử của những cuộc chiến đó, thế giới chúng tôi đang ở lúc này giống như một điều kì diệu, và thực sự chúng tôi đã trải qua hiện thực kì diệu ấy.

Chí ít thì tất cả những tù binh Đức sống tại Bando như chúng tôi đều nghĩ rằng, phải chăng chúng ta có thể lan toả “Kì tích Bando” tới với toàn bộ thế giới, bằng việc thấu hiểu nền văn hoá của nhau, bằng tất cả lòng biết ơn đối với công cuộc dựng xây thành công một thế giới có thể xem là kì tích ở nơi này. Nhưng, nếu như tất cả cuộc sống ở đây chỉ nằm lại trong kí ức của chúng tôi, thì kì tích này cũng sẽ kết thúc trong vỏn vẹn một trang của lịch sử, hoặc có thể còn chịu số phận bị lãng quên và biến mất khỏi lịch sử mãi mãi.

Để cho chúng tôi thấy sự bình yên tồn tại ở chốn này, Chúa Trời đã cho chúng tôi được trải nghiệm cuộc sống nơi đây, nếu chúng tôi có thể đưa chúng vào thực tiễn dưới một hình thức nào đó thì có lẽ toàn bộ thế giới này sẽ trở thành mảnh đất bình yên vĩnh cửu. Ở Bando, tôi đã nhận ra âm nhạc thật sự có thể tồn tại với ý nghĩa gì, chẳng biết từ bao giờ tôi mong muốn có thể biến điều này thành con người mình và rồi đem nó ra thế giới.

Tôi từng ghét bỏ âm nhạc, nhưng giờ đây tôi luyện tập hằng ngày cùng bạn bè, giao lưu biểu diễn không biết bao nhiêu là bản nhạc. Tôi say sưa luyện tập cũng để thể hiện thế giới quan của mình. Gần đây, các dàn nhạc đã phát triển tới mức số thành viên mỗi nhóm lên đến khoảng sáu mươi người. Những người giỏi nấu nướng thì mở lớp học nấu ăn, các buổi giảng về khoa học kĩ thuật, lớp học tiếng Nhật, tiếng Đức cũng nở rộ. Bando là vùng đất của nước đối địch, nhưng từng cá nhân, với tư cách là một con người, đều có thể giữ được mối liên hệ sâu sắc giữa tâm hồn với thời gian. Trại tập trung chưa bao giờ ngớt tiếng cười, thậm chí người Đức chúng tôi còn thấy bản thân mình được sống một cuộc đời ý nghĩa hơn rất nhiều lần so với những ngày ở Đức.

Bọn họ không phải dân tộc man rợ.

Chúa Trời chỉ tạo ra một nơi duy nhất thế này trên trần gian thôi sao?

Đây là vùng đất thánh Jerusalem mà Chúa Trời mong muốn. Chúng tôi đã xây dựng một quê hương lí tưởng bé nhỏ ở Bando này. Tất cả mọi hoạt động ở đây đều đáng làm, tư chất của từng con người đều được phát triển đến mức cao nhất. Phải đến lúc này, tôi mới thấy tự hào về bản thân khi có âm nhạc trong tay và cảm thấy biết ơn cha mẹ.

7.

Cuối cùng Hiệp định đình chiến được kí kết, Đế quốc Đức sụp đổ, chẳng bao lâu sau chúng tôi hay tin mình sắp được trả tự do.

Tôi vui mừng, nhưng cùng lúc đó lại cảm thấy một nỗi buồn lớn lao. Trung sĩ Helman Hansen đề xuất chúng tôi chơi “Bản giao hưởng số chín” của Beethoven để cảm ơn người dân Bando. Lúc này, khi chúng tôi đã có thể chia sẻ tâm hồn mình cùng họ, bản nhạc biểu diễn cuối cùng chỉ có thể là “Bản giao hưởng số chín” mà thôi. Đương nhiên chúng tôi đều hết sức đồng tình.

“Khoan! Bản nhạc đó dành cho dàn hợp xướng quy mô lớn đấy. Nếu dàn hợp xướng chỉ toàn nam thì sẽ phải sửa lại hết toàn bộ âm vực từ bản gốc. Chúng ta có đủ thời gian không…”

Người lên tiếng là Janssen.

Đúng như anh ấy nói.

Chỉnh lại âm vực của toàn bộ nhạc khí là một việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Lại còn phải phân đoạn và điều chỉnh để hoà âm với dàn hợp xướng nữa kìa. Nhưng nếu lúc này không chơi “Bản giao hưởng số chín” ở nơi đây thì có lẽ mọi người sẽ mất cả đời để nuối tiếc. Vậy nên ai nấy cũng đều quyết tâm phải làm cho bằng được.

“Chịu thôi, chúng ta xem xét giọng của dàn hợp xướng Janssen trước nhé. Xem đoạn cao nhất ở âm vực nào, quyết được đoạn đó rồi thì chia nhau ra viết lại. Giờ không tranh thủ làm thì không còn thời gian đâu.”

Trung sĩ Helman nói với Janssen.

“Xem ra mọi người đều chung một suy nghĩ. Được, nếu đã quyết vậy rồi thì ta cứ phải làm thôi. Ban đầu là đoạn độc xướng của nam, rồi soprano* alto*, tenor*, giọng trầm hợp xướng cả nam lẫn nữ, bây giờ ta không có giọng nữ thì vấn đế nằm ở đoạn soprano… Đương nhiên chúng ta không có giọng castrato* giọng alto không thử thì cũng chưa biết được… Đúng là không đổi lại nhạc phổ thì khó thật.”

Chu thich: Giọng nữ có âm vực cao nhất trong các loại giọng.

Chu thich: Giọng nữ trầm.

Chu thich: Giọng nam cao.

Chu thich: Giọng nam cổ điển có độ cao tương đương giọng nữ cao (soprano) hoặc nữ trung (mezzo-soprano), được tạo ra bởi ca sĩ bị thiến trước tuổi dậy thì hoặc người không đạt được đến độ trưởng thành về giới tính do cơ địa.

Janssen nói với dàn hợp xướng.

“Phần biểu diễn cuối cùng của chúng ta ở Trại tập trung sẽ là ‘Bản giao hưởng số chín’. Mọi người hát thử cho tôi nghe từ chỗ bắt đầu vào đoạn hợp xướng nhé, từ trái sang phải.”

Janssen nhanh chóng chia được giọng alto, giọng tenor và bass*. Engel cũng quan sát ở bên cạnh.

Chu thich: Giọng nam trầm có âm vực thấp nhất trong tất cả các loại giọng.

“Đoạn đơn xướng sẽ là Wegner, Steppan, Fritzsche, Koch. Ngoài ra, chúng ta không có giọng soprano và chỉ năm người hát alto trong sáu mươi người… Đúng là phải hạ xuống ít nhất nửa quãng tám…”

Engel có vẻ bối rối.

“Đúng vậy… Thay vì giảm số lượng người cho phù hợp với giọng alto thì càng có thêm người tham gia sẽ lại càng có ý nghĩa… Nhưng nếu thế ta cũng không đủ thời gian để viết lại toàn bộ nhạc phổ.”

“Vậy, ta cứ giữ nguyên giọng tenor và bass, chuyển đoạn alto và soprano sang cho giọng countertenor*. Làm vậy thì chỉ cần biên lại một phần thôi là được.”

Chu thich: Còn gọi là giọng phản nam, là loại giọng có tính chất cao và thanh, hát nốt cao như một người có giọng nữ trầm hoặc nữ trung.

Suốt mấy ngày liền, Engel và chúng tôi cố gắng đến tận đêm khuya.

Kiểm tra lại cao độ từng âm bằng piano là một công việc mù mờ chẳng biết bao giờ kết thúc. Tôi nhận trách nhiệm tập luyện với bản nhạc phổ được hoàn thành từng chút từng chút một ấy, lúc thì kiểm tra lại xem có đoạn nhạc nào kì cục không, khi thì thảo luận với Engel, nói chung là bận rộn tối tăm mặt mũi.

Trong lúc tập luyện, có ba học sinh violin và năm học sinh hợp xướng của Bando xin được tham gia cùng chúng tôi. Đương nhiên chúng tôi hoan nghênh họ nhiệt liệt, nhưng lại không đủ thời gian để có một đợt tập huấn đặc biệt nâng cao kĩ thuật còn non nớt của họ. Cho họ làm thử những phần họ có vẻ làm được đã là tới giới hạn rồi.

Engel lớn tiếng mắng các học sinh violin người địa phương.

“Không phải như vậy! Chỗ đó nốt Fa và La đều chệch rồi! Làm lại từ đầu!”

Mấy cậu học sinh dù bị mắng cũng không xuống tinh thần, họ chăm chỉ và cố gắng hết sức tập luyện.

“Không phải, không phải, tôi phải nói tới bao nhiêu lần nữa đây. Ở khuông thứ hai này cao độ không phải như bản nhạc phổ vốn có, âm vực đã được chuyển rồi, nhìn kĩ vào. Taro, nốt Fa lại lệch rồi! Shouichiro không được cười! Taro, chơi lại nốt Fa đi. Shouichiro, cậu chơi nốt Mi cao hơn một chút cho tôi… Này, này, đoạn đầu chậm quá. Nhịp phải nhanh thế này!”

Engel vừa tiếp tục buổi tập vừa gõ gậy chỉ huy đen đét. Bên dàn hợp xướng của Janssen cũng đang có đợt tập huấn đặc biệt.

Trước ngày được trả tự do một hôm, chúng tôi đón buổi giao lưu văn hoá cuối cùng.

Người dân Bando lần đầu tiên biểu diễn vũ điệu Awa, một điệu múa địa phương đặc trưng của vùng đất này. Giai điệu đậm chất Nhật ấy nhịp nhàng và vui nhộn. Điệu nhảy của nam giới tràn đầy năng lượng, có đoạn họ hét to “Hyottoko” và nhăn mặt chu miệng khiến toàn thể người xem bật cười, họ còn lồng ghép vào điệu múa tên là Yakkodako, một tiết mục có lẽ đã được chuẩn bị rất công phu. Điệu múa của nữ giới cũng sôi nổi và tràn đầy năng lượng như vậy, chứ không phải vũ điệu trầm mặc nhẹ nhàng thường thấy của Nhật Bản. Những chiếc cổ chân trắng thấp thoáng xuất hiện dưới gấu tà áo kimono theo bước chân họ nhảy cuốn hút đến bất ngờ.

Cuối điệu múa, cả Trại trưởng, lính Nhật và lính Đức chúng tôi cùng tham gia. Nhìn thì tưởng dễ dàng nhưng khi múa rồi mới thấy bộ dạng chúng tôi chẳng ra làm sao cả. Đến tận lúc đó chúng tôi mới biết nếu tay chân đưa lên đưa xuống không cân đối hoặc không cố định được vị trí hông thì trông sẽ không đẹp.

“Klaus! Bắt đầu thôi. Chúng ta hãy diễn một màn hay nhất từ trước tới giờ!”

Mọi người nắm chặt tay đầy quyết tâm.

Chương đầu tiên mở đầu với âm trầm, vì căng thẳng nên tôi thấy âm thanh khá khô cứng nhưng đến chương hai thì đã khoan thai hơn, bản nhạc vang lên tự nhiên, giai điệu hài hoà như quện lấy trái tim của những người dân Bando và những kẻ ngoại quốc chúng tôi bằng sợi dây âm thanh không thể nào gỡ bỏ. Ở phân đoạn cao trào của phần hợp xướng, những học sinh của chúng tôi ở Bando cũng tham gia biểu diễn cùng.

Tôi nghe tiếng có ai đó hát theo từ hàng ghế khán giả.

Có các cụ ông hát và giơ nắm tay lên như những quân nhân. Chẳng biết từ lúc nào, nước mắt tôi đã trào ra, nước mắt làm hàng ghế khán giả nhoè đi khiến tôi chẳng thể nhìn rõ nữa.

Nước mắt tôi cứ thế rơi nhưng tôi không hề cảm thấy xấu hổ.

Không chỉ mình tôi, cả Engel, cả trung sĩ Helman đang chỉ huy dàn nhạc, mọi người đều đang khóc.

Đúng là vậy, chúng tôi đã thực sự hiểu được bản nhạc này.

Nhất định sẽ tới một ngày, từ thị trấn nhỏ bé này, giai điệu ấy được vang lên hướng ra toàn thế giới. Để có được ngày ấy, giờ đây chúng tôi đang biểu diễn với một sứ mệnh to lớn trên vai.

Khi màn diễn tấu vừa kết thúc, tiếng vỗ tay nổi lên vang trời. Chúng tôi chạy xuống từ bục diễn trong sân đền, ôm chầm lấy người dân. Người dân ở đây mọi người đều khóc.

Sáng hôm sau, chúng tôi được tự do.

Sau lần điểm danh cuối cùng, khi chúng tôi xếp thành hai hàng chuẩn bị rời khỏi cổng Trại tập trung, nước mắt chúng tôi lại trào ra một lần nữa.

Học sinh lớp học âm nhạc của Engel đang xếp thành hàng dọc hai bên và bắt đầu biểu diễn bài “Ánh sáng đom đóm”*.

Chu thich: Bài hát được phổ lời Nhật trên nền nhạc “Auld Lang Syne” là một bài dân ca Scotland.

Ở phía sau lưng họ là biết bao nhiêu người dân bản địa đang vẫy những lá quốc kì Nhật và Đức để tiễn chúng tôi đi.

Chúng tôi đứng lại lắng nghe họ chơi nhạc, ôm và bắt tay Trại trưởng cùng những người xung quanh lần cuối. Đến lúc tất cả đã xong, tôi cất giọng hát bài “Cá hồi” và bắt đầu đưa chân tiến về phía trước.

Đồng đội tôi cũng cất tiếng hát.

Tiếng hát của chúng tôi như chìm hẳn đi, hoà trong những lời động viên nồng ấm của người dân Bando.

Tôi tung cao chiếc mũ của quân đội Đức đang đội trên đầu.

Chiếc mũ trắng bay lên cao, xoay tròn trong màu trời xanh biếc. Ánh nắng mặt trời giống như ngày đầu tôi đến chiếu xuống làm chiếc mũ sáng lên rạng rỡ.

8.

Klaus vừa kể vừa nhớ về những tháng ngày đã trôi xa tại Bando.

Cả Hannah, Arles, Rosa và Edyth cùng đồng thanh kêu lên.

“Không thể tin được!”

Với niềm hứng thú của một nhạc công, Arles hỏi Klaus xem ở Bando ông và đồng đội đã chơi những bản nhạc nào. Klaus rút từ trong túi áo ngoài màu nâu cũ kĩ ra một mảnh giấy.

“Tôi luôn mang theo danh sách các bản nhạc này thay cho bùa hộ mệnh. Giấy đã cũ nát cả rồi, làm ơn đừng kéo mạnh tay quá.”

Arles cầm tờ giấy đọc. Trong mảnh giấy có khoảng hơn ba mươi khúc nhạc được liệt kê, bắt đầu từ “Bản giao hưởng số chín” của Beethoven.

“Thật khó tin. Không thể tin nổi, Klaus ạ.”

Những thành viên khác của dàn nhạc cũng lắc đầu trước sự thật khó tin này.

“Chuyện này là thật đấy.”

Hannah càng ngày càng thấy khó hiểu.

“Nhưng thưa thầy, hiện nay nước Nhật Bản có vùng Tokushima đó và Đức Quốc Xã là hai nước đồng minh phải không ạ? Nhật Bản sẽ không cứu chúng ta. Tại sao vậy ạ?”

“Có lẽ đến cả người Nhật cũng không ai có được câu trả lời rõ ràng. Hơn nữa, Bando là nơi đặc biệt, các trại tập trung khác của Nhật có vẻ đều không được như vậy, những tù nhân ở Trại Bando như thầy cũng chẳng thể thoải mái nói tới chuyện đó khi về Đức đâu…”

“Con muốn đến đó quá, thầy Klaus. Mọi người cùng nhau thoát khỏi địa ngục này, rồi thầy hãy dẫn bọn con tới chốn tiên bồng Bando đó nhé.”

Hannah nói.

“Đúng. Chúng ta hãy cố gắng sống thật lâu. Đi nào! Chúng ta sẽ trở thành những nhân chứng thay cho những người đã khuất để có thể cất lên tiếng nói mong muốn hoà bình từ Bando.”

Leo tỏ vẻ hào hứng tiếp thêm động lực cho mọi người.

Đương nhiên, không một ai trong số họ thật sự nghĩ rằng mình sẽ đến được Bando. Nhưng tất cả mọi người ở đây đều cần có một điểm tựa cho tâm hồn.

“Đúng rồi, đó là sứ mệnh đặc biệt của chúng ta. Tốt quá, mọi người hãy phấn chấn lên nào. Không có ước mơ và hi vọng thì chúng ta sẽ không thể sống sót.”

Klaus có vẻ vui, ông nghĩ chuyện này như một chuyến hành hương về vùng đất thánh.

“Tôi thích câu chuyện này nên hay kể với các thành viên nhóm nhạc. Trong số họ có những người không biết vì sao mình chơi nhạc, nhưng nhờ câu chuyện này mà họ được khai sáng. Chính bản thân tôi cũng qua trải nghiệm này mà lối sống và cách suy nghĩ trước đó đã thay đổi đến một trăm tám mươi độ. Thay vì tự hào khi được chơi những cây đàn đắt tiền như Stradivarius hay Guarnerius, chỉ cần tận hưởng âm nhạc một cách đơn thuần, chúng ta có thể vượt qua mọi rào cản ngôn ngữ, quốc gia, thậm chí là cả chiến tranh nữa. Tôi nghĩ rằng chẳng phải sự tồn tại của âm nhạc theo cách ấy chính là năng lực duy nhất mà Chúa Trời ban tặng cho con người hay sao? Nền văn minh tuyệt đối không thể làm trái tim con người trở nên giàu có. Nền văn minh tuyệt đối không thể xoá bỏ chiến tranh. Nhưng văn hoá thì có thể khiến trái tim ta giàu có, xoá bỏ chiến tranh khỏi thế gian này. Chẳng phải vậy hay sao?”

“Nhưng, Klaus. Người châu Á liệu có hiểu được cái hay của âm nhạc Tây Âu không vậy?”

Arles thắc mắc.

“Cái gì tốt thì vẫn là tốt. Giống như khi nhìn vào viên ru-bi, ở bất cứ đất nước nào người ta cũng thấy nó màu đỏ và rất đẹp mà. Đương nhiên không phải là một bài hát theo trào lưu, nên trái tim chúng ta lẫn trái tim những người châu Á đều sẽ chấp nhận những quy chuẩn đẹp đẽ đó không chút kháng cự. Giống như ánh mặt trời không phân biệt ai mà chiếu sáng cho tất cả mọi người.”

Klaus uống một ngụm whiskey. Gương mặt ông đã hơi ửng hồng.

“Khi là một nghệ sĩ độc tấu, tôi đã từng gạt bỏ người khác, tranh đấu với họ, nhưng ở đây, tôi hiểu được phẩm chất thực sự đáng quý của âm nhạc. Những trải nghiệm này khiến tôi nhận ra trong bản thân mình vẫn có sự dung hoà với người khác, văn hoá đã hiện hữu và biết vượt lên bức tường ngôn ngữ để ta có thể giao lưu về mặt tâm hồn với những người nước ngoài. Tôi có cây đàn cello này, và tiếng guitar Dahn đã dạy cho tôi, chúng trở thành dũng khí để tôi có thể tiến vào Auschwitz.”

“Đúng như những gì anh nói. Chúng ta có thể sống được tới lúc này một cách thần kì là nhờ có trong tay loại vũ khí mạnh hơn bất cứ thứ gì.”

“Kết thúc buổi họp tại đây thôi. Các bạn, tôi nói với các bạn điều này. Trước mắt, các bạn chỉ cần biết đến bản thân mình là được. Chỉ cần giữ cho bản thân sống sót được là tốt rồi. Đừng nghĩ đến những việc sau đó. Hãy khoá mình trong thế giới của âm thanh. Đừng ràng buộc những bản nhạc với hoàn cảnh. Làm vậy các bạn mới bảo vệ được tinh thần của mình, chẳng có lí nào chuyện này sẽ kéo dài mãi mãi, tất cả những gì chúng ta đã làm ở đây, đã thấy ở đây đều sẽ có ích, sau khi chúng ta thoát khỏi nơi này.

“Đúng vậy, đúng là như vậy. Dù có khép chặt trái tim cũng không được nhắm mắt, hãy nhìn thật kĩ. Đây là bổn phận của những kẻ được sống sót như chúng ta.”

Arles cũng tiếp lời.

« Lùi
Tiến »