Đã cuối hè sang thu mà Jennie chưa trở lại. Sang tháng chín những trái dã nhân sâm chín đỏ, và người ta đi hái trái mận hoang mọc trên những cánh đồng dọc theo đường lộ để làm mứt. Những khóm lau sậy ven bờ sông trổ màu nâu bạc; và những buổi xế chiều mặt trời xiên bóng qua những ngọn thông chung quanh căn nhà của tôi. Những chú chim đã lánh mặt hầu hết mùa hè, đã bắt đầu xuất hiện, lên đường bay về phương nam. Những con chim gõ mõ đầu đỏ, những con chào mào, chim sâu, chim sáo. Những cánh én bay lượn cuống cuồng trong không trung, và đôi khi lúc xế chiều tôi nhìn thấy cái mũi hình tam giác hợp bởi những cánh ngỗng trời bay về phương nam dật dờ trên nền trời.
Tôi đã nhận được một tấm chi phiếu khá lớn của ông Mathews, và quyết định dùng một phần số tiền đó để thuê một chiếc thuyền buồm của người em ông John Worthington, tên là Bill, sống gần cầu xe lửa, gần chỗ cửa sông Pamet đổ xuống vịnh. Tôi biết chèo thuyền, dẫu không khá lắm, nhưng tôi nghĩ rằng mình sẽ không lúng túng. Chiếc thuyền lòng gỗ tốt dài 15 bộ, tiện dụng trong những chuyến đi gần, neo gần cửa sông, trong một con lạch nhỏ thông vào dòng suối chảy xiết. Phải chèo một quãng xa, qua khúc sông đèo hẹp, mới ra tới vịnh, thủy triều và hướng gió phải thuận, nhưng về tháng này hầu như chỉ có gió đông, từ trên hướng quần đảo Bermuda thổi lại, sừng sững như một đám mây vô hình, khủng khiếp tụ ở một nơi nào đó trên mặt biển. Và với một luồng gió nhẹ thổi lùa sau lưng, tôi vẫn thường ra được tới ngoài vịnh, bất chấp ngọn nước thủy triều. Khi trở lại tôi phải đợi con nước, và rồi trở buồm theo hướng gió. Arne là thành phần của thủy đội; hắn ngồi phía trước lấy tay ghì cột buồm xuống thấp khi cần, và hắn điều khiển những cánh buồm với một vẻ uy nghiêm man dại. Thật là phấn khởi khi phải đương đầu với gió, và thấy chiếc thuyền chồm lên trước gió; khi thấy dòng nước xanh rẽ ra, và nghe tiếng sóng vỗ dào dạt vào mạn thuyền. Đây cũng là một lối thể dục hay, nó khiến hai cánh tay tôi đau nhức, và tạo nên những cục chai trong lòng bàn tay.
Chúng tôi thường chèo thuyền ra vịnh, đôi khi ra tận chỗ người ta giăng lưới cá, và một hay hai lần lên tận Provincetown. Con thuyền tự nó là một thế giới; thế giới trên mặt nước, trong ánh nắng chói chang, thế giới của màu xanh vô tận, của gió lộng, của những khoảng sáng xa xôi hình vòng cung, và tôi cảm thấy sung sướng.
Cuối tháng chín có tin một trận cuồng phong ở đảo Caribbean. Chúng tôi không để ý mấy, mùa này hàng năm vẫn có những trận bão lốc, vấp vào những cù lao tụ ở vịnh Florida, hoặc là tan trên mặt Đại Tây Dương. Riêng trận cuồng phong này thì hình như đang cuốn về Florida.
Trên vũng Cape chúng tôi đang hưởng một thời tiết tươi đẹp khác thường — điềm trời xấu đó, Arne nói. Chúng tôi đang cố tận hưởng, vì mùa hè sắp hết gió bão sắp đến, và sau đó trời sẽ lạnh và biển nhiều sóng gió không bơi thuyền được. Ngày nào chúng tôi cũng đi chơi thuyền. Khí hậu ấm áp — ấm áp khác thường vào mùa này trong năm — gió thổi hướng đông nam. Chúng tôi chờ cho gió chuyển sang hướng bắc.
Bữa thứ hai tin báo là trận bão đã không thổi vào Florida, và đang tiến về hai tiểu bang Bắc và Nam Carolina. Thế có nghĩa là sẽ mưa và có gió mạnh hướng tây nam; nhưng ngày thứ ba chúng tôi lại nghe tin bão lại quay lại hướng đông, và sẽ tan ngoài biển. Như vậy là chúng tôi còn mấy ngày đẹp trời để bơi thuyền, và chúng tôi quyết định làm cuộc hành trình dài ngược ven bờ biển, ở lại đêm tại hòn Great Island đối diện với bờ Wellfleet, và sẽ trở về ngày hôm sau. Chúng tôi khởi hành một lúc trước trưa ngày thứ ba, có gió thổi đều đều theo hướng đông nam, và chúng tôi nhờ hướng gió mà đi được một quãng xa.
Đêm hôm đó, chúng tôi ở lại trên đảo và nhóm một đống lửa trên bờ cát. Chúng tôi ngồi nói chuyện rất lâu bên ánh lửa. Những bóng tối nhảy múa chập chờn giữa những bụi cây sau lưng chúng tôi; vòm trời xám nhợt, rải rác những vì sao, nằm như một mặt hồ lớn trên đầu chúng tôi, và chiếc thuyền nhỏ được neo lại nhè nhẹ đu đưa trên sóng thủy triều. Tôi cố gắng giải thích cho Arne về những điều mình cảm nghĩ, về thân thế tôi, và về thế giới này. «Chúng mình biết ít quá,» tôi nói, và còn nhiều điều cần phải học hỏi. Chúng ta sống bằng vị giác và xúc giác; chúng ta chỉ nhìn thấy những cái ở dưới mũi mình thôi. Còn những hệ thống tinh cầu trên đầu chúng ta, rộng lớn hơn thái dương hệ của chúng ta, và có trọn vẹn nhiều vũ trụ trong một giọt nước. Và thời gian trải ra vô tận theo đủ mọi chiều hướng. Trái đất này, đại dương này, cái lúc ngắn ngủi chúng ta đang sống này tự nó chẳng có nghĩa lý gì... Hôm qua cũng có thực như hôm nay, chỉ tại chúng ta quên mà thôi.
Arne gật đầu. «Đúng,» hắn nói. «Đúng vậy. Thôi đi ngủ đi.»
«Và tình yêu,» tôi nói, «thì cũng vô tận; và mẩu hạnh phúc nhỏ bé hôm nay chỉ là một phần của tình yêu.»
«Đi ngủ đi,» Arne nói. «Ngày mai là một ngày khác.»
Đêm hôm đó, lần đầu tiên trong đời, tôi chiêm bao thấy Jennie. Tôi mơ tới cuộc gặp gỡ đã qua lâu rồi, tôi ôn lại trong mơ những chuyện đã xảy ra; tôi nhìn thấy nàng nhỏ bé, đi dọc theo dãy băng dài trống vắng trong công viên, và tôi nghe thấy lời nàng đã nói lúc đó. «Em mong ông chờ em khôn lớn, nhưng em sợ là ông sẽ chẳng đợi em đâu.» Và trong giấc chiêm bao, tôi nhớ cả những lời ca của bài hát ngắn không cung điệu của nàng.
«Gió thổi, nước trôi...»
Tôi choàng thức dậy trong một cảm giác hoảng hốt với cảm tưởng có chuyện bất tường. Gió vẫn đang thổi, ấm áp và đều đặn theo hướng đông nam, nhưng tôi nghĩ là gió thổi có mạnh hơn một chút. Có làn sương vàng đục trong không khí, và vài đám mây hình dáng kỳ dị bay trên đầu. Chúng có vẻ bay đi vội vã. Tôi quay người lại và lay vai Arne. «Dậy, dậy mau,» tôi gọi. «Phải về gấp.»
Chúng tôi giương buồm và đi theo hướng bắc về Truro. Chúng tôi không để mất thời giờ. Trên mặt nước ngoài khơi, gió có phần mạnh hơn; gió thổi lộng vào đuôi thuyền và chúng tôi để mặc cho cánh buồm căng phồng lên hứng gió. Chật vật lắm mới giữ được bánh lái cho chặt, vì sóng biển nhồi dữ, và con thuyền tròng trành. Arne không nói gì; hắn đăm đăm nhìn trời.
Làn sương dần dần dầy đặc, nhưng mây càng lúc càng nhiều; mây kết thành nhiều lớp cao thấp khác nhau trôi mau, và tạo thành những hình dáng tôi chưa thấy bao giờ — những hình ống dài, những hình vòi thú vật, hình những ngón tay mờ mờ sương khói, chúng cũng có một mầu trắng khác lạ, tựa như bông gòn lấm bụi. Tôi đã cột chặt dây lèo cánh buồm lớn, nhưng thầm hỏi không biết cánh buồm có cầm cự nổi không. «Arne,» tôi gọi hắn, «có nên cuộn bớt buồm không?»
Hắn gật đầu không nói, và tôi loay hoay lái được con thuyền theo hướng gió. Tôi nhận thấy những ngón tay tôi run lẩy bẩy. Và tôi thấy dường như Arne cũng tái mặt đi. Có một sự thôi thúc kỳ lạ của luồng gió. «Chúng mình phải cố ra khỏi nơi này mới được,» tôi nói.
Cuộn bớt dây buồm, con thuyền lao đi, và tôi ráng xoay thuyền lại nương theo hướng gió, tính lợi dụng sự che chở của bờ biển. Sóng nổi dậy mãnh liệt hơn, húc đầu vào những mỏm đá, tôi phải đu người lên bánh lái để ghìm giữ con thuyền. Tôi cảm thấy thực tình lo lắng, và tự hỏi không biết có nên quay ngay mũi thẳng vào bờ không, nhưng không có nơi trú ẩn nào khác hơn là dòng sông Pamet ở Truro. Tôi không còn biết là gió thổi mạnh đến độ nào nữa, nhưng tôi biết chắc là nó thổi rất mạnh. Và có một âm thanh kỳ lạ, từ một nơi xa xăm nào đó vang vọng lại.
Trước lúc giữa trưa một chút, tôi thấy Arne chỉ tay về phía sau và tôi dõi mắt nhìn theo hắn về phía đuôi thuyền. Chân trời đã biến mất ở phía nam đằng sau một lớp sương màu xám. Sương cũng không xám hẳn, mà là xám vàng, giống như màu đất bùn. Tôi nghĩ có lẽ là mưa, nhưng lại không có vẻ gì là mưa cả. Mình phải ra khỏi nơi này, tôi thầm nhủ.
Hai cánh tay và hai bàn tay tôi đau nhừ vì ghì tay lái, và hai cẳng chân tôi cũng mỏi nhừ vì những cố gắng để dựa vào sườn tàu. Tôi ra dấu gọi Arne ra mé sau thế tôi, để tôi ra đằng trước tát nước đã tràn vào đằng mũi thuyền. Ở phía dưới khoang thuyền, sóng có vẻ lớn hơn bao giờ hết, phía sau lái, con thuyền chồm lên, chúng tôi lơ lửng trên đầu ngọn sóng để rồi lao xuống triền con sóng và quay cuồng trong chỗ trũng cho tới khi Arne lấy lại được hướng cho con thuyền. Mỗi lần cái ngọn cột buồm chao nghiêng đập vào mặt nước, tôi lại nghĩ là mình bị đắm tầu. Cổ tôi khô rát, nhưng tôi không cảm thấy khiếp sợ, mà cũng chẳng làm gì có thì giờ để mà khiếp sợ. Tôi tiếp tục nghe tiếng gió gào, tiếng gió không giống bất cứ âm thanh nào tôi đã từng nghe trước đây.
Một lúc sau đó chúng tôi tìm cách cho thuyền hướng về sông Pamet. Tôi ra giữ tay lái, và bảo Arne giữ dây buồm, và buông nó ra khi nào chúng tôi bị nghiêng quá. Hắn cố hết sức cuốn thật chặt dây buồm quanh một khúc cây, vậy mà còn phải ráng hết sức bình sinh mới giữ nổi. Chúng tôi ngồi ngược hướng gió trên boong thuyền, hai chân dang ra chống vào cái vỏ khoang thuyền. Những đợt sóng bạc đầu dội vào thuyền phía sau chúng tôi, bọt nước bắn tung tóe lên trên mui, và nước biển màu xanh đục tràn dọc khắp boong thuyền tới tận những ô cửa vuông thông xuống lòng thuyền. Tôi thấy hình như chúng tôi nhìn xuống biển ở ngay dưới chân chúng tôi; đôi khi nó chồm lên và một lưỡi sóng liếm cuốn lên tận mũi phòng lái, lúc đó tôi đá vào tay lái và thuyền lại nhô lên. Phần lớn thời gian đó, chúng tôi như nửa ở ngoài, nửa ở trong nước, tôi không thể nói rõ thế nào. «Tôi nghĩ là dầu sao rồi mình cũng thoát,» tôi nói. Arne lắc đầu, «Có lẽ,» hắn trả lời.
Vào khoảng hai trăm mã cách bờ cánh buồm chính bật tung, rách ở phía đầu ngọn cột buồm; một lúc sau đến mảnh buồm phụ. Tôi nghĩ thế là chúng tôi đành tịch rồi; nhưng hai mảnh buồm đều vướng vào dây buồm, bám lủng lẳng trên đó, và con thuyền chạy êm. Tôi thấy bao lâu mà chúng còn dính vào nhau, chúng tôi còn có một chiếc buồm kép; và chúng tôi không phải đi xa lắm nữa. «Tôi nghĩ chúng mình sẽ thoát nạn, Arne ơi,» tôi nói.
Tôi hầu như không nhìn thấy cửa sông đâu cả vì những ngọn sóng giúp tôi có ý niệm là con nước dâng cao đến mực nào; nhưng tôi cứ lấy cầu xe lửa làm chuẩn, và phó thác cho sự may rủi. Chúng tôi đi trúng đường và vượt qua một cơn lốc bọt nước trắng xóa cuồng nộ, đậu trên một ngọn sóng gầm rống, nó lượm lấy chúng tôi rồi cuốn chúng tôi vào con lạch tựa như cuốn một khúc gỗ, để rồi quẳng chúng tôi lên bãi cát, xa vịnh tới hàng trăm thước. Arne mò ra trước, nhưng trước khi hắn hạ được tấm buồm chính xuống, gió đã thổi nó bật khỏi tay hắn và tung nó ra giữa sông, phồng lên, một trái banh với nửa cây cột còn dính trên nó. Chúng tôi lấy cây neo ra nhưng tôi biết là nó cũng không neo nổi. Những đợt sóng nổ tung đổ ào vào cửa sông, cao tới sáu bộ, tràn vào con lạch như những bầy ngựa hoang. «Vô ích mà, Arne,» tôi nói. «Thủy triều sắp lên, thuyền sẽ bị cuốn tuột xuống cầu, và bị gẫy cột buồm.» Chúng tôi chẳng làm gì nổi. Tôi không ngờ là thủy triều lại có thể lên cao tới độ ấy.
Bill Worthington đã nhìn thấy chúng tôi về. Bác đứng đợi chúng tôi leo lên đường từ cái đống để lại trên bãi. «Trời đất ơi!» bác nói, «hú vía nhé, mấy cậu.»
Tôi gượng cười với bác, nhưng tôi cảm thấy run quá. Hai chân tôi run lẩy bẩy, và tôi không sao làm cho răng hết khua lập cập.
«Mong bác cảm phiền về vụ chiếc thuyền, bác Bill,» tôi nói. «Tôi không ngờ bão lớn đến thế.»
Bill nhìn tôi, rồi lắc đầu. «Bão hả, bỏ đi nghe,» bác nói. «Lần này thì đúng là bão lụt thật đấy.»