Nhưng tôi không muốn ở lại Provincetown suốt mùa hè. Tôi còn lại hơn hai trăm đô-la tiền gửi bán bức chân dung, và tôi quyết định mướn một căn nhà nhỏ ở Truro, trên bờ sông Pamet. Ðúng ra nó còn nhỏ hơn một túp lều, dựng trên mỏm vách đá, soi xuống mặt nước; những cây thông mọc sát nhau, dệt thành tấm thảm bằng những lá nhỏ như kim chung quanh căn nhà, và ta có thể nhìn xuống dòng sông qua những cành thông. Tôi có thể nghe tiếng sóng nước ở dưới vịnh rì rào không ngừng, và tiếng gió reo trên những ngọn thông, không khác chi tiếng sóng biển dạt dào. Không khí ấm áp và ngọt ngào với hương thơm của đất và của nắng trời, và ở đây là nơi tôi tránh những cơn mưa đằng đẵng, những ngọn gió tây bắc nổi lên mãnh liệt và lạnh buốt từ trên ngọn Cornhill sau lưng tôi. Tôi ở ngay chính giữa luồng gió đông nam, hay đúng hơn là luồng tây nam mịt mờ sương khói, nhưng đó lại là lợi thế, bởi những luồng gió từ hướng nam thổi tới lại là những cơn gió của tiết trời đẹp, thổi vào êm ái và ấm áp.
Lúc thủy triều xuống, dòng sông Pamet chỉ còn là một lạch nước mỏng lách mình giữa lau sậy; nhưng vào đúng tuần trăng, khi nước triều lên, nó tràn ngập cả những đầm lầy, và người ta có thể hình dung ra nổi trước đây, trước khi cát bồi lấp cửa bến sông, nó đã từng là một con sông sâu và rộng tới mức hàng ba chục chiếc tầu đánh cá voi có thể vào đó buông neo. Nhưng đó là chuyện đời xưa. Ngày nay dòng sông Pamet đổ ra vịnh qua một lòng sông nhỏ hẹp, và cuốn nước từ vịnh chẩy vào ngoằn ngoèo qua vũng Cape, giữa vịnh và đại dương. Vào khoảng hơn trăm thước, cách nơi dòng sông Pamet khởi nguồn, những cồn cát thấp bắt đầu nổi lên, và hai bên những cồn cát ấy là bãi bể và mặt biển. Quãng đường từ đại dương vào vịnh không bao xa; vũng Cape khúc cuối rất hẹp, chiều rộng không đầy ba dặm.
Những căn nhà nhỏ nép mình trong những chỗ trũng, tránh né những luồng gió tây vốn thổi rất lộng trong mùa đông. Nơi đó có những cây thông, những cây sồi cằn cỗi, cây minh quyết, cây hoàn diệp liễu và cây du, còn có cả cây dã nhân sâm, cây kim tước chi, cây lộc đề thảo, cây mận, cây đào. Cây nào cũng nhỏ cả; những ngọn đồi và những chỗ trũng tí hon, nhìn bao quát từ xa chúng có dáng dấp của những ngọn núi và những thung lũng. Hai ngọn tháp nhọn của hai ngôi giáo đường cổ và nhà hội quán chế ngự mọi vật; chúng mọc trên mỏm núi cao nhất, và đứng đó canh chừng, một cách thanh thản và trìu mến, tất cả những thung lũng.
Nhiều giòng họ gốc gác tự xa xưa nay vẫn còn sinh sống ở Truro, như gia đình Snows, Dyers, Atwoods, Atkinses, Cobbs, Paines, Riches. Những tên cổ kính, những giòng họ cổ xưa của miền Cape Cod... Đây là xứ sở, quê hương của họ, nó thuộc về họ. Họ là những người trầm lặng và hiền lành, những người chịu thương chịu khó.
Phần tôi, tôi cũng quyết định làm việc. Nhưng vào lối hơn một tuần, màu sắc của vùng Cape làm trì độn cảm quan tôi — màu vàng lợt của cát, màu xanh non của lá cây, và màu xanh úa, lợt của biển và vòm trời sẫm lại rồi ngả sang màu tím ở đằng xa. Trên đường bay về hướng Bắc, những đàn di điểu ngừng cánh ghé thăm; những chú họa mi sục sạo kiếm ăn trên bãi cỏ, những chú chim sâu vụt ra vụt vào những vòm cây như những con chim bói cá, và một cặp hoàng anh đã làm tổ trên ngọn cây du đằng sau nhà tôi.
Vào tháng sáu bụi dã nhân sâm trở vàng, hoa kim tước chi nở hồng và trắng xóa dưới chân đồi; những cụm sa thảo với nhau trong cỏ. Tôi xuống sông bơi lội; dòng sông chảy xiết và mát rượi, những con cua nho nhỏ màu xanh trốn né tôi, bỏ chạy vào những chỗ nước cạn. Có mấy đứa trẻ có mặt tại đây từ trước, đang nô đùa trong một chiếc bụng tàu cũ nát được kéo lên để trên bờ. Một đứa trong bọn, có mái tóc màu cỏ khô, đang đóng vai tướng cướp. Đồng bọn của nó, gồm em gái nó và một cây súng giả, sẵn sàng nghênh chiến. Nó không tìm ra được kẻ thù nào cả.
Suốt mùa hè lũ trẻ nô đùa trên bãi bể. Chúng vui vẻ và thân thiện, cứ mỗi lớp sóng ùa vào bãi cát, những đứa nhỏ hơn lại quay lưng lại phía biển và cuống quít chạy. Khi lớp sóng ngầu bọt nước bắt đầu rút thì chúng đuổi theo làm bộ như vặn tay lái điều động biển cả trước mặt chúng. Nhưng đến lớp sóng sau, chúng lại chạy trốn như trước, ồn ã và cuồng cuồng. Nắng sưởi ấm những cặp chân nhỏ bé rám nắng của chúng, và chúng hăng say nhặt những mảnh vỏ sò, những viên sỏi, và những viên đá màu bị nước biển xoi mòn. Những đứa lớn hơn nhào vào sóng như những con cá heo nho nhỏ. Nước biển thì trong và lạnh.
Thời gian như đứng dừng ở Truro; những tuần lễ trôi qua, tuần này qua tuần khác. Về tháng sáu có gió đông bắc thổi, gió thổi rít từ ngoài khơi vào, lùa mưa đi gần như ngang ngay trước gió; gió lộng suốt ba ngày, những cánh cửa sũng nước và đóng kín mít, những hộc bàn mở không được, và một lớp mốc xanh đã xuất hiện trên vài tấm tranh lụa của tôi. Ngay cả lò sưởi gỗ thông cháy xình xịch suốt ngày cũng không giữ cho căn nhà tôi được khô hoặc ấm. Rồi gió chuyển sang hướng tây, mặt trời lại ló rạng, và mùa hè lại trở lại, màu vàng nhợt của cát, màu xanh mướt của cỏ, và màu xanh úa lợt của vòm trời.
Tôi vẽ được nhiều: tôi vẽ cho cô Spinney ngôi nhà thờ ở phía nam Truro, tòa nhà cổ, lẻ loi và hoang liêu trên cồn cát, đứng nhìn xuống vịnh; và một bức tranh thủy thái cảnh biển nhìn từ thung lũng Long Nook. Cảnh hôm đó, trời gió hiu hiu, gió hướng đông-bắc, mặt biển tối sẫm, màu sẫm của rượu vang thân thiết với các họa sĩ Hy Lạp, lẫn những giải mầu xanh, tối sẫm về phía chân trời; và bầu trời thì giống như phía trong một chiếc bát sứ màu xanh có tráng men trắng trong. Tôi gởi cả hai bức vẽ về cho ông Mathews. Nhưng bức mà tôi ưng ý nhất là bức vẽ ngư phủ đi lưới cá buổi sớm mai. Phần lớn tôi vẽ theo ký ức: những ngư thuyền ra khơi trước khi trời sáng tỏ.
Cảnh vật lặng lẽ và đen tối, nước từ bóng tối trào lên từng đợt. Những ngư thuyền xăm xăm lướt sóng... ở phía đông bầu trời trở xám, rồi hồng, bình minh ló rạng dần dần. Những vì sao mờ đi, những sắc xanh bắt đầu xuất hiện trên nền trời. Ngoài xa bờ, một chiếc ngư thuyền tiến vào khu vực đặt lưới sẵn, vừa chạy vừa kéo lưới theo. Những chú cá ở dưới đó, bơi qua bơi lại dưới gầm thuyền như những bóng đen. Lưới càng lúc càng lên cao, bỗng bứt khỏi mặt nước trong một đợt sáng bạc, và các ngư phủ bắt đầu xúc cá từ tứ phía. Mặt trời mọc, mặt vịnh long lanh trong ánh chiêu dương, cá sáng như bạc, đầy khoang. Nặng nề và chậm chạp, một trong số những ngư thuyền băng qua vịnh trở về Provincetown, trong khi những chiếc khác quay mũi chạy vào bờ.
Tôi muốn Arne cùng đi với tôi, nhưng hắn nói cảnh đó không đủ màu cho hắn vẽ. Hắn đang vẽ cảnh Nhà Máy Thuỷ Điện của thành phố Provincetown; hắn nói là nhà máy này tượng trưng cho kỹ nghệ, và kỹ nghệ biểu trưng cho thế giới hiện thực thời nay, mà người nghệ sĩ cần tìm trong thế giới hiện thực đề tài tương xứng với tài nghệ của y.
«Chúng ta đừng tự lừa dối mình, Eben ạ,» hắn la lớn. «Cái đẹp chỉ cao cả khi nó hữu dụng. Biểu tượng của thế giới ngày nay là một nhà máy điện; và nếu chúng ta thấy nó xấu xí ấy là tại chúng ta không nhìn đúng khía cạnh.»
Nhưng hắn đến Truro vào tháng bảy, để đi cắm trại ngoài bãi biển. Chúng tôi nằm trên cát ở bãi Cornhill, trong lúc mặt trời lặn, và mặt trăng mọc trên đồi phía sau chúng tôi, những người đàn ông bận quần đùi vải có sọc nổi và những người đàn bà khăn tay buộc tóc chụm đốt những mẩu gỗ trôi dạt lượm được trên bãi bể. Hoàng hôn phai tàn, ngả sang màu hồng và màu xanh lá mạ; đêm xanh già nua buông xuống tối tăm, mờ ảo trên bãi biển, và bên kia bờ vịnh những chiếc đèn lồng của thành phố Provincetown lấp lánh trong bóng đêm. Trong khoảng ánh vàng chập chờn của lửa trại có những bóng người đi qua đi lại; củi được tiếp thêm, những rổ đồ ăn được giở ra, những chiếc mền được trải rộng. Khi những ngọn lửa tàn lụi thành than, những miếng bip-tết và những chiếc xúc-xích được đem ra nướng; một xoong đậu lớn được đặt bên đống lửa, bên một thùng sò, một bình cà-phê. Sau đó chúng tôi ca hát, ngồi quanh đống lửa, trong khi mặt trăng lặng lẽ trôi trên đỉnh đầu, và dòng thủy triều tạt những lớp sóng nhỏ xô mình vào cát... «Tôi mơ tới nàng Jeannie có mái tóc nâu tươi...»
Hay trong những buổi xế chiều êm ả và ấm áp của tiết trời tháng tám, chúng tôi cùng bơi lội ngoài biển, trong lúc những đợt sóng dài chạy xộc vào, xanh và trong, lao mình vỡ tan thành bọt trắng, rồi rít lên trườn tới và lặn chìm vùi sâu trong bãi cát. Ở tít đằng xa, bên kia đường chân trời, quá tầm con mắt, bên trên bờ thế giới là Âu Châu, nơi đã tan tác vì chiến cuộc; nhưng ở đây là cảnh thanh bình, là bãi bể hoang vu uốn cong mình trải dài vô tận, xa tít về phương nam dưới nắng hè, cơn gió nhẹ lay động những ngọn cỏ trên cồn cát, chỉ có tiếng trẻ con vang lên chống trả với tiếng gầm thét của sóng nước đại dương.
Chính lúc đó tôi thương nhớ Jennie khôn cùng, trong những lần tương tự, khi vẻ đẹp của thiên nhiên xâm chiếm trọn vẹn tâm hồn tôi. Tuy vậy, thật là khó diễn tả, tôi không cảm thấy mình cô độc; vì tôi có cảm tưởng — như tôi vẫn thường cảm thấy từ lâu — tôi không còn cô độc — cảm tưởng là thế giới và Jennie, và tôi là một, kết hợp với nhau trong một đơn vị không biết gọi là gì, một «nhất thể» không diễn tả được. Ngay cả sự vắng mặt của nàng, không những xa tầm con mắt tôi, nhưng còn xa cả những ngày đang chậm chạp quay quanh bên tôi, làm cho ý thức về thời gian của tôi mờ ảo; nàng không hiện diện trong thời tiết ở đây. Những trận mưa thổi qua miền Cape không phải những trận mưa rơi trên bóng nhỏ của nàng đang hấp tấp ở nơi đâu — trong một thành phố nào, trong một năm nào? Nhưng cũng vì lý do ấy tất cả mọi thời tiết đối với tôi đều như nhau, tất cả những mùa của quá khứ đều pha trộn với những giấc mơ của tôi trong mùa hè quanh tôi. Vì nàng hiện ở một nơi nào đó trên thế gian này; và bất kỳ nàng ở đâu, nơi đó cũng có một chút gì là của tôi.
Nàng đã từng nói: «Thế gian này mới đẹp biết bao, anh Eben. Nó chẳng được tạo nên vì cái gì khác hơn ngoài cái đẹp — dù bây giờ chúng ta đang sống, hay đã sống từ ngày xưa cũng vậy.»
Chúng tôi đã cùng chia sẻ cái đẹp đó. Chúng tôi sẽ không bao giờ mất nó.