Vào một buổi sáng chúa nhật tôi gặp lại Jennie. Dạo ấy sau mấy tuần trời hanh lạnh, khu hồ lớn trong công viên ở đường Bảy mươi hai đóng băng lại. Thật là lý tưởng để chơi trượt tuyết. Tôi lục đôi giầy cũ nhãn hiệu Lunns và đi tới đó. Trên mặt băng rất đông người; tôi ngồi xuống một chiếc băng bên cạnh bờ để xỏ giày tuyết và chằng chúng vào dây lưng. Tôi tuột xuống khỏi bờ quay một vòng rộng làm tuyết tung bay rồi tôi trượt thẳng về phía trước, ngửa mặt lên hứng nắng.
Bữa đó là một trong những ngày đẹp trời mà chúng tôi thường được hưởng tại Nữu Ước về mùa đông, với bầu trời sáng xanh, với những cụm mây trắng đục lơ lửng trên cao, lững thững trôi từ tây sang đông. Thành phố rực nắng, những nóc nhà lóng lánh, và các tòa nhà trông như được xây cất bằng nước và không khí. Tôi nhún mình lao đi một đường dài, hít thở thật sâu, tự cảm thấy mình vừa trẻ vừa khỏe, nghe máu chảy ấm trong các huyết quản, nghe da mặt mát rượi trong khí lạnh. Từng cặp đi ngược chiều tôi, tay nắm tay với những đôi má đỏ; các chú học sinh lướt mau, tợ như những bầy cá lòng tong, lưng chúng lom khom, chân đi giầy trượt tuyết loại đua, rẽ tuyết tung gió lao nhanh. Một ông già đang một mình nhảy những đường bay bướm; ông lão bận đồ nâu, quàng khăn len đỏ, ông nhún mình tiến lên, quay ngoắt lại, nhảy vọt lên, lượn một vòng về phía sau, đôi giầy chụm lại thành một đường thẳng, đầu gối khom khom, cánh tay dang ra, chăm chú và hãnh diện. Tôi dừng lại ngắm ông biểu diễn một hồi, rồi lại tiếp tục đi sâu vào trong nắng. Quanh tôi là cả một dòng người lặng lẽ di chuyển, là thanh âm của thép reo trên băng tuyết, là khí lạnh, là những sắc mầu tươi sáng.
Tôi gặp Jennie gần cây cầu nối liền hai mặt hồ. Nàng bận nhung đen tuyền, chiếc xiêm ngắn và rộng, đôi bốt trắng cột quanh đôi gìầy trượt tuyết kiểu cổ xưa. Nàng đang lượn hình số 8; và tôi nghĩ là chẳng số nào đẹp hơn. Nhưng nàng có vẻ to lớn hơn theo trí nhớ của tôi — già dặn hơn. Nhưng tôi chưa dám tin hẳn cho tới lúc nàng nhìn lên và nhận ra tôi. «Chào ông Adams,» nàng nói.
Nàng lại gần tôi, dang hai cánh tay ra để thắng lại. «Tôi đâu có nhận ra em,» tôi nói với nàng, «Trông em có vẻ già dặn hơn lúc trước.» Nàng cười, và bấm ngón chân xuống một chiếc giầy cho chúi mũi xuống băng để lấy thế đứng. «Ồ, có lẽ ông nhìn thấy em không được rõ chứ gì?»
Tôi không biết là chúng tôi đã đứng ở đó, cười với nhau trong bao lâu. Một lúc sau Jennie khoác cánh tay tôi nói. «Đi, chúng mình đi cho vui.» Chúng tôi cùng trượt trên tuyết, tay khoác trong tay; và một lần nữa thế giới quanh tôi trở nên mịt mờ, huyền ảo. Những người trượt tuyết lũ lượt chẩy như một dòng sông quanh chúng tôi, ánh gót thép phản chiếu trong nắng, tiếng rì rào của dòng sông chuyển động ấy, những hình dáng thoắt hiện, thoắt biến — điệu lướt nhẹ nhàng, lặng lẽ của chính chúng tôi — tất cả những cái đó đã mang lại cho tôi một cảm giác mà tôi đã có lần được biết... cái cảm giác đang sống trong một giấc mơ, mà tâm trí vẫn tỉnh. Lạ thật, tôi tự nhủ. Khi tôi nhìn xuống cái bóng dáng mảnh mai kề bên tôi; không còn nghi ngờ gì nữa, cô bé cao hẳn lên so với lần trước.
«Tôi thấy hình như em lớn khá nhiều so với lần tôi gặp trước.»
«Em cũng biết vậy, » nàng trả lời.
Thấy tôi không nói gì thêm nữa mà chỉ mỉm cười vu vơ, nàng bèn nghiêm nghị nói: «Em đang lớn vội.»
Nàng nhẹ như cánh lông hồng bên tôi, nhưng tôi có thể thấy là mình đang vòng cánh tay nàng trong cánh tay tôi, cùng nhịp bước. Tôi có thể nhìn rõ cái gợn sóng mầu đen do mảnh xiêm của nàng xòe rộng ra khi chúng tôi cùng xoay tròn; và tôi tự hỏi không biết chúng tôi có giống những nhân vật trong một bức tranh nào không. «Ba má em vẫn mạnh giỏi chứ?» Tôi hỏi thăm nàng. «Mùa này hai bác làm ăn khá không?»
«Khá chứ,» nàng trả lời. «Hiện nay ba má em đang ở Boston.»
Tôi tự nghĩ: thì ra ông bà ấy để em ở đây một thân một mình. Nhưng tôi nghĩ thế còn hơn là tha em đi khắp nơi...
«Tôi có vẽ một bức sơ họa hình em,» tôi nói với cô bé, «tôi bán được rồi. Bức vẽ đó đem lại may mắn cho tôi.»
«Hân hạnh cho em,» nàng nói. «Em mong có dịp được ngắm xem bức họa.»
«Để rồi tôi vẽ một bức tặng riêng em,» tôi nói.
Nàng muốn biết thêm về bức phác họa mà tôi đã vẽ. Tôi nói với nàng về ông Mathews, và bức chân dung mà ông yêu cầu tôi vẽ; về bác Gus, và về bức bích họa ở quán ăn của ông Moore. Nàng cũng muốn xem bức ấy nữa, nhưng bức chân dung ông Mathews đề nghị làm nàng lưu ý nhất. «Ông tính họa chân dung ai?» Tôi thấy giọng nàng hỏi hết sức tự nhiên. «Tôi không rõ,» tôi trả lời. «Tôi chưa tìm được người mẫu.»
Nàng yên lặng trượt trên tuyết hồi lâu rồi nói «Có thể ..., » giọng vội không kịp thở «xin ông cho em làm mẫu.»
Lẽ dĩ nhiên, tôi nghĩ... còn ai nữa? Tôi chợt nhận thấy không còn ai khác, không có đến người thứ hai để thực hiện bức họa ông Mathews đặt mua. Giá như cô nàng lớn tuổi hơn một chút nữa thôi...
«Tôi chưa biết,» tôi trả lời, «rất có thể.»
Nàng xiết chặt cánh tay tôi, quay phắt lại phía tay mặt. «Ha ha,» nàng kêu lên, «thế là em sắp được họa hình.»
«Liệu con Emily có phát sùng không.»
«Emily nào?» Tôi hỏi.
«Emily là con bạn thân nhất của em,» cô giải thích, «Họa sĩ Fromkes vẽ ảnh nó, em nói là ông sắp vẽ ảnh em, nó trả lời là chưa được nghe danh hiệu ông, em tát nó rồi hai đứa cãi lộn.»
«Ủa,» tôi nói, «Tôi tưởng em với con Cecily nào đó thường hay đánh lộn chứ.»
Nàng quay phắt đi, tôi thấy tay nàng run rẩy trên cánh tay tôi. «Cecily chết rồi,» nàng nói qua hơi thở. «Nó bị đậu mùa. Bây giờ con bạn thân nhất của em là con Emily. Em ngỡ ông biết rồi chứ.»
«Làm sao tôi biết được?»
Nàng bỗng cúi xuống. «Chiếc giầy của em bị sút dây» nàng nói, «Em phải sửa lại một chút.»
Chúng tôi tiến vào bờ, tôi quì một gối xuống để buộc lại dây giầy cho nàng. Trong thế quì, tôi ngước lên nhìn nàng; khuôn mặt hồng hào của tuổi thơ, lồng trong mái tóc đen, đôi mắt nâu đang mơ màng chìm đắm trong một thời đại, một không gian nào đó... Tôi nghĩ: Nàng đang đóng vai nàng Lọ Lem, hay nàng Bạch Tuyết, hãnh diện có tôi quì gối trước mặt buộc dây giầy cho nàng.
Chúng tôi leo lên bờ, gần nơi có quán giải khát người ta dựng lên mỗi năm để bán cho khách trượt tuyết. Tôi hỏi Jennie có vui lòng vào nghỉ, uống một tách chocolat nóng hay không. Nàng như chợt tỉnh mộng, buông tiếng thở dài rồi toàn thân nàng run lên, nàng vui vẻ vỗ tay. «Có chứ,» nàng ríu rít. «Em thích uống chocolat nóng lắm.»
Ngồi trước quầy hàng bên nhau, trong lúc hơi chocolat thơm phức bốc lên mũi, chúng tôi bàn chuyện thời tiết, chuyện thiên hạ. Nàng muốn tôi kể lại tất cả việc tôi bán bức sơ họa hình nàng cho ông Mathews, còn tôi, tôi muốn biết công việc học hành của nàng ra sao? «Tạm được,» nàng nói, nhưng không lấy gì làm nhiệt thành lắm. «Em đang học tiếng Pháp.»
«Học tiếng Pháp à?» tôi hỏi, đầy sửng sốt, vì lần trước nàng mới học làm tính cộng.
«Vâng.» nàng đáp. «Em có thể kể tên màu sắc, có thể đếm đến mười. Un, deux, trois, quatre (1)...
«Em có thể nói chiến tranh, bằng tiếng Pháp. C'est la guerre.» (1)
Tôi không hiểu nàng đang nói gì, «Chiến tranh?»
Tôi hỏi. «Chiến tranh nào?»
Nhưng nàng chỉ lắc đầu. «Em cũng không biết,» nàng đáp. «Chỉ là chiến tranh thôi.»
Nhưng rồi mắt nàng mở thật rộng, và có vẻ hoảng sợ nhìn tôi. «Họ không gây thương tích cho trẻ nít như em,» nàng hỏi, «có đúng vậy không?»
«Không,» tôi đáp. «Không đời nào.»
Nàng thở ra nhẹ nhõm. «Vậy thì tốt, » nàng nói. «Em không thích bị thương.»
Và nàng lại vui vẻ chúi chiếc mũi nhỏ bé vào tách chocolat.
Tôi cũng thấy mình sung sướng, ngồi ở đó, hít thở mùi băng tuyết, mùi len ẩm, mùi bạc hà, mùi gỗ, mùi da thuộc ẩm; và có Jennie ngồi bên tôi, đang uống tách chocolat. Có lẽ có một điều gì kỳ lạ trong chuyện này; nhưng không hề chi, mọi sự đều tốt đẹp, dường như chúng tôi chỉ thuộc về nơi đó, địa điểm hiện chúng tôi đang cùng nhau hiện diện. Bốn mắt nhìn nhau thông cảm, cùng mỉm cười, làm như cả hai đều đang có chung một ý tưởng.
«Vui quá ông nhỉ?» nàng nói.
Sau hết tách chocolat cũng cạn, chúng tôi từ trên ghế đẩu cao leo xuống và lết ra cửa. «Nào,» tôi nói, «còn đủ thì giờ đi một vòng nữa.» Nàng nắm tay tôi, cùng xuống thềm bước lên băng tuyết. «Em ghét phải chấm dứt,» nàng nói, «vì biết có còn dịp vui chung nữa không?»
Chúng tôi tiếp tục, tay nắm tay, và đi một vòng rộng quanh hồ; sau đó đến giờ tôi phải trở lại quán Alhambra để làm việc. Tôi từ biệt nàng ở cây cầu nối liền hai mặt hồ nước, là nơi chúng tôi đã gặp nhau. Nhưng trước khi đi tôi muốn biết rõ thêm một điều.
«Jennie,» tôi hỏi, «hãy cho tôi biết Cecily chết hồi nào?»
Nàng ngoảnh mặt đi, hình như mắt nàng mờ lệ, và cả khuôn mặt bỗng trở nên xa vắng.
«Đã hai năm rồi,» nàng đáp.
Chú thích:
(1) Tiếng Pháp, trong nguyên bản.